"

10 CON CUA CHƠI ĐÙA VỚI BIỂN CẢ

Ngày xửa ngày xưa, vào thuở Khởi Nguyên của Vạn Vật, các em yêu ạ, khi Pháp Sư Già Nhất đang bận rộn sắp đặt mọi thứ. Đầu tiên, Ngài tạo ra Đất. Tiếp đến, Ngài tạo ra Biển. Rồi Ngài truyền lệnh cho muôn loài đến vui chơi. Các sinh vật ngơ ngác hỏi: “Thưa Pháp Sư Già Nhất, chúng con phải chơi trò gì ạ?”

Ngài ôn tồn đáp: “Ta sẽ dạy cho các con.”

Ngài gọi Voi – tất cả những chú Voi trên đời – và phán: “Hãy chơi trò làm Voi đi.” Thế là cả đàn Voi răm rắp tuân theo. Ngài gọi Hải Ly – tất cả những chú Hải Ly trên đời – và bảo: “Hãy chơi trò làm Hải Ly đi.” Thế là cả lũ Hải Ly vui vẻ thi hành. Ngài gọi Bò – tất cả những con Bò trên đời – và truyền: “Hãy chơi trò làm Bò đi.” Thế là đàn Bò rống lên vâng lời. Ngài gọi Rùa – tất cả những cụ Rùa trên đời – và dạy: “Hãy chơi trò làm Rùa đi.” Thế là bầy Rùa chậm rãi nghe theo.

Cứ thế, từng loài một – muông thú, chim chóc, cá tôm – đều được Ngài gọi tên và chỉ bảo cách chơi riêng của chúng.

Nhưng khi chiều buông xuống, lúc người và thú đều trở nên bồn chồn và mỏi mệt, thì một Người Đàn Ông xuất hiện (Phải chăng còn có cả cô con gái bé nhỏ của anh ta nữa?) – Đúng thế, có cả đứa con gái cưng nhất của anh ta đang ngồi trên vai. Anh ta hỏi: ‘Thưa Pháp Sư Già Nhất, đây là trò chơi gì vậy?’ Vị Pháp Sư Già Nhất đáp: ‘Này Con Trai Của Adam, đây là trò chơi Khởi Nguyên Vạn Vật; nhưng con quá thông thái để chơi trò này.’ Người đàn ông cúi đầu thưa: ‘Vâng, con quá thông thái nên không được chơi trò này; nhưng xin ngài hãy khiến mọi Loài Vật đều vâng lời con.’

Trong lúc hai người đàm đạo, Cua Pau Amma – sinh vật tiếp theo trong cuộc chơi – đã lẻn ra biển, thầm nghĩ: ‘Ta sẽ chơi trò của riêng ta dưới đáy biển sâu, và ta sẽ chẳng bao giờ nghe lời gã Con Trai Của Adam này.’ Chẳng ai nhìn thấy nó bỏ đi ngoại trừ cô con gái nhỏ đang nép trên vai Người Đàn Ông. Và trò chơi cứ thế tiếp diễn cho đến khi chẳng còn Loài Vật nào chưa tuân lệnh; rồi Pháp Sư Già Nhất phủi bụi trên tay và chu du khắp thế gian để xem các Loài Vật đang chơi ra sao.

Ông đi lên phương Bắc, các bé yêu quý ạ, và trông thấy tất cả những chú Voi trên đời đang dùng ngà đào đất, giậm chân trên nền đất tinh khôi, sạch sẽ đã được chuẩn bị sẵn cho chúng.

“Kun?” – tất cả những chú Voi trên đời đồng thanh hỏi, nghĩa là “Như thế này có đúng không ạ?”

“Payah kun” – Pháp sư Già nhất đáp, nghĩa là “Đúng rồi đấy”; rồi ông thổi hơi vào những tảng đá lớn và cục đất mà đàn Voi đã hất lên, chúng liền biến thành dãy Himalaya hùng vĩ mà các bé có thể thấy trên bản đồ.

Ông đi sang phương Đông, và nhìn thấy tất cả những chú Bò trên đời đang gặm cỏ trên cánh đồng được chuẩn bị sẵn, chúng liếm lưỡi quét sạch cả khu rừng trong nháy mắt, nuốt chửng rồi ngồi xuống nhai lại.

“Kun?” – tất cả những con Bò trên đời đồng thanh hỏi.

