"

19 NGÔI NHÀ CŨ

Ngày xửa ngày xưa, có một ngôi nhà rất cũ nằm trên con phố, bên cạnh những ngôi nhà khác mới tinh và sạch sẽ. Người ta có thể đọc được năm xây dựng ngôi nhà, con số ấy được khắc trên một trong những thanh xà, xung quanh là những hoa văn hình hoa tulip và dây leo hoa bia uốn lượn. Nhờ đó mà biết rằng ngôi nhà này đã gần ba trăm tuổi. Trên cửa sổ còn ghi những câu thơ dài bằng nét chữ cổ, và những khuôn mặt kỳ lạ, được chạm khắc tinh xảo, nhe răng cười với bạn từ dưới mái hiên. Một tầng nhà nhô hẳn ra xa hơn tầng dưới, và dưới mái nhà có một máng xối bằng chì với đầu rồng ở cuối. Nước mưa đáng lẽ phải chảy ra từ miệng rồng, nhưng lại tuôn ra từ thân nó, vì máng xối đã bị thủng một lỗ.

Những ngôi nhà khác trên phố đều mới xây, kiên cố với những bức tường nhẵn bóng và cửa sổ rộng mở. Chúng đứng đó như chẳng hề có mối liên hệ nào với ngôi nhà cũ kỹ kia. Có lẽ chúng đang nghĩ thầm: “Đống đổ nát này còn tồn tại đến bao giờ nữa, làm mất mỹ quan cả con phố? Cái lan can nhô ra thật xa, đến nỗi chẳng ai từ cửa sổ nhà mình có thể nhìn thấy điều gì đang diễn ra ở phía ấy. Những bậc thang thì rộng thênh thang như cầu thang trong tòa lâu đài, lại dốc đứng tựa lối lên tháp chuông nhà thờ. Hàng rào sắt trông chẳng khác gì cổng vào nghĩa trang, lại còn điểm xuyết những núm đồng lố lăng. Thật là kệch cỡm và lố bịch!”

Đối diện với ngôi nhà cũ kỹ là những ngôi nhà mới xinh đẹp khác, chúng cũng có cùng quan điểm giống hệt những người hàng xóm.

Bên khung cửa sổ của một trong những ngôi nhà ấy, có một cậu bé với đôi má hồng hào tươi tắn và đôi mắt trong vắt, long lanh. Cậu bé vô cùng yêu mến ngôi nhà cũ, dù trời có nắng chói chang hay đêm trăng sáng tỏ. Cậu thường ngồi ngắm nhìn bức tường, nơi lớp vữa đã bong tróc ở vài chỗ, và thỏa sức tưởng tượng ra biết bao cảnh tượng đã diễn ra từ thuở xa xưa – con phố sẽ trông thế nào khi tất cả những ngôi nhà đều có mái hình tam giác, những chiếc cầu thang lộ thiên, cùng những ống máng xối có đầu rồng ở miệng chảy. Cậu thậm chí còn có thể nhìn thấy những người lính tay cầm giáo dài đi qua đi lại. Quả thật đó là một ngôi nhà thú vị để ngắm nhìn cho thỏa thích.

Trong ngôi nhà ấy có một ông cụ sinh sống. Ông thường mặc chiếc quần ống túm chấm gối, khoác lên mình chiếc áo với những cúc đồng to tướng, và đội bộ tóc giả trông y như tóc thật. Sáng nào cũng vậy, một người đàn ông lớn tuổi đến dọn dẹp phòng ốc và hầu hạ ông, bởi nếu không, ông cụ mặc quần ống túm sẽ hoàn toàn lẻ loi trong căn nhà rộng. Thỉnh thoảng, ông cụ đứng bên khung cửa sổ ngắm phố xá; mỗi lần như vậy, cậu bé nhỏ lại gật đầu chào ông, và ông cụ cũng gật đầu đáp lễ, dần dà họ trở nên thân quen, coi nhau như bạn bè dù chưa từng trao đổi lời nào; nhưng điều ấy có sao đâu.

Một hôm, cậu bé nghe cha mẹ bàn tán: “Ông cụ nhà kia giàu có lắm, nhưng chắc sống cô đơn lắm.” Thế là sáng Chủ Nhật sau đó, cậu bé bọc kỹ một món đồ trong tờ giấy, mang đến trước cổng nhà ông cụ, rồi nói với người giúp việc: “Bác làm ơn chuyển giúp cháu món này tới ông cụ ở đây với ạ! Cháu có hai chú lính chì, đây là một trong số đó, cháu muốn tặng ông cụ vì biết ông đang rất cô đơn.”

Người đầy tớ già gật đầu, khuôn mặt rạng rỡ niềm vui, rồi ông cầm chú lính chì đưa vào trong nhà.

