"

CHƯƠNG XXIV. TÌNH BẠN THẬT SỰ

Tôi đã yêu mến Mattia khi chúng tôi đến Mendes, nhưng khi rời khỏi thị trấn, tình cảm của tôi dành cho cậu ấy còn sâu đậm hơn nữa. Tôi không thể diễn tả nổi cảm xúc trong lòng mình khi nghe cậu ấy hét lên: “Hãy để bạn tôi yên!” trước mặt gã thợ cắt tóc.

Tôi nắm chặt tay Mattia và giữ thật lâu khi chúng tôi cùng bước đi.

“Từ giờ cho đến lúc chết, chúng ta mãi là bạn nhé, Mattia,” tôi nói.

“Tớ đã biết điều đó từ lâu rồi,” cậu ấy đáp lại, nở một nụ cười với tôi qua đôi mắt to, đen láy.

Chúng tôi nghe nói sắp có một hội chợ gia súc lớn ở Ussel, nên quyết định sẽ đến đó để mua một con bò. Hội chợ nằm trên đường đi đến Chavanon. Chúng tôi đã biểu diễn ở khắp các thị trấn, các ngôi làng trên đường đi, và khi tới Ussel, chúng tôi đã tích góp được hai trăm bốn mươi franc. Chúng tôi đã phải tiết kiệm mọi cách có thể để dành dụm số tiền ấy, nhưng Mattia cũng háo hức và mong muốn có được con vật đó chẳng kém gì tôi. Cậu ấy muốn nó có màu trắng; còn tôi lại muốn một con màu nâu để nhớ về cô Rousette tội nghiệp. Dù vậy, cả hai chúng tôi đều nhất trí rằng nó phải thật hiền lành và cho thật nhiều sữa.

Vì chúng tôi đều chẳng biết căn cứ vào dấu hiệu nào để nhận ra một con bò tốt, nên chúng tôi quyết định tìm đến sự giúp đỡ của một bác sĩ thú y. Dạo gần đây, chúng tôi nghe nhiều chuyện kể về việc người ta bị lừa khi mua bò, và chúng tôi không muốn gặp phải rủi ro. Thuê bác sĩ thú y sẽ tốn kém, nhưng chẳng còn cách nào khác. Chúng tôi nghe nói có người mua được một con vật với giá rất rẻ, nhưng khi đưa về nhà mới phát hiện ra nó có cái đuôi giả; còn một người khác, theo lời kể lại, đã mua một con bò trông có vẻ rất khỏe mạnh và dường như cho nhiều sữa, thế nhưng mỗi ngày nó chỉ cho hai cốc sữa trong vòng hai mươi bốn giờ. Bằng một mánh khóe nhỏ của người bán gia súc, con vật đã được làm cho trông như thể nó cho rất nhiều sữa.

Mattia bảo về cái đuôi giả thì chúng tôi chẳng cần phải lo lắng gì cả, vì cậu ấy sẽ túm chặt đuôi từng con bò bằng tất cả sức lực của mình trước khi chúng tôi bắt chuyện với người bán. Khi tôi nói với cậu ấy rằng nếu là đuôi thật, cậu ấy có thể bị đá vào bụng hoặc vào đầu, cậu ấy liền bớt hăng hái hẳn.

Đã nhiều năm trôi qua kể từ lần tôi đến Ussel cùng với Vitalis, nơi ông ấy đã mua cho tôi đôi giày có đinh đầu tiên. Than ôi! Trong sáu chúng tôi khởi hành chuyến đi, giờ chỉ còn Capi và tôi là còn ở lại. Vừa tới thị trấn, sau khi gửi hành lý ở cùng quán trọ mà tôi từng ở với Vitalis và những chú chó, chúng tôi lập tức đi tìm bác sĩ thú y. Chúng tôi tìm được một vị, và ông ấy có vẻ rất buồn cười khi chúng tôi miêu tả loại bò chúng tôi muốn và hỏi liệu ông ấy có thể đến mua giúp chúng tôi không.

“Nhưng hai cậu nhóc này muốn có bò để làm gì, và hai cậu có tiền không?” ông ấy hỏi.

Chúng tôi kể cho ông ấy nghe chúng tôi có bao nhiêu tiền, kiếm được nó như thế nào, và rằng chúng tôi sẽ tặng quà, một món quà bất ngờ, cho bà Barberin ở Chavanon, người đã chăm sóc tôi khi tôi còn bé. Lúc đó, ông ấy tỏ ra rất quan tâm và hứa sẽ gặp chúng tôi vào sáng hôm sau tại hội chợ lúc bảy giờ. Khi chúng tôi hỏi về chi phí, ông ấy thẳng thừng từ chối nhận bất cứ thứ gì. Ông ấy cho chúng tôi về, cười nói và bảo chúng tôi đến hội chợ đúng giờ.

Ngày hôm sau, khi trời vừa hửng sáng, cả thị trấn đã rộn ràng. Từ căn phòng ở quán trọ, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng xe ngựa lăn trên đá cuội dưới đường phố, tiếng bò rống, tiếng cừu be be, tiếng nông dân la hét gọi đàn vật và đùa giỡn với nhau. Chúng tôi vội vàng mặc quần áo và đến hội chợ lúc sáu giờ, vì chúng tôi muốn chọn trước khi bác sĩ thú y đến.

Những con bò mới đẹp làm sao, … đủ mọi sắc màu, đủ mọi dáng vóc, con thì béo mập, con thì gầy guộc, có con còn dắt theo cả bê con bên cạnh; lại có cả ngựa và những chú lợn béo tròn, đang hì hục dũi mõm xuống đất, cùng lũ lợn con mũm mĩm kêu eng éc cứ như đang bị lột da sống vậy. Thế nhưng, chúng tôi chỉ để mắt đến đàn bò mà thôi; chúng đứng im phăng phắc, thong thả nhai cỏ với vẻ bình thản lạ thường. Chúng để mặc chúng tôi ngắm nghía kỹ càng, chỉ khẽ chớp mắt đôi ba lần. Sau một giờ đồng hồ xem xét kỹ lưỡng, chúng tôi đã chọn ra được mười bảy con khiến lòng hài lòng, con này thì vì một đặc điểm, con kia thì vì nét riêng khác, con thứ ba bởi nó có bộ lông màu đỏ, hai con nữa bởi chúng khoác màu trắng tinh – điều ấy, tất nhiên, đã dẫn đến một cuộc bàn cãi sôi nổi giữa tôi và Mattia. Vị bác sĩ thú y bước đến. Chúng tôi liền chỉ cho ông xem những con bò mà chúng tôi đã ưng ý.