Đây là bức tranh vẽ Pau Amma, con Cua, đang bỏ chạy trong khi Vị Pháp Sư Già Nhất đang trò chuyện với Người Đàn Ông và Cô Con Gái Nhỏ của ông ấy.
Vị Pháp Sư Già Nhất ngồi trên ngai phép thuật của mình, được bao phủ bởi Đám Mây Phép Thuật.
Ba bông hoa trước mặt ông là Ba Bông Hoa Phép Thuật.
Trên đỉnh đồi, bạn có thể thấy Con Voi-Duy-Nhất, Con Bò-Duy-Nhất, và Con Rùa-Duy-Nhất đang đi chơi theo lời dặn của Vị Pháp Sư.
Con Bò có cái bướu vì nó là Con Bò-Duy-Nhất, nên phải mang tất cả những gì thuộc về bò cho tất cả các con bò được tạo ra sau này.
Dưới chân đồi là những con vật đã được dạy trò chơi mà chúng sẽ chơi.
Bạn có thể thấy Con Hổ-Duy-Nhất đang mỉm cười với Những Khúc Xương-Duy-Nhất, và bạn cũng thấy Con Nai Sừng Tấm-Duy-Nhất, Con Vẹt-Duy-Nhất, và Những Con Thỏ-Duy-Nhất trên đồi.
Những con vật khác thì ở phía bên kia đồi, nên tôi không vẽ chúng.
Ngôi nhà nhỏ trên sườn đồi là Ngôi Nhà-Duy-Nhất.
Vị Pháp Sư Già Nhất dựng nó để dạy Người Đàn Ông cách làm nhà khi ông cần.
Con Rắn quấn quanh ngọn đồi gai góc kia là Con Rắn-Duy-Nhất, đang nói chuyện với Con Khỉ-Duy-Nhất; mà Con Khỉ thì đang hỗn với Con Rắn, còn Con Rắn cũng hỗn lại.
Người Đàn Ông đang mải nói chuyện với Vị Pháp Sư Già Nhất.
Cô Con Gái Nhỏ thì nhìn Pau Amma khi nó bỏ chạy.
Cái ụ lù lù trong nước phía trước chính là Pau Amma.
Hồi đó nó không phải loại cua bình thường — nó là Vua Cua, nên hình dạng trông khác hẳn.
Thứ trông giống như những viên gạch mà Người Đàn Ông đang đứng trong chính là Mê Cung Lớn.
Khi trò chuyện xong với Vị Pháp Sư, ông sẽ phải bước vào Mê Cung Lớn, vì đó là điều bắt buộc.
Dấu trên phiến đá dưới chân Người Đàn Ông là một dấu phép thuật;
và phía dưới, tôi đã vẽ Ba Bông Hoa Phép Thuật trộn lẫn với Đám Mây Phép Thuật.
Toàn bộ bức tranh này đều là Bùa Phép Mạnh Mẽ và Phép Thuật Hùng Cường.

“Payah kun” – Pháp sư Già nhất đáp; rồi ông thổi hơi vào mảnh đất trống nơi nó đã gặm cỏ, vào chỗ nó từng nằm nghỉ, thế là một nơi biến thành Sa mạc Ấn Độ mênh mông, còn nơi kia hóa thành Sa mạc Sahara rộng lớn – các bạn cứ việc tìm xem trên bản đồ mà biết.

Ông tiếp bước về hướng Tây, bắt gặp đàn Hải Ly khắp thế gian đang hì hục đắp đập chắn ngang những dòng sông rộng đã được sắp đặt sẵn cho chúng.

“Kun?” – tất cả những con Hải Ly trên đời đồng thanh hỏi.

“Payah kun” – Pháp sư Già nhất đáp; rồi ông thổi hơi vào những thân cây đổ cùng mặt nước lặng im, thế là chúng biến thành vùng Đầm lầy Everglades ở Florida – các bạn cứ việc tìm xem trên bản đồ mà biết.

Rồi ông lững thững đi về phương Nam và bắt gặp cả một đàn Rùa đang dùng chân quào cát đã được chuẩn bị sẵn cho chúng, cát đá bay tứ tung trong gió rồi rơi tõm xuống biển xa tít tắp.

“Kun?” – cả đàn Rùa đồng thanh hỏi.

