"

CHƯƠNG XIII. NHỮNG NGÀY THẬT BUỒN TẺ

Lại một lần nữa, tôi phải lê bước theo ông chủ với cây đàn hạc vác trên vai, đi qua mưa, qua nắng, qua bụi, qua bùn đất. Tôi phải diễn trò, phải cười, phải khóc để làm hài lòng “khán giả danh giá”.

Trong những chuyến đi dài, không ít lần tôi chậm lại phía sau để nghĩ về Arthur, mẹ cậu bé và chiếc thuyền Swan. Khi đến một ngôi làng bẩn thỉu nào đó, tôi lại thèm khát cái cabin xinh xắn trên chiếc thuyền. Giờ đây, những tấm ga giường thật thô ráp làm sao. Thật khủng khiếp khi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ được chơi với Arthur nữa, và không bao giờ nghe thấy giọng nói của mẹ cậu bé.

Thật may mắn, trong nỗi buồn sâu thẳm của mình, tôi vẫn có được một niềm an ủi; Vitalis đối xử với tôi tốt hơn rất nhiều, tốt hơn hẳn so với trước kia. Cách ông đối đãi với tôi đã hoàn toàn thay đổi. Tôi cảm thấy giờ đây ông còn hơn cả một người chủ. Đã nhiều lần, nếu đủ dũng khí, tôi đã muốn ôm chầm lấy ông, bởi tôi khao khát tình yêu thương đến thế. Nhưng tôi không đủ can đảm, bởi Vitalis không phải mẫu người mà ta có thể dễ dàng thân mật. Trước kia, nỗi sợ hãi đã giữ tôi ở một khoảng cách, nhưng giờ đây đó là một điều gì đó mơ hồ hơn, tựa như một thứ tình cảm tôn kính.

Khi rời khỏi ngôi làng, tôi từng nhìn Vitalis giống như bao người lao động bình thường khác. Tôi không phân biệt được gì, nhưng hai tháng sống cùng bà Milligan đã mở rộng tầm mắt và phát triển trí thông minh của tôi. Quan sát ông chủ kỹ hơn, tôi nhận ra rằng về phong thái và dáng vẻ, ông mang một vẻ cao quý rõ rệt. Cách ông làm mọi việc cũng giống hệt như cách bà Milligan từng làm…

Thời gian lặng lẽ trôi. Trên những chặng đường rong ruổi, giờ đây, ánh mắt tôi luôn hướng về phía dòng sông, chứ không còn dõi theo những triền đồi nữa. Tôi luôn nuôi hi vọng thầm kín rằng một ngày nào đó sẽ bắt gặp hình ảnh con thuyền Thiên Nga. Mỗi khi thấy một chiếc thuyền từ xa, lòng tôi lại bồi hồi nghĩ: biết đâu đó chính là Thiên Nga. Nhưng chẳng lần nào thành sự thật.

Chúng tôi đã dừng chân ở Lyons vài ngày, và tất cả thời gian rảnh rỗi, tôi đều đem dành trọn trên các bến sông, đăm đăm nhìn dòng nước chảy. Tôi miêu tả con thuyền xinh đẹp ấy cho những người đánh cá nghe và hỏi han họ có từng thấy nó hay không, nhưng chẳng ai biết đến.

Rồi cuối cùng, chúng tôi cũng phải rời Lyons để đến Dijon; lúc ấy, tôi bắt đầu buông bỏ hy vọng được gặp lại bà Milligan, bởi ở Lyons, tôi đã xem kĩ tất cả các bản đồ nước Pháp, và tôi hiểu rằng con thuyền Thiên Nga không thể đi xa hơn về thượng nguồn để vào sông Loire. Nó sẽ rẽ ở Chalon. Chúng tôi đã đến Chalon, rồi lại tiếp tục lên đường mà vẫn không thấy bóng dáng nó đâu. Thế là giấc mơ của tôi chấm dứt ở đó.

Tệ hơn nữa, mùa đông đã đến, và chúng tôi phải lê bước mệt mỏi trong mưa và tuyết mù mịt. Ban đêm, khi đến một quán trọ tồi tàn, hay trong một cái chuồng ngựa, kiệt sức, ướt sũng, tôi không thể ngủ thiếp đi với nụ cười trên môi. Đôi khi, chúng tôi lạnh cóng đến tận xương, và Pretty-Heart cũng buồn bã, ủ rũ như tôi vậy.

Mục đích của ông chủ là đến Paris càng nhanh càng tốt, vì chỉ ở Paris chúng tôi mới có cơ hội biểu diễn trong mùa đông. Giờ đây chúng tôi kiếm được rất ít tiền, nên không đủ khả năng đi tàu.

Sau những cơn mưa đá lạnh lẽo, gió bắt đầu thổi từ phương Bắc. Trời đã ẩm ướt nhiều ngày. Ban đầu, chúng tôi không ngại gió bắc buốt giá táp vào mặt, nhưng chẳng mấy chốc bầu trời đầy những đám mây đen kịt và mặt trời mùa đông biến mất hẳn. Chúng tôi biết một cơn bão tuyết sắp đến.