“Tớ nghĩ con này sẽ tốt đấy,” Mattia nói, chỉ vào một con vật màu trắng.

“Tớ nghĩ con kia tốt hơn,” tôi nói, chỉ vào một con màu đỏ.

Bác sĩ thú y chấm dứt cuộc tranh cãi của chúng tôi bằng cách phớt lờ cả hai và đi sang con thứ ba. Con này có chân thon, lông màu đỏ với tai và má màu nâu, mắt viền đen, và một vòng trắng quanh mõm.

“Đây đúng là con các cậu muốn,” bác sĩ thú y nói.

Thật là một con bò đẹp! Mattia và tôi giờ đây đều thấy đây là con tốt nhất. Bác sĩ thú y hỏi một người nông dân trông có vẻ nặng nề, đang giữ con bò bằng sợi dây thừng, ông ta muốn bao nhiêu tiền cho nó.

“Ba trăm franc,” ông ta đáp.

Miệng chúng tôi há hốc. Ba trăm franc! Tôi ra hiệu cho bác sĩ thú y rằng chúng tôi nên đi xem con khác; ông ấy ra hiệu đáp lại, rằng ông ấy sẽ mặc cả. Rồi một cuộc trao đổi sôi nổi diễn ra giữa bác sĩ thú y và người nông dân. Người trả giá của chúng tôi tăng lên một trăm bảy mươi, người nông dân hạ xuống hai trăm tám mươi. Khi họ đạt đến mức giá này, bác sĩ thú y bắt đầu xem xét con bò kỹ lưỡng hơn. Nó có chân yếu, cổ quá ngắn, sừng quá dài, nó không có phổi và bầu vú không được phát triển tốt. Không, chắc chắn nó sẽ không cho nhiều sữa.

Người nông dân nói rằng bởi vì chúng tôi hiểu biết về bò, ông ta sẽ bán nó cho chúng tôi với giá hai trăm năm mươi franc, bởi ông ta tin chắc rằng con vật sẽ được giao vào tay những người chủ tốt. Nghe thế, chúng tôi bắt đầu lo sợ, vì cả Mattia lẫn tôi đều nghĩ rằng hẳn nó phải là một con bò kém chất lượng.

“Chúng ta hãy đi xem những con khác,” tôi đề nghị, vừa khẽ chạm vào cánh tay bác sĩ thú y.

Nghe vậy, người nông dân liền hạ giá mười franc. Rồi từng chút, từng chút một, ông ta hạ xuống còn hai trăm mười franc, nhưng sau đó thì dừng lại. Bác sĩ thú y đã thúc nhẹ vào tôi và ra hiệu cho tôi hiểu rằng ông không hề nói đùa về con bò, rằng đó thực sự là một con vật tuyệt vời, nhưng hai trăm mười franc vẫn là một khoản tiền quá lớn đối với chúng tôi.

Trong lúc đó, Mattia đã đi ra phía sau con vật và giật một lọn tóc dài từ đuôi nó, và con bò đã đá cậu ấy một cái. Hành động ấy đã khiến tôi quyết định.

“Được rồi, 210 franc,” tôi nói, nghĩ rằng mọi chuyện đã xong xuôi. Tôi đưa tay ra để lấy sợi dây thừng buộc bò.

“Các cậu có mang theo dây buộc không?” người nông dân hỏi. “Tôi chỉ bán bò thôi, chứ không bán dây buộc.”

Ông ta nói tiếp, vì chúng tôi là bạn bè, nên ông sẽ bán cho tôi sợi dây buộc với giá sáu mươi sous. Chúng tôi thực sự cần sợi dây ấy, nên tôi đã móc túi trả sáu mươi sous, trong bụng tính toán rằng giờ đây chúng tôi chỉ còn lại hai mươi sous. Tôi đếm đủ hai trăm mười ba franc, rồi lại đưa tay ra.

“Cháu còn dây thừng không?” bác nông dân hỏi. “Cháu đã bán dây buộc rồi, nhưng dây thừng thì chưa.”

Sợi dây thừng đã lấy đi của chúng tôi hai mươi xu cuối cùng.

Cuối cùng chúng tôi cũng nhận được con bò, nhưng chúng tôi chẳng còn một xu nào để mua thức ăn cho nó, cũng như cho chính chúng tôi. Sau khi cảm ơn bác sĩ thú y thật nhiệt tình vì lòng tốt của bác, chúng tôi bắt tay và từ biệt, rồi quay trở lại quán trọ, nơi chúng tôi buộc con bò vào chuồng ngựa. Vì hôm đó là một ngày rất nhộn nhịp trong thị trấn do có hội chợ, và mọi người từ khắp nơi đổ về, Mattia và tôi nghĩ rằng tốt nhất mỗi đứa nên đi theo một hướng riêng để xem có kiếm được gì không. Buổi tối, Mattia mang về bốn franc, còn tôi kiếm được ba franc năm mươi xu.

Với bảy franc năm mươi, chúng tôi cảm thấy mình lại trở nên giàu có. Chúng tôi đã thuyết phục cô gái làm bếp vắt sữa bò cho chúng tôi, và thế là chúng tôi có sữa để dùng cho bữa tối. Chưa bao giờ chúng tôi nếm được thứ gì ngon đến thế! Chúng tôi quá phấn khích trước chất lượng của sữa, đến nỗi sau khi ăn xong, chúng tôi liền chạy ngay ra chuồng ngựa để ôm lấy kho báu của mình. Con bò rõ ràng rất thích sự vuốt ve này, vì nó đã liếm mặt chúng tôi để thể hiện tình cảm yêu mến.

