3 JORINDA VÀ JORINDEL: TÌNH YÊU TRONG RỪNG PHÉP THUẬT
Ngày xửa ngày xưa có một tòa lâu đài cổ, nằm giữa khu rừng sâu thẳm và u ám, trong lâu đài ấy sống một mụ phù thủy già. Mụ phù thủy này có phép biến hình thành bất cứ dạng nào mụ muốn. Suốt ngày, mụ bay lượn dưới hình hài con cú, hoặc bò quanh vùng nông thôn như một con mèo; nhưng khi đêm xuống, mụ lại trở về hình dáng bà lão.
Khi bất kỳ chàng trai trẻ nào tới gần lâu đài của mụ trong vòng trăm bước chân, chàng ta sẽ bị đứng chôn chân, không nhúc nhích nổi cho tới khi mụ tới giải phóng; nhưng mụ sẽ chẳng làm thế trừ phi chàng trai thề sẽ không bao giờ quay lại nữa: còn khi có cô gái xinh đẹp nào tới gần nơi ấy, cô ấy sẽ bị hóa thành chim, rồi mụ phù thủy nhốt vào lồng, treo lên trong một căn phòng của lâu đài. Có bảy trăm chiếc lồng như thế treo trong lâu đài, và tất cả đều chứa những chú chim xinh đẹp bên trong.
Một ngày nọ, có một cô gái tên là Jorinda. Nàng xinh đẹp hơn tất cả những cô gái xinh đẹp từng được thấy, và một chàng chăn cừu tên là Jorindel rất yêu nàng, họ sắp kết hôn. Một ngày nọ, họ cùng nhau đi dạo trong rừng để được ở bên nhau; và Jorindel nói, “Chúng ta phải cẩn thận đừng đi quá gần lâu đài của bà phù thủy.”
Đó là một buổi tối đẹp trời; những tia nắng cuối cùng của mặt trời lặn chiếu sáng rực rỡ xuyên qua những thân cây cao xuống thảm cây xanh bên dưới, và những chú chim cu gáy hót líu lo từ những cây bạch dương cao.
Jorinda ngồi xuống ngắm mặt trời; Jorindel ngồi cạnh nàng; và cả hai đều cảm thấy buồn, không hiểu vì sao; nhưng dường như họ sắp phải chia xa mãi mãi. Họ đã đi lang thang một quãng đường dài; và khi họ nhìn xem đường về nhà, họ bỗng không biết phải đi lối nào.
Mặt trời đang lặn rất nhanh, và một nửa vầng mặt trời đã khuất sau ngọn đồi: Jorindel chợt nhìn ra phía sau, và qua những bụi cây, chàng thấy họ đã vô tình ngồi ngay dưới những bức tường cũ của lâu đài. Chàng sợ hãi rụt người lại, mặt tái mét và run rẩy. Jorinda đang hát,
“Chim cu gáy hót trên cành liễu,
Ôi buồn thay! Ôi buồn thay!
Nó than khóc cho số phận người bạn đời yêu dấu,
Ôi buồn thay!”
thì bài hát của nàng bỗng dừng lại. Jorindel quay lại xem có chuyện gì, và thấy Jorinda của mình đã biến thành một con chim họa mi, đến nỗi bài hát của nàng kết thúc bằng tiếng _chíp chíp_ buồn bã. Một con cú với đôi mắt rực lửa bay ba vòng quanh họ, và ba lần kêu lên:
“Hú! Hú! Hú!”
Jorindel không thể nhúc nhích; chàng đứng bất động như tượng đá, không thể khóc lóc, không thể thốt lời, cũng chẳng thể cử động tay chân. Và giờ đây mặt trời đã khuất bóng hoàn toàn; màn đêm âm u trùm xuống; con cú lao vào một bụi cây rậm rạp; chỉ lát sau, mụ phù thủy già nua xuất hiện, da dẻ xanh xao, thân hình gầy guộc, với đôi mắt trợn ngược, cùng chiếc mũi khoằm và cằm nhọn gần như chạm vào nhau.
Mụ lẩm bẩm những lời khó hiểu, chụp lấy chú chim họa mi, rồi mang nó đi trong lòng bàn tay. Jorindel tội nghiệp chứng kiến chú chim biến mất – nhưng chàng có thể làm được gì? Chàng không thể cất tiếng, không thể rời khỏi vị trí đang đứng. Rốt cuộc, mụ phù thủy quay lại và cất giọng hát khàn đặc:
“Khi tù nhân đã bị giam chặt,
Và số phận đã định đoạt,
Hãy ở lại! Ôi, hãy ở lại!