Vitalis lo lắng, chỉ muốn nhanh chóng tới thị trấn lớn tiếp theo, nơi chúng tôi có thể dừng lại và biểu diễn vài buổi, phòng khi thời tiết trở nên quá khắc nghiệt.

“Đi ngủ nhanh đi,” ông ấy bảo chúng tôi khi chúng tôi tới một quán trọ đêm hôm đó; “sáng mai chúng ta sẽ lên đường thật sớm, vì ta không muốn bị kẹt lại giữa cơn bão tuyết.”

Ông ấy không đi ngủ ngay, mà ngồi lại bên góc lò sưởi để sưởi ấm cho Pretty-Heart, chú khỉ đang phải chịu đựng cơn rét khổ sở. Chú khỉ liên tục rên rỉ, dù chúng tôi đã quấn quanh người chú ấy rất nhiều lớp chăn.

Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm theo đúng lời dặn. Trời vẫn chưa sáng hẳn, bầu trời âm u và đen đặc, chẳng thấy một ngôi sao nào. Khi chúng tôi mở cửa, một cơn gió dữ dội suýt nữa đã cuốn phăng chúng tôi đi.

“Nếu tôi là ông,” chủ quán nói với Vitalis, “tôi sẽ không liều ra ngoài đâu. Sắp có một trận bão tuyết kinh khủng lắm.”

“Ta đang gấp,” Vitalis đáp, “và ta muốn tới Troyes trước khi nó tới.”

“Ba mươi dặm đấy.”

Dẫu vậy, chúng tôi vẫn lên đường.

Vitalis ôm Pretty-Heart vào lòng để hơi ấm của ông sưởi ấm cho nó, còn lũ chó, vui sướng vì mặt đường cứng và khô, chạy phía trước chúng tôi. Ông chủ đã mua cho tôi một tấm da cừu ở Dijon, tôi khoác nó lên người, để mặt lông quay vào trong.

Thật khó mà mở miệng nói chuyện, nên chúng tôi đi trong im lặng, bước nhanh vừa để cho người ấm lên, vừa để đi được mau hơn. Tuy trời đã sáng từ lâu, bầu trời vẫn tối đen. Phía đông, một vệt trắng cắt ngang những đám mây, nhưng mặt trời vẫn không lộ diện. Nhìn ra xung quanh, cảnh vật giờ đã rõ hơn. Chúng tôi có thể trông thấy những cây trụi lá, những bụi cây, lùm cây với tán lá khô xào xạc, kêu lách tách dưới những cơn gió mạnh. Không một bóng người trên đường, cũng chẳng có ai trên cánh đồng, không tiếng bánh xe lăn, không tiếng roi vun vút.

Bỗng nhiên, từ phía xa, chúng tôi nhìn thấy một vệt sáng nhạt, cứ thế rộng dần, rộng dần lên khi nó tiến lại gần phía chúng tôi. Rồi chúng tôi nghe thấy một thứ âm thanh rì rào tựa như tiếng rít, tiếng kêu kỳ lạ, khắc khổ của đàn ngỗng trời. Đàn chim cuồng loạn bay vút qua đầu chúng tôi; chúng bay đi, hoảng hốt chạy trốn từ phương Bắc về hướng Nam. Trước khi chúng biến mất khỏi tầm mắt, những bông tuyết mềm mại đã bắt đầu lặng lẽ rơi từ bầu trời và bồng bềnh lơ lửng trong không trung.

Vùng đất chúng tôi bước qua thật hoang vu và ảm đạm, khung cảnh hiu quạnh dường như càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng; chỉ còn nghe tiếng gió bắc rít từng cơn vọng lại. Những bông tuyết, tựa những cánh bướm nhỏ, lượn vòng quanh chúng tôi, xoay tít không ngừng mà chẳng chịu chạm xuống mặt đất.

Chúng tôi bước đi chậm rãi. Có vẻ như chẳng thể nào tới được Troyes trước khi cơn bão kéo đến trọn vẹn. Nhưng tôi chẳng hề lo lắng; tôi nghĩ rằng nếu tuyết có rơi, thì trời cũng sẽ chẳng lạnh lắm đâu.

Tôi chẳng biết bão tuyết là gì. Chẳng mấy chốc tôi đã hiểu ra, và bằng một cách mà tôi sẽ chẳng bao giờ quên. Những đám mây đang dồn tụ từ hướng tây bắc. Những bông tuyết không còn nhẹ nhàng lơ lửng trong không trung nữa, mà rơi thẳng xuống, nhanh và dày, phủ kín chúng tôi từ đầu tới chân.

“Chúng ta sẽ phải tìm chỗ trú thân ở ngôi nhà đầu tiên gặp được thôi,” Vitalis lẩm bẩm; “chúng ta không thể tới Troyes được nữa.”

Tôi nghe ông nói vậy thì trong lòng mừng rỡ, nhưng biết tìm nơi trú ẩn ở đâu bây giờ? Trước mắt chẳng thấy một mái nhà, cũng chẳng có dấu hiệu gì cho thấy sắp tới một ngôi làng.

Trước mặt chúng tôi là một khu rừng âm u, tối tăm, hai bên là những quả đồi. Tuyết càng lúc càng rơi nhanh và dày hơn.

