CHƯƠNG XXVI. NỖI THẤT VỌNG ĐẮNG CAY
Khi chúng tôi bước ra đường phố, người nhân viên liền vẫy một chiếc xe ngựa và bảo chúng tôi leo lên. Chiếc xe trông thật lạ lẫm, với người đánh xe ngồi trên một cái hộp phía sau, còn mái che thì trùm kín chúng tôi. Về sau tôi mới biết đó là một chiếc xe hansom. Mattia và tôi nép vào một góc, Capi nằm gọn giữa hai chân chúng tôi. Người nhân viên ngồi kín chỗ ghế còn lại. Mattia nghe thấy anh ta bảo người đánh xe chở chúng tôi đến Bethnal-Green. Người lái xe có vẻ không mấy vui vẻ khi đưa chúng tôi đến nơi ấy. Mattia và tôi đoán chắc là vì đường xa. Cả hai chúng tôi đều biết chữ “Green” trong tiếng Anh nghĩa là “khu vườn” hay “công viên”, và Bethnal-Green hẳn là tên một khu vườn hay công viên nào đó, nơi gia đình tôi đang sinh sống.
Chiếc xe lăn bánh một hồi lâu qua những con phố đông đúc của London. Quãng đường dài đến nỗi tôi nghĩ có lẽ khu đất của họ nằm ở ngoại ô thành phố. Từ “green” khiến chúng tôi nghĩ rằng nơi đó có thể ở vùng quê. Nhưng chẳng có gì xung quanh báo hiệu đó là vùng quê cả. Chúng tôi đang ở một khu dân cư rất đông đúc; bùn đen bắn tung tóe lên xe khi chúng tôi di chuyển; rồi chúng tôi rẽ vào một khu vực nghèo hơn nhiều của thành phố, và thỉnh thoảng người đánh xe lại dừng lại như thể anh ta bị lạc đường. Cuối cùng, anh ta dừng hẳn lại, và qua ô cửa sổ nhỏ của chiếc hansom, một cuộc trao đổi diễn ra giữa người nhân viên của Greth & Galley và người đánh xe bối rối. Qua những gì Mattia nghe được, người đánh xe nói rằng vô ích thôi, anh ta không tìm được đường, và anh ta hỏi người nhân viên nên đi theo hướng nào. Người nhân viên trả lời rằng anh ta không biết vì anh ta chưa từng đến khu vực toàn những kẻ trộm này trước đây. Cả hai chúng tôi đều nghe thấy từ “thieves” (kẻ trộm). Rồi người nhân viên đưa tiền cho người đánh xe và bảo chúng tôi xuống xe. Người đánh xe càu nhàu về tiền công rồi quay xe bỏ đi. Chúng tôi đứng đó trên con phố lầy lội trước cái mà người Anh gọi là “gin palace” (quán rượu).
Người dẫn đường của chúng tôi đảo mắt nhìn quanh với vẻ chán ngán, rồi bước vào cánh cửa xoay của một quán rượu. Chúng tôi lặng lẽ theo sau. Dù đang ở trong một khu vực nghèo nàn của thành phố, tôi chưa từng thấy thứ gì lộng lẫy đến thế. Ở khắp nơi đều là những tấm gương viền vàng lấp lánh, những chiếc đèn chùm pha lê lấp lánh và một quầy bar sáng bóng như bạc. Thế nhưng, những con người có mặt ở đây lại bẩn thỉu và rách rưới. Người dẫn đường của chúng tôi uống cạn một ly ngay tại quầy bar lộng lẫy ấy, rồi hỏi người phục vụ xem anh ta có thể chỉ đường đến nơi anh ta muốn tìm không. Rõ ràng anh ta đã nhận được thông tin cần thiết, vì anh ta vội vã bước ra ngoài qua cánh cửa xoay, còn chúng tôi thì bám sát gót anh. Những con phố chúng tôi đi qua bây giờ càng trở nên chật hẹp, và từ nhà này sang nhà khác giăng đầy những dây phơi quần áo bẩn thỉu. Những người phụ nữ ngồi trước hiên nhà trông xanh xao, mái tóc vàng hoe bết lại xõa trên vai. Những đứa trẻ gần như trần trụi, và nếu có mặc gì thì cũng chỉ là những mảnh giẻ rách. Trong con hẻm, vài con lợn đang lăn lộn trong vũng nước đọng bốc mùi hôi thối. Người dẫn đường của chúng tôi dừng lại. Rõ ràng anh ta đã lạc đường. Nhưng đúng lúc đó, một viên cảnh sát xuất hiện. Người dẫn đường nói chuyện với ông ta, và viên cảnh sát bảo rằng sẽ chỉ đường cho chúng tôi. Chúng tôi đi theo viên cảnh sát qua thêm nhiều con phố chật hẹp nữa. Cuối cùng, chúng tôi dừng lại ở một sân nhỏ, giữa sân là một cái ao nhỏ.
