"

14 VỊ THẦN GIẤC MƠ OLE-LUK-OIE

Trên đời này, chẳng ai kể chuyện hay và biết nhiều truyện bằng Ole-Luk-Oie.

Mỗi khi chiều xuống, lũ trẻ ngồi quanh bàn uống trà hoặc trên những chiếc ghế nhỏ xinh, ông lặng lẽ bước lên cầu thang bởi ông đi bằng tất. Ông khẽ mở cửa chẳng một tiếng động, rồi rắc nhẹ chút bụi mịn vào mắt bọn trẻ (vừa đủ để chúng không thể mở mắt ra), thế là chúng chẳng thấy ông đâu nữa. Sau đó, ông nhẹ nhàng len lỏi ra sau lưng chúng, hà hơi vào gáy cho đến khi đầu chúng dần gục xuống.

Nhưng Ole-Luk-Oie chẳng hề muốn làm chúng đau. Ông yêu trẻ con lắm, chỉ mong chúng ngoan ngoãn im lặng để ông thỏa sức kể những câu chuyện tuyệt vời. Ông biết rõ bọn trẻ sẽ chẳng chịu ngồi yên cho đến khi lên giường và chìm vào giấc ngủ. Ngay khi chúng thiếp đi, Ole-Luk-Oie liền ngồi xuống bên giường. Ông mặc bộ quần áo thật đẹp; áo khoác của ông may bằng lụa mềm, chẳng thể gọi tên màu sắc vì nó luôn chuyển từ xanh lá sang đỏ, rồi từ đỏ sang xanh dương mỗi lần ông xoay người. Dưới mỗi cánh tay, ông mang theo một chiếc ô. Một chiếc in đầy hình vẽ bên trong, ông mở ra che cho những đứa trẻ ngoan, để chúng mơ thấy bao câu chuyện diệu kỳ. Còn chiếc ô kia trơn không, ông dùng để che cho lũ trẻ hư, khiến chúng ngủ say sưa và sáng hôm sau tỉnh dậy chẳng nhớ gì cả.

Giờ chúng ta hãy cùng nghe câu chuyện về Ole-Luk-Oie – người đã ghé thăm cậu bé Hjalmar mỗi đêm suốt cả tuần lễ, và những câu chuyện ông kể cho cậu nghe. Có tất cả bảy câu chuyện, đúng bằng bảy ngày trong tuần.

THỨ HAI

“Giờ con hãy chú ý lắng nghe đây,” Ole-Luk-Oie nói vào buổi tối khi Hjalmar đã nằm yên trên giường, “và ta sẽ trang hoàng căn phòng này.”

Ngay tức khắc, những bông hoa trong chậu bỗng vươn lên thành những cây đại thụ, cành lá xum xuê chạm tới trần nhà, lan tỏa dọc theo các bức tường khiến căn phòng trở nên giống hệt một khu vườn ươm. Mỗi cành cây đều trĩu nặng những đóa hoa rực rỡ, mỗi bông đẹp đẽ và ngát hương chẳng kém gì hoa hồng, nếu nếm thử sẽ thấy chúng ngọt ngào hơn cả mứt hoa quả. Những trái cây lấp lánh như vàng ròng, còn những chiếc bánh ngọt thì căng tròn nhân mận đến mức tưởng chừng sắp nứt vỡ. Quả thật là một cảnh tượng tuyệt mỹ khó có gì sánh bằng.

Ngay lúc ấy, từ ngăn kéo bàn nơi để sách vở của Hjalmar, vọng lên những tiếng rên rỉ não nề.

“Chuyện gì vậy?” Ole-Luk-Oie hỏi, rồi bước tới bàn, mở ngăn kéo ra.

Hóa ra là tấm bảng con đang quằn quại vì một con số sai trong bài toán, đau đớn đến mức tưởng chừng sắp vỡ vụn. Cây bút chì giật giật sợi dây buộc của nó như một chú chó nhỏ muốn giúp đỡ nhưng bất lực.