Chúng tôi lặng lẽ bước đi. Thỉnh thoảng, ông chủ lại nhấc tấm da cừu lên để Pretty-Heart dễ thở hơn. Đôi lúc, chúng tôi phải nghiêng đầu sang một bên mới thở được. Bầy chó không còn chạy phía trước nữa; chúng nép sát gót chân chúng tôi, đòi hỏi sự che chở mà chính chúng tôi cũng chẳng thể có.

Chúng tôi bước từng bước nặng nề và đau đớn, mù mịt, ướt sũng và lạnh buốt, và, dù giờ đây đã lọt vào sâu trong rừng, con đường mòn xuyên qua đó vẫn hứng trọn những cơn gió rít. Đôi lần tôi trông thấy ông chủ liếc mắt sang phía bên trái, như thể đang tìm kiếm thứ gì đó, nhưng ông chẳng thốt nên lời. Ông hy vọng sẽ tìm thấy điều gì? Tôi đưa mắt nhìn thẳng về phía trước, dọc theo con đường dài hun hút. Trong tầm mắt, tôi chẳng thấy gì ngoài những hàng cây rừng dày đặc hai bên lối. Tôi nghĩ thầm chúng tôi sẽ chẳng bao giờ thoát ra khỏi khu rừng này đâu.

Tôi chỉ từng được thấy tuyết rơi qua khung cửa sổ của một gian bếp ấm áp. Gian bếp ấm áp ấy giờ đây sao mà xa xôi, cách trở đến thế! Bàn chân chúng tôi cứ lún sâu hơn, rồi lại sâu hơn nữa vào tấm thảm trắng xóa dày cộm. Rồi bỗng nhiên, chẳng nói chẳng rằng, Vitalis giơ tay chỉ về phía bên trái. Tôi đưa mắt nhìn theo và thấy lờ mờ hình bóng một túp lều nhỏ được kết từ cành cây.

Chúng tôi phải tìm ra con đường mòn dẫn tới túp lều. Việc này thật chẳng dễ dàng chút nào, bởi tuyết đã rơi dày đủ để xóa nhòa mọi dấu vết của lối đi. Chúng tôi len lỏi qua những bụi cây rậm rạp, rồi sau khi vượt qua một con mương, cuối cùng cũng đã tới được túp lều và bước vào bên trong. Bầy chó mừng rỡ vô cùng, chúng lăn lộn trên nền đất khô và sủa vang lên. Niềm vui của chúng tôi cũng chẳng kém phần mãnh liệt.

“Ta đã nghĩ chắc trong rừng này phải có túp lều của bác tiều phu nào đó,” Vitalis nói. “Giờ thì, tuyết cứ việc rơi đi!”

“Vâng, cứ để tuyết rơi,” tôi đáp lại đầy thách thức, “con chẳng lo lắng gì cả!”

Tôi bước tới lối vào, hay đúng hơn là chỗ thông vào túp lều, bởi nơi ấy chẳng có cửa cũng chẳng có cửa sổ, và tôi giũ mạnh áo khoác cùng chiếc mũ, để nước mưa không làm ướt thêm “căn nhà” nhỏ bé của chúng tôi.

Chỗ ở của chúng tôi được dựng lên thật đơn sơ nhưng vững chãi. Đồ đạc trong ấy chỉ là một nền đất cùng vài hòn đá to được xếp làm ghế ngồi.

Trong một căn lều như thế này, việc kiếm củi chẳng hề khó khăn; chúng tôi chỉ cần nhặt từ những bức vách và mái lều, rút ra đây đó vài bó củi khô. Công việc ấy nhanh chóng hoàn thành, và chẳng bao lâu sau, một ngọn lửa đã bùng lên rực rỡ. Đúng là khói lập tức bao trùm cả túp lều, nhưng điều đó có đáng kể chi? Chúng tôi có lửa, và chúng tôi cần hơi ấm. Tôi nằm phục xuống, chống hai tay, rồi cúi người thổi bùng ngọn lửa; bầy chó ngồi vây quanh lò sưởi một cách trang nghiêm; cổ chúng vươn dài, đưa hai bên sườn ướt sũng về phía ánh lửa đang hồng.

Pretty-Heart nhanh chóng thò đầu ra khỏi áo khoác của Vitalis; thận trọng đưa mũi ra ngoài, chú nhìn quanh để quan sát. Rõ ràng là hài lòng, chú liền nhảy xuống đất và chiếm lấy vị trí tốt nhất trước ngọn lửa, đưa đôi bàn tay nhỏ bé run rẩy của mình về phía ánh lửa.

Sáng hôm ấy, trước khi tôi thức dậy, Vitalis đã chuẩn bị sẵn một ít đồ ăn. Có bánh mì và một miếng phô mai. Tất cả chúng tôi đều bày tỏ niềm vui khi nhìn thấy thức ăn. Thật không may, chúng tôi chỉ có thể ăn một phần rất nhỏ, vì không biết sẽ phải ở trong túp lều bao lâu, Vitalis cho rằng nên để dành một ít cho bữa tối. Tôi hiểu điều đó, nhưng bầy chó thì không, và khi chúng thấy bánh mì được cất lại vào túi trước khi chúng kịp ăn no, chúng đưa chân về phía ông chủ, cào nhẹ vào cổ ông, và làm những cử chỉ như muốn ông mở chiếc túi mà mắt chúng đang dán chặt vào. Nhưng Vitalis không để ý đến chúng; chiếc túi không được mở ra. Bầy chó tự thu xếp để chợp mắt, Capi với mũi chúi vào đống than hồng. Tôi nghĩ mình cũng nên làm theo chúng.