Để hiểu được niềm vui mà chúng tôi cảm thấy khi hôn con bò và được nó hôn lại, cần phải nhớ rằng cả Mattia lẫn tôi đều không nhận được nhiều sự âu yếm; số phận của chúng tôi không giống như những đứa trẻ được cưng chiều, được chăm sóc quá mức đến nỗi chúng phải tự bảo vệ mình khỏi những nụ hôn dư thừa.

Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy lúc mặt trời mọc và lên đường đi Chavanon. Tôi biết ơn Mattia biết chừng nào vì sự giúp đỡ của cậu ấy; không có cậu ấy, tôi chẳng bao giờ có thể tích góp được một số tiền lớn đến thế. Tôi muốn cho cậu ấy niềm vui được dắt con bò, và cậu ấy thật sự rất hãnh diện khi kéo nó bằng sợi dây thừng trong lúc tôi đi phía sau. Trông nó thật oai vệ; nó bước đi chậm rãi, hơi đung đưa, giữ vẻ của một con vật ý thức được giá trị của mình. Tôi không muốn làm nó mệt mỏi, nên tôi quyết định không đến Chavanon muộn vào buổi tối hôm đó; tốt hơn, tôi nghĩ, là đến nơi vào sáng sớm. Đó là điều chúng tôi dự định thực hiện; và đây là những gì đã xảy ra:

Tôi định nghỉ đêm ở ngôi làng nơi tôi đã trải qua đêm đầu tiên cùng Vitalis, khi Capi thấy tôi buồn bã đã đến bên và nằm xuống cạnh tôi. Trước khi tới được ngôi làng ấy, chúng tôi gặp một bãi cỏ xanh mướt, liền đặt hành lý xuống và quyết định dừng chân nghỉ ngơi. Chúng tôi thả con bò xuống một con mương. Ban đầu, tôi định giữ nó bằng sợi dây thừng, nhưng trông nó có vẻ rất hiền lành và đã quen với việc gặm cỏ, nên một lúc sau, tôi quấn dây thừng quanh sừng nó rồi ngồi xuống bên cạnh để ăn bữa tối. Dĩ nhiên, chúng tôi ăn xong từ lâu trước khi nó ăn xong, thế nên sau khi ngắm nhìn nó một hồi mà chẳng biết làm gì tiếp, chúng tôi bắt đầu chơi đùa với nhau một trò nhỏ. Lúc chúng tôi chơi xong, nó vẫn còn đang ăn. Khi tôi lại gần, nó giật mạnh những ngọn cỏ, như muốn nói rằng mình vẫn chưa no.

“Đợi một chút,” Mattia nói.

“Cậu không biết bò có thể ăn cả ngày sao?” tôi đáp lại.

“Vậy thì cứ đợi một chút.”

Chúng tôi thu dọn hành lý và nhạc cụ, nhưng nó vẫn không ngừng ăn.

“Tớ sẽ thổi một bản nhạc cho nó nghe bằng kèn cornet,” Mattia nói, vì cậu ấy thấy khó mà ngồi yên được. “Ở rạp xiếc của Gassot có một con bò rất thích âm nhạc.”

Cậu ấy bắt đầu thổi một bản hành khúc sôi động.

Ngay từ nốt nhạc đầu tiên, con bò ngẩng đầu lên; rồi đột nhiên, trước khi tôi kịp lao tới giữ lấy sừng nó để giật dây thừng, nó đã chạy nước rút. Chúng tôi đuổi theo nó nhanh nhất có thể, hét gọi nó dừng lại. Tôi quát bảo Capi hãy chặn nó lại. Bây giờ, không phải ai cũng có mọi tài năng. Một con chó chăn gia súc sẽ nhảy vào mõm nó, nhưng Capi là một thiên tài, nên nó nhảy vào chân nó. Đương nhiên, điều đó khiến nó chạy càng nhanh hơn. Nó chạy ngược trở lại ngôi làng cuối cùng chúng tôi đã đi qua. Vì con đường thẳng tắp, chúng tôi có thể nhìn thấy nó từ xa, và chúng tôi thấy nhiều người chặn đường nó và cố gắng giữ lấy nó. Chúng tôi giảm tốc độ, vì giờ chúng tôi biết mình sẽ không mất nó. Tất cả những gì chúng tôi phải làm là đòi lại nó từ những người tốt bụng đã ngăn nó đi xa hơn. Có khá đông người tụ tập quanh nó khi chúng tôi đến nơi, và thay vì giao nó cho chúng tôi ngay lập tức như chúng tôi mong đợi, họ hỏi chúng tôi làm thế nào chúng tôi có được con vật đó và ở đâu chúng tôi có được nó. Họ khăng khăng rằng chúng tôi đã ăn trộm nó và nó đang chạy về với chủ của nó. Họ tuyên bố rằng chúng tôi nên bị bỏ tù cho đến khi sự thật được làm sáng tỏ. Ngay khi nghe từ “nhà tù”, tôi tái mét mặt và bắt đầu lắp bắp. Tôi thở hổn hển vì cuộc chạy đua và không thốt nên lời.

Ngay lúc ấy, một viên cảnh sát xuất hiện, và chỉ với vài câu hỏi, toàn bộ sự việc đã được trình bày lại cho ông ta. Vì mọi chuyện có vẻ chẳng rõ ràng chút nào, ông ta quyết định tịch thu con bò và giam giữ chúng tôi cho đến khi chúng tôi có thể chứng minh được nó thuộc về mình. Cả ngôi làng dường như đổ xô theo đoàn người dẫn chúng tôi lên tòa thị chính, nơi đồng thời cũng là đồn cảnh sát. Đám đông xô đẩy, chế nhạo chúng tôi, gán cho chúng tôi những danh xưng tồi tệ nhất, và tôi tin rằng nếu không có viên chức kia bảo vệ, họ đã treo cổ chúng tôi như những tên tội phạm nguy hiểm nhất rồi. Người đàn ông phụ trách tòa thị chính, kiêm luôn chức cai ngục và cảnh sát trưởng, tỏ ra rất miễn cưỡng khi phải nhận giữ chúng tôi. Tôi nghĩ thầm, ông ta đúng là một người tốt bụng! Thế nhưng, viên cảnh sát vẫn khăng khăng rằng chúng tôi phải bị giam lại, và cuối cùng người cai ngục đành tra chiếc chìa khóa lớn vào ổ khóa kép trên cánh cửa rồi đẩy chúng tôi vào trong nhà tù. Lúc ấy tôi mới hiểu vì sao ông ta tỏ ra khó chịu khi phải nhận chúng tôi. Hóa ra ông đã tận dụng nhà tù này để phơi khô số hành tây dự trữ của mình, chúng được rải đầy trên mọi băng ghế. Ông ta vội vã gom chúng lại vào một góc. Chúng tôi bị lục soát kỹ càng, tiền bạc, diêm quẹt và con dao trên người đều bị tịch thu. Rồi chúng tôi bị nhốt lại ở đó suốt đêm.

