"

CHƯƠNG I. TÔI LÀ ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

Tôi là một đứa trẻ không cha mẹ. Nhưng cho tới tận năm tám tuổi, tôi vẫn luôn tin rằng mình có mẹ, giống như tất cả những đứa trẻ khác. Bởi vì mỗi khi tôi khóc, luôn có một người phụ nữ ôm chầm lấy tôi, nhẹ nhàng đung đưa cho đến khi những giọt nước mắt của tôi ngừng rơi. Chưa bao giờ tôi lên giường đi ngủ mà không có bà đến hôn lên trán tôi và nói lời chúc ngủ ngon. Và khi những cơn gió mùa đông thổi tuyết lạnh giá vào ô cửa kính, bà thường ôm lấy đôi chân tôi trong đôi tay mình để sưởi ấm cho chúng, đồng thời cất lời hát ru. Cho đến giờ, tôi vẫn còn thuộc lòng những bài hát bà từng hát cho tôi nghe. Và mỗi khi có cơn giông bất chợt ập đến lúc tôi đang chăn bò ngoài cánh đồng, bà liền chạy vội xuống con đường mòn để đón tôi, dùng tà váy vải bông của mình che chắn cho đầu và vai tôi, để tôi không bị ướt.

Khi tôi tranh cãi với một cậu bé trong làng, bà luôn bảo tôi kể lại toàn bộ câu chuyện. Bà nhẹ nhàng khuyên bảo khi tôi sai và âu yếm khen ngợi khi tôi đúng. Nhờ những điều ấy, cùng với bao điều khác nữa – giọng nói của bà, ánh mắt bà dành cho tôi, ngay cả những lời la mắng dịu dàng của bà – tôi luôn tin chắc rằng bà chính là mẹ tôi.

Làng của tôi – hay đúng hơn là ngôi làng nơi tôi lớn lên, bởi tôi chẳng có một ngôi làng nào thực sự của riêng mình, không có quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, cũng chẳng có cha mẹ – ngôi làng ấy tên là Chavanon; đó là một trong những ngôi làng nghèo nhất nước Pháp. Đất đai chỉ có một phần nhỏ là canh tác được, bởi phần lớn những ngọn đồi hoang phủ kín cây thạch nam và những bụi chổi. Chúng tôi sống trong một ngôi nhà nhỏ bên cạnh dòng suối.

Đến năm lên tám, tôi chưa hề thấy bóng dáng một người đàn ông nào trong ngôi nhà ấy. Thế nhưng, mẹ nuôi của tôi không phải là một quả phụ. Chồng bà, một người thợ đá, đang làm việc ở Paris và đã không một lần trở về làng kể từ lúc tôi đủ lớn để ý thức được mọi chuyện xung quanh mình. Thỉnh thoảng, ông gửi tin tức về qua một người bạn nào đó trở lại làng – bởi có nhiều nông dân quanh đây cũng ra thành phố làm nghề thợ đá.

“Bà Barberin này,” người đưa tin thường nói, “chồng bà vẫn khỏe, ông ấy nhắn tôi nói với bà rằng công việc vẫn ổn, và gửi về cho bà ít tiền này. Bà thử đếm xem?”

Chỉ có thế. Bà Barberin thấy hài lòng, chồng bà đã khỏe và ông ấy có công việc để làm.

Việc ông Barberin vắng nhà không có nghĩa là ông không hòa thuận với vợ. Ông ở lại Paris vì công việc buộc ông phải ở đó. Đến khi già, ông sẽ trở về sống cùng vợ bằng số tiền ông đã dành dụm được.

Vào một buổi tối tháng Mười Một, có một người đàn ông dừng chân trước cổng nhà chúng tôi. Lúc ấy, tôi đang đứng trên bậc cửa, bẻ những cành cây. Ông ta nhìn qua thanh cổng phía trên và gọi hỏi tôi xem bà Barberin có sống ở đây không. Tôi hét lên “Có” rồi bảo ông ta cứ vào. Ông ta đẩy cánh cổng cũ kỹ mở ra và từ từ bước lên nhà. Tôi chưa từng thấy ai bẩn thỉu đến thế. Ông ta dính đầy bùn đất từ đầu đến chân. Dễ dàng nhận ra ông đã đi một quãng đường dài trên những con đường xấu. Nghe thấy tiếng động, bà Barberin vội chạy ra.