“Payah kun” – Pháp sư Già nhất đáp, rồi ông phù phép thổi hơi vào đám cát đá đang chìm nghỉm dưới biển kia. Thế là chúng hóa thành những hòn đảo tuyệt mỹ nhất của Borneo, Celebes, Sumatra, Java cùng cả dải quần đảo Mã Lai – giờ đây các bạn nhỏ cứ việc mở bản đồ ra là thấy!

Ít lâu sau, Pháp sư Già nhất gặp Người đàn ông đứng bên bờ sông Perak, ông hỏi: “Này con trai của Adam, liệu muôn loài có chịu nghe lời con không?”

“Vâng,” Người đàn ông đáp.

“Toàn bộ Đất liền có nghe lời con không?”

“Vâng,” Người đàn ông nói.

“Toàn bộ Biển cả có nghe lời con không?”

“Không,” Người đàn ông đáp. “Mỗi ngày một lần và mỗi đêm một lần, Biển lại tràn vào sông Perak, đẩy nước ngọt ngược về rừng, khiến nhà con bị ngập; mỗi ngày một lần và mỗi đêm một lần, nó lại rút ra sông, cuốn hết nước đi, chỉ để lại bùn lầy, và thuyền của con bị lật úp. Đó có phải là trò chơi ông bảo nó chơi không?”

“Không,” Pháp sư Già nhất đáp. “Đó là một trò chơi mới và tệ hại.”

“Nhìn kìa!” Người đàn ông nói, và ngay khi lời vừa dứt, Biển cả mênh mông đã dâng lên cửa sông Perak, đẩy dòng nước ngược vào sâu trong những khu rừng tối tăm xa tít, nhấn chìm cả ngôi nhà của Người đàn ông.

“Chuyện này không ổn rồi. Hạ thuyền xuống đi, chúng ta phải xem ai đang nghịch ngợm với Biển cả đây,” Vị Pháp Sư Già Nhất lên tiếng. Họ cùng nhau xuống thuyền, cô con gái nhỏ cũng đi theo, còn Người đàn ông thì cầm trên tay con dao găm cong vút của mình – lưỡi dao lượn sóng như ngọn lửa bập bùng – rồi họ cùng chèo thuyền ra sông Perak. Bỗng nhiên, nước biển bắt đầu rút dần, con thuyền bị cuốn ra khỏi cửa sông Perak, vượt qua Selangor, qua Malacca, qua Singapore, rồi cứ thế trôi mãi ra tận Đảo Bingtang, như có ai đang dùng sợi dây vô hình kéo đi.

Lúc ấy, Pháp Sư Già Nhất đứng phắt dậy, giọng vang vọng: “Này! Hỡi muông thú, chim trời và cá biển, những loài ta đã nâng niu từ Thuở Khai Thiên Lập Địa và dạy cho các ngươi những trò chơi đúng phép, đứa nào trong các ngươi dám nghịch ngợm với Biển cả hả?”

Tất cả các loài thú, chim và cá đồng thanh nói: “Ôi thưa Pháp Sư Già Nhất, chúng tôi đã chơi những trò mà ngài dạy – cả chúng tôi và con cháu chúng tôi. Nhưng chưa từng có ai trong chúng tôi dám chơi đùa cùng Biển cả.”

Khi ấy, vầng trăng tròn vành vạnh nhô lên từ mặt nước, Pháp Sư Già Nhất hỏi ông lão lưng còng đang ngồi trên cung trăng mải miết se sợi dây câu mà ông mong một ngày sẽ dùng để bắt lấy cả thế giới: “Này! Ngư dân của Mặt Trăng, ngươi có đang chơi đùa với Biển cả chăng?”

“Không,” Ngư dân đáp, “Tôi đang se sợi dây để một ngày bắt lấy thế giới, chứ không chơi đùa với Biển cả.” Và ông tiếp tục công việc se dây của mình.

Bây giờ, trên Mặt Trăng cũng có một con Chuột luôn cắn đứt sợi dây của lão Ngư phủ ngay khi ông vừa se xong, và Pháp Sư Già Nhất bèn hỏi nó: “Này! Chuột Mặt Trăng, ngươi đang đùa giỡn với Biển cả phải không?”

Chuột đáp: “Tôi đang bận cắn đứt sợi dây mà lão Ngư phủ này đang se. Tôi không đùa với Biển cả đâu.” Rồi nó tiếp tục cắn sợi dây.