“Giá như cậu tát tớ một cái thật mạnh,” Mattia nói với vẻ đáng thương khi chỉ còn hai đứa tôi; “cứ tát thẳng vào tai tớ hay làm gì đó với tớ đi.”

“Tớ cũng ngu ngốc chẳng kém khi để cậu thổi kèn cornet cho một con bò,” tôi đáp lại.

“Ôi, tớ thấy mình tệ quá,” cậu ấy nghẹn ngào nói; “con bò tội nghiệp của chúng ta, con bò của Hoàng tử mà!” Cậu ấy bật khóc.

Thế rồi tôi cố gắng an ủi cậu ấy, bảo rằng tình cảnh của chúng tôi chưa đến nỗi nào. Chúng tôi sẽ chứng minh được rằng mình đã mua con bò; chúng tôi sẽ nhờ người đến Ussel mời bác sĩ thú y… chính ông ấy sẽ làm nhân chứng cho chúng tôi.

“Nhưng nếu họ bảo chúng ta ăn cắp tiền để mua nó,” cậu nói, “chúng ta không thể chứng minh mình kiếm được nó, và khi người ta kém may mắn, người ta luôn nghĩ họ có tội.” Điều đó đúng thật.

“Và ai sẽ cho nó ăn chứ?” Mattia tiếp tục một cách ảm đạm.

Ôi trời, tôi chỉ mong họ sẽ cho con bò tội nghiệp của chúng tôi ăn.

“Và chúng ta sẽ nói gì khi họ thẩm vấn chúng ta vào buổi sáng?” Mattia hỏi.

“Nói sự thật với họ.”

“Rồi họ sẽ giao cậu cho Barberin, hoặc nếu bà Barberin ở nhà một mình và họ hỏi bà ấy để xem chúng ta có nói dối không, chúng ta sẽ chẳng làm bà ấy bất ngờ được.”

“Ôi trời ơi!”

“Cậu đã rời xa bà Barberin từ lâu rồi; làm sao cậu dám chắc bà ấy không qua đời chứ?”

Ý nghĩ khủng khiếp ấy chưa từng lướt qua tâm trí tôi, nhưng Vitalis đáng thương đã mất rồi, … tại sao tôi lại không nghĩ rằng mình có thể mất bà ấy nữa…

“Sao cậu không nói điều này sớm hơn?” tôi hỏi.

“Bởi vì lúc vui, tớ không có những suy nghĩ ấy. Tớ đã quá hạnh phúc khi nghĩ đến việc tặng con bò sữa cho bà Barberin và tưởng tượng niềm vui của bà, tớ chưa bao giờ nghĩ rằng bà có thể đã không còn nữa.”

Chắc hẳn là do ảnh hưởng của căn phòng u ám này, vì chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy khía cạnh đen tối nhất của mọi sự.

“Và, ôi,” Mattia kêu lên, bật dậy và giang hai tay ra, “nếu bà Barberin mất đi còn tên Barberin đáng ghét kia vẫn sống và chúng ta tìm đến đó, hắn sẽ chiếm lấy con bò của chúng ta và giữ khư khư nó.”

Trời đã xế chiều muộn khi cánh cửa bật mở và một ông già tóc bạc bước vào phòng giam của chúng tôi.

“Nào, lũ nhóc, hãy trả lời ông ấy,” viên cai ngục đi cùng ông ta nói.

“Được rồi, được rồi,” ông lão, người là công tố viên, nói, “tôi sẽ thẩm vấn thằng bé này trước.” Ông chỉ về phía tôi bằng ngón tay. “Anh trông chừng đứa kia; tôi sẽ hỏi cậu ta sau.”

Tôi ở lại một mình với vị công tố viên. Ông nhìn tôi chăm chăm và nói rằng tôi bị buộc tội đánh cắp một con bò. Tôi liền kể với ông rằng chúng tôi đã mua con vật ấy tại hội chợ ở Ussel, và tôi đã nêu tên vị bác sĩ thú y đã giúp đỡ chúng tôi trong việc mua bán.

“Việc đó rồi sẽ được làm rõ,” ông đáp. “Còn bây giờ, điều gì khiến cháu mua con bò đó?”

Tôi thưa với ông rằng tôi muốn đem nó về làm món quà bày tỏ tấm lòng với mẹ nuôi của tôi.

“Bà ấy tên gì?” ông hỏi.

“Bà Barberin ở Chavanon ạ,” tôi trả lời.

“Vợ của người thợ nề gặp tai nạn nặng ở Paris cách đây mấy năm. Tôi biết bà ấy. Việc đó cũng sẽ được kiểm tra.”

“Ôi!…”

Tôi thực sự lúng túng vô cùng. Trước vẻ lúng túng của tôi, ông chưởng khế liên tục chất vấn, và tôi đành phải thú nhận rằng nếu ông ấy điều tra bà Barberin, thì con bò của chúng tôi sẽ chẳng còn là món quà bất ngờ nữa, mà điều chúng tôi mong muốn hơn hết chính là tạo ra một sự bất ngờ. Nhưng trong nỗi bối rối ấy, tôi lại cảm thấy một niềm vui sướng vô bờ khi biết tin bà Barberin vẫn còn sống, và qua những lời tra hỏi, tôi còn được biết Barberin đã trở về Paris từ một thời gian trước. Điều đó khiến lòng tôi tràn ngập hân hoan.