“Tôi từ Paris mang tin về đây,” người đàn ông nói.

Có điều gì đó trong giọng nói của người đàn ông khiến bà Barberin bồn chồn lo lắng.

“Ôi trời ơi,” bà kêu lên, hai tay vò vò vào nhau, “chắc chắn có chuyện gì đó xảy ra với Jerome rồi!”

“Đúng vậy, có chuyện xảy ra, nhưng bà đừng sợ. Ông ấy bị thương, nhưng không chết, chỉ có điều có lẽ ông ấy sẽ bị tật nguyền. Tôi đã ở chung phòng với ông ấy, và khi tôi trên đường trở về nhà, ông ấy nhờ tôi chuyển lời nhắn này cho bà. Tôi không thể ở lại lâu vì còn phải đi thêm mấy dặm đường nữa, mà trời cũng đã tối rồi.”

Nhưng bà Barberin muốn nghe thêm chi tiết. Bà nài nỉ ông ta ở lại dùng bữa tối. Đường xá xa xôi! Và người ta đồn rằng có sói xuất hiện ở ven rừng. Ông ta có thể lên đường vào sáng sớm hôm sau. Bà hỏi ông ta có chịu ở lại không?

Vâng, ông ta sẽ ở lại. Ông ta ngồi xuống cạnh bếp lửa, và trong bữa tối, ông ta kể cho chúng tôi nghe tai nạn đã xảy ra như thế nào. Ông Barberin bị thương nặng vì một giàn giáo đổ sập. Vì ông ta không có lý do gì để có mặt đúng ở chỗ đó, người chủ thầu đã từ chối bồi thường.

“Tội nghiệp ông Barberin,” người đàn ông nói, vừa lau khô ống quần đã cứng đờ vì bám đầy bùn, “ông ấy thật là không may, không may chút nào! Một số người có thể kiếm được cả đống tiền từ chuyện này, nhưng chồng bà thì chẳng được gì cả!”

“Không may!” ông ta lại nói với giọng đầy cảm thông, thể hiện rõ ràng rằng ông ta sẵn sàng để nửa thân mình bị nghiền nát nếu có thể nhận được một khoản trợ cấp. “Như tôi đã nói với ông ấy, ông ấy nên kiện cái gã chủ thầu đó.”

“Kiện tụng,” bà Barberin buột miệng, “tốn kém lắm đấy.”

“Ừ, nhưng nếu bà thắng kiện thì sao!”

Bà Barberin muốn lập tức lên Paris, nhưng đó là một việc quá khó khăn… hành trình quá xa xôi, và lại hao tổn quá nhiều tiền bạc!

Sáng hôm sau, chúng tôi vào làng gặp cha xứ. Ngài khuyên bà đừng vội lên đường, mà trước hết hãy tìm hiểu xem liệu bà có thể làm được gì không. Ngài viết thư cho bệnh viện nơi họ đưa ông Barberin đến, và vài ngày sau, ngài nhận được thư hồi âm nói rằng vợ ông Barberin không cần phải đến, nhưng bà có thể gửi một khoản tiền nhất định cho chồng mình, bởi vì ông ấy định kiện người chủ thầu nơi ông ấy gặp tai nạn.

Nhiều ngày, nhiều tuần trôi qua, thi thoảng lại có thư gửi đến đòi tiền. Lá thư cuối cùng, khẩn thiết hơn những lá trước, bảo rằng nếu không còn tiền thì phải bán con bò đi để lấy tiền.

