"

CHƯƠNG XXXII. TÌM THẤY MỘT NGƯỜI MẸ THẬT SỰ

“Tiến lên! Chúng ta lên đường thôi, các bạn nhỏ!” Mattia reo lên sau khi chúng tôi đã cảm ơn người phụ nữ ấy.

“Giờ đây chúng ta không chỉ đi tìm Arthur và bà Milligan, mà còn cả Lise nữa. Thật là may mắn! Ai mà biết được điều gì đang chờ đợi chúng ta phía trước!”

Chúng tôi lại tiếp tục hành trình đi tìm con tàu Swan, chỉ dừng chân để ngủ và kiếm chút tiền lẻ.

“Từ Thụy Sĩ thì sẽ sang Ý,” Mattia thì thầm. “Nếu trên đường đi tìm bà Milligan mà chúng ta có thể đến được Lucca, em gái Christina của tôi sẽ vui mừng biết bao.”

Tội nghiệp Mattia! Cậu ấy đang giúp tôi tìm kiếm những người tôi yêu thương, vậy mà tôi chẳng làm được gì để giúp cậu ấy gặp lại em gái mình.

Đến Lyons, chúng tôi gần bắt kịp con thuyền Thiên Nga hơn. Lúc này, nó chỉ còn đi trước chúng tôi có sáu tuần. Tôi băn khoăn không biết liệu chúng tôi có đuổi kịp nó trước khi nó đến Thụy Sĩ hay không. Hơn nữa, tôi cũng không hề biết rằng sông Rhône không thể đi thuyền lên tới Hồ Geneva. Chúng tôi cứ ngỡ rằng bà Milligan sẽ đi thẳng lên Thụy Sĩ bằng con thuyền của bà. Thật bất ngờ, khi đến thị trấn kế tiếp, tôi trông thấy chiếc Thiên Nga từ đằng xa. Chúng tôi lập tức chạy dọc theo bờ sông. Có chuyện gì vậy nhỉ? Mọi thứ trên thuyền đều đóng kín mít. Không một bông hoa nào trên ban công. Chuyện gì đã xảy ra với Arthur thế? Chúng tôi dừng lại, nhìn nhau với cùng một nỗi buồn dâng lên trong lòng.

Một người đàn ông trông coi con thuyền bảo với chúng tôi rằng bà tiểu thư người Anh đã đi Thụy Sĩ cùng một cậu bé ốm yếu và một cô bé câm. Họ đi bằng xe ngựa cùng người hầu gái; những người hầu khác theo sau cùng hành lý. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.

“Bà ấy ở đâu?” Mattia hỏi.

“Bà ấy thuê một biệt thự ở Vevy, nhưng tôi không biết chính xác chỗ nào; bà ấy sẽ ở đó suốt mùa hè.”

Chúng tôi lên đường đến Vevy. Giờ họ không còn cách xa chúng tôi nữa. Họ đã dừng chân và chắc chắn chúng tôi sẽ tìm thấy họ ở Vevy nếu chúng tôi kiên trì tìm kiếm. Chúng tôi đến nơi với ba đồng xu trong túi và đế giày mòn vẹt. Nhưng Vevy không phải một ngôi làng nhỏ; đó là một thị trấn, và việc hỏi thăm bà Milligan, hay thậm chí một bà tiểu thư người Anh có con trai ốm và con gái câm, chúng tôi biết điều đó thật vô vọng. Có rất nhiều người Anh ở Vevy; nơi đây gần như trở thành một khu nghỉ dưỡng của người Anh. Chúng tôi nghĩ cách tốt nhất là đi đến tất cả những ngôi nhà họ có thể ở. Điều đó không khó; chúng tôi chỉ cần chơi nhạc trên mọi con phố. Chúng tôi thử khắp nơi, nhưng vẫn chẳng thấy dấu hiệu nào của bà Milligan.

Chúng tôi đi từ hồ lên núi, từ núi xuống hồ, nhìn sang phải, sang trái, thỉnh thoảng hỏi những người mà qua nét mặt, chúng tôi nghĩ họ sẽ sẵn lòng lắng nghe và trả lời. Có người chỉ chúng tôi đến một ngôi nhà gỗ nằm tít trên núi; người khác lại chắc chắn rằng bà ấy sống gần hồ. Đúng là có những bà tiểu thư người Anh sống trên núi và ở biệt thự ven hồ; nhưng không phải là bà Milligan của chúng tôi.

