CHƯƠNG XIV. Lời Thú Tội Của Anne
Vào tối thứ Hai trước buổi dã ngoại, Marilla bước xuống từ phòng mình với vẻ mặt đầy ưu tư.
“Anne,” bà nói với cô bé đang ngồi nhặt đậu bên chiếc bàn sạch bóng và ngân nga bài “Nelly of the Hazel Dell” với giọng điệu và sự say sưa đáng khen ngợi cách dạy của Diana, “con có thấy cái trâm cài màu tím của ta đâu không? Ta nghĩ ta đã cắm nó vào hộp kim vào tối qua khi về nhà từ nhà thờ, nhưng ta không tìm thấy nó ở đâu cả.”
“Con… con thấy nó vào chiều nay khi bà đi dự Hội Phụ nữ,” Anne nói, hơi ngập ngừng. “Con đi ngang qua phòng bà thì thấy nó trên hộp kim, nên con vào xem thử.”
“Con có sờ vào nó không?” Marilla nghiêm nghị hỏi.
“Có… có ạ,” Anne thú nhận, “con đã nhấc nó lên và gài lên ngực để xem trông ra sao.”
“Con không được phép làm thế. Một đứa bé mà tò mò về chuyện của người lớn là không nên. Ngay từ đầu con đã không nên bước vào phòng ta, và con cũng không nên đụng vào cái trâm cài không phải của mình. Con để nó đâu rồi?”
“Ôi, con đã đặt nó trở lại bàn trang điểm rồi. Con chỉ gài lên có một lát thôi. Thật lòng, con không cố tình tò mò đâu, Marilla ạ. Con đã không nghĩ là sai khi vào xem và thử cài trâm; nhưng giờ con biết là sai rồi và con sẽ không bao giờ làm thế nữa. Đấy là một điều hay về con. Con không bao giờ phạm cùng một lỗi hai lần.”
“Con không hề đặt nó lại,” Marilla nói. “Chiếc trâm cài ấy không còn ở trên bàn trang điểm. Con đã lấy nó ra hoặc làm gì đó rồi, Anne ạ.”
“Con có đặt lại mà,” Anne đáp nhanh – Marilla cảm thấy câu trả lời có phần hỗn láo. “Con không nhớ rõ là mình đã cắm nó vào hộp kim hay đặt vào khay sứ. Nhưng con chắc chắn là con đã để nó lại rồi.”
“Ta sẽ vào kiểm tra lại,” Marilla nói, quyết tâm giữ sự công bằng. “Nếu con thực sự đã đặt chiếc trâm cài lại, nó hẳn phải còn ở đó. Nếu không thấy, ta sẽ biết con đã không làm thế, chỉ vậy thôi!”
Marilla bước vào phòng mình và tìm kiếm kỹ lưỡng, không chỉ trên bàn trang điểm mà còn ở mọi nơi khác bà nghĩ chiếc trâm cài có thể xuất hiện. Bà không tìm thấy nó và quay trở lại căn bếp.
“Anne, chiếc trâm cài đã biến mất rồi. Theo lời con kể, con là người cuối cùng động vào nó. Giờ con đã làm gì với nó? Hãy nói sự thật cho ta ngay lập tức. Có phải con đã lấy nó ra và đánh rơi mất không?”
“Không, con không làm thế đâu,” Anne trả lời một cách trang trọng, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đang giận dữ của Marilla. “Con chưa bao giờ mang chiếc trâm cài ra khỏi phòng của bà và đó là sự thật, dù có phải ra pháp trường vì điều đó – mặc dù con không thực sự chắc chắn pháp trường là gì. Thế đấy, Marilla ạ.”
Cụm từ “thế đấy” của Anne chỉ nhằm nhấn mạnh lời khẳng định của cô bé, nhưng Marilla lại hiểu đó như một biểu hiện của sự thách thức.
“Ta tin rằng con đang nói dối với ta, Anne,” bà nói một cách cương quyết. “Ta biết con đang nói dối. Thôi được, đừng nói thêm gì nữa trừ khi con sẵn sàng nói ra sự thật. Hãy về phòng và ở đó cho đến khi con sẵn sàng thú nhận.”
“Con có phải mang đậu đi theo không ạ?” Anne hỏi nhỏ nhẹ.
“Không, ta sẽ tự thu nhặt chúng. Cứ làm theo lời ta nói.”