Tôi chẳng rõ mình đã chìm trong giấc ngủ bao lâu; lúc tôi mở mắt ra, tuyết đã thôi không rơi nữa. Tôi đưa mắt nhìn ra bên ngoài. Tuyết phủ dày đặc; nếu chúng tôi liều lĩnh bước ra, chắc chắn tuyết sẽ ngập cao tới đầu gối.

Bây giờ là mấy giờ rồi? Tôi không thể hỏi Vitalis. Chiếc đồng hồ bạc to lớn của ông, chiếc đồng hồ mà Capi từng dùng để báo giờ, đã bị bán đi rồi. Ông ấy đã tiêu hết số tiền để nộp phạt tù, và khi mua tấm da cừu ở Dijon, ông ấy buộc phải bán chiếc đồng hồ to lớn của mình để thanh toán. Từ bầu không khí mờ ảo, u ám này, tôi không thể nào đoán được bây giờ là mấy giờ.

Không một âm thanh nào vang lên; tuyết dường như đã làm đông cứng mọi chuyển động của sự sống. Tôi đang đứng ở cửa vào túp lều thì nghe thấy tiếng ông chủ gọi.

“Con muốn đi chứ?” ông ấy hỏi.

“Con không biết; con muốn làm theo ý ông.”

“Vậy thì, ta nghĩ chúng ta nên ở lại đây; ít nhất chúng ta có nơi trú ẩn và hơi ấm.”

Điều đó đúng, nhưng tôi nhớ rằng chúng tôi không còn thức ăn. Tuy nhiên, tôi không nói gì.

“Ta e là trời sẽ lại có tuyết,” Vitalis tiếp tục. “Chúng ta không muốn ngủ ngoài trời đêm nay. Tốt hơn là ở lại đây.”

Vâng, chúng tôi sẽ phải ở lại túp lều và thắt chặt dây lưng quanh bụng, thế thôi.

Bữa tối, Vitalis chia phần bánh mì còn lại. Than ôi, chỉ còn rất ít, và nó đã nhanh chóng được ăn hết, chúng tôi ngấu nghiến từng mẩu vụn. Sau bữa tối đạm bạc kết thúc, tôi nghĩ lũ chó sẽ bắt đầu ra dấu hiệu đòi thêm như chúng đã làm trước đó, vì chúng đang đói meo. Nhưng chúng không làm vậy, và một lần nữa tôi nhận ra trí thông minh tuyệt vời của chúng.

Khi Vitalis cất con dao vào túi quần, điều đó báo hiệu bữa ăn đã chấm dứt, Capi liền đứng dậy và hít hít túi đựng thức ăn. Sau đó, nó đặt chân lên túi để kiểm tra kỹ hơn. Sự kiểm tra hai lần này đã thuyết phục nó rằng chẳng còn gì để ăn nữa. Rồi, quay trở lại vị trí cũ trước lò sưởi, nó nhìn Zerbino và Dulcie. Ánh mắt ấy rõ ràng ngụ ý rằng chúng sẽ chẳng nhận được thêm gì nữa; sau đó nó duỗi dài người ra, thở một hơi cam chịu. “Hết rồi. Có cầu xin cũng chẳng ích gì đâu.” Nó nói với chúng rành rọt như thể đang thốt thành lời vậy.

Những người bạn đồng hành của nó, thấu hiểu ngôn ngữ ấy, cũng duỗi dài người trước lò sưởi, thở dài, nhưng tiếng thở dài của Zerbino chẳng hề biểu lộ sự cam chịu, bởi ngoài cái bụng to, Zerbino còn là một kẻ phàm ăn, và đây quả là một sự hy sinh lớn lao hơn đối với nó so với những con khác.

Tuyết lại bắt đầu rơi; nó rơi không ngừng. Chúng tôi thấy lớp phủ trắng xóa trên mặt đất dày dần lên, đến mức những bụi cây nhỏ và các lùm cây dần bị che khuất bên dưới. Khi màn đêm buông xuống, những bông tuyết lớn vẫn lặng lẽ rơi từ bầu trời tối đen xuống mặt đất lấp lánh.

Vì chúng tôi phải ngủ lại nơi này, việc tốt nhất là đi ngủ càng sớm càng tốt. Tôi cuộn mình trong tấm da cừu, thứ đã được tôi hong khô bên bếp lửa suốt ngày, và nằm xuống cạnh lò sưởi, đầu tựa lên một hòn đá phẳng dùng thay gối.

“Con cứ ngủ đi,” Vitalis nói; “đến lượt ta, ta sẽ đánh thức con dậy, bởi dù chúng ta chẳng có gì phải sợ từ thú dữ hay con người trong túp lều này, một trong hai chúng ta vẫn phải thức để canh cho ngọn lửa không tắt. Chúng ta cần cẩn thận đừng để bị lạnh, vì trời sẽ buốt giá kinh khủng khi tuyết ngừng rơi.”