Rồi một tiếng rên khác lại cất lên từ cuốn vở tập viết của Hjalmar. Ôi, thật kinh khủng khi phải nghe thấy! Trên mỗi trang giấy, những hàng chữ in hoa hiện ra, mỗi chữ đều có một chữ thường đi kèm bên cạnh – đó là mẫu chữ chuẩn. Bên dưới là những nét chữ do chính Hjalmar viết, tưởng rằng mình giống hệt mẫu, nhưng chúng đã lầm to, bởi chúng nghiêng ngả chênh vênh, như sắp ngã nhào ra khỏi dòng kẻ.

“Nhìn kìa, đây là cách các con phải đứng,” mẫu chữ nói. “Hãy quan sát kỹ, các con phải nghiêng mình như thế này, với một đường cong thật mềm mại và duyên dáng.”

“Ôi, chúng con rất muốn làm được như vậy,” những chữ cái của Hjalmar thưa, “nhưng chúng con không thể nào làm được, chúng con bị viết quá xấu xí.”

“Thế thì các con đáng bị xóa đi thôi,” Ole-Luk-Oie phán.

“Ôi, xin đừng!” chúng đồng thanh kêu lên, và ngay lập tức chúng đứng thẳng tắp một cách thanh thoát đến nỗi nhìn chúng thật vui mắt.

“Giờ chúng ta phải tạm ngừng câu chuyện lại để luyện tập cho những chữ cái này,” Ole-Luk-Oie tuyên bố. “Một, hai – một, hai –” Thế là ông kiên nhẫn uốn nắn chúng cho đến khi chúng đứng ngay ngắn, duyên dáng và đẹp đẽ chẳng kém gì mẫu chữ. Nhưng khi Ole-Luk-Oie ra đi, và Hjalmar ngắm nhìn chúng vào buổi sáng hôm sau, chúng lại trở nên xấu xí, vụng về như thuở ban đầu.

THỨ BA

Vừa khi Hjalmar leo lên giường, Ole-Luk-Oie liền dùng chiếc đũa thần nhỏ chạm vào mọi đồ vật trong phòng, và ngay lập tức, chúng bắt đầu ríu rít trò chuyện. Mỗi món đồ chỉ kể về chính mình.

Trên chiếc tủ ngăn kéo, một bức tranh lớn đặt trong khung mạ vàng lấp lánh, vẽ cảnh thiên nhiên hùng vĩ với những gốc cây cổ thụ xanh tươi, thảm hoa rực rỡ điểm xuyết trên cỏ, cùng dòng suối rộng uốn lượn qua rừng, len lỏi qua những tòa lâu đài tráng lệ rồi đổ ra biển cả mênh mông.

Ole-Luk-Oie khẽ đưa đũa thần chạm vào bức họa, lập tức tiếng chim hót vang lên, cành lá xào xạc rung rinh, và những áng mây trôi nhẹ trên nền trời, in bóng mờ xuống khung cảnh thơ mộng bên dưới.

Rồi Ole-Luk-Oie bế cậu bé Hjalmar nhỏ xíu lên khung tranh, đặt chân cậu lên bức họa giữa bãi cỏ cao ngút, nơi ánh mặt trời xuyên qua tán lá chiếu rọi xuống. Cậu bé chạy ùa tới mép nước, leo lên chiếc thuyền con đang đậu đó – một chiếc thuyền sơn hai màu đỏ trắng tinh khôi.

Những tấm buồm lấp lánh tựa bạc, còn sáu chú thiên nga – mỗi con đeo vòng vàng quanh cổ và ngôi sao xanh biếc trên trán – nhẹ nhàng kéo thuyền lướt qua khu rừng xanh thẳm. Ở đó, cây cối thì thầm chuyện cướp bóc và mụ phù thủy, còn muôn hoa lại rì rầm kể về những nàng tiên cùng lũ yêu tinh bé xinh mà bướm đã tường thuật lại cho chúng nghe.

Những chú cá lấp lánh với lớp vảy bạc và vàng bơi theo con thuyền, thi thoảng lại nhảy vọt lên khiến nước bắn tung tóe khắp nơi; trong khi đó, đàn chim đủ sắc màu từ đỏ đến xanh, nhỏ bé hay to lớn, bay thành hai hàng dài theo chân cậu bé. Những chú muỗi nhỏ xíu nhảy múa quanh chúng, còn bọ hung thì kêu lên tiếng “Vù vù”. Tất cả đều muốn đi cùng Hjalmar, và mỗi sinh vật đều có câu chuyện riêng muốn kể cho cậu nghe. Đó quả là một hành trình bằng thuyền vô cùng kỳ thú.