Sau khi Anne rời đi, Marilla tiếp tục công việc buổi tối với tâm trạng vô cùng bất an. Bà lo lắng về chiếc trâm cài quý giá của mình. Nếu Anne đã làm mất nó thì sao? Và thật đáng trách khi đứa trẻ đó phủ nhận việc lấy nó, trong khi rõ ràng nó phải là người đã lấy! Lại còn thể hiện một khuôn mặt ngây thơ đến vậy!
“Chẳng biết có chuyện gì tệ hại hơn có thể xảy ra nữa không,” Marilla nghĩ thầm trong khi bà bận rộn nhặt đậu. “Tất nhiên, ta không nghĩ nó cố tình ăn cắp hay làm gì xấu xa tương tự. Nó chỉ lấy để chơi đùa hoặc để thỏa mãn trí tưởng tượng bay bổng của nó mà thôi. Chắc chắn là nó đã lấy rồi, điều đó quá rõ ràng, vì chẳng có ai bước vào căn phòng đó kể từ lúc nó ở đó, theo như lời nó kể, cho đến khi ta lên đó tối nay. Và chiếc trâm cài đã biến mất, không thể chối cãi được nữa. Ta đoán là nó đã làm mất và sợ hãi không dám thú nhận vì lo bị trừng phạt. Thật đáng lo ngại khi nghĩ rằng nó đang nói dối. Điều đó còn tệ hơn cả tính khí bộc phát của nó. Thật là một gánh nặng khủng khiếp khi có một đứa trẻ trong nhà mà mình không thể tin tưởng. Sự láu cá và thiếu thành thật – đó chính là những gì nó đã bộc lộ. Ta thề là ta cảm thấy khó chịu về chuyện đó còn hơn cả về chiếc trâm cài mất tích. Giá như nó chịu nói thật về chuyện này thì ta đã không phiền lòng đến thế.”
Marilla đã nhiều lần lên phòng suốt buổi tối hôm ấy để tìm kiếm chiếc trâm cài, nhưng vẫn không thấy đâu. Lần cuối cùng bà bước lên căn phòng áp mái trước giờ đi ngủ cũng chẳng mang lại kết quả gì. Anne một mực phủ nhận việc mình biết bất cứ điều gì về chiếc trâm cài, nhưng Marilla lại càng tin chắc hơn rằng cô bé đang giấu diếm.
Sáng hôm sau, bà kể lại câu chuyện ấy cho Matthew. Matthew cảm thấy bối rối và hoang mang; ông không dễ dàng mất niềm tin vào Anne, nhưng cũng buộc phải thừa nhận rằng mọi tình thế đều đang chống lại cô bé.
“Bà có chắc là nó không rơi ra phía sau bàn trang điểm không?” – đó là gợi ý duy nhất ông có thể đưa ra.
“Bà ấy đã dời cái bàn trang điểm, bà ấy đã kéo hết ngăn kéo ra và bà ấy đã xem xét mọi kẽ hở, mọi xó xỉnh,” Marilla đáp lại một cách dứt khoát. “Chiếc trâm cài đã biến mất, và đứa trẻ đó đã lấy nó rồi nói dối về chuyện ấy. Đó là sự thật trần trụi, đáng xấu hổ, Matthew Cuthbert ạ, và chúng ta phải đối diện với nó.”
“Vậy giờ bà định xử trí ra sao?” Matthew hỏi với vẻ ủ rũ, trong lòng thầm biết ơn vì chính Marilla chứ không phải ông là người phải giải quyết vấn đề này. Lần này ông không muốn xen vào.
“Nó sẽ phải ở trong phòng cho đến lúc thú nhận,” Marilla tuyên bố nghiêm khắc, nhớ lại hiệu quả của biện pháp này trong một trường hợp tương tự trước kia. “Rồi chúng ta sẽ tính tiếp. Có lẽ chúng ta còn tìm lại được chiếc trâm cài nếu nó chịu khai ra đã đem nó đi đâu; nhưng dù thế nào đi nữa, nó cũng phải chịu một hình phạt thật nặng, Matthew ạ.”
“Vậy thì, bà phải tự tay phạt nó,” Matthew nói, với lấy chiếc mũ của mình. “Tôi không dính dáng gì đến chuyện này, bà nhớ cho. Chính bà đã bảo tôi đừng can thiệp mà.”
