"

CHƯƠNG XVII. VITALIS TỘI NGHIỆP

Suốt đoạn đường trên phố, Vitalis không nói một lời nào. Nhưng khi chúng tôi bước vào một con hẻm nhỏ, ông ngồi phịch xuống bên vệ đường, đưa tay lên trán và xoa xoa nhiều lần.

“Nghe theo tiếng gọi của lòng tốt có lẽ là điều nên làm,” ông lẩm bẩm, như đang nói với chính mình. “Nhưng bây giờ thì chúng ta đang ở tận cùng Paris, không một xu dính túi, chẳng có gì để ăn cả… Con có đói không?” ông hỏi, ngước mắt nhìn tôi.

“Con chưa ăn gì kể từ mẩu bánh mì nhỏ cha cho con sáng nay ạ.”

“Tội nghiệp, tội nghiệp đứa trẻ quá. Tối nay con sẽ phải đi ngủ mà không có bữa tối. Và chúng ta sẽ ngủ ở đâu bây giờ?”

“Cha định cho con ngủ ở nhà Garofoli à?”

“Cha tính để con ở lại đó. Ông ta sẽ trả cha hai mươi franc cho con để dùng trong mùa đông, thế là cha tạm xoay sở được. Nhưng nhìn cách ông ta đối xử với lũ trẻ kia, cha không thể giao con cho ông ta được.”

“Ôi, cha thật tốt bụng!”

“Có lẽ trong lão già lang thang chai sạn này vẫn còn sót lại chút gì đó của trái tim người trẻ. Lão già này đã tính toán rất khôn ngoan, nhưng cái bóng hình người trẻ vẫn còn trong ông ta đã làm hỏng hết mọi thứ… Giờ thì đi đâu đây?” ông lẩm bẩm.

Trời đã tối muộn, cái lạnh càng thêm buốt giá. Đêm nay sẽ thật khắc nghiệt. Vitalis ngồi trên tảng đá một lúc lâu. Capi và tôi đứng lặng lẽ phía trước, chờ đợi ông đưa ra quyết định. Cuối cùng, ông đứng dậy.

“Chúng ta đi đâu?”

“Đến Gentilly, tìm một trường đua ngựa mà cha từng ngủ nhờ vài lần. Con có mệt không?”

“Con đã nghỉ ngơi ở nhà Garofoli rồi ạ.”

“Thật đáng tiếc là cha không được nghỉ ngơi, và cha không thể đi thêm được nữa. Nhưng chúng ta phải cố gắng. Tiến lên! Đi nào! Các con!”

Đó là tín hiệu vui vẻ ông vẫn thường dành cho lũ chó và tôi mỗi khi chúng tôi chuẩn bị lên đường, nhưng đêm nay, ông nói câu đó với vẻ buồn bã.

Thế là chúng tôi lang thang trên những con phố của Paris. Đêm tối đen như mực, những ngọn đèn khí đốt lập lòe trong gió chỉ đủ soi sáng lờ mờ những con hẻm. Mỗi bước chân, chúng tôi lại trượt chân trên lớp băng phủ kín mặt đường. Vitalis nắm tay tôi, Capi lẽo đẽo theo sau. Thỉnh thoảng, chú chó tội nghiệp lại dừng lại phía sau, lục lọi trong đống rác để tìm một mẩu xương hay mẩu bánh mì, vì chú đói lắm. Nhưng rác thì đã bị tuyết đóng băng phủ kín, chú tìm kiếm trong vô vọng. Với đôi tai cụp xuống, chú lại lóc cóc đuổi theo chúng tôi.

Sau những đại lộ rộng lớn, lại đến những con ngõ nhỏ; rồi từ những con ngõ nhỏ, lại bước ra những đại lộ rộng lớn; chúng tôi cứ thế bước đi, bước đi không ngừng nghỉ. Những người qua đường lác đác gặp trên đường đều nhìn chúng tôi với ánh mắt ngạc nhiên. Phải chăng do trang phục của chúng tôi? Hay vẻ mệt mỏi, lầm lũi của chúng tôi đã thu hút sự chú ý của họ? Những viên cảnh sát mà chúng tôi đi ngang qua đều ngoái đầu lại và dõi theo chúng tôi.

Không nói một lời, Vitalis bước đi, lưng gần như khom gập xuống. Nhưng dù trời lạnh giá, bàn tay ông trong tay tôi vẫn ấm áp. Tôi cảm thấy ông đang run lên. Đôi khi, khi ông dừng lại tựa vào vai tôi một lát, tôi cảm nhận được toàn thân ông run rẩy dữ dội. Bình thường, tôi sẽ không dám hỏi ông điều gì, nhưng đêm nay, tôi cảm thấy mình phải làm vậy. Hơn nữa, tôi rất muốn nói với ông rằng tôi yêu ông biết nhường nào, hoặc ít nhất là muốn làm điều gì đó cho ông.

