CHƯƠNG XXXIII. GIẤC MƠ THÀNH HIỆN THỰC
Đã nhiều năm trôi qua. Giờ đây, tôi đang sống trong ngôi nhà của tổ tiên mình, Milligan Park. Cậu bé lang thang tội nghiệp từng phải ngủ trong chuồng ngựa, giờ đây đã trở thành chủ nhân tương lai của một tòa lâu đài cổ kính. Đó là một nơi thật đẹp, nằm cách chỗ tôi nhảy lên tàu để trốn cảnh sát ngày xưa khoảng hai mươi dặm về phía tây. Tôi sống ở đây cùng mẹ, cùng anh trai và cùng người vợ của mình.
Chúng tôi sắp làm lễ rửa tội cho đứa con đầu lòng, bé Mattia. Tối nay, tất cả những người bạn đã từng ở bên tôi trong những ngày tháng khó khăn nhất sẽ tụ họp dưới mái nhà này để cùng ăn mừng sự kiện trọng đại ấy. Tôi sẽ tặng cho mỗi người một món quà nhỏ: đó là một cuốn “Hồi ký” do chính tay tôi viết, cuốn sách mà tôi đã miệt mài viết trong suốt sáu tháng qua và chỉ hôm nay mới nhận được từ người thợ đóng sách.
Cuộc gặp gỡ này thật là một điều bất ngờ lớn lao đối với vợ tôi. Cô ấy sắp được gặp lại cha, chị gái, các anh trai và cả người dì của mình. Chỉ có mẹ tôi và anh trai tôi biết trước bí mật này. Sẽ có một người vắng mặt trong bữa tiệc đoàn viên này. Ôi! Thật tội nghiệp cho người thầy! Thật tội nghiệp cho Vitalis! Tôi đã chẳng thể làm được gì nhiều cho người khi người còn sống, nhưng theo lời tôi thỉnh cầu, mẹ tôi đã cho xây một ngôi mộ bằng đá cẩm thạch và đặt lên trên đó bức tượng bán thân của người, bức tượng của Carlo Balzini. Một bản sao của bức tượng ấy giờ đang ở trước mặt tôi khi tôi viết những dòng này, và nhiều lần trong lúc viết cuốn “Hồi ký”, tôi đã ngẩng đầu lên và gặp ánh mắt của người. Tôi đã không quên người; tôi sẽ không bao giờ quên người, người thầy kính yêu, Vitalis thân mến.
Mẹ tôi đang bước tới, nương tựa vào cánh tay anh trai tôi. Lúc này, người con trai đang đỡ người mẹ, bởi Arthur giờ đã lớn lên, cao lớn và khỏe mạnh. Cách mẹ tôi vài bước, một bà lão ăn mặc theo kiểu nông dân Pháp bồng trên tay một đứa trẻ quấn trong chiếc áo choàng trắng. Đó là bà Barberin yêu quý, còn đứa bé chính là con trai tôi, Mattia.
Arthur đưa cho tôi một tờ báo Times và chỉ vào một bức thư từ Viên. Trong thư cho biết Mattia, nghệ sĩ dương cầm vĩ đại, đã kết thúc loạt buổi hòa nhạc của mình, và dù đã đạt được thành công rực rỡ tại Viên, anh ấy vẫn trở về nước Anh để thực hiện một lời hứa không thể trì hoãn. Tôi không cần đọc bài báo này, bởi dù cả thế giới giờ đây gọi Mattia là “Chopin của violin”, tôi đã tận mắt chứng kiến anh ấy trưởng thành và tiến bộ. Khi cả ba chúng tôi cùng học dưới sự hướng dẫn của các gia sư, Mattia học tiếng Latinh và Hy Lạp không mấy khá lên, nhưng lại nhanh chóng vượt xa các thầy giáo của mình trong lĩnh vực âm nhạc. Espinassous, người thợ cắt tóc kiêm nhạc sĩ ở Mendes, đã nói đúng.
Một người hầu mang đến cho tôi một bức điện tín:
“Biển động dữ dội! Ôi! Tôi đã ốm rất nặng, nhưng đã cố gắng ghé qua Paris để đón Christina trên đường đi. Sẽ đến nơi lúc 4 giờ. Xin hãy gửi xe ngựa ra đón chúng tôi. MATTIA.”
Nhắc đến Christina, tôi liếc nhìn Arthur, nhưng anh ấy đã quay mặt đi. Tôi biết Arthur yêu em gái của Mattia, và tôi biết rằng sớm muộn gì, dù chưa phải bây giờ, mẹ tôi sẽ chấp nhận cuộc hôn nhân này. Xuất thân không phải là tất cả. Mẹ đã không phản đối cuộc hôn nhân của tôi, và sau này, khi mẹ thấy điều đó mang lại hạnh phúc cho Arthur, mẹ cũng sẽ không phản đối cuộc hôn nhân của anh ấy.
Lise bước xuống hành lang, vợ tôi xinh đẹp. Cô ấy vòng tay qua cổ mẹ tôi.