Marilla cảm thấy mình bị bỏ rơi trong hoàn cảnh này. Bà thậm chí chẳng thể chạy sang nhà bà Lynde để hỏi ý kiến. Bà bước lên căn phòng gác mái với vẻ mặt vô cùng nghiêm nghị, và khi trở xuống, nét mặt bà càng trở nên căng thẳng hơn. Anne vẫn một mực từ chối thú nhận. Cô bé cứ khăng khăng khẳng định mình không hề lấy chiếc trâm cài tóc. Rõ ràng là đứa trẻ đã khóc nhiều, và Marilla cảm thấy lòng dấy lên một chút xót thương, nhưng bà đã cố gắng kìm nén cảm xúc ấy lại. Đến tối, như chính bà thừa nhận, bà đã “hoàn toàn kiệt sức.”
“Con sẽ phải ở trong căn phòng này cho đến khi nào con thú nhận, Anne. Con tự quyết định lấy điều ấy,” bà nói một cách kiên quyết.
“Nhưng buổi dã ngoại là vào ngày mai mà, Marilla ạ,” Anne kêu lên. “Bà sẽ không cấm con đi dã ngoại chứ? Bà sẽ chỉ để con ra ngoài vào buổi chiều thôi, có phải không ạ? Rồi sau đó con sẽ vui vẻ ở đây bao lâu tùy ý bà. Nhưng con nhất định phải đi dã ngoại.”
“Con sẽ không được đi dã ngoại hay đi bất cứ đâu cho đến khi nào con thú nhận, Anne ạ.”
“Ôi, Marilla,” Anne thốt lên đầy nghẹn ngào.
Nhưng Marilla đã bước ra ngoài và khép cửa lại.
Buổi sáng thứ Tư bừng lên trong vẻ tươi sáng và xinh đẹp, dường như được tạo ra đặc biệt cho buổi dã ngoại. Chim chóc hót líu lo quanh Chái Nhà Xanh; những bông huệ trắng trong vườn tỏa hương thơm ngát, theo làn gió vô hình len lỏi qua mọi cánh cửa và ô cửa sổ, lan tỏa khắp hành lang và các căn phòng như những linh hồn ban phước lành. Những cây bạch dương nơi thung lũng vẫy cành vui vẻ, như thể đang chờ đợi lời chào buổi sáng quen thuộc của Anne từ cửa sổ phòng gác mái. Nhưng Anne đã không có mặt ở đó. Khi Marilla mang bữa sáng lên cho cô bé, bà thấy Anne ngồi thẳng trên giường, mặt mày tái nhợt nhưng vẻ mặt kiên quyết, đôi môi mím chặt và đôi mắt lấp lánh một ánh sáng lạ thường.
“Marilla, con sẵn sàng thú nhận rồi ạ.”
“À!” Marilla đặt khay xuống. Một lần nữa phương pháp của bà đã thành công; nhưng thành công này thật cay đắng đối với bà. “Vậy hãy cho ta nghe con nói gì đi, Anne.”
“Con đã lấy chiếc trâm cài màu tím,” Anne nói, như thể đang lặp lại một bài học thuộc lòng. “Con đã lấy nó đúng như bà nói. Con không có ý định lấy nó khi con vào phòng. Nhưng nó trông thật đẹp, Marilla ạ, khi con cài nó lên ngực, con đã không cưỡng lại được sự cám dỗ. Con tưởng tượng sẽ thú vị biết bao khi mang nó đến Idlewild và giả vờ mình là Nữ bá tước Cordelia Fitzgerald. Sẽ dễ dàng hơn nhiều để tưởng tượng mình là Nữ bá tước Cordelia nếu có một chiếc trâm cài màu tím thật. Diana và con làm vòng cổ bằng quả mâm xôi, nhưng quả mâm xôi thì so với đá thạch anh tím thì là gì chứ? Vì vậy, con đã lấy chiếc trâm cài. Con nghĩ con có thể đặt nó lại trước khi bà về nhà. Con đã đi đường vòng để kéo dài thời gian. Khi con đi qua cây cầu bắc qua Hồ Nước Lấp Lánh, con đã tháo trâm cài ra để xem lại nó. Ôi, nó lấp lánh làm sao dưới ánh mặt trời! Và rồi, khi con cúi người qua cầu, nó tuột khỏi tay con – như thế này – và rơi xuống – xuống – xuống, lấp lánh màu tím, và chìm mãi mãi dưới Hồ Nước Lấp Lánh. Và đó là lời thú tội tốt nhất con có thể làm, Marilla ạ.”