Tôi đang chìm trong giấc ngủ. Giữa đêm khuya thanh vắng, ông chủ đã đánh thức tôi dậy. Ngọn lửa trong lò vẫn còn cháy, và ngoài kia tuyết đã ngừng rơi.

“Đến lượt ta ngủ đây,” Vitalis nói; “khi lửa tàn, con nhớ ném thêm củi vào, ta đã chuẩn bị sẵn ở đây rồi.”

Ông đã chất sẵn một đống củi nhỏ bên cạnh lò sưởi. Ông chủ, vốn ngủ nhẹ hơn tôi rất nhiều, không muốn tôi làm phiền giấc ngủ của ông mỗi khi phải với củi từ trên tường xuống. Bởi vậy, từ đống củi ông đã để sẵn, tôi có thể lấy củi và ném vào lửa mà chẳng gây ra tiếng động nào. Đó quả là một việc làm khôn ngoan, nhưng than ôi, Vitalis đâu ngờ được kết cục sẽ ra sao.

Ông ấy duỗi thẳng người trước lò sưởi, khỉ Pretty-Heart được quấn chặt trong chăn và ôm sát bên mình, chẳng mấy chốc, từ những hơi thở sâu đều đặn của ông, tôi biết ông đã chìm vào giấc ngủ. Thế rồi, tôi nhẹ nhàng đứng dậy, bước đến cửa để ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài.

Toàn bộ cỏ cây, bụi rậm và cối xanh giờ đây đều bị vùi lấp dưới lớp tuyết dày. Bất cứ nơi nào tầm mắt có thể với tới, chỉ thấy một màu trắng xóa chói lòa. Bầu trời lấp lánh muôn ngàn vì sao, nhưng dù chúng có sáng rực đến đâu, chính lớp tuyết phủ khắp nơi mới là thứ tỏa ra thứ ánh sáng mờ ảo, nhàn nhạt xuống mặt đất. Lúc này, trời đã lạnh hơn rất nhiều; cái rét đang đóng băng mọi thứ.

Ôi! Giữa rừng sâu thế này, giữa tuyết trắng và cái lạnh cắt da, chúng tôi sẽ làm gì đây nếu không tìm thấy chỗ trú ẩn này?

Dù tôi đã bước những bước thật nhẹ nhàng, đi bằng đầu ngón chân đến lối vào và gần như không gây ra tiếng động nào, tôi vẫn đánh thức lũ chó, và Zerbino đã lẽo đẽo đi theo tôi. Vẻ huy hoàng, lộng lẫy của đêm chẳng có ý nghĩa gì với nó; nó ngó nghiêng cảnh vật một lát, rồi trở nên chán chường và muốn ra ngoài. Tôi ra lệnh cho nó quay trở lại chỗ cũ. Đồ chó ngốc, chẳng phải ở lại bên lò sưởi ấm áp giữa cái lạnh khủng khiếp này tốt hơn sao, còn hơn là đi lang thang ngoài kia? Nó nghe lời tôi, nhưng với vẻ miễn cưỡng rõ rệt, và đôi mắt nó cứ dán chặt vào lối ra vào. Tôi đứng đó thêm vài phút nữa, ngắm nhìn màn đêm trắng xóa. Nó thật đẹp, nhưng dù tôi thấy thích thú, bằng cách nào đó tôi vẫn cảm thấy một nỗi buồn mơ hồ, khó tả. Đương nhiên, tôi có thể quay vào trong và không nhìn nữa, nhưng khung cảnh trắng xóa, bí ẩn kia vẫn mê hoặc tôi.

Sau cùng, tôi trở về bên lò sưởi, đặt hai ba thanh củi dài chéo lên nhau, rồi ngồi xuống tảng đá từng được dùng làm gối. Ông chủ ngủ rất yên lành; đàn chó và Pretty-Heart cũng đang ngủ, còn ngọn lửa thì nhảy múa từ lò sưởi, cuộn xoáy lên mái nhà, bắn ra những tia lửa sáng rực. Tiếng lửa lách tách là âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng của đêm. Tôi nhìn những tia lửa một lúc lâu, rồi dần dần bắt đầu thấy buồn ngủ, mà chẳng hề hay biết.

Nếu phải tự đi lấy củi, có lẽ tôi đã giữ được tỉnh táo, nhưng ngồi trước lò sưởi mà chẳng có việc gì làm, tôi trở nên buồn ngủ quá mức, dù vậy, tôi vẫn nghĩ rằng mình có thể cưỡng lại cơn buồn ngủ ấy.

Tôi choàng tỉnh dậy, bị đánh thức bởi tiếng sủa gầm gừ, dữ dội! Trời đã khuya. Có lẽ tôi đã ngủ rất lâu, ngọn lửa gần như đã tắt hẳn. Không còn ánh lửa nào soi sáng căn lều nữa. Capi đang sủa vang, hết sức dữ tợn. Nhưng thật kỳ lạ! Không hề có tiếng động gì từ Zerbino hay Dulcie.

“Có chuyện gì thế?” Vitalis kêu lên, cũng vừa tỉnh giấc.