Lúc ấy, cô con gái nhỏ giơ đôi bàn tay mềm mại màu nâu nhỏ xinh đeo những chiếc vòng vỏ sò trắng muốt lên và nói: “Ôi Pháp Sư Già Nhất ơi! Khi cha con nói chuyện với ngài ở Buổi Khai Thiên Lập Địa, lúc con đang tựa vào vai cha trong khi các loài vật được dạy những trò chơi của chúng, có một con vật tinh nghịch đã bỏ trốn xuống Biển cả trước khi ngài kịp dạy nó trò chơi của nó.”

Vị Pháp sư Già nhất lên tiếng: “Những đứa trẻ nhỏ biết quan sát và giữ im lặng quả thật thông thái biết bao! Con vật ấy trông như thế nào nhỉ?”

Cô bé con liền đáp: “Nó có hình dạng tròn dẹt, đôi mắt nằm trên những cuống dài, di chuyển theo kiểu bò ngang như thế này, và lưng nó được bảo vệ bởi một lớp mai cứng cáp.”

Vị Pháp sư Già nhất gật đầu: “Những lời kể của trẻ nhỏ quả thật đầy minh triết! Giờ ta đã biết Cua Pau Amma trốn ở nơi nào rồi. Đưa ta cây mái chèo!”

Ông cầm lấy mái chèo, nhưng chẳng cần phải chèo, bởi dòng nước tự động đưa họ đi qua các hòn đảo, thẳng tiến đến nơi gọi là Pusat Tasek – Trái tim Đại dương – nơi có một vực thẳm sâu hoắm thông xuống tận lõi thế giới. Ở đó mọc lên Cây Phép màu Pauh Janggi, trĩu những quả hạt đôi kỳ diệu. Pháp sư Già nhất thò tay xuống làn nước ấm áp, cánh tay chìm sâu đến tận vai, và dưới chùm rễ Cây Phép màu, bàn tay ông chạm vào chiếc mai rộng của Cua Pau Amma. Pau Amma nằm im khi bị chạm vào, và cả đại dương bỗng dâng lên như nước trào trong chậu khi bạn thò tay vào vậy.

“À!” Pháp sư Già nhất lên tiếng. “Giờ thì ta đã rõ kẻ nào đang nghịch ngợm với Biển cả rồi.” Rồi ông gọi vang: “Ngươi đang làm trò gì thế, Pau Amma?”

Từ tận đáy sâu, Pau Amma đáp lại: “Mỗi ngày một lần, mỗi đêm một lượt, tôi ra ngoài kiếm ăn. Mỗi ngày một lần, mỗi đêm một lượt, tôi lại trở về. Cứ để tôi yên!”

Pháp sư Già nhất nghiêm giọng bảo: “Hãy nghe đây, Pau Amma. Khi ngươi rời hang, nước biển sẽ đổ ập xuống Pusat Tasek, bãi cát khắp các đảo sẽ trơ ra, cá nhỏ chết hàng loạt, chân Raja Moyang Kaban – Vua Voi – sẽ lấm lem bùn đất. Khi ngươi quay về ngồi trong Pusat Tasek, nước biển dâng cao, nửa số đảo nhỏ chìm nghỉm, nhà cửa loài Người ngập sâu, miệng Raja Abdullah – Vua Cá Sấu – sẽ đầy ắp nước mặn.”

Cua Pau Amma, đang ẩn sâu dưới đáy biển, cười khà khà rồi nói: “Tôi chẳng ngờ mình lại quan trọng đến thế. Từ nay trở đi, mỗi ngày tôi sẽ lên mặt nước bảy lần, và biển cả sẽ chẳng bao giờ yên ả nữa.”

Vị Pháp sư Già nhất đáp lời: “Ta không thể ép ngươi chơi trò chơi mà lẽ ra ngươi phải tham gia, hỡi Pau Amma, bởi từ thuở Khởi Đầu Vạn Vật ngươi đã thoát khỏi tay ta. Nhưng nếu ngươi không sợ hãi, hãy lên đây để cùng ta bàn chuyện.”