Trên ban công có các cô công chúa.

Có lúc khu rừng rậm rạp và âm u, có lúc lại hiện ra như một khu vườn tươi đẹp ngập tràn ánh nắng và muôn hoa; cậu bé đi ngang qua những tòa lâu đài nguy nga làm bằng pha lê và đá cẩm thạch, trên ban công là những nàng công chúa với gương mặt chính là những cô bé mà Hjalmar thường chơi cùng. Một trong số đó đưa tay ra, trên tay nàng là một trái tim bằng đường, đẹp đẽ hơn bất cứ món kẹo nào mà người thợ làm bánh từng bán. Khi con thuyền của Hjalmar đi ngang, cậu nắm lấy một nửa trái tim đường và giữ chặt, nàng công chúa cũng giữ chặt phần của mình, thế là trái tim vỡ làm đôi. Hjalmar có một mảnh và công chúa giữ mảnh còn lại, nhưng phần của cậu bé thì lớn hơn.

Ở mỗi tòa lâu đài đều có những chàng hoàng tử bé nhỏ đứng gác. Các chàng giơ súng chào, đeo thanh kiếm vàng lấp lánh, rồi làm mưa những trái mận ngọt và những chú lính chì xinh xắn – thế nên chắc chắn họ phải là những hoàng tử thực thụ.

Hjalmar cứ thế rong ruổi trên con thuyền nhỏ, khi thì lướt qua những khu rừng rậm rạp, khi lại như đang băng qua những đại sảnh nguy nga, rồi lại men theo những thành phố lớn nhộn nhịp. Cuối cùng, cậu bé cũng tới được thị trấn nơi bà vú nuôi hiền từ của mình đang sinh sống – người phụ nữ đã ẵm bồng cậu thuở còn thơ bé và luôn dành cho cậu biết bao yêu thương. Bà gật đầu âu yếm, vẫy tay gọi cậu bé đến gần, rồi cất giọng ngân nga những vần thơ nhỏ do chính bà sáng tác để gửi gắm đến cậu:

“Bao nhiêu thời gian ta nhớ về con,
Hjalmar yêu dấu, niềm kiêu hãnh và niềm vui của ta!
Ta đã hạnh phúc biết bao khi được ẵm con trong vòng tay,
Hôn lên đôi má hồng hào của con, chàng hoàng tử bé nhỏ của lòng ta!
Những tiếng bập bẹ đầu tiên của con là do ta nghe thấy,
Hôm nay những lời tạm biệt của ta sẽ bay đến con.
Ôi, cầu Chúa luôn che chở con,
Và đưa con đến một nơi tốt đẹp trên trời!”

Và tất cả các loài chim đều hát cùng một giai điệu, những bông hoa nhảy múa trên cành, và những cây cổ thụ gật gù như thể Ole-Luk-Oie cũng đã kể chuyện cho chúng nghe.

THỨ TƯ

Trời mưa như trút nước! Hjalmar có thể nghe thấy tiếng mưa trong giấc ngủ, và khi Ole-Luk-Oie mở cửa sổ, nước chảy tràn lên tận bậu cửa. Bên ngoài trông như một cái hồ lớn, và một con tàu xinh đẹp nằm sát bên nhà.

“Con có muốn cùng ta đi thuyền tối nay không, Hjalmar bé bỏng?” Ole-Luk-Oie hỏi. “Chúng ta sẽ đến thăm những miền đất xa lạ, rồi sáng mai con sẽ trở về nhà.”

Chỉ trong nháy mắt, Hjalmar đã đứng trên boong chiếc tàu lộng lẫy, khoác bộ quần áo đẹp nhất, và bầu trời lập tức trở nên quang đãng.

Họ rẽ sóng qua những con phố, lướt qua nhà thờ, giữa biển trời bao la bát ngát.

Họ cứ thế lênh đênh cho đến khi bờ biển khuất dạng, và trước mắt hiện ra đàn cò đang rời xứ sở bay về phương Nam ấm áp. Những chú cò nối đuôi nhau thành hàng dài, đã bay qua bao dặm trường xa xôi.