“Đây là Red Lion Court,” viên cảnh sát nói.
Tại sao chúng tôi lại dừng ở đây? Liệu có thể bố mẹ tôi sống ở nơi này không? Viên cảnh sát gõ cửa một căn lều gỗ và người dẫn đường của chúng tôi cảm ơn anh ta. Vậy là chúng tôi đã đến nơi. Mattia nắm lấy tay tôi và siết nhẹ. Tôi cũng siết lại tay anh ấy. Chúng tôi hiểu nhau. Tôi như đang mơ khi cánh cửa mở ra và chúng tôi thấy mình trong một căn phòng với ngọn lửa lớn đang cháy trong lò sưởi.
Trước ngọn lửa, trên chiếc ghế mây lớn, là một ông lão râu bạc trắng, đầu đội một chiếc mũ len đen. Ngồi bên bàn là một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi và một người phụ nữ trẻ hơn ông ta khoảng sáu tuổi. Bà ấy hẳn đã từng rất xinh đẹp, nhưng giờ đôi mắt bà có vẻ đờ đẫn và dáng vẻ thì uể oải. Rồi có bốn đứa trẻ – hai trai, hai gái – tất cả đều có mái tóc vàng hoe giống mẹ. Cậu bé lớn nhất khoảng mười một tuổi, cô bé út mới ba tuổi. Tôi không biết người nhân viên đang nói gì với người đàn ông, tôi chỉ nghe thấy cái tên “Driscoll”, tên tôi, như luật sư đã nói. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía Mattia và tôi, chỉ có cô bé út là chú ý đến Capi.
“Remi đâu?” người đàn ông hỏi bằng tiếng Pháp.
“Con đây ạ,” tôi đáp, bước lên phía trước.
“Thế thì lại đây hôn cha đi, con trai.”
Khi nghĩ về giây phút này, tôi đã tưởng tượng mình sẽ tràn ngập hạnh phúc và lao vào vòng tay cha, nhưng tôi chẳng cảm thấy gì cả. Tôi tiến đến và hôn cha.
“Nào,” ông nói, “đây là ông nội, mẹ con, và các anh chị em của con.”
Tôi đến bên mẹ trước và ôm lấy bà. Bà để tôi hôn nhưng không đáp lại cái ôm của tôi; bà chỉ nói vài ba từ mà tôi không hiểu.
“Bắt tay ông nội đi,” cha tôi nói, “và nhẹ nhàng thôi nhé; ông bị liệt rồi.”