Và rồi, câu hỏi mà Mattia luôn lo sợ đã đến.

“Nhưng bằng cách nào các cậu có đủ tiền để mua con bò?”

Tôi giải thích rằng từ Paris đến Varses và từ Varses đến Ussel, chúng tôi đã dành dụm số tiền ấy, từng đồng xu nhỏ.

“Nhưng các cậu đã làm gì ở Varses?” ông ấy hỏi.

Thế là tôi đành phải kể cho ông ấy nghe việc tôi đã gặp tai nạn trong hầm mỏ.

“Hai người các cậu, ai là Remi?” ông ấy hỏi, giọng nói dịu xuống.

“Thưa ông, cháu là ạ,” tôi đáp.

“Để chứng minh điều đó, hãy kể cho ta nghe tai nạn đã xảy ra như thế nào. Ta đã đọc toàn bộ câu chuyện về nó trên báo. Cậu không thể lừa dối ta. Ta có thể nhận ra cậu có thật là Remi hay không. Giờ, hãy cẩn thận.”

Tôi nhận thấy ông ấy đang tỏ ra rất khoan hồng với chúng tôi. Tôi thuật lại cho ông ấy nghe những trải nghiệm của mình dưới hầm mỏ, và khi câu chuyện của tôi kết thúc, tôi nghĩ rằng từ thái độ của ông ấy, gần như là trìu mến, ông ấy sẽ trả tự do cho chúng tôi ngay tức khắc, nhưng thay vào đó, ông ấy rời khỏi căn phòng, để mặc tôi ở lại một mình với biết bao suy tư. Một lúc sau, ông ấy quay trở lại cùng với Mattia.

“Tôi sẽ cho người đi xác minh câu chuyện của các cậu ở Ussel,” ông ấy nói. “Nếu mọi chuyện đúng như lời kể, điều mà tôi hy vọng là thế, thì ngày mai các cậu sẽ được tự do.”

“Thế còn con bò của chúng cháu thì sao ạ?” Mattia hỏi với vẻ lo lắng.

“Chúng sẽ được trả lại cho các cậu.”

“Ý cháu không phải thế ạ,” Mattia đáp; “nhưng ai sẽ cho nó ăn, ai sẽ vắt sữa cho nó?”

“Đừng lo lắng, cậu bé,” công tố viên nói.

Mattia mỉm cười mãn nguyện.

“À, thế nếu họ vắt sữa bò của chúng cháu,” cậu hỏi, “chúng cháu có thể có sữa để dùng vào bữa tối không ạ?”

“Tất nhiên rồi!”

Ngay khi chỉ còn hai đứa, tôi đã kể cho Mattia tin tuyệt vời khiến tôi suýt quên mất rằng chúng tôi đang bị giam giữ.

“Bà Barberin vẫn còn sống, và Barberin đã đến Paris!” tôi nói.

“Ồ, vậy thì con bò của Hoàng tử sẽ có một màn trình diễn đầy vinh quang.”

Cậu bắt đầu nhảy múa và cất tiếng hát vì vui sướng. Bị cuốn theo niềm hân hoan của cậu, tôi nắm lấy tay cậu, và Capi – vốn cho đến lúc ấy vẫn im lìm, trầm tư ở một góc – bỗng nhảy lên, đứng vào khoảng giữa hai chúng tôi, chống hai chân sau lên. Thế rồi chúng tôi lao vào một điệu nhảy cuồng nhiệt đến nỗi viên cai ngục vội vã chạy vào xem chuyện gì đang xảy ra, có lẽ vì lo cho mấy củ hành của mình. Ông bảo chúng tôi dừng lại, nhưng giọng điệu của ông lúc này đã khác hẳn trước. Qua đó, tôi cảm thấy hoàn cảnh của chúng tôi có lẽ không đến nỗi quá nghiêm trọng. Tôi càng tin vào điều này hơn khi một lát sau, ông mang vào một bát sữa lớn – sữa từ con bò của chúng tôi. Và chưa hết, ông còn đem theo một ổ bánh mì trắng to cùng ít thịt bê nguội, mà ông nói là do ông công tố viên gửi cho chúng tôi. Thế là đã rõ, nhà tù cũng chẳng tệ đến thế; có bữa tối và chỗ ở miễn phí!

Sáng hôm sau, viên công tố bước vào cùng với người bạn bác sĩ thú y của chúng tôi, người muốn tự mình đến chứng kiến cảnh chúng tôi được trả tự do. Trước khi chúng tôi rời khỏi, viên công tố đưa cho chúng tôi một tờ giấy có đóng dấu chính thức.

“Đây, tôi đưa cho các cậu thứ này,” ông nói; “hai cậu bé ngốc nghếch cứ lang thang khắp nơi mà chẳng có giấy tờ gì. Tôi đã nhờ ông thị trưởng làm cho các cậu giấy thông hành này. Đây là tất cả những gì các cậu cần để bảo vệ mình về sau. Chúc các cậu bé may mắn.”

Ông bắt tay chúng tôi, và bác sĩ thú y cũng làm như vậy.

Chúng tôi tiến vào ngôi làng trong cảnh tượng thê thảm, nhưng lại rời đi trong vinh quang chiến thắng. Dắt con bò bằng sợi dây thừng, bước đi ngẩng cao đầu, chúng tôi liếc nhìn lại phía sau, nơi những người dân làng đứng trước ngưỡng cửa nhà mình, ánh mắt dán chặt vào chúng tôi.

Tôi chẳng muốn làm con vật mệt mỏi, nhưng vì nóng lòng muốn tới Chavanon ngay trong ngày hôm ấy, nên chúng tôi bắt đầu rảo bước nhanh hơn. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi gần như đã tới được ngôi nhà cũ của tôi. Mattia chưa từng một lần nếm thử bánh kếp, và tôi đã hứa sẽ làm cho cậu ấy ngay khi vừa đặt chân đến nơi. Trên đường đi, tôi đã mua một cân bơ, hai cân bột mì cùng một tá trứng. Giờ đây, chúng tôi đã tới đúng chỗ mà ngày trước tôi từng xin ông Vitalis cho dừng lại nghỉ ngơi, để tôi có thể ngắm nhìn ngôi nhà của bà Barberin, mà tôi cứ ngỡ đó sẽ là lần cuối cùng.