“Cha bị ốm ạ?” tôi hỏi khi ông lại dừng bước.

“Cha e là vậy; dù sao thì cha cũng rất mệt. Cái lạnh này quá khắc nghiệt đối với máu già của cha. Cha cần một chiếc giường ấm áp và một bữa tối trước lò sưởi. Nhưng đó chỉ là giấc mơ thôi. Tiến lên! Đi nào! Các con.”

Tiến lên! Đi nào! Chúng tôi đã rời khỏi thành phố. Giờ chúng tôi đang ở vùng ngoại ô. Chúng tôi không thấy bóng người, cảnh sát hay đèn đường nào cả, chỉ có vài ô cửa sổ sáng đèn đây đó, và phía trên đầu là bầu trời xanh thẫm điểm xuyết vài ngôi sao. Cơn gió, thổi ngày càng lạnh và mạnh hơn, dán chặt quần áo vào người chúng tôi. May mắn thay, gió thổi từ phía sau, nhưng vì tay áo khoác của tôi đã rách toạc gần vai, gió luồn vào và trượt dọc cánh tay tôi, làm tôi lạnh thấu xương.

Trời đã tối và những con đường cứ liên tục giao nhau, nhưng Vitalis vẫn bước đi như một người đã quen thuộc lối đi, hoàn toàn tự tin về hành trình của mình. Vì thế, tôi cứ thế đi theo, trong lòng tin chắc chúng tôi sẽ không hề lạc lối. Bỗng nhiên, ông dừng bước.

“Con có thấy một đám cây không?” ông hỏi.

“Con chẳng thấy gì cả.”

“Con không thấy một khối đen lớn phía trước sao?”

Tôi đưa mắt nhìn quanh trước khi trả lời. Tôi không thấy cây cối hay nhà cửa gì cả. Khoảng không mênh mông bao trùm lấy chúng tôi. Ngoài tiếng gió rít qua, chẳng còn âm thanh nào khác.

“Hãy nhìn kỹ đi, đằng kia kìa!” Ông giơ thẳng cánh tay phải về phía trước. Rồi, khi tôi vẫn im lặng, vì tôi sợ phải nói ra rằng mình chẳng thấy gì, ông lại lầm lũi bước tiếp.

Một lúc lâu trôi qua trong yên lặng. Rồi ông lại dừng chân và hỏi tôi có thấy một khóm cây nào không. Một nỗi sợ hãi mơ hồ khiến giọng tôi run run khi tôi đáp rằng mình chẳng thấy gì cả.

“Ấy là tại sợ, con trai ạ, làm mắt con hoa lên thôi; con nhìn kỹ lại xem.”

“Con thưa với cha là con không thấy cây nào hết.”

“Không phải ở trên con đường lớn kia sao?”

“Con chẳng thấy gì cả.”

“Thế là chúng ta lạc đường rồi.”

Tôi không biết nói gì, bởi tôi chẳng biết chúng tôi đang ở đâu, cũng chẳng biết chúng tôi đang đi đâu.

“Chúng ta cứ đi thêm năm phút nữa, nếu vẫn không thấy cây, chúng ta sẽ quay lại chỗ này. Có lẽ cha đã đi sai đường.”

Giờ đây khi đã biết chúng tôi lạc đường, dường như tôi chẳng còn chút sức lực nào nữa. Vitalis nắm lấy tay tôi.

“Đi nào, đi nào.”

“Con không đi nổi nữa đâu.”

“Ồ, thế con tưởng cha sẽ cõng con chắc?”

Tôi đành theo ông.

“Trên đường có nhiều vết lún sâu không?”

“Không ạ.”

“Vậy thì chúng ta phải quay lại.”

Chúng tôi quay đầu. Giờ đây chúng tôi phải đối diện trực tiếp với cơn gió. Nó quất vào mặt chúng tôi như những nhát roi. Mặt tôi rát bỏng như bị lửa thiêu.

“Chúng ta phải tìm một con đường rẽ từ ngã tư,” người thầy nói, giọng yếu ớt. “Con hãy báo cho cha khi con nhìn thấy nó.”

Suốt mười lăm phút, chúng tôi vật lộn với cơn gió. Trong sự im lặng ảm đạm của màn đêm, tiếng bước chân chúng tôi vang vọng trên mặt đất khô cứng. Dù gần như không thể nhấc nổi chân, chính tôi lại là người kéo Vitalis đi. Tôi nhìn về phía bên trái với bao nỗi lo âu! Giữa bóng tối mờ mịt, bỗng tôi thấy một ánh sáng đỏ nhỏ.