“Mẹ yêu,” cô ấy nói, “hình như có một bí mật gì đó đang diễn ra, và con tin mẹ đang tham gia vào đó. Con biết nếu đây là một bất ngờ và có mẹ ở trong đó, thì chắc chắn đó là điều gì đó mang lại hạnh phúc cho chúng con, nhưng con vẫn rất tò mò.”
“Nào, Lise, con sẽ có bất ngờ ngay bây giờ,” tôi nói, khi nghe tiếng bánh xe ngựa lăn trên sỏi đá ngoài sân.
Khách mời lần lượt đến, và Lise cùng tôi đứng ở sảnh để chào đón họ. Có ông Acquin, dì Catherine và Etiennette, cùng một chàng trai trẻ rắn rỏi vừa trở về từ chuyến thám hiểm thực vật và giờ đã là nhà thực vật học nổi tiếng – Benjamin Acquin. Tiếp theo là một chàng trai trẻ và một ông lão. Chuyến đi này đối với họ thật đặc biệt vì khi rời khỏi đây, họ sẽ đến Wales để thăm các mỏ. Chàng trai trẻ sẽ thực hiện những quan sát để mang về nước mình, củng cố vị trí cao mà anh ấy đang nắm giữ tại mỏ Truyère, còn ông lão sẽ bổ sung vào bộ sưu tập khoáng sản quý giá mà thành phố Varses đã vinh dự chấp nhận. Đó là vị giáo sư già và Alexix. Lise và tôi chào đón khách. Chiếc xe ngựa lao tới từ hướng ngược lại với Arthur, Christina và Mattia. Theo sau là một chiếc xe ngựa kéo bởi một người đàn ông trông lịch lãm, bên cạnh anh ta là một thủy thủ rắn rỏi. Người đàn ông cầm cương là Bob, giờ đây rất giàu có, và người đàn ông bên cạnh anh ta là em trai anh ấy, người đã giúp tôi trốn thoát khỏi Anh.

Sau bữa tiệc rửa tội, Mattia kéo tôi lại bên cửa sổ.
“Chúng ta thường chơi nhạc cho những người thờ ơ,” anh ấy nói; “bây giờ, nhân dịp đáng nhớ này, chúng ta hãy chơi nhạc cho những người mà chúng ta yêu thương nhé?”
“Với cậu, không có niềm vui nào mà không có âm nhạc, phải không Mattia, cậu bạn già,” tôi cười nói; “cậu còn nhớ đã làm con bò của chúng ta sợ hãi thế nào không?”
Mattia mỉm cười.
Từ một chiếc hộp đẹp đẽ, lót nhung, anh ấy rút ra một cây đàn violin cũ kỹ, nếu muốn bán nó cũng không được hai franc. Tôi lấy ra khỏi lớp vỏ bọc của nó một cây đàn hạc, thứ gỗ đã bị mưa rửa trôi quá nhiều lần, giờ đã trở lại màu sắc nguyên bản.
“Cậu có hát bài hát Napoli của cậu không?” Mattia hỏi.
“Có, vì chính bài hát đó đã giúp Lise lấy lại giọng nói,” tôi đáp, mỉm cười nhìn vợ tôi đứng bên cạnh.
Các vị khách tập trung quanh chúng tôi thành một vòng tròn. Bỗng một chú chó bước ra phía trước. Capi hiền lành, giờ đã già và bị điếc, nhưng đôi mắt vẫn còn tinh tường. Từ tấm đệm nó đang nằm, nó nhận ra cây đàn hạc và lê bước đến, khập khiễng, cho “Buổi biểu diễn”. Trong miệng nó ngậm một chiếc đĩa, nó muốn đi một vòng quanh “khán giả danh dự”. Nó cố gắng đứng bằng hai chân sau, nhưng sức lực không cho phép, thế là nó ngồi xuống một cách trang nghiêm, đặt chân lên trái tim mình, cúi chào mọi người.
Bài hát của chúng tôi chấm dứt, Capi đứng thẳng hết mức có thể và “làm vòng”. Mỗi người bỏ thứ gì đó vào chiếc đĩa, và Capi hớn hở mang nó đến cho tôi. Đó là số tiền thu được lớn nhất mà chú từng quyên góp. Toàn là tiền vàng và tiền bạc – một trăm bảy mươi franc.
Tôi hôn lên chiếc mũi lạnh của chú như ngày trước, và ý nghĩ về những khốn khó thời thơ ấu chợt gợi cho tôi một ý tưởng. Tôi nói với các vị khách rằng số tiền này sẽ là khoản đóng góp đầu tiên để thành lập một Ngôi nhà dành cho những nhạc sĩ nhỏ tuổi lang thang đường phố. Mẹ tôi và tôi sẽ đóng góp phần còn lại.
“Thưa bà yêu quý,” Mattia nói, cúi xuống hôn tay mẹ tôi, “xin cho phép con được góp một phần nhỏ vào công việc tốt đẹp này. Toàn bộ số tiền thu được từ buổi hòa nhạc đầu tiên của con ở Luân Đôn sẽ được thêm vào bộ sưu tập của Capi.”
Và Capi sủa vang lên như thể tán thành.
HẾT