"

CHƯƠNG V. TRÊN ĐƯỜNG ĐI

Chỉ vì một người đàn ông trả bốn mươi franc để mua một đứa trẻ, không có nghĩa ông ta là quái vật hay định bụng ăn thịt đứa trẻ đó. Vitalis không có ý định ăn thịt tôi, và dù ông ấy có mua trẻ con, ông ấy không phải là người xấu. Tôi sớm có bằng chứng về điều đó. Chúng tôi đã đi bộ một lúc lâu mà không nói lời nào. Tôi thở dài.

“Ta biết con cảm thấy thế nào mà,” Vitalis nói; “cứ khóc đi nếu con muốn. Nhưng hãy cố gắng hiểu rằng điều này là vì lợi ích của con. Những người đó không phải là cha mẹ con; người vợ đã đối xử tốt với con và ta biết con yêu bà ấy, đó là lý do vì sao con cảm thấy buồn bã như vậy. Nhưng bà ấy không thể giữ con lại nếu người chồng không muốn. Và có lẽ ông ta cũng không hẳn là người tệ; ông ta bị ốm và không làm được việc gì nữa. Ông ta sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống….”

Vâng, những gì ông nói là đúng, nhưng trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất, có lẽ tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại người mà tôi yêu thương nhất trên đời này nữa.

“Con sẽ không buồn khi ở với ta đâu,” ông ấy tiếp tục nói; “như vậy còn tốt hơn là bị gửi đến Nhà Trẻ. Và nghe ta nói này, con đừng cố bỏ trốn nhé, vì nếu con làm vậy, Capi và Zerbino sẽ bắt được con ngay thôi.”

Bỏ trốn – tôi không còn nghĩ đến việc đó nữa. Tôi sẽ đi đâu chứ? Người đàn ông cao lớn này có lẽ sẽ là một người chủ tốt bụng. Tôi chưa bao giờ đi bộ xa đến vậy trong một lần. Xung quanh chúng tôi là những vùng đất cằn cỗi và những ngọn đồi, không hề đẹp đẽ như tôi từng nghĩ thế giới bên ngoài ngôi làng của mình sẽ như thế nào.

Vitalis bước những bước dài đều đặn, cõng Pretty-Heart trên vai hoặc đặt trong túi, còn lũ chó thì lóc cóc đi sát bên chúng tôi. Thỉnh thoảng, ông lại thốt lên vài lời âu yếm với chúng, khi thì bằng tiếng Pháp, khi thì bằng một thứ tiếng tôi chẳng hiểu. Cả ông lẫn những con vật dường như chẳng hề biết mệt. Còn tôi… tôi thì kiệt sức rồi. Tôi lê bước nặng nề và chỉ cố gắng hết sức để theo kịp người chủ mới của mình. Tuy vậy, tôi không muốn xin ông cho nghỉ ngơi.

“Chính đôi giày gỗ này làm con mệt đấy,” ông nói, nhìn xuống tôi. “Khi chúng ta đến Ussel, ta sẽ mua cho con một đôi giày.”

Những lời ấy tiếp thêm cho tôi dũng khí. Tôi vẫn luôn khát khao có một đôi giày. Con trai ông thị trưởng và con trai ông chủ quán trọ đều đi giày, nên mỗi khi Chủ Nhật họ đến nhà thờ, trông họ như đang lướt đi trên những lối lát đá, trong khi chúng tôi, lũ trẻ nhà quê, cứ ì ọp đôi ủng nặng nề, gây nên bao tiếng động ồn ào.

“Ussel còn xa lắm không ạ?”

“À, thì ra con thực sự mong mỏi điều đó,” Vitalis đáp, cười lên. “Thế là con muốn có một đôi giày, phải không? Được thôi, ta hứa sẽ mua cho con một đôi, loại có cả đinh to nữa. Và ta sẽ mua cho con quần nhung, áo gi-lê, cùng một chiếc mũ. Hy vọng những thứ ấy sẽ khiến con thôi không khóc nữa, và cho đôi chân con sức lực để đi thêm sáu dặm đường nữa.”