“Ta nào có sợ!” Pau Amma đáp, rồi vươn mình ngoi lên mặt biển dưới ánh trăng bạc. Trên đời này chẳng có sinh vật nào sánh được với kích thước khổng lồ của Pau Amma – bởi nó chính là Vua Cua của muôn loài cua. Không phải thứ cua tầm thường, mà là một Đức Vua Cua thực thụ. Một bên mai đồ sộ của nó chạm tới bờ biển Sarawak, bên kia vươn tận bãi cát Pahang, còn thân hình thì cao ngất ngưởng vượt cả làn khói ba ngọn núi lửa! Khi nó chồm lên xuyên qua những tán cây của Cây Kỳ Diệu, một trong những hạt đôi khổng lồ – thứ hạt thần kỳ có thể khiến con người trẻ lại – bị rơi xuống. Cô bé con nhìn thấy hạt kỳ diệu lập lờ trôi bên mạn thuyền, liền vớt lên rồi dùng chiếc kéo vàng nhỏ xinh bắt đầu tách phần nhân mềm bên trong.

“Giờ thì,” Pháp sư lên tiếng, “ngươi hãy làm phép thuật đi, Pau Amma, để chứng tỏ mình thật sự quan trọng.”

Pau Amma trợn mắt quay vòng và quẫy đạp chân càng, nhưng nó chỉ có thể khiến Biển cả xao động mà thôi, bởi dù là Vua Cua đi nữa, nó vẫn chỉ là một con Cua bình thường. Pháp sư Già nhất bật cười.

Đây là bức tranh vẽ Pau Amma, con Cua, trồi lên khỏi biển cao bằng khói của ba ngọn núi lửa.
Tôi không vẽ ba ngọn núi lửa đó, vì Pau Amma quá khổng lồ, che hết chúng rồi.
Pau Amma đang cố gắng tạo ra một phép thuật, nhưng nó chỉ là một con Vua Cua già ngốc nghếch, nên chẳng làm được gì.
Bạn có thể thấy nó toàn là chân, càng, và một cái mai rỗng rỗng.
Chiếc xuồng độc mộc trong hình là chiếc mà Người Đàn Ông, Cô Con Gái Nhỏ, và Vị Pháp Sư Già Nhất đã dùng để đi từ sông Perak.
Biển được vẽ toàn màu đen và gợn sóng lăn tăn, vì Pau Amma vừa trồi lên từ Pusat Tasek.
Pusat Tasek nằm ở phía dưới nên tôi không vẽ.
Người Đàn Ông đang vung con dao găm kris cong về phía Pau Amma.
Cô Con Gái Nhỏ ngồi yên lặng ở giữa xuồng, vì cô biết mình an toàn bên cha.
Vị Pháp Sư Già Nhất đứng ở đầu kia của xuồng, bắt đầu niệm phép.
Ông đã để lại ngai phép thuật trên bãi biển, cởi bỏ quần áo để khỏi bị ướt, và cũng bỏ lại Đám Mây Phép Thuật để tránh làm xuồng bị lật.
Vật trông giống như một chiếc xuồng nhỏ khác bên ngoài chiếc xuồng thật được gọi là thanh chống ngang (outrigger) — đó là một thanh gỗ buộc vào những cây chống, giúp xuồng không bị lật.
Chiếc xuồng này được đục từ một khúc gỗ nguyên, và có một mái chèo ở một đầu.

“Xem ra ngươi chẳng quan trọng như lời nói đâu, Pau Amma,” cụ nói. “Để ta thử phép xem sao.” Rồi cụ vung tay trái làm phép – chỉ dùng mỗi ngón út bàn tay trái – và kìa, hỡi những đứa trẻ yêu quý của ta, lớp mai cứng ngắc màu xanh lam pha lục đen của Pau Amma bỗng bật tung như vỏ dừa rụng, khiến Pau Amma trở nên mềm oặt – mềm nhũn như những chú cua con mà các bé thường thấy dạt vào bờ biển ấy, hỡi những đứa trẻ yêu quý của ta ơi.

“Thật ra, ngươi rất quan trọng đấy,” Pháp sư Già nhất nói. “Ta có nên bảo Người đàn ông ở đây dùng dao găm cắt ngươi không? Ta có nên gọi Raja Moyang Kaban, Vua của loài Voi, đến đâm ngươi bằng ngà của ông ấy, hay ta nên gọi Raja Abdullah, Vua của loài Cá Sấu, đến cắn ngươi không?”