Marilla cảm thấy cơn giận bừng bừng sục sôi trong lòng. Cô bé này đã lấy và làm mất chiếc trâm cài tím quý giá của bà, thế mà giờ đây lại ngồi đó thản nhiên thuật lại từng chi tiết, không một chút hối hận hay ăn năn nào cả.
“Anne, điều này thật kinh khủng,” bà nói, cố gắng giữ giọng điệu bình tĩnh. “Con là đứa trẻ hư hỏng nhất mà ta từng biết đến.”
“Vâng, con cũng nghĩ vậy,” Anne đồng ý một cách thản nhiên. “Và con biết con sẽ phải chịu phạt. Nhiệm vụ của bà là phải trừng phạt con, Marilla ạ. Bà có thể phạt con ngay bây giờ được không, vì con muốn được đi dã ngoại với tâm trạng thật thảnh thơi.”
“Dã ngoại, thật sao! Hôm nay con sẽ không được đi dã ngoại đâu, Anne Shirley. Đó sẽ là hình phạt của con. Và nó còn chưa đủ nặng cho những gì con đã làm!”
“Không được đi dã ngoại ư!” Anne bật dậy và nắm chặt tay Marilla. “Nhưng bà đã hứa là con có thể đi mà! Ôi, Marilla ạ, con phải được đi dã ngoại. Đó chính là lý do tại sao con thú nhận. Bà phạt con thế nào cũng được, nhưng đừng phạt con bằng cách này. Ôi, Marilla ạ, làm ơn, làm ơn, hãy cho con đi dã ngoại. Hãy nghĩ đến kem! Bà không biết là con có thể sẽ không bao giờ có cơ hội nếm thử kem nữa đâu.”
Marilla gỡ tay Anne ra một cách cứng rắn.
“Con chẳng cần phải van xin gì nữa, Anne. Con sẽ không được đi dã ngoại và đó là lời quyết định cuối cùng. Không, đừng nói thêm gì nữa.”
Anne nhận ra Marilla chẳng thể nào lay chuyển được. Cô bé chắp hai tay lại, thốt lên một tiếng kêu chói tai, rồi lao mình úp mặt xuống giường, khóc lóc, quằn quại trong nỗi thất vọng và tuyệt vọng tràn ngập.
“Trời đất ơi!” Marilla thở hổn hển, vội vã bước ra khỏi phòng. “Ta tin là đứa trẻ này mất trí rồi. Chẳng có đứa trẻ tỉnh táo nào lại cư xử như thế. Nếu không phải mất trí thì nó hoàn toàn hư hỏng mất rồi. Ôi trời, ta sợ bà Rachel đã đúng ngay từ đầu. Nhưng ta đã bắt đầu rồi, ta sẽ không quay lại đâu.”
Đó là một buổi sáng ảm đạm. Marilla lao vào công việc một cách điên cuồng, chà rửa sàn hiên, kệ tủ trong nhà kho khi không còn việc gì khác để làm. Cả sàn hiên lẫn kệ tủ đều không thật sự cần thiết – nhưng bản thân Marilla thì cần. Sau đó, bà bước ra ngoài và cào lá trong sân.
Khi bữa tối đã chuẩn bị xong, bà gọi Anne từ chân cầu thang. Một khuôn mặt ướt đẫm nước mắt ló ra, nhìn xuống hành lang với vẻ thảm thiết.
“Xuống ăn tối đi, Anne.”
“Con không muốn ăn tối đâu, Marilla ạ,” Anne vừa nức nở vừa nói. “Con chẳng nuốt trôi được thứ gì. Trái tim con đã vỡ tan rồi. Rồi sẽ có ngày bà cảm thấy hối hận trong sâu thẳm lương tâm, con tin là vậy, vì đã làm vỡ nó, Marilla ạ, nhưng con tha thứ cho bà. Xin hãy nhớ rằng khi thời khắc ấy đến, con đã tha thứ cho bà rồi. Nhưng làm ơn đừng bắt con ăn bất cứ thứ gì, nhất là thịt lợn luộc và rau xanh. Thịt lợn luộc với rau xanh thật chẳng lãng mạn chút nào khi người ta đang đau khổ.”
Tức giận, Marilla quay vào bếp và trút hết tâm sự với Matthew, người đàn ông khốn khổ đang bị giằng xé giữa lẽ phải và mối cảm thông không chính đáng dành cho Anne.
