CHƯƠNG XV. NHỮNG NGƯỜI BẠN TRUNG THÀNH
Chúng tôi còn cách Paris rất xa. Đường đi phủ trắng tuyết, và chúng tôi phải đi bộ từ sớm đến tối, gió bắc thổi thẳng vào mặt. Những quãng đường dài thật buồn tẻ và mỏi mòn biết bao.
Vitalis đi trước, tôi bám sát sau, còn Capi thì đi ở phía sau tôi. Cứ thế, chúng tôi nối đuôi nhau đi mà không thốt lên một lời, suốt nhiều giờ liền, mặt mày tái nhợt vì giá rét, chân ướt sũng, bụng đói cồn cào. Những người qua đường nhìn chúng tôi chăm chăm. Rõ ràng họ thấy lạ lắm… Ông lão này dắt theo đứa bé và con chó đi đâu thế nhỉ?
Sự im lặng dường như thật khủng khiếp và ảm đạm đối với tôi. Tôi ước gì được trò chuyện một chút cho vơi bớt cô đơn, nhưng mỗi khi tôi thử cất lời, Vitalis chỉ đáp lại ngắn ngủn, thậm chí chẳng thèm ngoảnh đầu lại. May thay, Capi thì thân thiết hơn nhiều, và khi tôi bước đi nặng nhọc, tôi thường cảm nhận được chiếc lưỡi ấm áp của nó trên tay mình. Nó liếm tôi như muốn nói: “Bạn của cậu, Capi, vẫn ở đây với cậu đây.” Rồi tôi nhẹ nhàng vuốt ve nó, mà không dừng bước. Chúng tôi hiểu nhau; chúng tôi yêu thương nhau.
Trên nền tuyết trơn láng, chúng tôi cứ thế bước thẳng về phía trước, không hề dừng lại, ban đêm thì ngủ trong chuồng ngựa hoặc chuồng cừu, chỉ với một mẩu bánh mì, ôi thôi, thật là nhỏ bé, cho bữa tối. Đó là bữa ăn duy nhất trong ngày của chúng tôi.
Chúng tôi không hề nói với những người chăn cừu rằng mình đang đói khổ, nhưng Vitalis, với sự khéo léo vốn có, thường khéo léo nhắc rằng “cậu bé này rất thích sữa cừu, vì hồi còn nhỏ, cậu ấy hay được uống nó.” Câu chuyện ấy không phải lúc nào cũng hiệu quả, nhưng nếu có tác dụng, đó sẽ là một đêm tuyệt vời đối với tôi. Vâng, tôi thực sự rất thích sữa cừu và mỗi khi được cho uống, ngày hôm sau tôi cảm thấy khỏe khoắn hơn hẳn.
Tôi cảm thấy thật kỳ lạ khi càng tiến gần đến Paris, phong cảnh xung quanh dường như mất dần vẻ đẹp vốn có. Tuyết không còn giữ được màu trắng tinh khiết và ánh lên vẻ lấp lánh nữa. Tôi từng nghe người ta nói Paris là một nơi vô cùng tuyệt vời, và trong lòng tôi tràn đầy mong đợi về những điều phi thường. Tôi không thể hình dung rõ ràng đó là gì. Có lẽ tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu chứng kiến cây cối được làm bằng vàng, đường phố lát toàn đá cẩm thạch, hay cung điện nguy nga hiện diện khắp nơi.
Đến Paris rồi, những kẻ khốn khổ như chúng tôi sẽ làm gì đây? Tôi muốn hỏi ông Vitalis, nhưng lại không đủ can đảm, bởi trông ông lúc ấy thật ủ rũ, nặng nề. Khi những mái nhà và tháp chuông của kinh thành dần hiện ra trước mắt, ông chậm rãi bước lại gần, đi ngang hàng bên tôi.
“Remi,” ông ấy bỗng nhiên nói, “chúng ta sẽ chia tay khi đến Paris.”
Tôi nhìn ông. Ông nhìn tôi. Gương mặt tôi bỗng tái nhợt đi và đôi môi run rẩy đã cho ông thấy lời nói của ông ảnh hưởng đến tôi thế nào. Trong giây lát, tôi không thốt nên lời.
“Chia tay ư!” cuối cùng tôi thì thầm.
“Tội nghiệp cậu bé, đúng vậy, chúng ta phải chia tay.”
Giọng nói của ông khiến nước mắt tôi trào ra. Đã lâu lắm rồi tôi mới nghe được một lời nói tử tế.
“Ôi, ông tốt bụng quá,” tôi kêu lên.
“Chính cậu mới là người tốt. Trái tim dũng cảm của cậu bé. Sẽ có lúc trong đời người ta cảm nhận được những điều này. Khi mọi thứ suôn sẻ, người ta cứ sống mà không nghĩ nhiều về người đi cùng mình, nhưng khi mọi thứ trở nên tồi tệ, khi mình đi sai đường, và nhất là khi mình già rồi, người ta muốn dựa vào ai đó. Cậu có thể ngạc nhiên khi tôi muốn dựa vào cậu. Nhưng chỉ cần thấy đôi mắt cậu hoe đỏ khi nghe tôi nói, điều đó cũng an ủi tôi rồi, Remi bé nhỏ. Tôi rất bất hạnh.”
Tôi không thể thốt nên lời. Tôi chỉ biết nắm chặt lấy bàn tay ông và khẽ vuốt ve.
“Thật không may là chúng ta lại phải chia tay vào đúng lúc chúng ta đang gắn bó với nhau hơn bao giờ hết.”
“Thế ông không bỏ cháu lại một mình ở Paris chứ?” – tôi ngập ngừng hỏi.
