"

28 ANH NÔNG DÂN BÉ NHỎ

Ngày xửa ngày xưa, có một ngôi làng nọ, nơi mà chỉ toàn những người nông dân giàu có sinh sống, và duy nhất một người nghèo, mà họ gọi là anh nông dân bé nhỏ. Anh ta thậm chí không có nổi một con bò, càng không có tiền để mua, vậy mà anh và vợ lại rất muốn có một con.

Một ngày nọ, anh nói với vợ: “Nghe này, anh có một ý hay lắm. Có ông thợ mộc hàng xóm của chúng ta đó, ông ấy sẽ làm cho chúng ta một con bê gỗ, rồi sơn màu nâu để nó trông giống như những con bê khác, rồi dần dần nó sẽ lớn lên thành một con bò.” Người vợ cũng thích ý tưởng đó, và ông thợ mộc hàng xóm liền đẽo gọt con bê, sơn đúng màu, và làm cho nó cúi đầu xuống như thể đang ăn cỏ.

Sáng hôm sau, khi đàn bò được lùa ra đồng, anh nông dân bé nhỏ gọi người chăn bò lại và nói: “Nhìn kìa, tôi có một con bê nhỏ ở đằng kia, nhưng nó còn quá nhỏ nên phải bế đi.” Người chăn bò đáp: “Được thôi,” rồi bế nó lên tay mang ra bãi cỏ, đặt giữa đám cỏ xanh.

Con bê nhỏ cứ đứng yên như thể đang gặm cỏ, và người chăn bò bảo: “Chẳng mấy chốc nó sẽ tự chạy được thôi, nhìn nó ăn ngon lành kìa!” Đến chiều tối, khi anh ta sắp sửa lùa đàn bò về chuồng, anh ta nói với con bê: “Nếu ngươi có thể đứng đó ăn no nê, thì ngươi cũng có thể tự đi bằng bốn chân chứ; ta không muốn bế ngươi về nữa đâu.”

Nhưng anh nông dân bé nhỏ đứng đợi trước cửa nhà, chờ con bê của mình, và khi thấy người chăn bò dẫn đàn bò đi qua làng mà không có con bê đâu, anh liền hỏi thăm nó ở đâu. Người chăn bò đáp: “Nó vẫn đứng ngoài đồng ăn cỏ. Nó không chịu ngừng lại và đi về cùng chúng tôi.” Nhưng anh nông dân bé nhỏ nói: “Ôi, nhưng tôi phải có con vật của tôi trở lại chứ.”

Thế là họ cùng nhau trở lại bãi cỏ, nhưng kẻ nào đó đã lấy trộm mất con bê, và nó đã biến mất rồi. Người chăn bò nói: “Chắc nó đã chạy mất rồi.” Tuy nhiên, anh nông dân đáp: “Đừng nói với tôi như thế,” rồi dẫn người chăn bò đến gặp ông thị trưởng, người đã phạt anh ta phải đền cho anh nông dân một con bò vì tội bất cẩn để mất con bê.

Và giờ đây, anh nông dân bé nhỏ cùng vợ đã có được con bò mà họ hằng mong ước bấy lâu, lòng họ tràn ngập niềm vui, thế nhưng họ chẳng có thức ăn cho nó, chẳng thể cho nó ăn thứ gì, nên chẳng bao lâu sau buộc phải giết thịt nó. Họ dùng muối ướp thịt, rồi anh nông dân lên đường vào thị trấn, mong bán tấm da đi để lấy tiền mua một con bê mới.

Trên đường đi, anh đi ngang một cối xay gió, thấy một con quạ bị gãy cánh đang nằm đó, động lòng thương, anh nhẹ nhàng bế nó lên và cẩn thận bọc vào trong tấm da. Nhưng thời tiết bỗng chuyển xấu, mưa gió ầm ầm, bão tố nổi lên, anh không thể tiếp tục cuộc hành trình, đành quay vào cối xay gió xin trú nhờ.

