12 GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC

Chiếc lá xanh to nhất xứ này chắc chắn là lá ngưu bàng. Bạn có thể đặt một chiếc lá trước bụng, nó sẽ thành tạp dề ngay; hoặc đội lên đầu, nó chẳng khác gì một chiếc ô bởi nó rộng đến thế.
Ngưu bàng chẳng bao giờ mọc một mình; hễ thấy một cây, ắt bạn sẽ nhìn thấy những cây khác mọc san sát bên cạnh. Chúng xanh tốt hùng vĩ làm sao!
Và tất cả sự hùng vĩ ấy chính là thức ăn cho lũ ốc sên – những con ốc sên trắng to béo mà giới quý tộc ngày xưa thường đem hầm, rồi sau khi ăn xong, họ sẽ xuýt xoa: “Ơ, ngon tuyệt!” bởi họ thực sự thấy chúng ngon lành. Những con ốc sên này sống trên lá ngưu bàng, và đó chính là lý do người ta trồng loài cây này.
Giờ đây, có một mảnh đất cũ nơi ốc sên không còn được xem là món ngon nữa. Vì thế, loài ốc sên đã biến mất, nhưng cây ngưu bàng vẫn sinh sôi mạnh mẽ. Trên khắp các lối đi và luống cây, nó mọc lên um tùm, lan rộng đến mức không ai kiểm soát nổi; nơi ấy đã trở thành một khu rừng ngưu bàng rậm rạp.
Thỉnh thoảng, một cây táo hoặc mận đơn độc đứng đó như chứng tích của một khu vườn xưa, nhưng giờ đây từ đầu này đến đầu kia, tất cả đều ngập tràn ngưu bàng, và trong bóng râm của những tán lá ấy, có hai con ốc sên cổ xưa cuối cùng đang sinh sống.
Chúng chẳng biết mình đã bao nhiêu tuổi, nhưng nhớ rất rõ thời kỳ nơi đây từng có vô số ốc sên, rằng chúng thuộc về một dòng họ từ nước ngoài di cư đến, và khu rừng này được trồng lên chính là để dành riêng cho chúng cùng con cháu. Chúng chưa từng bước chân ra khỏi khu vườn, nhưng biết rằng bên ngoài khu rừng của mình có một nơi gọi là lâu đài, nơi người ta bị luộc chín, hóa đen, rồi được đặt lên đĩa bạc – dù chuyện gì xảy ra sau đó thì chúng chưa từng được nghe kể, cũng chẳng thể nào tưởng tượng nổi cảm giác bị nấu chín rồi nằm trên chiếc đĩa bạc sẽ ra sao. Chắc hẳn đó phải là điều tuyệt diệu lắm, và vô cùng cao quý.
Bọ hung, cóc, giun đất – tất cả những loài mà chúng hỏi han về chuyện này – đều chẳng thể cung cấp cho chúng chút thông tin nào, bởi chẳng con nào trong số chúng từng bị nấu chín và bày trên đĩa bạc cả.
Những con ốc sên trắng già là giống loài cao quý nhất thế gian; chúng biết rõ điều đó. Khu rừng đã mọc lên vì chúng, và tòa lâu đài kia rõ ràng được xây lên để chúng có thể được nấu chín và phục vụ trong đó.
Giờ đây, sống một cuộc đời yên bình, hạnh phúc và không có con cái, chúng đã nhận nuôi một chú ốc sên nhỏ bình thường, chăm sóc nó như con đẻ. Nhưng con vật bé nhỏ ấy chẳng chịu lớn, vì nó chỉ là một con ốc sên tầm thường, dù mẹ nuôi của nó cứ giả vờ rằng nó đã tiến bộ rất nhiều. Bà năn nỉ người chồng – vì ông chẳng nhận ra điều đó – hãy sờ vào vỏ của con ốc sên nhỏ, và trước niềm vui sướng của bà cũng như của chính ông, ông thấy vợ mình nói đúng.
Một ngày nọ, trời đổ mưa tầm tã. “Nghe kìa!” Ốc Sên Bố cất tiếng; “tiếng trống vang lên từ những tàu lá ngưu bàng kia – rum-đum-đum, rum-đum-đum!”
“Còn có cả những hạt mưa nữa,” Ốc Sên Mẹ đáp; “chúng lăn dọc theo thân cây. Chỗ này sắp ướt sũng rồi. Thật may chúng ta có những ngôi nhà kiên cố thế này, và thằng bé cũng có tổ ấm của riêng nó. Thực lòng mà nói, chẳng sinh vật nào được ưu ái bằng chúng ta. Ai nấy đều phải công nhận chúng ta là giống loài thượng đẳng. Chúng ta đã có nhà từ thuở lọt lòng, cả khu rừng ngưu bàng này cũng vì chúng ta mà mọc lên. Tôi tự hỏi nó trải dài tới đâu, và phía bên kia rừng có những gì.”
“Chẳng có gì tốt hơn những thứ chúng ta đang có ở đây cả,” Ốc Sên Bố nói. “Tôi chẳng mong cầu gì hơn nữa.”
“Nhưng mà,” Ốc Sên Mẹ đáp, “tôi muốn được đưa đến lâu đài, bị luộc chín, rồi đặt lên chiếc đĩa bạc; tất cả tổ tiên chúng ta đều có số phận như thế, và chúng ta phải tin rằng đó là một điều gì đó thật đặc biệt.”