“Không, chắc chắn là không rồi. Cháu sẽ làm gì ở chốn đô thành rộng lớn này, một mình, tội nghiệp con bé. Ta không có quyền bỏ rơi cháu, hãy nhớ lấy điều đó. Cái ngày mà ta không đồng ý để bà lão tốt bụng kia nhận cháu về và nuôi nấng cháu như con trai ruột của bà ấy, chính ngày đó ta đã tự hứa với lòng mình sẽ làm những gì tốt nhất có thể cho cháu. Lúc này ta chẳng thể làm được gì cả, và đó là lý do tại sao ta nghĩ rằng chia tay là điều tốt nhất. Chỉ là tạm thời thôi. Chúng ta sẽ có thể xoay xở tốt hơn nếu tách nhau ra trong những tháng cuối cùng của mùa đông khắc nghiệt này. Ở lại Paris, chỉ còn mỗi Capi với nhau, thì chúng ta có thể làm được gì chứ?”
Nghe gọi tên mình, Capi yêu dấu chạy ngay đến bên chúng tôi: nó đặt chân lên tai như kiểu chào theo lối nhà binh, rồi lại đặt lên trái tim, như muốn nói rằng chúng tôi có thể tin tưởng vào lòng trung thành của nó. Ông chủ tôi dừng lại, âu yếm xoa đầu con chó.
“Phải đấy, Capi, mày là người bạn tốt, người bạn trung thành, nhưng than ôi! Không có những người khác, giờ đây chúng ta chẳng làm được mấy đâu.”
“Thế còn cây đàn hạc của cháu thì…”
“Giá mà ta có hai đứa trẻ như cháu thì tốt biết mấy. Nhưng một ông già chỉ với một cậu bé thì không ổn. Ta chưa đủ già. Bây giờ, nếu ta bị mù hoặc kiệt sức thì sao! Ta không đủ đáng thương để người ta dừng lại và chú ý đến chúng ta. Vì vậy, con trai, ta đã quyết định giao cháu cho một padrone, cho đến hết mùa đông. Ông ta sẽ dẫn cháu đi cùng với những đứa trẻ khác mà ông ta có, và cháu sẽ chơi cây đàn hạc của mình…”
“Thế còn ông thì sao?” tôi hỏi.
“Ta quen biết ở Paris, ta đã tới đó vài lần rồi. Ta sẽ dạy violin cho những đứa trẻ Ý đang chơi nhạc trên đường phố. Chỉ cần ta nói muốn dạy là sẽ có đủ học trò như ý. Trong lúc ấy, ta sẽ huấn luyện hai con chó mới để thay thế cho Zerbino và Dulcie tội nghiệp. Rồi mùa xuân, chúng ta sẽ lại đoàn tụ, Remi bé nhỏ của ta ạ. Chúng ta chỉ đang trải qua một giai đoạn khó khăn thôi; sau này, ta sẽ đưa cháu đi khắp nước Đức và nước Anh, rồi cháu sẽ lớn lên và trí tuệ sẽ mở mang. Ta sẽ dạy cháu nhiều điều và biến cháu thành một người đàn ông đích thực. Ta đã hứa điều này với bà Milligan. Ta sẽ giữ lời hứa. Đó chính là lý do ta đã bắt đầu dạy cháu tiếng Anh. Cháu có thể nói được tiếng Pháp và tiếng Ý, điều đó thật đáng khen với một đứa trẻ ở tuổi cháu.”
Có lẽ mọi chuyện sẽ tốt đẹp như chủ tôi nói, nhưng trong đầu tôi chỉ có thể nghĩ đến hai điều.
Chúng tôi sẽ phải chia tay, và tôi sẽ có một ông chủ mới.
Trong những ngày lang thang, tôi đã từng gặp vài ông chủ thường xuyên đánh đập những đứa trẻ làm việc cho họ. Họ vô cùng tàn nhẫn, họ chửi bới, và thường xuyên say khướt. Liệu tôi có rơi vào tay một trong những kẻ khủng khiếp ấy không?
Và rồi, dù cho số phận có cho tôi một người chủ tốt đi chăng nữa, đó vẫn là một sự thay đổi mới. Trước tiên là mẹ nuôi, rồi đến Vitalis, giờ lại thêm một người khác… Có phải cuộc đời tôi sẽ mãi mãi như thế này không? Liệu tôi có bao giờ tìm được một người để yêu thương và gắn bó lâu dài? Tôi đã dần dần quấn quýt với Vitalis. Ông ấy dường như gần giống với hình ảnh người cha mà tôi hằng mơ ước. Liệu tôi có bao giờ thực sự có một người cha, có một gia đình? Mãi mãi cô đơn giữa thế giới bao la này! Một cậu bé chẳng có ai bên cạnh!
Vitalis đã bảo tôi phải can đảm lên. Tôi không muốn khiến ông thêm buồn lòng, nhưng thật sự rất khó, thật quá khó để phải rời xa ông.
Lúc chúng tôi bước xuống một con phố nhơ bẩn, hai bên đường chất đầy những đống tuyết lấm tấm tro tàn và rau củ thối rữa, tôi hỏi: “Chúng ta đang ở chỗ nào thế ạ?”
“Ở Paris đấy, con trai.”
Thế còn ngôi nhà bằng đá cẩm thạch của tôi đâu? Và những cái cây bằng vàng, cùng những con người ăn vận lộng lẫy kia nữa. Đây gọi là Paris ư! Chẳng lẽ tôi sẽ phải sống qua mùa đông ở một nơi như thế này, xa cách Vitalis và cả Capi sao?