Tôi cũng bắt tay các anh chị em của mình. Tôi muốn bế cô em gái út lên nhưng cô bé quá bận rộn với Capi nên đẩy tôi ra. Khi đi từ người này sang người khác, tôi cảm thấy giận chính mình. Sao tôi không thể cảm thấy vui mừng khi cuối cùng đã tìm thấy gia đình mình? Tôi có cha, có mẹ, có anh chị em và ông nội. Tôi đã mong chờ khoảnh khắc này, tôi đã điên cuồng vì sung sướng khi nghĩ rằng mình, giống như những cậu bé khác, sẽ có một gia đình để gọi là của mình, để yêu thương và được yêu thương… Vậy mà giờ đây, tôi lại nhìn gia đình mình một cách tò mò, không cảm thấy gì trong tim để nói với họ, không một lời yêu thương. Lẽ nào tôi là một con quái vật? Nếu tôi tìm thấy bố mẹ mình trong một cung điện thay vì một túp lều, liệu tôi có yêu thương họ hơn không? Tôi cảm thấy xấu hổ khi nghĩ vậy. Tôi lại đến bên mẹ, vòng tay ôm lấy bà và hôn lên môi bà. Rõ ràng bà không hiểu tại sao tôi lại làm vậy, vì thay vì đáp lại nụ hôn, bà nhìn tôi một cách thờ ơ, rồi quay sang chồng mình, cha tôi, bà nhún vai và nói điều gì đó mà tôi không hiểu nhưng khiến ông cười. Sự thờ ơ của bà và tiếng cười của cha tôi đã chạm đến trái tim tôi. Tôi cảm thấy tình cảm của mình không nên bị đón nhận như vậy.
“Đứa trẻ này là ai vậy?” cha tôi hỏi, chỉ tay về phía Mattia. Tôi kể lại rằng Mattia là người bạn thân thiết nhất của tôi và tôi đã chịu ơn anh ấy biết bao nhiêu.
“Tốt lắm,” cha tôi nói; “cháu có muốn ở lại đây để ngắm nhìn vùng đất này không?” Tôi định thay mặt Mattia trả lời, nhưng anh ấy đã cất tiếng trước.
“Cháu thật lòng muốn thế,” anh ấy reo lên.
Cha tôi sau đó hỏi tại sao Barberin không cùng đến với tôi. Tôi nói ông ấy đã qua đời. Ông có vẻ hài lòng khi nghe điều đó. Ông lặp lại với mẹ tôi, bà cũng tỏ ra vui mừng. Tại sao cả hai người họ lại vui khi Barberin chết nhỉ?
“Chắc hẳn con rất ngạc nhiên khi chúng ta đã không tìm kiếm con trong suốt mười ba năm,” cha tôi nói, “và rồi bỗng nhiên lại đi tìm người đàn ông đã nhặt được con khi con còn là một đứa trẻ sơ sinh.”
Tôi thốt lên rằng tôi vô cùng ngạc nhiên, và tôi mong muốn được biết rõ về chuyện đó.
“Vậy hãy lại đây ngồi gần bên lửa, ta sẽ kể cho con nghe tất cả.”
Tôi đặt chiếc túi trên vai xuống và ngồi vào chiếc ghế mà ông ấy đã mời. Khi tôi duỗi đôi chân ướt nhẹp và vấy đầy bùn đất ra phía trước ngọn lửa, ông nội tôi nhổ một bãi nước bọt sang một bên, giống như một con mèo già đang tỏ vẻ khó chịu.
“Đừng để ý đến ông ấy,” cha tôi nói; “ông già không ưa ai ngồi trước lò sưởi của ông đâu, nhưng con đừng bận tâm, nếu con cảm thấy lạnh.”
Tôi ngạc nhiên khi nghe ai đó gọi một ông lão như vậy. Tôi rụt chân lại dưới ghế, bởi tôi nghĩ rằng người ta nên tôn trọng ông ấy.