Chỉ những ai đã sống ở nông thôn, giữa những người nông dân, mới hiểu hết nỗi đau đớn ẩn chứa trong ba chữ “Bán con bò”. Chừng nào trong chuồng còn có con bò, họ biết mình sẽ không phải chết đói. Chúng tôi vắt sữa nó để chan vào bát súp, để trộn với khoai tây. Nhờ nó mà chúng tôi sống no đủ, đến mức cho tới thời điểm tôi kể chuyện này, tôi gần như chưa từng được nếm thịt. Nhưng con bò của chúng tôi không chỉ nuôi sống chúng tôi, nó còn là bạn của chúng tôi nữa. Có người tưởng bò là loài vật ngu đần. Không phải thế, bò rất thông minh. Khi chúng tôi trò chuyện với nó, vuốt ve và hôn nó, nó hiểu chúng tôi; và với đôi mắt to tròn, hiền lành, nó biết cách bày tỏ rõ ràng điều nó muốn và không muốn. Thật vậy, nó yêu chúng tôi và chúng tôi yêu nó, thế là đủ nói lên tất cả. Thế nhưng, chúng tôi buộc phải xa nó, bởi chỉ có bán con bò đi thì ông chồng bà Barberin mới hài lòng.

Một người lái buôn gia súc tới nhà chúng tôi, sau khi xem xét Rousette thật kỹ – suốt quá trình ấy ông ta cứ lắc đầu và nói rằng nó chẳng hợp với ông chút nào, ông sẽ chẳng bán lại được, nó không cho sữa, nó làm bơ cũng dở – cuối cùng ông ta tuyên bố sẽ nhận nó, nhưng chỉ vì lòng tốt, bởi bà Barberin là một người phụ nữ trung thực và tốt bụng.

Tội nghiệp Rousette, như thể nó hiểu chuyện gì đang xảy ra, nó nhất định không chịu ra khỏi chuồng và bắt đầu rống lên thảm thiết.

“Đi ra phía sau đuổi nó ra,” người đàn ông bảo tôi, rồi đưa cho tôi cây roi ông ta đang đeo quanh cổ.

“Không, nó sẽ không đi đâu cả,” mẹ tôi kêu lên. Bà nắm lấy Rousette từ phía sau, nhẹ nhàng nói với nó: “Nào, người đẹp của mẹ, đi nào… đi thôi.”

Rousette không thể chống lại bà, và rồi, khi nó ra đến đường, người đàn ông buộc nó vào sau chiếc xe ngựa của ông ta, con ngựa bắt đầu bước đi và nó phải đi theo.

Chúng tôi quay trở lại nhà, nhưng một lúc lâu sau chúng tôi vẫn nghe thấy tiếng nó kêu ré lên. Không còn sữa, không còn bơ nữa! Buổi sáng chỉ có một mẩu bánh mì, buổi tối là khoai tây với muối.

Ngày Thứ Ba Béo diễn ra vài ngày sau khi chúng tôi bán con bò. Năm ngoái, bà Barberin đã làm một bữa tiệc cho tôi với bánh kếp và bánh táo chiên, và tôi đã ăn rất nhiều đến nỗi bà ấy mỉm cười và cười vui vẻ. Nhưng bây giờ chúng tôi không còn Rousette để cho sữa hoặc bơ, nên sẽ không có Thứ Ba Béo, tôi tự nhủ một cách buồn bã.

Nhưng bà Barberin đã dành cho tôi một bất ngờ. Dù không quen thói vay mượn, bà đã xin một cốc sữa từ người hàng xóm này, một miếng bơ từ người hàng xóm khác, và khi tôi về nhà vào lúc giữa trưa, bà đang đổ bột mì vào một cái bát đất nung lớn.

“Ồ,” tôi nói, tiến lại gần bà, “bột mì ạ?”

“Ừ, đúng rồi,” bà đáp, nở một nụ cười, “đó là bột mì đấy, Remi bé bỏng của ta ạ. Con nhìn xem nó tạo ra những cánh bột đẹp làm sao.”

Chính vì tôi háo hức quá muốn biết bột mì ấy để làm gì mà tôi lại không dám hỏi. Hơn nữa, tôi không muốn bà biết rằng tôi nhớ hôm nay là Thứ Ba Béo, sợ bà sẽ cảm thấy buồn.

“Người ta dùng bột mì để làm gì?” bà hỏi, nở một nụ cười với tôi.

“Làm bánh mì.”

“Còn gì nữa?”

“Cháo.”

“Và còn gì nữa?”

“Ồ, con không biết.”