Giày có đinh! Tôi tràn ngập niềm tự hào. Có giày đã là oai lắm rồi, huống chi giày có đinh! Tôi quên hết nỗi buồn. Giày có đinh! Quần nhung! Áo gi-lê! Mũ! Ôi, nếu Mẹ Barberin nhìn thấy tôi, bà sẽ vui biết bao, bà sẽ tự hào về tôi biết nhường nào! Nhưng dù có lời hứa sẽ có giày và quần nhung sau sáu dặm đường, tôi vẫn cảm thấy không thể nào đi hết quãng đường đó.

Bầu trời, lúc đầu trong xanh khi chúng tôi khởi hành, giờ đây đã phủ đầy mây xám và chẳng mấy chốc một cơn mưa phùn bắt đầu rơi. Vitalis được che chắn khá tốt với chiếc áo da cừu của mình và ông ấy có thể che cho Pretty-Heart, con vật mà ngay giọt mưa đầu tiên đã vội vã rút vào chỗ ẩn náu của mình. Nhưng lũ chó và tôi thì không có gì để che đậy, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã ướt sũng. Lũ chó thỉnh thoảng có thể lắc mình, nhưng tôi thì không thể làm vậy, và tôi phải lê bước dưới lớp quần áo nặng trịch, ướt sũng nước, thứ làm tôi lạnh cóng.

“Con có hay bị cảm lạnh không?” ông chủ mới của tôi hỏi.

“Con không biết. Con không nhớ mình từng bị cảm bao giờ.”

“Tốt. Vậy là con có sức khỏe tốt. Nhưng ta không muốn để con chịu đựng thêm điều gì khổ hơn những gì chúng ta buộc phải chịu. Phía trước có một ngôi làng nhỏ, chúng ta sẽ nghỉ lại đêm ở đó.”

Ngôi làng này không có quán trọ, và cũng chẳng ai muốn cho một ông già ăn mày dắt theo một đứa trẻ cùng ba con chó – tất cả đều ướt sũng – trú nhờ.

“Ở đây không có chỗ cho các người nghỉ,” họ nói.

Rồi họ đóng sầm cửa lại trước mặt chúng tôi. Chúng tôi đi từ nhà này sang nhà khác, nhưng tất cả đều từ chối không cho chúng tôi vào. Lẽ nào chúng tôi lại phải lê bước thêm bốn dặm đường nữa đến Ussel mà chẳng được nghỉ ngơi chút nào? Đêm đã khuya, và cơn mưa khiến chúng tôi lạnh cóng. Ôi, giá như được trở về nhà của Mẹ Barberin!

Cuối cùng, một người nông dân, tốt bụng hơn những người hàng xóm của mình, đồng ý cho chúng tôi vào ngủ trong chuồng bò của ông ta. Nhưng ông ta đưa ra điều kiện là chúng tôi có thể ngủ ở đó, nhưng không được có ánh sáng.

“Đưa diêm cho ta,” ông ấy nói với Vitalis. “Ngày mai, khi ông đi, ta sẽ trả lại.”

Ít nhất chúng tôi cũng có mái che để tránh cơn bão.

Trong chiếc túi Vitalis đeo trên lưng, ông lấy ra một ổ bánh mì và bẻ thành bốn miếng. Lúc đó, tôi lần đầu tiên thấy ông ấy duy trì sự vâng lời và kỷ luật trong nhóm của mình như thế nào. Trong lúc chúng tôi đi gõ cửa từng nhà xin chỗ trú, Zerbino đã lẻn vào một ngôi nhà và gần như ngay lập tức chạy ra, ngậm trong miệng một mẩu bánh mì. Vitalis chỉ nói:

“Được rồi, Zerbino… tối nay.”