Một con trong đám ấy trông kiệt sức đến nỗi đôi cánh gần như không thể nâng nổi thân hình. Nó nhanh chóng tụt lại phía sau, rồi từ từ hạ thấp, đôi cánh giương rộng vỗ yếu ớt trong vô vọng, cho đến khi chân chạm vào dây buồm tàu. Nó trượt dọc theo cánh buồm xuống boong, đứng thở hổn hển trước mặt mọi người. Ngay lập tức, một chú bé thủy thủ túm lấy nó, nhốt vào chuồng cùng lũ gà, vịt và gà tây. Con cò tội nghiệp đứng giữa đám gia cầm, ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra.

“Xem anh chàng kì cục kia kìa!” lũ gà cục ta cục tác.

Gà tây trống phùng mang trợn mắt, cố bành trướng hết cỡ rồi hỏi nó là giống loài gì. Đám vịt thì lạch bạch lùi xa, kêu “Quạc quạc!” đầy khinh bỉ.

Con cò kể cho chúng nghe tất cả về châu Phi ấm áp – về những kim tự tháp và về đà điểu, loài vật chạy qua sa mạc như một con ngựa hoang. Nhưng lũ vịt không hiểu nó nói gì, và chúng quạc quạc với nhau: “Chúng ta đều có cùng ý kiến; đó là nó ngu ngốc.”

“Đúng vậy, chắc chắn là nó ngu ngốc,” con gà tây trống nói, và kêu cục cục.

Sau đó, con cò hoàn toàn im lặng và nghĩ về quê hương của mình ở châu Phi.

“Đôi chân gầy của anh đẹp đấy,” con gà tây trống nói. “Chúng đáng giá bao nhiêu một thước?”

“Quạc, quạc, quạc,” lũ vịt cười toe toét; nhưng con cò giả vờ không nghe thấy.

“Cứ cười đi,” con gà tây lên tiếng, “bởi câu nói ấy quả thật tếu táo, nhưng e rằng vượt quá sự thông hiểu của các ngươi. Hừ, hừ, chẳng lẽ hắn không khôn ngoan sao? Hắn sẽ là thú tiêu khiển tuyệt vời cho chúng ta khi hắn còn ở đây.” Rồi nó khẹc khẹc cục cục, trong khi bầy vịt đồng thanh quác quác: “Cục cục!” “Quác, quác!”

Chúng gây nên một mớ âm thanh hỗn độn kinh người trong lúc vui đùa cùng nhau như thế!

Bấy giờ, Hjalmar bước tới chuồng gà, mở cửa gọi chú cò. Nó nhảy phốc lên boong tàu. Giờ đây đã nghỉ ngơi đủ, chú cò trông thật tươi tỉnh, dường như gật đầu với Hjalmar như lời cảm tạ cậu bé. Rồi nó xòe đôi cánh rộng, bay vút về phương Nam ấm áp, trong khi lũ gà không ngừng cục tác, bầy vịt tiếp tục quác quác, và cái đầu gà tây trống thì đỏ ửng lên như bừng lửa.

“Ngày mai các ngươi sẽ bị nấu thành súp,” Hjalmar nói với đàn gia cầm; rồi cậu bé chợt tỉnh giấc, thấy mình vẫn đang nằm trên chiếc giường nhỏ xinh của mình.

Đó quả là một cuộc phiêu lưu kỳ diệu mà Ole-Luk-Oie đã dẫn cậu trải qua trong đêm nay.

THỨ NĂM

“Con đoán xem ta đang cầm gì đây?” Vị Thần Giấc Mơ hỏi. “Đừng lo, con sẽ thấy một chú chuột bé xíu.” Ông giơ tay ra, trong lòng bàn tay là một sinh vật nhỏ nhắn đáng yêu. “Nó đến để mời con dự lễ cưới đấy. Hai chú chuột nhỏ sắp kết hôn tối nay. Chúng sống dưới sàn nhà kho của mẹ con, chắc chắn đó là một nơi ở tuyệt vời.”

“Nhưng làm sao con có thể chui qua cái lỗ chuột bé tí trên sàn nhà được?” cậu bé thắc mắc.