Một buổi chiều nọ, chúng tôi đang chơi giữa đường. Ngôi nhà trước mặt chúng tôi có một cánh cổng sắt lớn; ngôi nhà phía sau nằm lùi sâu trong một khu vườn. Trước nó là một bức tường đá. Tôi đang hát hết sức mình. Tôi hát đoạn đầu bài hát Napoli của mình và chuẩn bị hát đoạn thứ hai thì chúng tôi nghe thấy một giọng hát yếu ớt, lạ lùng. Ai có thể hát vậy nhỉ? Giọng hát thật lạ lùng!

“Arthur?” Mattia hỏi.

“Không, không, không phải Arthur. Tôi chưa từng nghe thấy giọng hát này bao giờ.”

Nhưng Capi bắt đầu rên rỉ và có đủ mọi biểu hiện của một niềm vui tột độ khi nó nhảy lên bức tường.

“Ai đang hát thế?” Tôi kêu lên, không thể kìm chế nổi.

“Remi!” một giọng nói yếu ớt gọi.

Tên tôi thay cho một lời đáp! Mattia và tôi nhìn nhau, sững sờ. Trong khi chúng tôi đứng nhìn nhau một cách ngơ ngác, tôi thấy một chiếc khăn tay đang vẫy ở phía cuối bức tường. Chúng tôi chạy đến đó. Mãi cho đến khi tới hàng rào bao quanh phía bên kia khu vườn, chúng tôi mới nhìn thấy người đang vẫy chiếc khăn.

Lise! Cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy cô bé, và không xa là bà Milligan cùng Arthur!

Nhưng ai đã hát vậy? Đó là câu hỏi mà Mattia và tôi hỏi nhau ngay khi chúng tôi có thể thốt nên lời.

“Tôi,” Lise đáp.

Lise đang hát! Lise đang nói chuyện!

Các bác sĩ đã từng nói rằng một ngày nào đó Lise sẽ lấy lại được giọng nói, và rất có thể điều đó sẽ xảy ra nhờ một cú sốc từ cảm xúc mãnh liệt, nhưng tôi chưa từng nghĩ điều đó có thể thành hiện thực. Vậy mà phép màu đã xảy ra, và chính vào lúc biết tôi đã đến với cô bé, nghe tôi hát bài hát Napoli mà tôi từng hát cho cô bé nghe, cô bé đã trải qua cảm xúc mãnh liệt ấy và lấy lại được giọng nói của mình. Tôi xúc động trước suy nghĩ này đến mức phải đưa tay ra để giữ thăng bằng.

“Bà Milligan đâu?” Tôi hỏi, “còn Arthur?”

Lise mấp máy môi, nhưng chỉ phát ra những âm thanh không rõ ràng, rồi cô bé sốt ruột dùng ngôn ngữ của đôi tay, vì lưỡi cô bé vẫn còn vụng về khi tạo thành lời. Cô bé chỉ xuống khu vườn và chúng tôi thấy Arthur đang nằm trên chiếc xe lăn cho người ốm. Một bên là mẹ cậu bé, và bên kia… là ông James Milligan. Trong sợ hãi, gần như hoảng sợ, tôi cúi xuống sau hàng rào. Lise chắc hẳn đã ngạc nhiên tại sao tôi lại làm vậy. Rồi tôi ra hiệu cho cô bé đi.

“Đi đi, Lise, kẻo con làm lộ mẹ,” tôi nói. “Ngày mai đến đây lúc chín giờ và đi một mình nhé, rồi mẹ con mình sẽ nói chuyện.”

Cô bé ngập ngừng một lát, rồi bước vào khu vườn.

“Chúng ta không nên đợi đến ngày mai mới nói chuyện với bà Milligan,” Mattia nói. “Trong lúc ấy, người chú kia có thể làm hại Arthur. Ông ta chưa từng gặp tôi, và tôi sẽ đi gặp bà Milligan ngay bây giờ để nói cho bà ấy biết.”

Lời đề nghị của Mattia có lý, nên tôi để cậu ấy đi, dặn rằng tôi sẽ đợi cậu ấy ở một khoảng cách ngắn phía dưới một cây dẻ to. Tôi đợi Mattia rất lâu. Hơn mười lần tôi tự hỏi liệu mình có sai lầm khi để cậu ấy đi không. Cuối cùng, tôi thấy cậu ấy quay lại, cùng với bà Milligan. Tôi chạy đến chỗ bà, nắm lấy bàn tay bà đưa ra cho tôi, rồi cúi xuống hôn lên đó. Nhưng bà ôm lấy tôi, cúi xuống, dịu dàng hôn lên trán tôi.

“Tội nghiệp, đứa trẻ đáng yêu,” bà thì thầm.