Và Pau Amma nói: “Tôi xấu hổ quá! Xin hãy trả lại mai cứng cho tôi và để tôi quay về Pusat Tasek, và tôi sẽ chỉ ra ngoài mỗi ngày một lần và mỗi đêm một lần để kiếm thức ăn thôi.”

Và Pháp sư Già nhất nói: “Không, Pau Amma, ta sẽ không trả lại mai cho ngươi, vì ngươi sẽ lớn hơn, kiêu ngạo hơn và mạnh hơn, và có lẽ ngươi sẽ quên lời hứa của mình, và ngươi sẽ lại chơi đùa với Biển cả một lần nữa.”

Pau Amma thở dài: “Tôi phải làm sao đây? Thân hình khổng lồ của tôi giờ chỉ có thể trốn trong Pusat Tasek, nếu bước ra ngoài với lớp vỏ mềm yếu này, lũ cá mập sẽ xé xác tôi ngay. Nhưng nếu cứ nằm co ro trong Pusat Tasek, tuy an toàn thật đấy, tôi sẽ chẳng thể nào ra ngoài kiếm ăn, rồi cũng chết đói thôi.” Nó vò đầu bứt tai, đập những cái chân dài xuống nước kêu rầm rầm.

Pháp sư Già nhất chậm rãi đáp lời: “Nghe đây Pau Amma. Ta không thể ép ngươi chơi trò chơi mà lẽ ra ngươi phải tham gia từ thuở Khởi Đầu Vạn Vật, bởi ngươi đã trốn thoát khỏi ta. Nhưng nếu ngươi muốn, ta có thể hóa phép biến mọi tảng đá, mọi hang động và đám rong rêu dưới đáy biển thành những Pusat Tasek an toàn cho ngươi và dòng dõi ngươi đến muôn đời.”

Pau Amma nói: “Điều đó cũng được, nhưng tôi chưa quyết định. Nhìn kia! Người đàn ông đã nói chuyện với ngài ở Khởi Đầu Vạn Vật đang đứng đó. Nếu hắn không làm ngài phân tâm thì ta đã không chán chường bỏ chạy, và mọi chuyện này đã chẳng xảy ra. Hắn sẽ đền bù gì cho ta?”

Người đàn ông đáp: “Nếu ngươi chấp thuận, ta sẽ làm phép để biển sâu lẫn đất liền đều thành nhà cho ngươi và hậu duệ – ngươi có thể ẩn mình cả trên cạn lẫn dưới nước.”

Pau Amma lại nói: “Tôi vẫn chưa đồng ý. Nhìn kìa! Cô bé đã thấy ta bỏ trốn ở Khởi Đầu Vạn Vật đang ở đó. Nếu lúc ấy cô bé lên tiếng, Đại Pháp sư đã gọi ta quay về, và chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Cô bé sẽ bù đắp gì cho tôi?”

Và cô bé nói: “Đây là hạt ngon con đang ăn. Nếu chú muốn, con sẽ làm phép và tặng chú đôi kéo này, vừa sắc vừa bền, để chú cùng họ hàng có thể bổ dừa như thế này suốt ngày khi từ Biển cả lên bờ; hoặc chú có thể tự đào một cái Pusat Tasek cho riêng mình bằng chính đôi kéo khi chẳng có hốc đá hay hang hốc nào gần đó; và khi đất quá cứng, nhờ đôi kéo này chú còn có thể leo lên cây nữa.”

Pau Amma đáp: “Ta chưa chọn đâu, bởi trong tình trạng mềm oặt thế này, những món quà ấy chẳng giúp được gì. Xin ngài Pháp sư Già nhất hãy trả lại mai cho tôi, rồi tôi sẽ chơi trò chơi của ngài.”

Vị Pháp sư Già nhất nghiêm giọng phán: “Ta sẽ trả lại chiếc mai cứng cho ngươi, hỡi Pau Amma, trong mười một tháng mỗi năm. Nhưng đến tháng thứ mười hai, nó sẽ mềm đi như xưa – để nhắc nhở ngươi cùng hậu duệ rằng ta vẫn nắm giữ phép thuật, và để giữ cho lòng kiêu ngạo của ngươi không vượt quá giới hạn. Bởi nếu ngươi có thể tung hoành dưới nước lẫn trên cạn, ắt sẽ trở nên ngạo mạn khôn cùng. Và nếu cứ giữ đôi càng đủ mạnh để leo cây, bổ hạt, đào hang, lòng tham của ngươi sẽ không có đáy, này Pau Amma ạ.”