“Cứ để ta lo việc đó,” Vị Thần Giấc Mơ nói. “Ta sẽ sớm làm con nhỏ lại vừa ý.” Rồi ông chạm cây đũa thần vào cậu bé, ngay tức khắc cậu bé teo nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn bé bằng ngón tay út. “Giờ thì con có thể mượn bộ quần áo của chú lính chì đồ chơi. Ta nghĩ nó sẽ vừa vặn với con lắm. Diện đồng phục khi đi dự tiệc trông mới chỉnh tề làm sao.”

“Dạ, đúng vậy ạ,” cậu bé đáp, và trong nháy mắt, cậu đã mặc xong bộ đồ gọn gàng y như chú lính chì ngay ngắn nhất.

“Ngài có bằng lòng ngồi lên chiếc đê khâu của mẹ ngài không,” chú chuột nhỏ lễ phép thưa, “để tôi được hân hạnh kéo ngài tới lễ cưới?”

“Cô nàng thật sự chịu khó đến thế sao?” cậu bé thốt lên. Và thế là cậu leo lên xe, cùng chuột đi dự tiệc cưới.

Ban đầu, họ luồn dưới sàn nhà, rồi men theo một lối đi dài chật hẹp đến nỗi chiếc đê khâu cũng khó lòng lách qua, dọc đường được soi sáng bởi những mảnh gỗ mục phát quang.

“Chẳng phải mùi ở đây thơm ngát sao?” chú chuột vừa hỏi vừa kéo cậu bé đi. “Tường với sàn đều được quét mỡ lợn; chẳng có gì thơm ngon hơn thế.”

Chẳng mấy chốc, họ đã tới gian phòng tổ chức lễ cưới. Bên phải là những nàng chuột cái nhỏ nhắn đang thì thầm khúc khích như đang bàn tán chuyện gì. Bên trái là các chàng chuột đực dùng chân trước vuốt ve bộ râu. Giữa sảnh đường, đôi uyên ương đứng trong vỏ phô mai rỗng, say đắm trao nhau nụ hôn dưới ánh nhìn ngưỡng mộ của tất cả mọi người.

Bạn bè kéo đến ngày càng đông, đến nỗi bọn chuột suýt giẫm đạp lên nhau mà chết; bởi đôi uyên ương giờ đứng chắn ngay lối vào, chẳng ai có thể ra vào được nữa.

Căn phòng cũng được quét một lớp mỡ lợn y như lối đi, đó là tất cả những gì chủ nhà đãi khách. Nhưng để kết thúc bữa tiệc, một hạt đậu được truyền tay nhau, trên đó có một chú chuột đã khéo léo gặm nổi những chữ cái đầu trong tên của đôi tân hôn. Thật là một chuyện kỳ lạ! Tất cả bọn chuột đều đồng thanh khen đám cưới thật tuyệt vời, và chúng đã được tiếp đãi hết sức chu đáo.

Sau đó, Hjalmar trở về nhà. Cậu bé chắc chắn đã được tham dự một buổi tiệc sang trọng, nhưng cậu phải chui xuống dưới sàn nhà và thu nhỏ bản thân đủ để mặc vừa bộ quân phục của một chú lính chì.

THỨ SÁU

“Chẳng thể ngờ được biết bao nhiêu người già muốn ta ghé thăm mỗi đêm,” Ole-Luk-Oie thủ thỉ, “nhất là những kẻ từng làm chuyện không hay.”

“‘Ông Ole già nhân hậu ơi,’ họ thường năn nỉ ta, ‘chúng tôi chẳng sao chợp mắt được, cứ trằn trọc suốt đêm dài, nhìn thấy những việc xấu xưa hiện về như lũ quỷ con ngồi bệt trên giường, hắt nước sôi vào người chúng tôi. Ông có thể xua đuổi chúng giùm không, để chúng tôi được yên giấc?’ Rồi họ thở dài não nuột và nói thêm: ‘Chúng tôi sẵn sàng trả công hậu hĩnh. Chúc ông ngủ ngon, Ole-Luk, tiền thù lao để sẵn trên bệ cửa sổ đấy.’ Nhưng ta chưa bao giờ vì vàng bạc mà làm việc ấy.”

“Tối nay chúng ta sẽ làm gì?” Hjalmar hỏi.