Bằng những ngón tay trắng xinh đẹp, bà gạt tóc khỏi trán tôi và nhìn tôi thật lâu.

“Vâng, vâng,” bà khẽ thì thầm.

Tôi quá hạnh phúc đến nỗi không nói nên lời.

“Mattia và tôi đã nói chuyện rất lâu,” bà nói, “nhưng tôi muốn chính con kể cho tôi nghe làm thế nào con lại gia nhập gia đình Driscoll.”

Tôi kể cho bà nghe những gì bà hỏi, và bà chỉ ngắt lời tôi để yêu cầu tôi nói rõ hơn về một số điểm. Chưa bao giờ tôi được lắng nghe với sự chú tâm đến vậy. Đôi mắt bà không rời khỏi mắt tôi.

Khi tôi kể xong, bà im lặng một lúc lâu, vẫn nhìn tôi. Cuối cùng bà nói: “Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng và chúng ta phải hành động cẩn trọng. Nhưng kể từ giờ phút này, con hãy coi mình là bạn,” bà ngập ngừng một chút, “là anh em của Arthur. Hai tiếng nữa hãy đến khách sạn Hotel des Alpes; tạm thời con sẽ ở đó. Ta sẽ sai người đến khách sạn đón con. Ta phải đi bây giờ đây.”

Bà ấy lại hôn tôi, rồi sau khi bắt tay Mattia, bà vội vã rời đi.

“Em đã nói gì với bà Milligan vậy?” Tôi hỏi Mattia.

“Tất cả những gì em nói với anh, và còn nhiều hơn thế nữa,” cậu ấy đáp. “Ôi, bà ấy thật là một người phụ nữ tốt, một người phụ nữ đẹp biết bao!”

“Em có nhìn thấy Arthur không?”

“Chỉ từ xa thôi, nhưng cũng đủ gần để nhận ra cậu ấy là một cậu bé đáng yêu.”

Tôi tiếp tục hỏi Mattia, nhưng cậu ấy chỉ trả lời qua loa, mơ hồ.

Dù chúng tôi vẫn mặc những bộ quần áo cũ kỹ, rách rưới của dân đường phố, chúng tôi vẫn được một người hầu mặc vest đen, thắt cà vạt trắng tiếp đón tại khách sạn. Anh ta dẫn chúng tôi đến căn phòng dành cho mình. Căn phòng ngủ trước mắt thật tuyệt đẹp. Hai chiếc giường trắng tinh được đặt cạnh nhau. Cửa sổ mở ra ban công, phóng tầm mắt ra hồ nước. Người hầu hỏi chúng tôi muốn dùng gì cho bữa tối, và nếu muốn, anh ta sẽ phục vụ ngay trên ban công.

“Có bánh tart không?” Mattia hỏi.

“Có, bánh tart mâm xôi, bánh tart dâu tây, và bánh tart lý gai.”

“Tốt. Vậy thì anh có thể mang những chiếc bánh tart đó ra.”

“Cả ba loại?”

“Chắc chắn rồi.”

“Còn món khai vị thì sao? Thịt thì sao? Rau củ?”

Với mỗi lời đề nghị, Mattia mở to mắt, nhưng cậu ấy không để mình bối rối.

“Bất cứ thứ gì, tùy ý anh,” cậu ấy trả lời một cách điềm tĩnh.

Người quản gia rời đi một cách nghiêm nghị.

Ngày hôm sau, bà Milligan đến thăm chúng tôi; bà đi cùng một thợ may và một thợ may áo sơ mi, họ đo quần áo và áo sơ mi cho chúng tôi. Bà Milligan nói với chúng tôi rằng Lise vẫn đang cố gắng nói và bác sĩ đã tuyên bố rằng cô bé sẽ sớm khỏe lại, sau đó bà đã dành một giờ với chúng tôi rồi rời đi, lại dịu dàng hôn tôi và bắt tay Mattia thật nồng nhiệt.

Suốt bốn ngày liên tiếp, bà đều đến thăm, mỗi lần lại càng dịu dàng, trìu mến hơn với tôi, dù vẫn còn một chút dè dặt. Đến ngày thứ năm, người hầu gái mà tôi đã quen trên con tàu Swan tới thay bà. Cô ấy bảo chúng tôi rằng bà Milligan đang chờ và một cỗ xe ngựa đã đậu sẵn trước khách sạn để đưa chúng tôi đến chỗ bà. Mattia bước lên xe tự nhiên như thể cậu ấy đã quen đi xe ngựa suốt đời. Capi cũng nhảy lên mà không chút ngập ngừng, rồi ngồi xuống những tấm đệm nhung êm ái.