“Giờ đây con chính là con trai trưởng của cha,” cha tôi nói; “con chào đời một năm sau khi cha cưới mẹ con. Lúc cha thành hôn, có một cô gái trẻ từng nghĩ rằng cha sẽ lấy cô ấy, và để trả thù, cô ta đã bắt cóc con khỏi vòng tay chúng ta khi con mới sáu tháng tuổi. Chúng ta đã đi tìm con khắp nơi nhưng không dám đi xa tới tận Paris. Chúng ta cứ ngỡ con đã không còn trên đời cho đến ba tháng trước, khi người phụ nữ ấy hấp hối, bà ta mới thú nhận sự thật. Cha lập tức sang Pháp và viên cảnh sát ở khu vực con bị bỏ rơi nói với cha rằng con đã được một người thợ xây tên Barberin ở Chavanon nhận nuôi. Cha tìm gặp ông ta và ông ta kể lại rằng mình đã cho con theo một nhạc sĩ già tên Vitalis, rồi con lang thang khắp nước Pháp cùng ông ấy. Cha không thể ở lại đó lâu hơn, nhưng đã để lại cho Barberin một ít tiền và dặn ông ta đi tìm con, hễ có tin tức gì thì viết thư về cho Greth và Galley. Cha không đưa địa chỉ của chúng ta ở đây, bởi chúng ta chỉ sống ở London vào mùa đông; thời gian còn lại trong năm chúng ta đi khắp nước Anh và Scotland. Chúng ta làm nghề buôn bán rong, và cha có những chiếc xe ngựa riêng. Đấy, con trai, đó là cách con trở về với chúng ta sau mười ba năm xa cách. Có thể lúc đầu con sẽ thấy hơi bỡ ngỡ vì chưa hiểu chúng ta nói gì, nhưng con sẽ sớm học được tiếng Anh và có thể trò chuyện với các anh chị em của con. Sẽ chẳng bao lâu đâu, con sẽ quen với gia đình mình thôi.”
Vâng, tôi chắc chắn sẽ quen với họ; chẳng phải họ là người thân của tôi sao? Những bộ quần áo trẻ con xinh xắn, những bộ quần áo đẹp đẽ kia đã không nói lên sự thật. Nhưng điều đó có quan trọng gì chứ! Tình thương còn quý giá hơn của cải. Không phải tiền bạc mà tôi khao khát, mà là tình thương, một gia đình và một mái nhà. Trong lúc cha tôi nói chuyện với tôi, họ đã dọn bữa tối lên bàn. Một miếng thịt bò quay lớn, xung quanh là khoai tây, được đặt giữa bàn.
“Các con có đói không?” cha tôi hỏi, nhìn Mattia và tôi. Mattia nở một nụ cười để lộ hàm răng trắng bóng.
“Vậy thì, ngồi vào bàn nào.”
Nhưng trước khi ngồi xuống, ông ấy đẩy chiếc ghế bập bênh của ông nội đến gần bàn. Rồi ông ấy ngồi vào chỗ của mình, lưng quay ra lò sưởi, bắt đầu cắt thịt bò quay và chia cho mỗi người một miếng lớn cùng với khoai tây.
Dù tôi không được nuôi dạy theo đúng nguyên tắc lễ nghi, tôi nhận thấy anh chị em tôi cư xử rất tệ khi ăn uống; chúng thường dùng tay ăn, chấm vào nước sốt và liếm sạch mà cha mẹ chúng dường như không để ý. Còn ông nội, ông ấy tập trung hoàn toàn vào những gì trước mặt, và bàn tay duy nhất ông có thể dùng liên tục đưa từ đĩa lên miệng. Khi ông đánh rơi một miếng thức ăn từ những ngón tay run rẩy, anh chị em tôi lại cười.
Tôi tưởng chúng tôi sẽ quây quần bên lò sưởi suốt buổi tối, nhưng cha tôi lại bảo ông đang đợi bạn, rồi bảo chúng tôi lên giường đi ngủ. Ông giơ cây nến lên, ra hiệu cho Mattia và tôi đi theo, rồi dẫn chúng tôi đến một chuồng ngựa thông liền với căn phòng vừa nãy chúng tôi dùng bữa. Trong chuồng ngựa có hai cỗ xe lớn. Ông mở cửa một chiếc, và chúng tôi nhìn thấy hai cái giường nhỏ, một cái chồng lên cái kia.
“Đây, các con, đây là giường của các con,” ông nói. “Chúc các con ngủ ngon.”
Ấy là lời chào đón tôi bước vào gia đình mình.