Vợ người thợ xay lúc ấy chỉ có một mình trong nhà, nói với anh nông dân: “Anh hãy tạm nằm nghỉ trên đống rơm kia,” rồi đưa cho anh một miếng bánh mì và một ít phô mai. Anh nông dân ăn xong, nằm xuống chỗ rơm, đặt tấm da bên cạnh, còn người phụ nữ thì thầm nghĩ: “Chắc anh ta mệt lắm rồi và đã ngủ say.”

Ngay lúc ấy, vị linh mục bỗng xuất hiện; vợ người thợ xay vui vẻ đón tiếp ông ta, và nói: “Chồng tôi đi vắng rồi, vậy thì chúng ta hãy cùng thưởng thức một bữa tiệc thịnh soạn.”

Anh nông dân lắng nghe hết mọi lời, và khi nghe họ bàn về bữa tiệc, lòng anh bỗng dâng lên nỗi bực bội vì mình chỉ được nhận mỗi miếng bánh mì và phô mai. Ngay sau đó, người phụ nữ bưng ra tới bốn món: thịt quay thơm lừng, đĩa rau trộn tươi ngon, những chiếc bánh ngọt và cả rượu vang nữa.

Vừa lúc họ sắp sửa ngồi vào bàn ăn thì bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa. Người đàn bà kêu lên: “Trời ơi! Chồng tôi về rồi!” Cô ta vội vàng giấu miếng thịt quay vào lò sưởi, chai rượu dưới gối, đĩa rau trộn trên giường, chiếc bánh ngọt dưới đáy giường, rồi đẩy ông linh mục vào tủ quần áo ở hành lang.

Xong xuôi, cô ta mở cửa cho chồng và nói: “Ơn trời anh đã về! Trời giông bão kinh khủng khiếp, cứ như ngày tận thế vậy.” Người thợ cối trông thấy gã nông dân nằm trên đống rơm liền hỏi: “Tên này làm gì ở đây thế?”

“À,” người vợ đáp, “gã khốn khổ này gặp mưa bão nên tới xin trú nhờ, em cho hắn miếng bánh mì với phô mai rồi chỉ chỗ đống rơm nghỉ tạm.”

Người chồng bảo: “Tôi không phản đối, nhưng nhanh lên, lấy gì cho tôi ăn đi.”

Người vợ nói: “Em chỉ còn bánh mì và phô mai thôi.”

“Cái gì cũng được,” người chồng đáp, “với tôi bánh mì và phô mai là đủ rồi,” rồi quay sang nhìn gã nông dân nói: “Lại đây ăn cùng tôi đi.” Gã nông dân không đợi mời lần thứ hai, lập tức đứng dậy đến ngồi ăn.

Sau đó, người thợ cối trông thấy tấm da có con quạ nằm trên sàn nhà liền hỏi: “Anh có cái gì ở đó thế?”

Gã nông dân đáp: “Tôi có một nhà tiên tri trong đó.”

“Nó có thể đoán số cho tôi không?” người thợ cối hỏi.

“Sao lại không?” gã nông dân đáp, “nhưng nó chỉ nói bốn điều, còn điều thứ năm thì nó giữ lại cho riêng mình.”

Người thợ cối tò mò nói: “Hãy để nó tiên đoán thử xem nào.”

Thế là gã nông dân bóp vào đầu con quạ khiến nó kêu lên “quạ quạ”.

Người thợ cối hỏi: “Nó nói gì vậy?”

Gã nông dân đáp: “Đầu tiên, nó nói có rượu giấu dưới gối.”

“Chúa ơi!” người thợ cối kêu lên, rồi đi đến chỗ đó và tìm thấy chai rượu.

“Tiếp tục đi,” ông ta nói.

Gã nông dân lại bóp con quạ kêu lên rồi nói: “Thứ hai, nó nói có thịt quay trong lò sưởi.”

Thật không thể tin nổi!” người thợ cối kêu lên, rồi chạy đến đó và tìm thấy miếng thịt quay.

Gã nông dân lại bắt con quạ tiên đoán thêm lần nữa và nói: “Thứ ba, nó nói có rau trộn trên giường.”