“Giờ thì, đương nhiên nó không nên lấy trâm cài, Marilla, hoặc nói dối về chuyện đó,” ông thừa nhận, nhìn đĩa thịt lợn luộc cùng đĩa rau xanh vô vị trước mặt một cách ủ rũ, như thể ông, cũng giống Anne, cảm thấy đó không phải là món ăn phù hợp cho những cơn khủng hoảng tình cảm, “nhưng nó còn quá nhỏ – một đứa trẻ đầy hứng thú như thế. Bà không nghĩ là hơi khắt khe khi cấm nó đi dã ngoại, trong khi nó đã mong chờ đến thế sao?”
“Matthew Cuthbert, tôi thật sự kinh ngạc về ông. Tôi nghĩ tôi đã để cho nó dễ dàng thoát tội quá rồi. Và nó dường như không nhận ra mình đã hư hỏng đến mức nào – đó mới chính là điều khiến tôi lo lắng nhất. Nếu nó thực sự cảm thấy hối hận thì có lẽ mọi chuyện đã không tệ đến thế. Và ông dường như cũng không nhận ra điều đó, ông luôn tìm cách bào chữa cho nó trong đầu – tôi có thể thấy rõ điều ấy.”
“Vậy bây giờ, nó vẫn còn quá nhỏ,” Matthew lặp lại một cách yếu ớt. “Và nên có chút thông cảm, Marilla ạ. Bà biết là nó chưa từng được dạy dỗ đàng hoàng.”
“Chà, giờ thì nó đang được dạy dỗ rồi đấy,” Marilla đáp lại.
Lời đáp ấy đã khiến Matthew im lặng, dù trong lòng ông vẫn chưa thực sự bị thuyết phục. Bữa tối hôm đó là một bữa ăn hết sức ảm đạm. Điều duy nhất mang chút vui vẻ về bữa ăn ấy chính là Jerry Buote, cậu bé làm công, và Marilla cảm thấy khó chịu với sự vui vẻ của cậu như thể đó là một sự xúc phạm cá nhân dành cho bà.
Sau khi dọn dẹp chén đĩa, chuẩn bị men bánh mì và cho gà ăn, Marilla chợt nhớ ra rằng bà đã thấy một vết rách nhỏ trên chiếc khăn choàng ren đen đẹp nhất của mình khi bà cởi nó ra vào chiều thứ Hai, sau khi trở về từ Hội Phụ nữ.
Bà quyết định đi sửa nó ngay. Chiếc khăn choàng được cất trong một chiếc hộp đặt trong vali của bà. Khi Marilla lấy nó ra, ánh nắng mặt trời chiếu qua những dây leo rậm rạp quấn quanh khung cửa sổ, bắt vào một vật gì đó mắc vào chiếc khăn choàng – một thứ lấp lánh, tỏa sáng với những mặt cắt ánh sáng màu tím. Marilla giật lấy nó với một tiếng thở hổn hển. Đó chính là chiếc trâm cài màu tím, treo lủng lẳng trên một sợi ren bằng cái móc của nó!
“Lạy Chúa và con tim tôi ạ,” Marilla thốt lên trong sững sờ, “chuyện này là thế nào? Chiếc trâm cài của tôi đây rồi, vẫn nguyên vẹn và lành lặn, trong khi tôi cứ ngỡ nó đã chìm nghỉm dưới đáy ao nhà Barry rồi. Vậy đứa bé ấy nói rằng nó đã lấy và làm mất nó là ý gì? Tôi thề là tôi tin rằng Chái Nhà Xanh này đang bị bùa mê hoặc. Tôi nhớ lại, khi cởi khăn choàng ra vào chiều thứ Hai, tôi đã đặt nó lên bàn trang điểm một lúc. Tôi đoán chiếc trâm cài đã vô tình mắc vào đó. Thật là kỳ diệu!”
Marilla cầm chiếc trâm cài trên tay, bước lên căn phòng áp mái. Anne đã khóc đến cạn nước mắt và giờ đang ngồi ủ rũ bên khung cửa sổ.
“Anne Shirley,” Marilla nói với giọng điệu nghiêm trang, “ta vừa mới tìm thấy chiếc trâm cài của ta đang được treo trên chiếc khăn choàng ren đen của ta. Bây giờ ta muốn biết những lời bịa đặt con đã kể cho ta sáng nay có ý nghĩa gì.”