“Cầm lấy dây thừng,” tôi bảo Mattia.

Tôi nhún người một cái là đã lên đến lan can. Khung cảnh thung lũng của chúng tôi chẳng có gì thay đổi; mọi thứ vẫn y nguyên như xưa; làn khói vẫn còn cuồn cuộn bay ra từ ống khói. Khi gió đưa làn khói về phía chúng tôi, tôi dường như ngửi thấy cả mùi hương của lá sồi. Tôi nhảy xuống khỏi lan can, ôm chầm lấy Mattia, Capi cũng nhảy tới tíu tít bên người, và tôi siết chặt cả hai trong vòng tay mình.

“Thôi, chúng ta hãy đến đó nhanh nhất có thể,” tôi reo lên.

“Tiếc quá,” Mattia thở dài. “Giá như con vật kia cũng mê âm nhạc, thì chúng ta đã có một màn trình diễn khai mạc thật hoành tráng rồi.”

Khi chúng tôi đi tới một khúc quanh trên đường, chúng tôi trông thấy bà Barberin bước ra khỏi ngôi nhà tranh của bà và đi về phía làng. Phải làm sao bây giờ? Chúng tôi vốn định tạo một bất ngờ cho bà. Giờ đành phải nghĩ cách khác thôi.

Biết rằng cửa không bao giờ khóa, tôi quyết định đi thẳng vào nhà sau khi đã buộc con bò của chúng tôi vào chuồng. Chúng tôi thấy chuồng đầy củi, nên chất nó vào một góc rồi đặt con bò của chúng tôi vào chỗ của cô Rousette tội nghiệp.

Khi bước vào nhà, tôi nói với Mattia: “Giờ tớ sẽ ngồi đây bên bếp lửa để bà ấy tìm thấy tớ ở chỗ này. Khi bà ấy mở cổng, cậu sẽ nghe thấy tiếng kêu cọt kẹt; lúc ấy cậu hãy trốn cùng với Capi.”

Tôi ngồi xuống đúng chỗ mình vẫn thường ngồi vào những đêm mùa đông. Tôi co người lại, cố gắng làm cho mình trông thật nhỏ bé, để giống với Remi bé nhỏ của bà Barberin nhất có thể. Từ vị trí ngồi, tôi có thể nhìn thẳng ra cổng. Tôi đưa mắt quanh nhà bếp. Không có gì thay đổi, mọi thứ vẫn y nguyên ở vị trí cũ; một ô kính tôi đã làm vỡ vẫn còn dán mảnh giấy lên, đen sạm vì khói và thời gian. Bỗng nhiên, tôi thấy một chiếc mũ trùm đầu màu trắng. Cổng kêu lên cọt kẹt.

“Chạy đi nhanh lên,” tôi bảo Mattia.

Tôi thu người lại, cố thu nhỏ hết mức có thể. Cánh cửa mở ra và bà Barberin bước vào. Bà đưa mắt nhìn thẳng về phía tôi.

“Ai đấy?” bà hỏi.

Tôi nhìn bà mà không đáp lời; bà cũng nhìn tôi chăm chú. Bỗng nhiên, bà run lên bần bật.

“Ôi Chúa ơi, phải Remi của tôi không!” bà thốt lên thì thầm.

Tôi nhảy vọt lên, ôm chầm lấy bà.

“Mẹ ơi!”

“Con trai! Con trai của mẹ!” bà chỉ thốt lên được thế, trong khi đầu bà tựa nhẹ lên vai tôi.

Mất vài phút chúng tôi mới lấy lại được bình tĩnh. Tôi nhẹ nhàng lau những giọt nước mắt trên mặt bà.

“Trời ơi, con lớn quá rồi, con trai ạ,” bà kêu lên, đẩy tôi ra một chút để ngắm nhìn, “con cao lớn và khỏe mạnh thế này! Ôi, Remi của mẹ!”

Một tiếng khịt mũi nghẹn ngào nhắc tôi nhớ rằng Mattia đang trốn dưới gầm giường. Tôi gọi cậu ấy. Cậu ấy bò ra.

“Đây là Mattia,” tôi nói, “anh trai của con.”

“Ồ, vậy là con đã tìm được cha mẹ mình rồi sao?” bà kêu lên.

“Không, cậu ấy là bạn thân của con, nhưng tình cảm chẳng khác gì anh em. Và đây là Capi,” tôi nói thêm, sau khi bà đã chào Mattia. “Lại đây chào mẹ của chủ nhân cháu đi, Capitano.”

Capi đứng thẳng bằng hai chân sau và cúi đầu thật nghiêm trang trước mặt bà Barberin. Bà bật cười vang. Những giọt nước mắt của bà đã khô cạn hết. Mattia ra hiệu cho tôi thực hiện bất ngờ mà chúng tôi đã chuẩn bị.

“Chúng ta hãy đi xem khu vườn trông ra sao nhé,” tôi nói.

“Mẹ đã giữ nguyên mảnh đất của con như cách con bố trí, bởi mẹ biết một ngày nào đó con sẽ trở về,” bà nói.

“Mẹ có nhận được cây Atisô Jerusalem của con không?”

“À, con đã trồng chúng để làm mẹ ngạc nhiên! Con vẫn luôn thích tạo ra những bất ngờ, con trai ạ.”

Thời khắc đã đến.

“Chuồng bò có còn y nguyên như trước kể từ khi cô Rousette tội nghiệp ra đi không?” tôi hỏi.

“Ồ, không; giờ mẹ để củi ở đó.”

Lúc này chúng tôi đã tới chuồng. Tôi đẩy cửa ra và ngay lập tức con bò của chúng tôi, vì đói, bắt đầu rống lên.

“Một con bò! Một con bò trong chuồng của tôi!” bà Barberin thốt lên.

Mattia và tôi bật cười.

“Đó là một món quà bất ngờ,” tôi reo lên, “và còn tuyệt vời hơn cả cây Atisô Jerusalem.”