“Biết đâu lâu đài ấy đã sụp đổ rồi,” Ốc Sên Bố nói, “hoặc bị ngưu bàng mọc kín đến nỗi chẳng ai trong đó có thể bước ra ngoài. Có gì mà phải hấp tấp thế? Bà lúc nào cũng nôn nóng, và thằng bé nhà mình cũng bắt đầu giống bà rồi đấy. Nó đã bò lên cái thân cây kia suốt ba ngày liền. Nhìn nó mà tôi hoa cả mắt.”
“Nhưng đừng trách mắng nó,” Ốc Sên Mẹ dịu dàng nói. “Thằng bé bò rất cẩn thận đấy chứ. Chúng ta đã già rồi, chẳng còn gì để mong đợi nữa, và nó chính là niềm an ủi tuổi xế chiều của chúng ta. Ông đã nghĩ cách nào để cưới vợ cho nó chưa? Chẳng lẽ ông không nghĩ rằng sâu trong khu rừng kia có thể có những con ốc sên cùng loài với chúng ta hay sao?”
“Tôi tin chắc phải có ốc sên đen,” Ốc Sên Bố trầm ngâm đáp, “loại ốc sên đen nghèo, không nhà không cửa; nhưng chúng thật thô lỗ, dù chúng luôn tỏ vẻ ta đây quan trọng lắm. Nhưng chúng ta có thể nhờ lũ kiến đen, chúng chạy ngược chạy xuôi suốt ngày – hối hả như thể đang gánh vác hết mọi việc trên đời này. Chắc chắn chúng sẽ tìm được nàng dâu cho con trai chúng ta.”
“Tôi biết cô ấy là người đẹp nhất trong những người đẹp,” một con kiến lên tiếng; “nhưng tôi e rằng không ổn đâu, bởi cô ấy là một nữ hoàng cơ mà.”
“Chuyện nhỏ,” hai con ốc sên già đồng thanh đáp. “Thế cô ấy có nhà riêng không?”
“Cô ấy sở hữu cả một tòa cung điện,” bầy kiến trả lời; “một lâu đài kiến tráng lệ nhất, với bảy trăm đường hầm chằng chịt.”
“Cám ơn các anh nhé!” Ốc Sên Mẹ đáp. “Con trai của chúng tôi sẽ không thể đến sống trong tổ kiến được. Nếu các anh không tìm được ai phù hợp hơn, chúng tôi sẽ nhờ lũ muỗi trắng, chúng bay được cả dưới mưa lẫn nắng và thông thuộc từng ngóc ngách trong cả khu rừng ngưu bàng này.”
“Chúng tôi đã tìm được vợ cho nó rồi,” bầy muỗi râm ran. “Cách đây chừng trăm bước chân, có một nàng ốc sên bé nhỏ đang sống một mình trên bụi lý gai. Nàng đã đến tuổi cập kê, lại chỉ cách chỗ này đúng một trăm bước người thôi.”
“Thế thì chúng ta mời nàng về làm dâu đi,” đôi vợ chồng ốc sên già gật đầu. “Con trai chúng ta sở hữu cả khu rừng ngưu bàng, còn nàng chỉ có mỗi bụi cây nhỏ ấy thôi.”
Thế là họ lên đường đón cô dâu nhỏ. Hành trình kéo dài trọn tám ngày trời, nhưng chính điều này lại chứng tỏ nàng xuất thân từ gia đình quyền quý, được giáo dục chu đáo.
Lễ thành hôn được cử hành trong ánh sáng lung linh của sáu chú đom đóm cố gắng hết sức. Nhưng ngoài ra, buổi lễ diễn ra thật yên ắng. Đôi cụ già không còn sức lực để tham gia những trò vui ồn ào. Ốc Sên Mẹ đọc bài diễn văn ngắn đầy xúc động, còn Ốc Sên Bố nghẹn ngào đến nỗi chẳng thốt nên lời.
Chúng giao lại cho đôi vợ chồng trẻ toàn bộ khu rừng ngưu bàng, lặp đi lặp lại lời dặn dò quen thuộc rằng đó là gia tài quý giá nhất thế gian, rằng nếu chúng sống lương thiện, đàng hoàng, và nếu gia đình chúng đông đúc lên, thì chắc chắn một ngày nào đó chúng cùng con cháu sẽ được đưa tới lâu đài, bị luộc đen nhánh rồi dọn lên đĩa bạc lấp lánh như món hầm sang trọng.
Rồi đôi vợ chồng già lặng lẽ bò về tổ, chẳng bước ra ngoài nữa, mà chìm vào giấc ngủ vĩnh hằng. Đôi trẻ kế nghiệp ngôi vị chúa tể khu rừng, sinh sôi nảy nở thành một đại gia đình sum vầy. Nhưng dần dà, khi chẳng đứa con nào bị bắt đi nấu nướng hay hiện diện trên đĩa bạc, chúng nhất trí cho rằng lâu đài kia hẳn đã sụp đổ, thế giới loài người chắc đã tiêu tan; và vì chẳng ai phản bác điều ấy, chúng càng tin chắc mình đúng.
Mưa vẫn cứ rơi trên những tán lá ngưu bàng, gõ nhịp trống vui tai cho chúng nghe, còn mặt trời thì chiếu sáng cả khu rừng chỉ để làm đẹp riêng cho chúng. Và chúng hạnh phúc lắm – cả bọn ốc sên ấy, cả gia đình – hạnh phúc đến nỗi không thể nào diễn tả được!