“Con không biết.”

“Con ngủ quên, lửa tắt rồi.”

Capi chạy về phía lối vào, nhưng không dám bước ra ngoài. Nó đứng ngay ngưỡng cửa, vẫn sủa không ngừng.

“Chuyện gì đã xảy ra?” đến lượt tôi hỏi.

Đáp lại tiếng sủa của Capi là hai ba tiếng hú thảm thiết, ai oán. Tôi nhận ra đó là giọng của Dulcie. Những tiếng hú ấy vọng ra từ phía sau túp lều của chúng tôi, và rất gần.

Tôi toan bước ra ngoài. Nhưng Vitalis đặt bàn tay lên vai tôi, giữ tôi lại.

“Trước tiên,” ông nói, giọng đầy mệnh lệnh, “hãy bỏ thêm củi vào lửa.”

Trong khi tôi làm theo lời, ông nhặt lấy một cành cây đang cháy từ đống lửa rồi thổi mạnh cho đến khi chỉ còn lại đầu nhọn hồng rực. Ông cầm ngọn đuốc ấy trên tay.

“Đi xem có chuyện gì nào,” ông bảo; “con đi sau ta. Tiến lên trước đi, Capi.”

Lúc chúng tôi bước ra, một tiếng hú kinh hoàng vang lên. Capi lập tức lùi lại, co rúm người sau lưng chúng tôi trong nỗi khiếp sợ.

“Sói! Zerbino và Dulcie đâu rồi?”

Tôi biết nói gì bây giờ? Hai con chó hẳn đã lẻn ra ngoài trong lúc tôi ngủ. Zerbino chờ cho tôi chìm vào giấc ngủ rồi lén bước đi, và Dulcie đã đi theo nó. Bầy sói đã bắt được chúng mất rồi! Giọng nói của ông chủ tràn ngập nỗi lo sợ khi ông hỏi thăm về bầy chó.

“Cầm lấy một ngọn đuốc,” ông ấy nói, “chúng ta phải đi giúp chúng.”

Ở làng quê của tôi, tôi từng nghe người ta kể những câu chuyện kinh hoàng về loài sói, nhưng tôi không thể do dự. Tôi chạy đi lấy một ngọn đuốc rồi theo chân ông chủ.

Nhưng khi ra bên ngoài, chúng tôi chẳng thấy bóng dáng chó hay sói đâu. Trên nền tuyết trắng, chúng tôi chỉ nhìn thấy dấu chân của hai con chó. Chúng tôi men theo những vết chân ấy đi vòng quanh túp lều, rồi cách đó một quãng, chúng tôi phát hiện một khoảng đất trống trên tuyết, trông như thể có vài con vật đã vật lộn, lăn lộn ở đó.

“Đi tìm chúng đi, Capi,” ông chủ ra lệnh; đồng thời, ông huýt sáo gọi Zerbino và Dulcie.

Nhưng không hề có tiếng sủa đáp trả; không một âm thanh nào xé toang sự im lặng đầy bi thương của khu rừng, và Capi, thay vì lao đi như lệnh được truyền, lại nép sát vào chúng tôi, bộc lộ hết mọi dấu hiệu của sự khiếp sợ. Capi, vốn luôn vâng lời và dũng cảm biết bao!

Ánh sáng lúc này không đủ để chúng tôi có thể lần theo dấu vết đi xa hơn. Tuyết quanh chỗ chúng tôi đứng sáng rực lên, thế nhưng xa hơn một chút, tất cả dường như đều mờ mịt và tối đen.

Vitalis lại cất tiếng huýt sáo rồi hét vang gọi tên những con chó đã mất tích. Vẫn chẳng có tiếng sủa nào đáp lại.

Ôi, Zerbino tội nghiệp; Dulcie tội nghiệp!

“Sói đã bắt mất chúng rồi,” Vitalis nói; “tại sao con lại để chúng đi ra ngoài chứ?”

“Vâng? Sao? Tôi không có gì để nói cả.”

“Chúng ta phải đi tìm chúng,” tôi nói sau một hồi im lặng.

Tôi định bước đi trước ông ấy, nhưng ông ấy giữ tôi lại.

“Con sẽ tìm chúng ở đâu?” ông ấy hỏi.

“Con không biết; con sẽ tìm khắp nơi.”

“Trong ánh sáng mờ ảo thế này, làm sao chúng ta biết được chúng đã đi hướng nào.”

Điều đó đúng, và tuyết thì ngập đến tận đầu gối chúng tôi. Hai ngọn đuốc của chúng tôi cộng lại cũng chẳng đủ xuyên thấu màn đêm dày đặc.

“Nếu chúng không đáp lại, thì chắc hẳn chúng đã ở rất xa rồi,” ông ấy nói. “Chúng ta không nên đi tiếp; sói có thể tấn công chúng ta. Chúng ta không thể tự vệ được.”

Thật kinh hoàng khi phải bỏ mặc những con chó tội nghiệp cho số phận của chúng – hai người bạn của chúng tôi; đặc biệt là bạn của tôi. Và điều khủng khiếp nhất là tôi biết mình phải chịu trách nhiệm. Nếu tôi không ngủ thiếp đi, chúng đã không ra ngoài.