Pau Amma trầm ngâm giây lát, rồi kiên quyết đáp: “Tôi đã quyết định rồi. Xin nhận tất cả những món quà ấy.”

Rồi Pháp sư Già nhất giơ bàn tay phải lên, dùng cả năm ngón tay làm phép thuật. Và kìa, các em nhỏ yêu quý ơi, Cua Pau Amma cứ teo nhỏ dần, nhỏ dần, nhỏ mãi, cho đến khi chỉ còn là một chú cua xanh tí hon bơi lội trong nước cạnh mạn thuyền, kêu lên bằng giọng the thé: “Đưa tôi cái kéo nào!”

Cô bé con nhẹ nhàng nhấc chú cua lên đặt vào lòng bàn tay nâu nhỏ xinh, rồi đặt nó xuống đáy thuyền và trao cho nó chiếc kéo nhỏ. Chú cua giơ đôi càng lên nghịch chiếc kéo, mở ra rồi khép vào, kêu lách tách, rồi nói: “Tôi có thể cắn hạt. Tôi có thể bẻ vỏ. Tôi có thể đào hang. Tôi có thể trèo cây. Tôi có thể thở trong không khí khô ráo, và tôi có thể tìm thấy Pusat Tasek an toàn dưới mỗi tảng đá. Tôi không ngờ mình lại quan trọng đến thế. Kun?” (Như thế này có đúng không?)

“Payah-kun,” – Pháp sư Già nhất cất lời, nở nụ cười rồi ban phước lành cho nó; và chú cua Pau Amma bé nhỏ chạy vụt qua mạn thuyền lao xuống nước; nó nhỏ xíu đến nỗi có thể lẩn trốn dưới bóng một chiếc lá khô trên bờ hay nép mình sau vỏ sò chết dưới đáy đại dương.

“Thế đã ổn chưa?” Pháp sư Già nhất hỏi.

“Dạ ổn,” Người đàn ông đáp. “Nhưng giờ chúng ta phải chèo thuyền về Perak, chặng đường ấy mệt lắm. Nếu đợi đến khi Pau Amma rời khỏi Pusat Tasek trở về nhà, nước sẽ tự đưa ta tới đó thôi.”

“Ngươi lười quá đấy,” Pháp sư Già nhất bảo. “Thế thì con cháu ngươi cũng sẽ lười biếng. Chúng sẽ trở thành kẻ lười nhất thế gian. Thiên hạ sẽ gọi chúng là Malazy – những kẻ lười nhác;” rồi ngài giơ ngón tay chỉ lên Vầng Trăng mà rằng: “Hỡi Ngư dân của Mặt trăng, đây là kẻ lười đến mức chẳng buồn chèo thuyền về nhà. Hãy dùng dây câu của ngài kéo thuyền hắn về nhà đi, hỡi Ngư dân.”

“Không,” Người ngư dân Mặt trăng đáp. “Nếu ngươi muốn lười nhác suốt đời, thì cứ để Biển Cả làm việc thay ngươi hai lần mỗi ngày mãi mãi. Thế thì khỏi phải chèo thuyền.”

Pháp sư Già Nhất cười khà khà: “Payah kun” (Đúng thế đấy).

Con Chuột của Mặt Trăng ngừng gặm dây thừng. Ngư dân thả sợi dây của mình xuống cho tới khi nó chạm mặt biển, rồi ông ta kéo cả đại dương mênh mông đi ngang qua đảo Bintang, qua Singapore, qua Malacca, qua Selangor, cho tới khi con thuyền xoay vòng trở lại cửa sông Perak. “Kun?” – Ngư dân của Mặt Trăng hỏi.

“Payah kun” – Pháp sư Già Nhất đáp. “Giờ nhớ lấy, ngươi phải kéo Biển Cả hai lần ban ngày và hai lần ban đêm mãi mãi, để những ngư dân xứ Malazy khỏi phải vất vả chèo thuyền. Nhưng coi chừng đừng kéo quá mạnh, không ta sẽ trừng phạt ngươi như đã làm với Pau Amma.”

Sau đó, tất cả họ ngược dòng sông Perak trở về và chìm vào giấc ngủ, hỡi những đứa trẻ yêu quý của ta ơi.

