3 CON TÊ GIÁC CÓ LÀN DA NHƯ THẾ NÀO

Ngày xửa ngày xưa, trên một hòn đảo hoang vắng bên bờ Biển Đỏ, có một người Parsee sinh sống. Chiếc mũ của ông lấp lánh dưới ánh mặt trời chói chang đến mức khó tả. Ông Parsee sống cô độc bên Biển Đỏ với chỉ ba thứ: chiếc mũ, con dao và một cái bếp lò mà bạn nhất định không được đụng vào. Một hôm, ông lấy bột, nước, nho khô, mận khô, đường và đủ thứ nguyên liệu khác, nhào nặn thành một chiếc bánh khổng lồ rộng hai thước, dày ba thước. Đó là một món ăn kỳ diệu (gần như có phép thuật vậy), và ông đặt nó lên bếp vì chỉ ông mới được phép nấu nướng ở đó. Ông nướng bánh, nướng mãi cho đến khi nó chín vàng ươm và tỏa hương thơm ngào ngạt.
Nhưng ngay khi ông sắp thưởng thức bữa ăn, từ chốn hoang vu sâu thẳm chẳng bóng người, một con Tê giác lững thững xuống bãi biển. Nó mang trên mũi một chiếc sừng duy nhất, đôi mắt ti hí như mắt lợn, và chẳng hề biết đến phép lịch sự. Thuở ấy, lớp da Tê giác bó sát lấy thân hình, không một nếp nhăn. Nó giống hệt như con Tê giác trong thuyền Noah, chỉ có điều to lớn hơn gấp bội. Dẫu vậy, nó vẫn cứ vô phép như thế – ngày trước đã thế, bây giờ vẫn thế, và mãi mãi sau này cũng chẳng bao giờ thay đổi. Nó chỉ thốt lên “Chào!” rồi ông Parsee vội vã bỏ lại chiếc bánh, thoăn thoắt trèo lên ngọn cây cọ, trên người chỉ còn đội mỗi chiếc mũ mà ánh mặt trời luôn chiếu rọi lấp lánh.
Và con Tê giác dùng mũi hất đổ chiếc bếp dầu, khiến chiếc bánh lăn lông lốc trên cát. Nó xiên chiếc bánh lên chiếc sừng mũi, ăn ngấu nghiến, rồi vẫy đuôi bỏ đi, thẳng hướng vùng đất hoang vu không bóng người, nơi giáp ranh những hòn đảo Mazanderan, Socotra và vùng Mũi đất Xích đạo Lớn.
Sau đó, người Parsee từ từ tụt xuống từ cây cọ, dựng lại chiếc bếp của mình và đọc lên bài thơ Sloka sau đây – bài thơ mà có lẽ bạn chưa từng được nghe, nên tôi xin kể lại:
Kẻ nào dám lấy bánh
Do người Parsee nướng ra
Sẽ mắc phải lỗi lầm kinh khủng.
Và hậu quả còn ghê gớm hơn những gì bạn tưởng tượng.
Bởi vì năm tuần sau đó, một đợt nắng nóng dữ dội tràn xuống Biển Đỏ, khiến mọi người đều phải cởi bỏ quần áo. Người Parsee cởi chiếc mũ của mình; còn con Tê giác thì cởi luôn cả bộ da, vắt lên vai khi nó lững thững xuống biển tắm. Lúc ấy, bộ da của nó được cài bằng ba chiếc khuy bên dưới, trông chẳng khác gì một chiếc áo mưa. Nó chẳng thèm nhắc gì đến chiếc bánh của người Parsee nữa, vì đã ăn sạch từ lâu; và nó vốn chẳng bao giờ biết lễ phép, dù là ngày xưa, bây giờ hay mãi mãi về sau. Nó lạch bạch bước xuống nước, phùng má thổi bong bóng, để mặc bộ da nằm phơi trên bãi cát.

Một lúc sau, người Parsee đi ngang qua và phát hiện ra bộ da kia. Ông bật cười, nụ cười lan tỏa khắp khuôn mặt đến hai lần. Rồi ông nhảy múa ba vòng quanh tấm da, vừa đi vừa xoa hai bàn tay vào nhau. Xong xuôi, ông trở về túp lều, lấy mũ đổ đầy vụn bánh mì vào – bởi người Parsee chẳng bao giờ ăn gì khác ngoài bánh, cũng chẳng thèm dọn dẹp túp lều bừa bộn của mình. Ông cầm lấy bộ da, giũ mạnh, cọ xát rồi chà đi chà lại cho thật kỹ, nhét đầy vào đó những mẩu bánh vụn cũ kỹ, khô cứng, ôi thiu và ngứa ngáy, cùng mấy hạt nho khô cháy xém – càng nhiều càng tốt. Cuối cùng, ông leo lên ngọn cây cọ, kiên nhẫn chờ con Tê giác lên bờ để khoác bộ da vào người.

Và thế là con Tê giác làm y như vậy. Nó cài chặt ba chiếc cúc lại, nhưng da nó cứ ngứa ran như có vụn bánh mắc trong chăn. Nó gãi, càng gãi càng ngứa, rồi nằm vật xuống cát mà lăn, lăn không ngừng, lăn mãi không thôi. Mỗi vòng lăn khiến những mảnh vụn càng làm nó ngứa dữ dội hơn, ngứa đến điên người. Cuối cùng, nó chạy đến bên gốc cọ, bắt đầu cọ sát thân mình vào thân cây, cọ đi cọ lại không nghỉ. Nó cọ mạnh đến nỗi da nó nhăn lại thành nếp gấp lớn trên vai, một nếp khác ở bụng – chỗ từng có những chiếc cúc (giờ đã bị cọ bay mất) – cùng vô số nếp nhăn khác trên chân. Nhưng dù bực bội đến đâu, những mảnh vụn vẫn không hề biến mất, vẫn cứ ngứa ngáy trong da thịt. Nó trở về nhà, vừa giận dữ vừa ngứa điên người. Và từ đó đến nay, tất cả Tê giác đều mang trên mình những nếp nhăn xấu xí cùng bản tính cáu kỉnh, tất cả chỉ vì đám vụn bánh vẫn còn kẹt bên trong da chúng.

Còn người Parsee thì từ từ trèo xuống từ gốc cọ, đội chiếc mũ lấp lánh dưới ánh mặt trời chói chang, dọn dẹp bếp núc xong xuôi rồi lững thững bước về hướng Orotavo, Amygdala, những Đồng cỏ Cao nguyên Anantarivo và vùng Đầm lầy Sonaput.
Hòn đảo hoang sơ kia
Nằm chơi vơi ngoài Mũi Gardafui,
Gần Bãi biển Socotra
Và Biển Ả Rập đỏ hồng:
Nhưng nơi ấy nóng – nóng đến từng hơi thở từ Suez
Khiến những kẻ như anh với tôi
Khó lòng nào
Đặt chân lên tàu P. và O.
Mà ghé thăm ngài Parsee đang nướng bánh!