Ông chủ đã quay trở lại túp lều. Tôi đi theo, vừa đi vừa ngoái đầu nhìn lại, dừng chân để lắng nghe. Tôi chẳng nghe thấy gì, và cũng chẳng thấy gì ngoài tuyết trắng.

Khi chúng tôi về đến túp lều, một điều bất ngờ khác đang chờ đợi chúng tôi. Những cành cây tôi ném vào lửa vẫn đang cháy và soi sáng những góc khuất nhất của căn lều, nhưng Pretty-Heart thì biệt tăm. Chăn của chú ấy vẫn còn đó trước lò sưởi, nhưng chú ấy không nằm trong đó. Tôi gọi. Vitalis gọi, nhưng chú ấy chẳng xuất hiện.

Ông chủ bảo rằng lúc tỉnh dậy, ông thấy chú khỉ ngồi bên cạnh, thế là trong lúc chúng tôi đi ra ngoài, chú ta đã lẻn mất. Chúng tôi cầm những ngọn đuốc đang cháy soi sát mặt đất phủ đầy tuyết, bắt đầu lần tìm dấu vết. Không thấy một vết tích nào của chú ta.

Chúng tôi trở lại túp lều, xem thử chú khỉ có trốn sau đống củi nào không. Chúng tôi tìm kiếm rất lâu; mười lần chúng tôi dò xét cùng một chỗ, cùng một góc. Tôi trèo lên vai Vitalis để nhìn vào những nhánh cây làm mái che. Chúng tôi gọi mãi, gọi mãi, nhưng chẳng có tiếng đáp lại.

Vitalis có vẻ tức giận. Tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi hỏi ông chủ liệu ông ấy có nghĩ rằng sói cũng có thể bắt mất chú ấy không.

“Không,” ông ấy đáp, “sói sẽ không dám vào túp lều. Ta e rằng chúng đã bắt Zerbino và Dulcie khi chúng ra ngoài, nhưng chúng không vào đây. Rất có thể Pretty-Heart đã sợ hãi và trốn ở đâu đó khi chúng ta ở bên ngoài; đó là lý do tại sao ta lo lắng đến vậy. Trong thời tiết khủng khiếp này, chú ấy sẽ bị cảm lạnh, và cảm lạnh có thể gây tử vong cho chú ấy.”

“Vậy thì, chúng ta cứ tiếp tục tìm kiếm.”

Chúng tôi lại lục soát mặt đất, nhưng tất cả đều vô ích.

“Chúng ta phải đợi đến sáng,” Vitalis nói.

“Khi nào thì sáng?”

“Trong hai hoặc ba giờ nữa, ta nghĩ vậy.”

Vitalis ngồi xuống trước lò sưởi, đầu gục vào hai tay. Tôi không dám làm phiền ông ấy. Tôi đứng khá gần ông ấy, chỉ thỉnh thoảng di chuyển để cho thêm củi vào lửa. Một hoặc hai lần ông ấy đứng dậy và đi ra cửa. Ông ấy nhìn lên bầu trời, lắng nghe chăm chú, rồi quay lại và ngồi xuống. Tôi thà rằng ông ấy tức giận với tôi, còn hơn là ông ấy im lặng và buồn bã như vậy.

Ba giờ trôi qua chậm chạp. Dường như đêm sẽ không bao giờ kết thúc. Những vì sao đang mờ dần trên bầu trời, bầu trời đang sáng hơn. Ngày đang ló dạng. Nhưng khi buổi sáng đến, cái lạnh càng dữ dội hơn; không khí luồn qua cửa làm chúng tôi lạnh cóng đến xương.

Nếu chúng tôi tìm thấy Pretty-Heart, liệu chú ấy có còn sống không?

Tuyết đã ngừng rơi hẳn, trên bầu trời ánh lên một màu hồng nhạt báo hiệu thời tiết sẽ tốt đẹp. Ngay khi trời vừa sáng rõ, Vitalis và tôi, trên tay cầm một cây gậy chắc chắn, rời khỏi túp lều.

Capi không còn tỏ ra sợ hãi như đêm hôm trước nữa. Đôi mắt nó dán chặt vào ông chủ, chỉ chờ đợi một dấu hiệu từ ông là sẽ lao vút về phía trước. Trong khi chúng tôi đang cúi xuống xem xét mặt đất để tìm kiếm dấu chân của Pretty-Heart, Capi bỗng ngẩng đầu lên và bắt đầu sủa vang lên đầy vui mừng. Nó muốn nói rằng chúng tôi phải nhìn lên trên, chứ không phải nhìn xuống mặt đất.

Trong cây sồi lớn đứng cạnh túp lều, chúng tôi tìm thấy chú ấy.

Pretty-Heart tội nghiệp! Sợ hãi bởi tiếng hú của lũ chó, chú ấy đã nhảy lên mái túp lều khi chúng tôi ra ngoài, và từ đó chú ấy leo lên đỉnh một cây sồi, nơi, cảm thấy mình ở một nơi an toàn, chú ấy đã ngồi co ro, mà không trả lời lời kêu gọi của chúng tôi.

Sinh vật nhỏ bé tội nghiệp, yếu ớt, chắc hẳn chú ấy đã bị đóng băng!