Khi bùa chú vây quanh nàng,
Và phép thuật đã trói buộc nàng,
Hãy đi đi! Đi đi!”
Bỗng nhiên Jorindel thấy mình được tự do. Chàng quỳ xuống trước bà phù thủy, và cầu xin bà ta trả lại Jorinda yêu quý của mình: nhưng bà ta cười nhạo chàng, và nói chàng sẽ không bao giờ gặp lại nàng nữa; rồi bà ta bỏ đi.
Chàng cầu nguyện, chàng khóc, chàng đau buồn, nhưng tất cả đều vô ích. “Ôi!” chàng nói, “Tôi sẽ ra sao đây?” Chàng không thể về nhà mình, nên chàng đi đến một ngôi làng xa lạ, và làm nghề chăn cừu. Nhiều lần chàng đi vòng quanh, đến gần lâu đài đáng ghét đó nhất có thể, nhưng tất cả đều vô ích; chàng không nghe thấy hay nhìn thấy gì về Jorinda.
Cuối cùng, một đêm nọ, chàng mơ thấy mình tìm được một bông hoa màu tím tuyệt đẹp, và ở giữa bông hoa có một viên ngọc trai quý giá; và chàng mơ thấy mình hái bông hoa đó, rồi cầm nó trong tay đi vào lâu đài, và mọi thứ chàng chạm vào bằng bông hoa đó đều được giải thoát khỏi bùa mê, và ở đó chàng tìm thấy Jorinda của mình một lần nữa.
Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, chàng bắt đầu tìm kiếm bông hoa xinh đẹp này khắp đồi núi; và suốt tám ngày dài chàng tìm kiếm vô ích: nhưng vào ngày thứ chín, sáng sớm tinh mơ, chàng tìm thấy bông hoa màu tím tuyệt đẹp; và ở giữa bông hoa có một giọt sương lớn, to như một viên ngọc trai quý giá. Rồi chàng hái bông hoa, lên đường và đi suốt ngày đêm, cho đến khi chàng trở lại lâu đài.
Chàng bước thêm gần một trăm bước nữa, lần này không hề bị đứng khựng như trước, mà còn có thể tiến thẳng tới tận cửa. Jorindel vui mừng khôn xiết khi thấy điều ấy. Chàng đưa bông hoa chạm vào cánh cửa, cửa liền bật mở; thế là chàng bước vào qua sân, lắng nghe tiếng chim hót ríu rít khắp nơi. Cuối cùng, chàng tới căn phòng nơi mụ phù thủy đang ngồi, với bảy trăm chiếc lồng treo đầy bảy trăm con chim đang hót vang. Khi trông thấy Jorindel, mụ ta giận dữ vô cùng, gào thét lên vì phẫn nộ; nhưng mụ không thể tới gần chàng trong phạm vi hai thước, bởi bông hoa chàng cầm trên tay chính là thứ bảo vệ chàng.
Chàng đảo mắt nhìn khắp đàn chim, nhưng than ôi! có biết bao nhiêu là chim họa mi, làm sao chàng có thể nhận ra Jorinda của mình đây? Đang lúc chàng băn khoăn suy nghĩ nên làm thế nào, chàng chợt thấy mụ phù thủy với tay gỡ một chiếc lồng xuống, rồi nhanh chóng bước ra ngoài cửa. Chàng lập tức đuổi theo, đưa bông hoa chạm vào chiếc lồng, và Jorinda hiện ra trước mặt chàng, ôm chầm lấy cổ chàng, vẫn xinh đẹp như thuở nào, xinh đẹp tựa như những ngày họ cùng nhau dạo bước trong rừng.
Rồi chàng chạm bông hoa vào tất cả những con chim khác, để chúng đều trở lại hình dạng cũ; và chàng đưa Jorinda về nhà, nơi họ kết hôn, và sống hạnh phúc bên nhau nhiều năm: và cũng có rất nhiều chàng trai khác, những người có người yêu đã bị buộc phải hót trong lồng của bà phù thủy già, lâu hơn rất nhiều so với những gì họ muốn.