Chuyến đi thật ngắn, ít nhất là với tôi, bởi tôi cứ ngỡ mình đang mơ, đầu óc chất đầy những ý nghĩ ngờ nghệch, hoặc ít ra là những điều tôi cho là có thể ngờ nghệch. Chúng tôi được dẫn vào một phòng khách. Bà Milligan, Arthur và Lise đều có mặt ở đó. Arthur giang rộng đôi tay. Tôi lao về phía cậu bé, rồi tôi hôn Lise. Bà Milligan ôm lấy tôi và hôn lên má.

“Cuối cùng,” bà nói, “ngày mà con có thể nhận lấy vị trí thuộc về mình đã đến.”

Tôi nhìn bà chờ đợi lời giải thích. Bà đi đến một cánh cửa và mở nó ra. Rồi là sự ngạc nhiên lớn lao! Bà Barberin bước vào. Trong tay bà cầm một ít quần áo trẻ sơ sinh, một chiếc áo choàng bằng vải cashmere trắng, một chiếc mũ ren, một đôi giày len. Bà chỉ kịp đặt những thứ này lên bàn trước khi tôi ôm chầm lấy bà. Trong khi tôi vuốt ve bà, bà Milligan ra lệnh cho người hầu. Tôi chỉ nghe thấy cái tên Milligan, nhưng tôi ngước nhìn nhanh. Tôi biết mình đã tái mặt đi.

“Con chẳng có gì phải sợ cả,” bà Milligan dịu dàng nói; “lại đây và đặt tay con trong tay ta.”

James Milligan bước vào phòng, nở nụ cười để lộ hàm răng trắng sắc nhọn. Khi trông thấy tôi, nụ cười ấy bỗng biến thành vẻ mặt ghê tởm. Bà Milligan không để ông ta kịp mở lời.

“Tôi đã mời ông tới đây,” bà nói, giọng run run, “để giới thiệu với ông đứa con trai cả của tôi, người mà cuối cùng tôi cũng đã tìm thấy”; bà siết chặt bàn tay tôi. “Nhưng ông đã từng gặp cậu bé rồi; ông đã thấy cậu bé trong nhà kẻ đã bắt cóc nó, khi ông đến đó hỏi thăm sức khỏe cậu bé.”

“Điều này có nghĩa là gì?” Milligan hỏi.

“Rằng kẻ đang thụ án vì trộm cắp trong nhà thờ đã khai hết ra rồi. Hắn đã thú nhận rằng hắn đã bắt cóc con trai tôi và mang nó đến Paris rồi bỏ rơi ở đó. Đây là quần áo con tôi đã mặc khi ấy. Và người phụ nữ tốt bùi này chính là người đã nuôi nấng con trai tôi. Ông có muốn xem lời khai này không? Ông có muốn kiểm tra những bộ quần áo này không?”

James Milligan nhìn chúng tôi như muốn bóp cổ từng người, rồi ông ta quay gót bỏ đi. Đến ngưỡng cửa, ông ta ngoảnh lại và nói: “Chúng ta sẽ xem tòa án nghĩ gì về câu chuyện của thằng nhóc này.”

Mẹ tôi, giờ con đã có thể gọi bà như vậy, đáp lại một cách điềm tĩnh: “Ông có thể đưa việc này ra tòa; còn tôi, tôi sẽ không làm thế vì ông là em trai của chồng tôi.”

Cánh cửa đóng sầm lại. Và rồi, lần đầu tiên trong đời, con ôm hôn mẹ như chính mẹ đã từng hôn con.

“Em đã nói với mẹ rằng chúng ta giữ bí mật chưa?” Mattia hỏi, bước đến bên chúng tôi.

“Cậu biết hết mọi chuyện rồi sao?”

“Mẹ đã bảo Mattia đừng kể hết cho con, bởi dù mẹ tin chắc con là con trai của mẹ, mẹ vẫn cần những bằng chứng rõ ràng, và phải đưa bà Madame Barberin đến cùng với những bộ quần áo. Chúng ta sẽ khổ sở biết bao nếu cuối cùng lại là một sự nhầm lẫn. Giờ đây chúng ta đã có những bằng chứng ấy, và chúng ta sẽ không bao giờ phải xa nhau nữa. Con sẽ sống cùng mẹ và anh trai của con chứ?” Rồi mẹ chỉ tay về phía Mattia và Lise, “và,” mẹ nói thêm, “cùng những người mà con đã yêu thương khi con còn nghèo khó.”

Bản quyền

Cậu Bé Không Nhà Copyright © 2026 by khosachviet.com. All Rights Reserved.