Bà nhìn tôi với vẻ bối rối, ngỡ ngàng.

“Vâng, đó là một món quà dành cho bà. Con đã không thể trở về tay không trước người mẹ đã quá tốt với cậu bé lạc lối ấy. Đây là để thay thế cho cô Rousette. Mattia và con đã mua nó cho bà bằng số tiền chúng con kiếm được.”

“Ôi, những đứa trẻ đáng yêu!” bà kêu lên, hôn lên má cả hai chúng tôi.

Rồi bà bước vào chuồng để xem xét món quà của mình. Mỗi lần khám phá ra điều gì, bà lại thốt lên đầy vui sướng.

“Con bò này đẹp thật đấy,” bà ấy buột miệng khen.

Rồi bà ấy bất chợt quay sang chúng tôi.

“Này, bây giờ chắc mấy đứa giàu lắm hả?”

“Đương nhiên rồi,” Mattia cười đáp; “bọn cháu còn tận năm mươi tám xu đấy.”

Tôi chạy về nhà lấy chiếc thùng vắt sữa, và trong lúc ở đó, tôi bày bơ, trứng cùng bột mì lên bàn, rồi lại chạy vội ra chuồng. Bà ấy vui sướng biết bao khi thấy một thùng sữa đầy bọt sóng sánh, đầy đến ba phần tư.

Lại thêm một tiếng reo mừng nữa khi bà ấy trông thấy những thứ trên bàn đã được sắp sẵn để làm bánh kếp, mà tôi đã thú nhận với bà ấy rằng chúng tôi đang thèm chúng đến cháy lòng.

“Thế ra các cậu biết Barberin đã lên Paris rồi à?” bà ấy hỏi. Tôi liền giải thích cho bà ấy nghe cách tôi biết được chuyện đó.

“Mẹ sẽ kể cho con nghe vì sao ông ấy lại ra đi,” bà nói, ánh mắt nhìn tôi đầy ý tứ.

“Ăn bánh kếp trước đã,” tôi đáp, “đừng nhắc đến ông ấy nữa. Con không quên việc ông ấy đã bán con với giá bốn mươi franc, và chính nỗi sợ ông ấy, nỗi sợ bị bán lại một lần nữa, đã khiến con không dám viết thư về cho mẹ.”

“Ôi con trai, mẹ cũng đã đoán là vì lẽ đó,” bà nói, “nhưng con không nên nói xấu Barberin.”

“Thôi thì, chúng ta ăn bánh kếp đi,” tôi nói, rồi ôm chầm lấy bà.

Chúng tôi nhanh chóng chuẩn bị nguyên liệu và chẳng mấy chốc, Mattia cùng tôi đã nhét đầy bánh kếp vào miệng. Mattia tuyên bố rằng cậu chưa từng được nếm thứ gì ngon đến thế. Vừa ăn xong một cái, chúng tôi lại đưa đĩa ra để xin thêm cái nữa, và Capi cũng chạy đến chia phần. Bà Barberin ngạc nhiên khi thấy chúng tôi cho chó ăn bánh kếp, nhưng chúng tôi giải thích với bà rằng nó là diễn viên chính trong đoàn của chúng tôi, một tài năng xuất chúng, và chúng tôi đối xử với nó bằng tất cả sự trân trọng. Sau đó, trong lúc Mattia ra ngoài lấy củi cho sáng hôm sau, bà kể cho tôi nghe lý do Barberin đến Paris.

“Gia đình con đang tìm kiếm con,” bà ấy nói, gần như thầm thì. “Đó là lý do Barberin lên Paris. Ông ấy đang đi tìm con.”

“Gia đình con,” tôi thốt lên. “Ôi, con có một gia đình riêng của mình sao? Nói đi, nói hết đi, bà Barberin, bà Barberin yêu quý ơi!”

Rồi tôi cảm thấy sợ hãi. Tôi không tin rằng gia đình mình đang tìm kiếm tôi. Barberin đang cố tìm tôi để bán tôi lần nữa. Tôi sẽ không để bị bán! Tôi nói nỗi sợ hãi của mình với bà Barberin, nhưng bà ấy bảo không, gia đình tôi đang tìm tôi. Rồi bà ấy kể rằng có một quý ông đến nhà, nói giọng ngoại quốc, và ông ta hỏi Barberin chuyện gì đã xảy ra với đứa bé mà ông ấy tìm thấy nhiều năm trước ở Paris. Barberin hỏi lại việc đó có liên quan gì đến ông ta không. Câu trả lời này đúng là kiểu của Barberin.

“Bà biết đấy, từ tiệm bánh mì, người ta có thể nghe thấy mọi thứ nói trong bếp,” bà Barberin nói, “và khi con biết họ đang nói về con, con tự nhiên lắng nghe. Con đến gần hơn rồi con giẫm phải một cành cây khô gãy.”

“‘Ồ, chúng ta không ở một mình,’ người đàn ông nói với Barberin.

‘Có, chúng ta có; đó chỉ là vợ tôi thôi,’ ông ta trả lời. Người đàn ông sau đó nói rằng trời rất nóng trong bếp và họ có thể nói chuyện tốt hơn ở ngoài. Họ ra ngoài và ba tiếng sau Barberin mới quay lại một mình. Tôi đã cố gắng để ông ta kể cho tôi mọi thứ, nhưng điều duy nhất ông ta nói là người đàn ông này đang tìm con, nhưng ông ta không phải là cha của con, và ông ta đã cho ông ta một trăm franc. Có lẽ ông ta đã nhận được nhiều hơn kể từ đó. Từ điều này, và bộ quần áo đẹp mà con mặc khi ông ta tìm thấy con, chúng tôi nghĩ rằng cha mẹ con chắc hẳn là giàu có.

Rồi Jerome bảo rằng ông ấy phải lên Paris,” bà tiếp tục, “để tìm ông nhạc sĩ đã thuê con. Ông nhạc sĩ ấy nói rằng nếu gửi thư đến phố Mouffetard cho một người tên Garofoli thì thư sẽ đến tay ông ấy.