“Con biết mà, chỉ vì con là một cậu bé ngoan ngoãn nên con không dám nói ra thôi. Con biết hôm nay là ngày làm bánh kếp, và vì con nghĩ chúng ta không có bơ cùng sữa nên con không dám nói. Có đúng thế không, hả?”

“Ôi, Mẹ.”

“Mẹ không muốn ngày làm bánh kếp lại trở nên tệ như vậy đối với Remi bé nhỏ của mẹ. Con hãy nhìn vào cái thùng kia xem.”

Tôi vội vàng mở nắp thùng ra và thấy bên trong có sữa, bơ, trứng cùng ba quả táo.

“Đưa mẹ những quả trứng,” bà nói; “trong lúc mẹ đập trứng, con hãy gọt táo nhé.”

Trong lúc tôi thái táo thành từng lát mỏng, bà đập trứng vào bát bột mì rồi bắt đầu khuấy đều hỗn hợp, thỉnh thoảng lại rót thêm chút sữa vào. Khi bột đã nhuyễn mịn, bà đặt chiếc bát đất nung to lên đống than đang âm ỉ, vì bữa tối nay chúng tôi sẽ được ăn bánh kếp và bánh táo chiên. Phải thú thật rằng ngày hôm ấy sao mà dài thăm thẳm, tôi đã không biết bao nhiêu lần giở tấm vải bà dùng để đậy bát bột lên.

“Con làm thế bột sẽ nguội mất,” bà Barberin trách nhẹ; “và bánh sẽ không nở được đâu.”

Nhưng bột vẫn nở rất tốt, những bong bóng nhỏ li ti cứ nổi lên mặt bột. Mùi trứng hòa với sữa tỏa ra thơm lừng, khiến người ta chỉ muốn ăn ngay.

“Con đi bổ ít củi đi,” bà Barberin bảo tôi; “chúng ta cần đốt lên một ngọn lửa thật to.”

Cuối cùng, cây nến đã được thắp sáng.

“Cho củi vào lửa đi con!”

Bà ấy chẳng cần phải nhắc lại lần thứ hai; tôi đã nóng lòng chờ đợi câu nói ấy từ lâu. Chẳng mấy chốc, một ngọn lửa rực cháy bùng lên trong lò sưởi, ánh sáng từ ngọn lửa lan tỏa khắp gian bếp. Rồi bà Barberin với lấy chiếc vá gỗ lớn treo trên móc và đặt lên bếp.

“Đưa mẹ miếng bơ nào!”

Bà dùng đầu dao gạt một cục bơ nhỏ cỡ hạt óc chó vào chảo, nó nhanh chóng tan chảy và kêu xèo xèo. Đã lâu lắm rồi chúng tôi mới lại ngửi thấy mùi hương ấy. Miếng bơ thơm biết bao! Tôi đang mê mải lắng nghe tiếng xèo xèo thì bỗng nghe thấy tiếng bước chân ngoài sân nhà.

Ai có thể đến làm phiền chúng tôi vào giờ này nhỉ? Có lẽ là một người hàng xóm đến xin ít củi. Tôi không thể nghĩ ra điều gì khác, bởi vì ngay lúc đó bà Barberin đang nhúng chiếc vá gỗ lớn vào bát và chuẩn bị đổ một thìa bột vào chảo, và đây không phải là lúc để tâm trí tôi lang thang. Ai đó đã gõ cửa bằng một cây gậy, rồi cánh cửa bật mở.

“Ai đó?” bà Barberin hỏi, không quay lại.

Một người đàn ông đã bước vào. Qua ánh lửa sáng rực chiếu vào ông ta, tôi thấy ông ta cầm một cây gậy lớn trong tay.

“Vậy là, các người đang ăn mừng ở đây à, đừng bận tâm,” ông ta nói một cách thô lỗ.

“Trời ơi!” bà Barberin thốt lên, vội vàng đặt chảo xuống nền nhà, “có phải anh không, Jerome?”

Sau đó, bà nắm lấy tay tôi, kéo tôi về phía người đàn ông đang đứng ở ngưỡng cửa.

“Đây là cha của con.”

Bản quyền

Cậu Bé Không Nhà Copyright © 2026 by khosachviet.com. All Rights Reserved.