Giờ hãy lắng nghe và chú ý kỹ nhé!

Kể từ ngày ấy cho đến nay, Mặt Trăng vẫn luôn kéo biển lên rồi lại hạ xuống, tạo nên hiện tượng mà ta gọi là thủy triều. Đôi khi Ngư Phủ của Đại Dương kéo mạnh tay hơn chút đỉnh, thế là ta có thủy triều cường; có khi ông lại kéo nhẹ nhàng hơn, thế là xuất hiện thủy triều kém; nhưng hầu như lúc nào ông cũng thận trọng trong từng cử động, bởi vị Pháp Sư Già Nhất vẫn còn đó.

Còn Cua Pau Amma thì sao rồi nhỉ? Khi ra bãi biển, bạn có thể thấy lũ con của Pau Amma đang tự đào những cái hang Pusat Tasek tí hon cho riêng mình dưới mỗi hòn đá hay đám rong biển; bạn sẽ thấy chúng vẫy vẫy những chiếc càng bé xíu; ở vài nơi trên thế giới, chúng thậm chí còn sống trên cạn và trèo lên những thân cọ để ăn trái dừa, đúng như lời hứa của cô con gái nhỏ ngày nào. Nhưng mỗi năm một lần, tất cả lũ con Pau Amma phải lột bỏ lớp vỏ cứng để trở nên mềm oặt – đó là lời nhắc nhở về những gì vị Pháp Sư Già Nhất có thể làm. Bởi thế, thật bất công khi giết hại hay săn bắt lũ con của Pau Amma chỉ vì một lỗi lầm ngu ngốc mà Pau Amma già đã phạm phải từ thuở xa xưa.

Ồ, đúng thế! Và lũ con của Pau Amma ghét cay ghét đắng việc bị lôi ra khỏi những cái Pusat Tasek bé xíu của chúng rồi nhốt vào lọ dưa muối đem về nhà. Thế nên chúng mới giương càng kẹp chặt lấy bạn – thật đáng đời lắm thay!

Những con tàu P&O chạy tuyến Trung Hoa

Lướt ngang sân chơi của Pau Amma thật gần,

Còn cái Pusat Tasek của hắn thì nằm chình ình

Ngay trên lộ trình của hầu hết tàu B.I.

Những hãng U.Y.K. với N.D.L.

Cũng thuộc lòng chỗ ở của Pau Amma

Như lòng bàn tay, y như cách

dân chài Biển Cả nhớ rõ mồn một

các hãng ‘Bens’, M.M. hay Rubattinos.

Nhưng (chuyện này mới lạ làm sao)

Tàu A.T.L. lại chẳng thể tới nơi;

Còn O. cùng O. với D.O.A.

Đành phải vòng theo lối khác mà đi.

Orient, Anchor, Bibby, Hall,

Suốt đời chẳng dám bén mảng tới đó.

U.C.S. mà lỡ tới nơi

Hẳn phải kinh hồn bạt vía!

Và nếu mấy chú ‘Beavers’ chở hàng

Tới Penang thay vì Lagos,

Hay con tàu đồ sộ Shaw-Savill

Chở khách sang Singapore,

Hoặc tàu White Star đánh liều

Thử chuyến ngắn tới Sourabaya,

Hay tàu B.S.A. cứ thế

Vượt Natal tới Cheribon,

Thì ngài Lloyds vĩ đại sẽ xuất hiện

Với sợi dây thừng lôi cổ chúng về nhà ngay!

Bạn sẽ hiểu câu đố của tôi có ý nghĩa gì

Khi bạn đã nếm thử trái măng cụt.

Hoặc nếu không thể chờ đợi lâu như vậy, hãy nhờ người lớn lật tờ Thời báo cho bạn xem – tìm đến trang có chữ ‘Shipping’ in ở góc trái phía trên; rồi lấy cuốn Atlas ra (cuốn sách tranh tuyệt vời nhất thế giới này) và xem cách những địa danh tàu thủy ghé qua khớp với những nơi chốn trên bản đồ ra sao. Bất cứ đứa trẻ nào yêu thích tàu hơi nước đều có thể làm được việc này; nhưng nếu bạn chưa biết đọc, hãy nhờ ai đó chỉ giúp cho bạn.

Bản quyền

Chuyện Kể Ngày Xửa Ngày Xưa Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.