Ông chủ nhẹ nhàng gọi chú ấy. Chú ấy không động đậy. Chúng tôi nghĩ chú ấy đã chết rồi. Trong vài phút, Vitalis tiếp tục gọi chú ấy, nhưng chú khỉ không có dấu hiệu nào của sự sống. Lòng tôi đau nhói vì hối hận. Tôi đang bị trừng phạt nghiêm khắc như thế nào! Tôi phải chuộc lỗi.

“Con sẽ trèo lên đón chú ấy,” tôi nói.

“Con sẽ gãy cổ mất.”

“Không, chẳng nguy hiểm gì đâu. Con làm được dễ dàng.”

Đó không phải sự thật. Có nguy hiểm. Việc ấy rất khó khăn, bởi cây to phủ đầy băng tuyết.

Hồi còn rất nhỏ, tôi đã học cách trèo cây, và tôi khá thành thạo nghệ thuật này. Tôi nhảy lên, bám lấy những cành thấp nhất. Tôi níu chặt chúng, và, mặc cho tuyết rơi vào mắt làm mờ đi, tôi vẫn cố gắng leo lên thân cây để tới những cành chắc chắn hơn. Một khi đã lên tới đó, tôi chỉ cần thận trọng để không trượt chân.

Trong lúc trèo, tôi khẽ nói với Pretty-Heart. Chú ấy không nhúc nhích, nhưng nhìn tôi bằng đôi mắt sáng long lanh. Tôi gần như chạm tới chú ấy và sắp với tay ra, thì, với một cú nhảy, chú ấy đã phóng sang cành khác. Tôi đuổi theo chú ấy tới cành ấy, nhưng con người, than ôi, và ngay cả những chàng trai trẻ cũng thua xa khỉ khi trèo cây. Rất có thể tôi sẽ chẳng bao giờ bắt được chú ấy nếu tuyết không làm ướt chân chú. Chú ấy không thích điều đó và chẳng mấy chốc chán việc lẩn tránh tôi; rồi, buông mình từ cành nọ sang cành kia, chú ấy nhảy thẳng lên vai ông chủ và chui tọt vào trong áo khoác của ông.

Việc tìm thấy Pretty-Heart là một điều trọng đại, nhưng vẫn chưa phải là kết thúc. Giờ đây, chúng tôi còn phải đi tìm bầy chó.

Trời đã sáng rõ, chúng tôi có thể nhìn thấy mọi thứ một cách dễ dàng. Trên nền tuyết trắng, chúng tôi đọc được cái chết của đàn chó thân yêu. Chúng tôi lần theo dấu chân của chúng khoảng ba mươi bước. Chúng đã bước ra khỏi túp lều, con nọ nối đuôi con kia, Dulcie đi sau Zerbino. Rồi chúng tôi nhìn thấy những dấu chân khác. Ở một phía, có dấu hiệu của một cuộn vật lộn dữ dội – nơi bầy sói đã xông vào tấn công đàn chó, còn ở những phía khác là dấu chân của lũ sói khi chúng bỏ chạy, mang theo con mồi, để thưởng thức một cách thong thả. Chẳng còn lại dấu vết gì của bầy chó, ngoài những vệt máu đỏ tươi loang lổ trên nền tuyết trắng, điểm xuyết ở chỗ này chỗ kia.

Hai con chó tội nghiệp đã chết trong lúc tôi đang ngủ!

Chúng tôi phải làm ấm Pretty-Heart thật nhanh. Chúng tôi vội vã trở về túp lều. Trong khi Vitalis ôm đôi chân tay nhỏ bé của sinh vật ấy hướng về phía lửa, như người ta ôm một đứa trẻ, tôi hơ ấm chiếc chăn của chú ấy và chúng tôi quấn chú vào đó. Nhưng chú ấy cần nhiều hơn một chiếc chăn; chú ấy cần một thức uống ấm. Ông chủ và tôi ngồi bên lò sưởi, im lặng, nhìn những khúc củi cháy.

“Zerbino tội nghiệp; Dulcie tội nghiệp!”

Mỗi người chúng tôi thì thầm những lời này, trước hết là ông ấy, rồi đến tôi.

Những con chó ấy đã là bạn bè, là bạn đồng hành của chúng tôi, trong cả những lúc tốt đẹp lẫn khó khăn, và đối với tôi trong nỗi cô đơn, chúng có ý nghĩa vô cùng lớn. Tôi tự trách mình biết bao vì đã không canh gác. Sói sẽ không dám tấn công chúng tôi trong túp lều của mình; chúng sẽ phải tránh xa, sợ hãi trước ngọn lửa.

Giá mà Vitalis quát mắng tôi thì tốt hơn! Tôi ước ông ấy đánh tôi một trận. Nhưng ông ấy chẳng thốt ra lời nào. Ông ấy thậm chí chẳng buồn nhìn tôi. Ông ấy ngồi đó, đầu cúi gằm hướng về phía lò sưởi; có lẽ đang nghĩ về tương lai của chúng tôi khi không còn những chú chó bên cạnh.

Bản quyền

Cậu Bé Không Nhà Copyright © 2026 by khosachviet.com. All Rights Reserved.