“Ta không biết con có muốn đi dự một đám cưới khác không,” Ole-Luk-Oie đáp, “dù nó hoàn toàn khác với đám cưới chúng ta đã thấy đêm qua. Con búp bê lớn của chị con, con búp bê mặc đồ đàn ông tên là Herman, định cưới con búp bê Bertha. Hôm nay cũng là sinh nhật của chúng, và chúng sẽ nhận được rất nhiều quà.”

“Vâng, con biết rồi,” Hjalmar nói; “chị con luôn cho phép búp bê của chị ấy tổ chức sinh nhật hay đám cưới mỗi khi chúng cần quần áo mới. Chuyện này đã xảy ra cả trăm lần rồi, con chắc chắn đấy.”

“Đúng thế; nhưng đêm nay là lễ cưới thứ một trăm lẻ một, và khi lễ cưới này diễn ra thì đó phải là lần cuối cùng; bởi vậy buổi lễ này sẽ vô cùng lộng lẫy. Con hãy nhìn xem.”

Hjalmar nhìn xuống chiếc bàn, nơi có ngôi nhà búp bê bằng bìa cứng nhỏ xinh với ánh đèn sáng rực ở tất cả các ô cửa sổ, cùng hàng lính chì đứng nghiêm trang giơ súng chào phía trước.

Đôi uyên ương ngồi trên sàn nhà, tựa lưng vào chân bàn, trông thật đăm chiêu suy tưởng – và họ có đầy đủ lý do để như vậy. Rồi Ole-Luk-Oie, khoác trên mình bộ váy đen của bà lão, đã long trọng cử hành hôn lễ cho họ.

Vừa khi nghi thức kết thúc, tất cả đồ vật trong phòng cùng nhau cất lên bài ca tuyệt vời do cây bút chì sáng tác, giai điệu bài hát ấy ngân nga theo điệu nhạc quân hành:

“Gió ơi lành lạnh, hãy mang lời chào thân ái của chúng tôi
Tới ngôi nhà nhỏ nơi đôi uyên ương đang sống.
Với đôi giày da dê vừa vặn biết bao,
Chúng thẳng tắp như thể thợ may khéo tay đã đo.
Chúc mừng! Chúc mừng! Chàng trai và cô gái.
Hãy để tiếng vọng nhắc lại lời chào thân ái của chúng tôi.”

Và giờ là món quà; nhưng đôi vợ chồng trẻ chẳng có gì để ăn, vì tình yêu sẽ là thức ăn nuôi dưỡng họ.

“Ta nên về quê sống, hay đi chu du thiên hạ?” chàng rể hỏi.

Họ bèn hỏi ý chim én, loài chim từng bay xa tận chân trời, và hỏi cả chị gà mái già trong sân, chị gà đã từng ấp nở năm lứa gà con.

Chim én kể cho chúng nghe về những miền đất ấm áp, nơi những chùm nho nặng trĩu treo lủng lẳng trên giàn và không khí dịu dàng, êm ái, về những ngọn núi sặc sỡ sắc màu đẹp đến mức khó có thể tưởng tượng nổi.

“Nhưng ở đó làm gì có bắp cải tím như chúng ta,” gà mái lên tiếng. “Ta đã từng sống ở nông thôn cùng đàn gà con suốt cả mùa hè. Ở đó có một hố cát rộng để chúng ta tha hồ đi lại và bới đất. Rồi chúng ta vào một khu vườn trồng đầy bắp cải tím. Ôi, ngon tuyệt! Ta chẳng thể nghĩ ra thứ gì ngon hơn thế.”

“Nhưng cây bắp cải nào chẳng giống cây nào,” chim én đáp; “vả lại ở đây chúng ta thường xuyên gặp thời tiết xấu.”

“Đúng thế, nhưng chúng ta đã quen rồi,” gà mái nói.

“Nhưng nơi này lạnh quá, có khi còn đóng băng nữa.”

“Thời tiết lạnh tốt cho bắp cải,” gà mái đáp; “vả lại, đôi khi ở đây cũng ấm áp. Bốn năm trước chúng ta có một mùa hè kéo dài hơn năm tuần, nóng đến nỗi ngột ngạt khó thở. Vả chăng, xứ sở này không có thú dữ độc ác, cũng chẳng có bọn cướp. Kẻ nào không coi đất nước chúng ta là nơi tuyệt vời nhất trên đời, ắt hẳn là một thằng ngốc. Hắn không đáng được sống ở đây.” Rồi gà mái bật khóc nức nở và nói thêm: “Ta cũng đã từng ngao du đó đây. Ta từng đi suốt mười hai dặm đường trong một cái lồng chật hẹp, chuyến đi ấy chẳng dễ chịu chút nào.”