Tôi đã không còn bận tâm đến vụ trộm nữa, cho đến khi nhìn thấy Vitalis cắt ổ bánh mì; Zerbino trông rất ủ rũ. Vitalis và tôi ngồi trên một chiếc hộp, với Pretty-Heart ở giữa. Ba con chó đứng thành một hàng trước mặt chúng tôi, Capi và Dulcie đưa mắt nhìn chằm chằm vào chủ nhân của chúng. Zerbino đứng với đôi tai cụp xuống và cái đuôi kẹp giữa hai chân.

“Kẻ trộm phải rời khỏi hàng ngũ và đi vào góc,” Vitalis nói với giọng ra lệnh; “nó sẽ đi ngủ mà không có bữa tối.”

Zerbino rời khỏi vị trí của mình, và đi ngoằn ngoèo đến góc mà Vitalis chỉ bằng ngón tay. Nó co mình dưới một đống cỏ khô, khuất khỏi tầm mắt, nhưng chúng tôi nghe thấy nó thở dài não nề, kèm theo tiếng rên khe khẽ.

Sau đó, Vitalis đưa cho tôi một miếng bánh mì, và trong khi ăn phần của mình, ông ấy bẻ những mẩu nhỏ cho Pretty-Heart, Capi và Dulcie. Tôi thèm món súp của Mẹ Barberin biết bao… dù không có bơ, và cả ngọn lửa ấm áp, và chiếc giường nhỏ của tôi với những tấm chăn tôi kéo lên tận mũi. Hoàn toàn kiệt sức, tôi ngồi đó, đôi chân bỏng rát vì bị giày cọ xát. Tôi run lên vì lạnh trong bộ quần áo ướt sũng. Trời đã tối, nhưng tôi không nghĩ đến việc đi ngủ.

“Con run cầm cập thế,” Vitalis nói; “con bị lạnh à?”

“Một chút ạ.”

Tôi nghe ông ấy mở túi.

“Tôi không có nhiều quần áo đâu,” ông nói, “nhưng đây là chiếc áo sơ mi khô và chiếc áo gi-lê con có thể mặc. Rồi con chui xuống đống cỏ khô, sẽ thấy ấm ngay và ngủ thôi.”

Nhưng tôi đã không ấm lên nhanh như Vitalis nghĩ; tôi cứ trằn trọc trên đống rơm rất lâu, quá buồn để có thể ngủ được. Chẳng lẽ từ nay trở đi, tất cả những ngày của tôi sẽ đều như thế này sao: đi mãi dưới trời mưa như trút; ngủ trên gác mái, run lên vì lạnh, và chỉ có một mẩu bánh mì khô cho bữa tối? Không có ai yêu thương tôi; không có ai ôm ấp tôi; không còn Mẹ Barberin nữa!

Lòng tôi quặn lại vì đau buồn. Nước mắt lăn dài trên má, rồi bỗng tôi cảm thấy một hơi thở ấm áp phảng phất trên mặt. Tôi đưa tay ra và ngón tay tôi chạm vào bộ lông xù của Capi. Nó đã lặng lẽ đến bên tôi, bước thật nhẹ trên rơm, và đang ngửi ngửi tôi: nó hít hà nhè nhẹ, hơi thở của nó thoảng qua má tôi và mái tóc tôi. Nó muốn gì thế nhỉ? Chẳng bao lâu sau, nó nằm xuống đống rơm, sát bên tôi, và bắt đầu liếm nhẹ nhàng lên tay tôi. Cảm động trước cử chỉ âu yếm ấy, tôi ngồi bật dậy trên giường rơm và ôm chầm lấy cổ nó, hôn lên chiếc mũi lạnh ngắt. Nó rên lên một tiếng nghẹn ngào rồi nhanh chóng đặt chân lên tay tôi và nằm im. Tôi quên hết mệt nhọc và nỗi buồn. Tôi không còn cô đơn nữa. Tôi đã có một người bạn.

Bản quyền

Cậu Bé Không Nhà Copyright © 2026 by khosachviet.com. All Rights Reserved.