“Tuyệt vời!” người thợ cối kêu lên, rồi tìm đến chỗ đó và phát hiện ra đĩa rau trộn.

Cuối cùng, gã nông dân lại bóp con quạ kêu lên lần nữa và nói: “Thứ tư, nó nói có bánh ngọt dưới đáy giường.”

“Thật tuyệt!” người thợ cối kêu lên, rồi cúi xuống nhìn và tìm thấy chiếc bánh ngọt.

Và rồi hai người cùng ngồi vào bàn ăn, nhưng bà vợ người thợ xay sợ hãi đến mức chết khiếp, liền vội vã đi ngủ và mang theo hết tất cả chìa khóa. Người thợ xay nóng lòng muốn biết điều bí mật thứ năm, nhưng anh nông dân nhỏ bé nói: “Chúng ta hãy nhanh chóng thưởng thức hết bốn món này trước đã, bởi điều thứ năm là một chuyện chẳng lành.”

Thế là họ cùng ăn, rồi sau đó mới mặc cả về giá cả cho lời tiên tri thứ năm, cho đến khi hai bên thống nhất mức giá ba trăm đồng taler. Sau đó, anh nông dân lại véo vào đầu con quạ một lần nữa khiến nó kêu lên thảm thiết.

Người thợ xay hỏi: “Nó nói gì vậy?”

Anh nông dân đáp: “Nó bảo rằng có Quỷ đang ẩn nấp ngoài kia, trong chiếc tủ quần áo ở hiên nhà.”

Người thợ xay hốt hoảng nói: “Quỷ phải ra khỏi nhà ta ngay!” rồi mở toang cửa phòng; thế là người vợ đành phải đưa chìa khóa, và anh nông dân mở chiếc tủ ấy.

Ông cha xứ vội vã chạy ra ngoài nhanh hết mức có thể, và người thợ xay thở phào: “Quả đúng là thật! Chính mắt ta đã nhìn thấy tên quỷ đen kia.”

Thế nhưng, sáng hôm sau, khi trời vừa rạng đông, anh nông dân đã ôm trọn ba trăm đồng taler lặng lẽ ra đi. Về nhà, anh nông dân bé nhỏ dần dần trở nên giàu có; anh xây một ngôi nhà đẹp, và những người nông dân nói: “Anh nông dân bé nhỏ chắc chắn đã đến nơi tuyết vàng rơi, và người ta mang vàng về nhà bằng xẻng.”

Thế là anh nông dân bé nhỏ bị dẫn đến trước mặt ông thị trưởng, và bị yêu cầu nói rõ tài sản của mình từ đâu mà có. Anh trả lời: “Tôi đã bán bộ da bò của mình ở thị trấn, được ba trăm đồng taler.”

Khi những người nông dân nghe vậy, họ cũng muốn hưởng lợi lớn này, và chạy về nhà, giết tất cả bò của họ, lột da chúng để bán ở thị trấn với giá cao nhất. Tuy nhiên, ông thị trưởng nói: “Nhưng người hầu của tôi phải đi trước.” Khi cô ta đến gặp người buôn ở thị trấn, anh ta không trả cho cô ta quá hai đồng taler cho một bộ da, và khi những người khác đến, anh ta cũng không trả cho họ nhiều như vậy, và nói: “Tôi có thể làm gì với tất cả những bộ da này chứ?”

Thế là những người nông dân tức giận vì anh nông dân bé nhỏ đã lừa họ, muốn trả thù anh ta, và tố cáo anh ta tội lừa đảo trước mặt ông thị trưởng. Anh nông dân bé nhỏ vô tội bị tất cả đồng lòng kết án tử hình, và sẽ bị lăn xuống nước trong một cái thùng đục đầy lỗ. Anh bị dẫn ra ngoài, và một linh mục được đưa đến để cầu nguyện cho linh hồn anh ta. Tất cả những người khác buộc phải lùi ra xa, và khi anh nông dân nhìn linh mục, anh nhận ra người đàn ông từng ở với vợ người thợ xay. Anh nói với ông ta: “Tôi đã giải thoát ông khỏi cái tủ, giờ ông hãy giải thoát tôi khỏi cái thùng này.”