“Cha ơi, có ánh sáng kìa,” tôi nói, chỉ tay.

“Ở đâu?”

Vitalis nhìn. Dù ánh sáng chỉ cách đó một đoạn ngắn, ông cũng không thấy gì. Lúc đó, tôi biết thị lực của ông đang suy giảm.

“Ánh sáng đó có ý nghĩa gì với chúng ta?” ông hỏi. “Đó là ngọn đèn trên bàn của một người thợ, hoặc nó ở gần giường của một người đang hấp hối. Chúng ta không thể gõ cửa nhà họ được. Ở vùng quê, ban đêm, con có thể xin trọ, nhưng gần Paris thế này… chúng ta không thể mong đợi lòng hiếu khách ở đây. Đi nào.”

Thêm vài bước nữa, tôi nghĩ mình có thể nhận ra ngã tư và một khối đen phải là những cái cây. Tôi buông tay thầy để đi nhanh hơn. Có những vết lún sâu trên đường.

“Cha ơi, đây có phải là vết lõm không?” tôi reo lên.

“Đưa tay cho cha, chúng ta được cứu rồi,” Vitalis nói. “Nhìn kìa, giờ con có thể thấy những cái cây rồi đấy.”

Tôi nói với ông rằng tôi nghĩ mình có thể trông thấy những cái cây.

“Chỉ năm phút nữa thôi chúng ta sẽ tới nơi,” ông lẩm bẩm.

Chúng tôi lê bước, nhưng năm phút ấy dài như cả một đời người.

“Những vết lõm đâu rồi?”

“Chúng vẫn ở bên phải.”

“Chắc hẳn chúng ta đã đi qua lối vào trường đua ngựa mà không hề hay biết. Con nghĩ chúng ta nên quay lại.”

Chúng tôi lại quay trở lại.

“Con có thấy những cái cây không?”

“Vâng, ở phía bên trái kia.”

“Còn những vết lõm thì sao?”

“Chẳng có cái nào cả.”

“Chẳng lẽ ta bị mù rồi sao?” Vitalis thì thầm hỏi, đưa tay lên che mắt. “Cứ đi thẳng dọc theo hàng cây, rồi đưa tay cho ta.”

“Đây là một bức tường.”

“Không, đó là một đống đá.”

“Không, chắc chắn đó là một bức tường ạ.”

Vitalis bước sang một bên để kiểm tra xem lời tôi nói có đúng không. Ông giơ cả hai tay ra và sờ vào bức tường.

“Ừ, đúng là một bức tường,” ông lẩm bẩm. “Lối vào đâu? Hãy tìm con đường mòn đi.”

Tôi cúi xuống mặt đất và men theo hết chiều dài bức tường, nhưng chẳng thấy lối vào đâu cả. Sau đó, quay lại chỗ Vitalis đang đứng, tôi tiếp tục men theo bức tường ở phía bên kia. Kết quả vẫn y như vậy: không lối vào, không cổng lớn.

“Chẳng có gì cả,” tôi thưa.

Tình cảnh thật là thê lương. Chắc hẳn thầy tôi đang lên cơn mê sảng. Biết đâu chốn này chẳng hề có trường đua ngựa nào! Vitalis đứng đó một hồi như người mất hồn. Capi bắt đầu sủa lên những tiếng nôn nao, sốt ruột.

“Chúng ta có nên tìm kiếm xa hơn chăng ạ?” tôi hỏi.

“Không, trường đua ngựa đã bị rào kín rồi.”

“Bị rào kín ư?”

“Phải, người ta đã chặn lối vào, và chúng ta không thể vào trong được.”

“Vậy thì phải làm sao ạ?”

“Làm sao bây giờ, hả? Ta chẳng biết nữa. Chết ở đây thôi.”

“Ôi, thầy ơi! Thầy ơi!”

“Phải, con không muốn chết, con còn quá trẻ. Cuộc sống hẳn là vẫn tươi đẹp với con. Chúng ta hãy đi tiếp. Con còn đi nổi thêm chút nữa không, con trai?”

“Ôi, còn cha thì sao ạ?”

“Khi nào không đi nổi nữa, cha sẽ ngã xuống như một con ngựa già.”

“Chúng ta sẽ đi đâu ạ?”

“Quay về Paris. Khi gặp cảnh sát, chúng ta sẽ để họ đưa chúng ta đến đồn. Ta không muốn điều đó, nhưng ta không thể để con chết vì lạnh, con trai. Đi nào, Remi bé nhỏ, đi nào. Tiến lên, các con của ta. Cố lên!”