“Vì sao ư, bà đã nói rằng bà sẽ giữ con ở đây cho đến khi con thú nhận,” Anne trả lời trong sự mệt mỏi, “nên con đã quyết định thú nhận vì con nhất định phải được đi dã ngoại. Con đã nghĩ ra một lời thú tội vào đêm qua, sau khi con đã lên giường, và làm cho nó trở nên thú vị nhất có thể. Và con đã lặp đi lặp lại nó để con không quên. Nhưng bà đã không cho con đi dã ngoại sau tất cả, nên mọi nỗ lực của con đều trở nên vô ích.”
Marilla không nhịn được cười. Thế nhưng, trong lòng bà lại thấy day dứt.
“Anne, con bé này thật là khác thường! Nhưng ta đã sai – giờ ta mới nhận ra. Ta không nên nghi ngờ lời con nói khi chưa từng thấy con nói dối bao giờ. Dĩ nhiên, việc con nhận tội một chuyện mình không làm là không đúng – làm thế thật sai lầm. Nhưng chính ta đã bắt ép con. Vì vậy, nếu con tha thứ cho ta, Anne, ta cũng sẽ tha thứ cho con, và chúng ta hãy bắt đầu lại từ đầu. Giờ thì hãy chuẩn bị đi dã ngoại đi.”
Anne bật dậy nhanh như tên bắn.
“Ôi, Marilla, liệu giờ có còn kịp không ạ?”
“Không muộn đâu, mới hai giờ thôi. Mọi người chắc hẳn chưa tập trung đông đủ, và phải một tiếng nữa mới đến giờ uống trà. Con hãy đi rửa mặt, chải tóc, rồi mặc chiếc váy ca rô vào. Ta sẽ chuẩn bị một giỏ đồ cho con. Trong bếp còn rất nhiều bánh ngọt đã nướng sẵn. Và ta sẽ bảo Jerry chuẩn bị xe ngựa để đưa con đến chỗ dã ngoại.”
“Ôi, Marilla ạ,” Anne thốt lên, chạy đến bồn rửa mặt. “Chỉ năm phút trước con còn đau khổ tột cùng, ước gì mình chưa từng được sinh ra, mà giờ đây con chẳng muốn đổi chỗ lấy cả một thiên thần đâu ạ!”
Tối hôm ấy, một cô Anne tràn ngập hạnh phúc, mệt nhoài nhưng vô cùng hân hoan trở về Chái Nhà Xanh, trong tâm trạng vui sướng khó tả.
“Ôi, Marilla ạ, con đã có một khoảng thời gian tuyệt vời. ‘Tuyệt vời’ là từ mới con học được hôm nay. Con nghe Mary Alice Bell dùng từ ấy. Nó có diễn đạt rất hay không ạ? Mọi thứ đều thật tuyệt vời. Chúng con đã có một bữa trà thịnh soạn, rồi ông Harmon Andrews đưa tất cả chúng con đi chèo thuyền trên Hồ Nước Lấp Lánh – mỗi lần sáu người. Jane Andrews suýt nữa thì ngã xuống hồ. Cô ấy cúi người ra ngoài để hái hoa súng, nếu ông Andrews không kịp nắm lấy thắt lưng cô ấy thì cô ấy đã rơi xuống, có lẽ đã chết đuối mất rồi. Con ước gì người đó là con. Suýt chết đuối hẳn phải là một trải nghiệm lãng mạn biết bao. Và sẽ có một câu chuyện thật ly kỳ để kể lại. Chúng con còn được ăn kem nữa. Ngôn từ không đủ để diễn tả hết thứ kem ấy đâu. Marilla ạ, con đảm bảo với bà là nó thật sự tuyệt vời.”
Tối hôm ấy, Marilla kể lại câu chuyện đầu đuôi cho Matthew nghe lúc đang ngồi vá tất.
“Tôi sẵn sàng nhận là mình đã sai,” bà kết luận một cách thẳng thắn, “nhưng tôi cũng đã rút ra được bài học. Tôi không nhịn được cười khi nghĩ đến lời ‘thú tội’ của Anne, dù tôi biết lẽ ra không nên cười vì thực ra đó là một lời nói dối. Nhưng nó dường như không tệ như những gì có thể đã xảy ra, bằng cách nào đó, và dẫu sao tôi cũng là người phải chịu trách nhiệm. Đứa bé ấy quả thật có những điểm khó hiểu. Nhưng tôi tin rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Và có một điều chắc chắn: ngôi nhà sẽ chẳng bao giờ buồn tẻ khi có nó ở đây.”