Ngay lúc đó, một người chăn cừu, người mà anh nông dân biết là từ lâu đã muốn làm thị trưởng, đi đến cùng với đàn cừu của mình, nên anh nông dân liền hét lớn hết sức: “Không, tôi sẽ không làm đâu; dù cả thế giới có ép buộc, tôi cũng không làm!”

Người chăn cừu nghe thấy vậy, liền đến gần anh ta, và hỏi: “Anh đang làm gì vậy? Có chuyện gì mà anh không chịu làm?”

Anh nông dân nói: “Họ muốn phong tôi làm thị trưởng, chỉ cần tôi chịu chui vào cái thùng này, nhưng tôi không chịu đâu.”

Người chăn cừu nói: “Nếu chỉ cần thế là được làm thị trưởng, tôi sẽ chui vào thùng ngay lập tức.”

Anh nông dân nói: “Nếu anh chịu chui vào, anh sẽ là thị trưởng.”

Người chăn cừu đồng ý, và chui vào, anh nông dân đóng nắp thùng lại; rồi anh ta chiếm lấy đàn cừu của người chăn cừu và lùa chúng đi. Linh mục đi đến đám đông và tuyên bố rằng lễ cầu nguyện đã xong. Thế là họ đến và lăn cái thùng về phía nước. Khi cái thùng bắt đầu lăn, người chăn cừu kêu lên: “Tôi rất sẵn lòng làm thị trưởng!” Họ không nghĩ gì khác ngoài việc đó là anh nông dân đang nói, và trả lời: “Đó là điều chúng tôi muốn, nhưng trước hết anh hãy xuống dưới đó xem xét một chút đã,” và họ lăn cái thùng xuống nước.

Sau đó, những người nông dân trở về làng, và khi họ vừa vào đến nơi, người nông dân bé nhỏ cũng lặng lẽ đi theo, dắt theo một đàn cừu và trông vô cùng hài lòng. Những người nông dân khác kinh ngạc hỏi: “Này anh nông dân, anh từ đâu tới vậy? Phải chăng anh từ dưới nước trồi lên?”

Đúng thế,” anh nông dân đáp, “tôi chìm xuống rất sâu, rất sâu, cho tới khi chạm tận đáy; tôi đẩy vỡ đáy thùng, rồi chui ra ngoài, ở đó có những đồng cỏ tươi đẹp với vô số cừu non đang gặm cỏ, và tôi đã dẫn lũ cừu này từ đó về.”

Những người nông dân hỏi tiếp: “Dưới ấy còn nhiều cừu không?”

“Ồ, còn chứ,” anh nói, “nhiều hơn những gì tôi có thể mong muốn.”

Thế là những người nông dân quyết định họ cũng sẽ xuống lấy cừu, mỗi người một đàn, nhưng ông thị trưởng tuyên bố: “Tôi phải đi trước.”

Họ cùng nhau ra bờ nước, và đúng lúc ấy, trên nền trời xanh lơ có mấy đám mây trắng nhỏ tựa như những chú cừu non, in bóng xuống mặt nước, khiến những người nông dân reo lên: “Chúng tôi đã thấy cừu ở dưới kia rồi!”

Ông thị trưởng lao lên trước và nói: “Tôi sẽ lặn xuống trước, do thám tình hình, nếu mọi thứ tốt đẹp tôi sẽ gọi các anh.”

Thế rồi ông ta nhảy ùm xuống nước; Tõm! nước bắn tung tóe; nghe tựa như ông ta đang gọi họ, và cả đám đông lập tức ào ào nhảy theo ông ta như một. Thế là cả làng đều chết đuối, và người nông dân bé nhỏ, trở thành kẻ thừa kế duy nhất, trở nên vô cùng giàu có.

Bản quyền

Truyện Cổ Tích Grimm Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.