Chúng tôi quay lại theo con đường cũ. Mấy giờ rồi nhỉ? Tôi không hề hay biết. Chúng tôi đã đi bộ hàng giờ, một thời gian rất, rất dài, và rất chậm chạp. Có lẽ đã là nửa đêm hoặc một giờ sáng. Bầu trời vẫn màu xanh thẫm, không có trăng, chỉ có vài ngôi sao, và vài ngôi sao xuất hiện dường như nhỏ hơn bình thường. Gió càng mạnh hơn; tuyết quất vào mặt chúng tôi; những ngôi nhà chúng tôi đi qua đều đóng cửa im lìm trong đêm. Tôi nghĩ rằng nếu những người đang ngủ say sưa ấm áp dưới lớp chăn biết chúng tôi lạnh lẽo thế nào ngoài kia, họ đã mở cửa cho chúng tôi.

Vitalis bước đi càng lúc càng chậm. Khi tôi lên tiếng hỏi han, ông ra hiệu bảo tôi giữ im lặng. Chúng tôi đang tiến dần vào thành phố. Vitalis dừng hẳn bước. Tôi hiểu rằng ông đã kiệt sức.

“Con có nên gõ cửa một căn nhà nào đó không ạ?” tôi hỏi.

“Không, họ sẽ chẳng cho chúng ta vào đâu. Những người làm vườn sống quanh đây. Họ cung cấp rau quả cho chợ. Họ sẽ chẳng buồn dậy vào giờ khắc này để đón tiếp chúng ta đâu. Cứ đi tiếp đi.”

Nhưng ý chí của ông mạnh mẽ hơn thể xác. Một lát sau, ông lại đứng khựng lại.

“Cha cần nghỉ một chút,” giọng ông yếu ớt. “Cha không thể bước thêm nữa.”

Nơi ấy có một cánh cổng mở vào một khu vườn rộng. Gió đã cuốn tung đám rơm rạ, phủ lên đống phân ủ gần cổng rồi tràn cả ra đường.

“Cha sẽ ngồi ở đây,” Vitalis nói.

“Cha đã nói nếu chúng ta ngồi xuống, chúng ta sẽ bị lạnh đến mức không thể đứng dậy được nữa mà.”

Ông không trả lời, chỉ ra hiệu cho tôi chất rơm lên thành cửa. Rồi ông ngã xuống, đúng hơn là ngồi phịch xuống đó. Răng ông đánh vào nhau lập cập và toàn thân ông run rẩy.

“Mang thêm rơm đến đây,” ông nói. “Với nhiều rơm, chúng ta có thể che chắn gió.”

Gió thì có thể, nhưng cái lạnh thì không. Khi tôi gom hết số rơm có thể, tôi ngồi xuống bên cạnh Vitalis.

“Lại đây thật gần cha,” ông nói. “Và đặt Capi lên lòng con. Nó sẽ cho con hơi ấm từ cơ thể nó.”

Vitalis bị ốm. Ông có biết mình ốm nặng không? Khi tôi nép sát vào ông, ông cúi xuống hôn tôi. Đó là lần thứ hai ông hôn tôi. Than ôi! Đó là lần cuối cùng.

Tôi vừa mới nép mình vào Vitalis thì tôi cảm thấy mắt mình lim dim. Tôi cố gắng mở mắt ra, nhưng không thể. Tôi véo cánh tay mình, nhưng da thịt tôi không còn cảm giác gì nữa. Trên đôi chân co lên ngực, Capi đã ngủ say. Gió thổi những lọn rơm lên chúng tôi như những chiếc lá khô rụng từ cây. Không một bóng người trên phố, và xung quanh chúng tôi là sự im lặng chết chóc.

Sự im lặng này làm tôi sợ hãi. Tôi sợ điều gì? Tôi không biết, nhưng một nỗi sợ mơ hồ ập đến với tôi. Tôi cảm thấy mình như đang chết dần ở đây. Rồi tôi cảm thấy rất buồn. Tôi nghĩ về Chavanon, về bà Barberin tội nghiệp. Lẽ nào tôi phải chết mà không gặp lại bà, và ngôi nhà nhỏ của chúng tôi, và khu vườn nhỏ của tôi! Rồi, tôi không còn cảm thấy lạnh nữa; tôi cảm thấy như mình đã trở về khu vườn nhỏ của mình. Mặt trời đang chiếu sáng và thật ấm áp. Những bông thủy tiên đang hé nở những cánh vàng óng; chim chóc đang hót líu lo trên cây và hàng rào. Vâng, và bà Barberin đang phơi quần áo vừa giặt ở con suối chảy róc rách qua những viên sỏi. Rồi tôi rời Chavanon, và cùng Arthur và bà Milligan lên tàu Swan. Rồi mắt tôi lại nhắm nghiền, trái tim tôi dường như nặng trĩu, và tôi không còn nhớ gì nữa.

Bản quyền

Cậu Bé Không Nhà Copyright © 2026 by khosachviet.com. All Rights Reserved.