“Con gà mái là một quý cô thông thái lắm đấy,” búp bê Bertha nói. “Tôi chẳng thiết tha gì chuyện du ngoạn qua núi, leo lên rồi lại lóc cóc xuống dốc. Thôi, ta hãy ra hố cát trước cổng rồi dạo chơi trong vườn bắp cải thì hơn.”

Thế là họ nhất trí làm theo như vậy.

Ngắm xem những người Trung Hoa này…

THỨ BẢY

“Cháu còn được nghe thêm chuyện nữa không ạ?” Cậu bé Hjalmar bé bỏng hỏi, ngay khi Ole-Luk-Oie vừa ru cậu vào giấc ngủ.

“Đêm nay ta không có thì giờ đâu,” ông đáp, giương chiếc dù xinh đẹp nhất che cho cậu bé. “Hãy ngắm những người Trung Hoa này xem.” Và ngay lập tức, cả chiếc dù bỗng biến thành một chiếc bát sứ khổng lồ, in hình những cây cổ thụ và những chiếc cầu cong vút, trên đó lũ tiểu nhân Trung Hoa đang gật gù chào nhau.

“Chúng ta phải làm cho cả thế giới trở nên tươi đẹp vào sáng mai,” Ole-Luk-Oie nói, “bởi đó sẽ là một ngày lễ trọng đại; đó chính là ngày Chủ Nhật. Giờ ta phải đến tháp chuông nhà thờ để xem những chú yêu tinh bé nhỏ sống trong đó đã đánh bóng những chiếc chuông cho chúng ngân vang thật trong trẻo chưa; rồi ta phải ra cánh đồng kiểm tra xem ngọn gió đã thổi sạch bụi bặm khỏi những ngọn cỏ và tán lá hay chưa; nhưng công việc khó khăn nhất trong tất cả chính là gỡ từng ngôi sao xuống và lau chúng cho sáng bóng. Ta phải đánh số từng ngôi sao trước khi xếp chúng vào tạp dề, đồng thời cũng phải ghi nhớ vị trí của chúng, để sau này có thể đặt lại đúng chỗ cũ. Nếu không, những ngôi sao sẽ không chịu nằm yên, và chúng ta sẽ chứng kiến vô số sao băng rơi xuống, vì chúng sẽ lần lượt rơi khỏi bầu trời.”

“Này, ông Luk-Oie kia!” một bức chân dung cũ kỹ treo trong phòng ngủ của Hjalmar lên tiếng. “Ông có nhận ra tôi không? Tôi là cụ tổ của Hjalmar đây. Tôi biết ơn ông vì đã kể chuyện cho đứa trẻ, nhưng ông đừng có làm rối trí nó. Những vì sao không thể bị gỡ khỏi trời cao rồi đem đi đánh bóng; chúng cũng là những quả cầu như Trái Đất của ta, và như thế là tốt lắm rồi.”

“Xin cảm tạ cụ tổ,” Ole-Luk-Oie đáp. “Tôi đội ơn cụ. Cụ có thể là trưởng tộc, điều đó đương nhiên, lại còn rất cao niên, nhưng tôi còn cổ xưa hơn thế nữa. Tôi là một vị thần ngoại giáo từ thuở xa xưa. Người La Mã và Hy Lạp cổ đại từng gọi tôi là Thần Mộng Mị. Tôi đã từng ghé thăm những dinh thự sang trọng nhất – phải, và đến giờ tôi vẫn làm thế – tôi hiểu cách đối đãi với cả kẻ quyền quý lẫn người thường dân, giờ thì cụ có thể tự kể chuyện lấy vậy.” Thế rồi Ole-Luk-Oie cáo lui, mang theo những chiếc dù của mình.

“Chà chà, có vẻ như người ta chẳng được phép nói năng gì cả,” bức chân dung càu nhàu. Tiếng than phiền ấy đánh thức Hjalmar dậy.

CHỦ NHẬT

“Chào buổi tối,” Ole-Luk-Oie cất tiếng chào.