Và từ lúc ông ấy đi, bà không nhận được tin tức gì sao?” tôi hỏi, ngạc nhiên vì ông ấy không hề gửi tin về.

Chẳng một lời nào,” bà đáp. “Đến cả chỗ ông ấy ở trong thành phố tôi cũng không biết nữa.

Đúng lúc ấy Mattia bước vào. Tôi hào hứng kể với cậu ấy rằng tôi có gia đình, và cha mẹ tôi đang tìm tôi. Cậu ấy bảo cậu ấy mừng cho tôi, nhưng trông cậu ấy dường như không chia sẻ được niềm vui và sự phấn khích của tôi. Đêm đó tôi ngủ không yên. Bà Barberin đã khuyên tôi nên lập tức lên Paris tìm Barberin, đừng để cha mẹ tôi phải chờ đợi thêm niềm vui đoàn tụ. Tôi vốn hy vọng được ở lại với bà vài ngày, nhưng tôi cảm thấy bà nói có lý. Trước khi đi, tôi phải gặp Lise. Điều đó có thể thực hiện được, vì chúng tôi có thể đi Paris bằng đường kênh. Bác của Lise trông coi các cửa cống và sống trong một căn nhà nhỏ bên bờ sông, nên chúng tôi có thể ghé thăm cô ấy.

Tôi đã ở bên bà Barberin suốt cả ngày hôm ấy, và buổi tối chúng tôi bàn luận về những điều tôi sẽ làm cho bà khi tôi trở nên giàu có. Bà sẽ có tất cả những gì bà mong muốn. Không có một ước nguyện nào của bà mà không được thỏa mãn khi tôi có tiền.

Con bò mà con đã tặng mẹ trong những ngày nghèo khó sẽ còn quý giá hơn bất cứ thứ gì con có thể tặng mẹ khi con giàu có, Remi ạ,” bà nói với tôi thật trìu mến.

Ngày hôm sau, sau khi từ biệt bà Barberin yêu dấu, chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình dọc theo bờ kênh. Mattia trầm ngâm sâu sắc. Tôi biết cậu ấy đang nghĩ gì. Cậu ấy buồn vì tôi có cha mẹ giàu có. Như thể điều đó có thể làm thay đổi tình bạn của chúng tôi! Tôi bảo cậu ấy rằng cậu nên vào học đại học và nên học nhạc với những bậc thầy giỏi nhất, nhưng cậu ấy chỉ buồn bã lắc đầu. Tôi nói với cậu ấy rằng cậu nên sống với tôi như anh em, và cha mẹ tôi sẽ yêu thương cậu như vậy vì cậu là bạn của tôi. Nhưng cậu ấy vẫn lắc đầu.

Trong lúc ấy, bởi tôi không có tiền bạc của cha mẹ giàu có để chi tiêu, chúng tôi buộc phải biểu diễn ở mọi ngôi làng chúng tôi đi qua để kiếm tiền ăn. Và tôi cũng muốn kiếm tiền để mua quà cho Lise. Bà Barberin đã từng nói bà ấy quý con bò hơn bất cứ thứ gì tôi có thể tặng bà khi tôi trở nên giàu có, và có lẽ, tôi nghĩ, Lise cũng sẽ cảm thấy như vậy về một món quà. Tôi muốn tặng cô ấy một con búp bê. May mắn thay, một con búp bê sẽ không đắt đỏ như một con bò. Ở thị trấn tiếp theo chúng tôi đến, tôi đã mua cho cô ấy một con búp bê đáng yêu với mái tóc vàng và đôi mắt xanh biếc.

Dọc theo bờ kênh, tôi thường nghĩ đến bà Milligan và Arthur cùng chiếc thuyền xinh đẹp của họ, và tự hỏi liệu chúng tôi có gặp lại họ trên dòng kênh này không. Nhưng chúng tôi chẳng bao giờ bắt gặp họ.

Một buổi chiều tà, từ đằng xa, chúng tôi đã có thể trông thấy ngôi nhà nơi Lise đang sống. Ngôi nhà ẩn mình giữa những hàng cây và dường như chìm trong một lớp sương mỏng. Chúng tôi nhìn thấy những ô cửa sổ được rọi sáng bởi ngọn lửa bập bùng từ một đống lửa lớn bên trong. Ánh sáng đỏ rực chiếu xuống con đường chúng tôi đang bước khi chúng tôi tiến lại gần hơn. Trái tim tôi đập thình thịch. Tôi có thể nhìn thấy họ bên trong đang dùng bữa tối. Cửa ra vào và cửa sổ đều đóng kín, nhưng không có rèm che, và tôi nhìn vào, thấy Lise đang ngồi cạnh người dì của mình. Tôi ra hiệu cho Mattia và Capi giữ yên lặng, rồi tháo cây đàn hạc khỏi vai, đặt nó xuống mặt đất.

Ồ, vâng,” Mattia thì thầm, “một bản nhạc serenade. Ý tưởng hay đấy!

Không, không phải cậu; tớ sẽ chơi một mình.

Tôi gảy những nốt nhạc đầu tiên của bản nhạc Napoli của mình. Tôi không hát, vì tôi không muốn giọng hát của mình làm lộ tẩy tôi. Trong khi chơi, tôi nhìn Lise. Cô ấy nhanh chóng ngẩng đầu lên và đôi mắt cô ấy lấp lánh. Rồi tôi bắt đầu hát. Cô ấy nhảy khỏi ghế và chạy ra cửa. Chỉ trong chốc lát, cô ấy đã ở trong vòng tay tôi. Dì Catherine sau đó bước ra và mời chúng tôi vào ăn tối. Lise nhanh chóng đặt hai chiếc đĩa lên bàn.

Nếu bạn không phiền,” tôi nói, “bạn có thể đặt thêm một chiếc đĩa thứ ba không; chúng tôi có một người bạn nhỏ đi cùng.” Và tôi lấy con búp bê ra khỏi túi và đặt nó vào chiếc ghế bên cạnh Lise. Ánh mắt cô ấy dành cho tôi, tôi sẽ không bao giờ quên!

Bản quyền

Cậu Bé Không Nhà Copyright © 2026 by khosachviet.com. All Rights Reserved.