Hjalmar gật đầu, rồi bật dậy khỏi giường, xoay bức chân dung ông cố quay mặt vào tường để nó không thể quấy rầy họ như đêm trước nữa. “Giờ thì,” cậu bé nói, “ông phải kể cho cháu nghe chuyện về năm hạt đậu xanh sống chung trong một cái vỏ, hoặc chuyện hạt kê ve vãn cây rau sam, hay chuyện cây kim vá kiêu hãnh đến mức tưởng mình là cây kim thêu điêu luyện.”

“Cháu đòi hỏi nhiều chuyện hay quá đấy,” Ole-Luk-Oie đáp. “Cháu biết ta thích nhất là cho cháu xem những điều kỳ diệu, vậy nên đêm nay ta sẽ cho cháu gặp anh trai ta. Anh ấy cũng tên là Ole-Luk-Oie, nhưng chỉ đến thăm mỗi người một lần duy nhất trong đời. Khi anh ấy xuất hiện, anh ấy sẽ đưa người ấy cưỡi ngựa và kể chuyện cho họ nghe suốt chặng đường phiêu lưu.”

“Anh ấy chỉ biết có hai câu chuyện. Một câu chuyện thì đẹp đến nỗi chẳng ai trên đời này có thể tưởng tượng ra được điều gì tuyệt vời hơn thế, còn câu chuyện kia thì khủng khiếp đến mức không thể nào diễn tả nổi bằng lời.”

Rồi Ole-Luk-Oie bế Hjalmar lên bên cửa sổ. “Này, giờ con có thể nhìn thấy anh trai ta, Ole-Luk-Oie kia; người ta còn gọi anh ấy là Thần Chết. Con thấy không, anh ấy chẳng đáng sợ như trong những cuốn sách tranh người ta vẫn vẽ đâu. Trong sách, anh ấy hiện lên như một bộ xương trắng toát, nhưng thực ra áo khoác của anh ấy được thêu chỉ bạc lấp lánh, khoác trên mình bộ quân phục Hussar sang trọng, cùng chiếc áo choàng nhung đen tung bay phấp phới sau lưng khi anh ấy phi ngựa. Nhìn kìa, anh ấy đang phi nước đại đó!”

Hjalmar nhận thấy khi Ole-Luk-Oie cưỡi ngựa đi qua, chàng nhấc bổng cả người già lẫn người trẻ lên và đặt họ ngồi trên lưng ngựa của mình. Một số người được xếp ngồi phía trước, số khác ngồi phía sau, nhưng trước đó, chàng luôn hỏi: “Sổ điểm của các ngươi thế nào?”

“Tốt ạ,” tất cả đồng thanh đáp.

“Được thôi, nhưng để ta xem qua đã,” chàng đáp lại, và họ buộc phải trao sổ điểm cho chàng. Những ai có dòng chữ “Rất tốt” hoặc “Xuất sắc” trong sổ đều được ngồi phía trước ngựa, thỏa thích nghe những câu chuyện tuyệt vời. Còn những người bị ghi “Trung bình” hay “Khá tốt” thì phải ngồi phía sau. Họ bật khóc nức nở, muốn nhảy xuống khỏi lưng ngựa, nhưng không thể nào thoát ra được, bởi họ dường như đã bị dính chặt vào yên ngựa.

“Ôi, Thần Chết là một Luk-Oie tuyệt vời nhất,” Hjalmar thốt lên. “Con chẳng sợ anh ta tí nào cả.”

“Con không cần phải sợ anh ta đâu,” Ole-Luk-Oie đáp; “nhưng hãy luôn cẩn trọng và giữ gìn cuốn sổ hạnh kiểm thật tốt.”

“Ta cho rằng điều này thật sự hữu ích,” bức chân dung cụ cố lẩm bẩm. “Đôi khi nói lên quan điểm cũng có ích lắm chứ.” Thế là ông cụ hoàn toàn thỏa mãn.

Đó là một vài việc làm cùng lời nói của Ole-Luk-Oie. Tôi mong rằng chính tối nay, ông ấy sẽ tự mình ghé thăm các bạn và kể thêm nhiều câu chuyện khác nữa.

Bản quyền

Truyện Cổ Tích Hans Andersen - Tập Một Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.