Sau đó, ông được sai đi hỏi cậu bé xem cậu có muốn tự mình đến thăm không. Cha mẹ cậu đồng ý, thế là cậu được bước vào ngôi nhà cổ kính.

Những núm đồng trên hàng rào lấp lánh hơn bao giờ hết, như thể chúng vừa được đánh bóng để đón chào cậu; trên những cánh cửa chạm khắc, những người thổi kèn đứng giữa những đóa hoa tulip, trông như đang căng má thổi hết sức: “Tanta-ra-ra, cậu bé nhỏ đang đến. Tanta-ra-ra, cậu bé nhỏ đang đến.”

Cánh cửa bỗng mở ra. Khắp gian phòng lớn treo đầy những bức chân dung cổ xưa: các hiệp sĩ trong bộ áo giáp sắt lách cách, những quý bà xúng xính trong tà váy lụa xào xạc. Rồi một chiếc cầu thang hiện ra, vòng lên cao vút rồi đột ngột hạ thấp, dẫn tới một ban công hoang tàn đổ nát. Những kẽ nứt dài, những lỗ hổng lớn mọc đầy cỏ dại và cành lá xanh um – đến nỗi cả ban công, sân trong lẫn những bức tường đều ngập tràn sức sống, tựa như một khu vườn bị lãng quên.

Trên ban công ấy, những chậu hoa hình đầu lừa đặt ngổn ngang, để mặc cho cây cỏ tự do đâm chồi. Trong một chiếc chậu, khóm cẩm chướng xòe tán lá xanh mướt ra khắp phía – những cành cây vươn dài như đang thì thầm rành rọt: “Gió đã vuốt ve tôi, nắng đã hôn lên tôi, và tôi được hứa sẽ nở một đóa hoa bé xinh vào Chủ Nhật tới – đúng Chủ Nhật tới đấy!”

Họ bước vào một căn phòng với những bức tường bọc da, trên đó nổi lên những hoa văn hoa lá dát vàng lộng lẫy.

“Lớp vàng rồi sẽ phai nhạt dưới nắng mưa thời gian, Nhưng da thì mãi bền chắc; chẳng gì sánh bằng da đâu,” những bức tường rì rầm. Trong phòng, những chiếc ghế chạm trổ tinh xảo, có tay vịn và lưng tựa cao, đứng đó uy nghi. Khi chúng kẽo kẹt, dường như chúng đang thở than: “Ngồi xuống đi nào. Ôi trời! Kêu cót két quá; chắc tôi sắp mắc bệnh gút như cái tủ già nua kia rồi. Ôi, đau lưng quá!”

Và rồi cậu bé bước vào căn phòng nơi ông lão đang ngồi.

“Cảm ơn cháu vì chú lính chì, cháu bé ngoan của ta,” ông lão nói, “và cũng cảm ơn cháu đã ghé thăm ông.”

“Cảm ơn, cảm ơn” – hay đúng hơn là “Cót két, cót két” – tất cả đồ vật trong phòng đồng thanh đáp lời.

Đồ đạc nhiều đến nỗi chúng chen chúc nhau chỉ để được ngắm nhìn cậu bé. Trên bức tường giữa phòng treo một bức chân dung người phụ nữ trẻ đẹp, rạng rỡ, ăn mặc theo phong cách cổ điển với mái tóc bạch kim phủ phấn và chiếc váy phồng cứng cáp. Nàng không thốt lên “cảm ơn” hay “cót két” nào, nhưng ánh mắt dịu dàng của nàng đổ dài xuống cậu bé, khiến cậu bé tò mò hỏi ông lão:

“Ông ơi, ông có bức tranh này từ đâu vậy ạ?”

“Từ cửa hàng đối diện,” ông lão trả lời. “Ở đó treo nhiều bức chân dung lắm. Chẳng ai dường như biết họ là ai hay quan tâm đến họ nữa. Những người trong tranh ấy đã chết và yên nghỉ dưới mồ từ lâu lắm rồi. Nhưng ta đã biết người phụ nữ này nhiều năm về trước, và bà ấy đã qua đời gần nửa thế kỷ nay.”

“Cảm ơn cháu vì chú lính chì, cháu bé của ta,” ông lão nói….

Dưới tấm kính che, phía dưới bức tranh treo một bó hoa đã khô héo, chắc cũng đã nửa thế kỷ rồi, ít nhất trông chúng có vẻ như thế.

Con lắc đồng hồ cũ kĩ đưa qua đưa lại, kim đồng hồ xoay vòng, thời gian cứ thế trôi đi, mọi thứ trong căn phòng đều trở nên già nua hơn, nhưng dường như chẳng có ai để ý đến điều đó.

“Ở nhà cháu, mọi người bảo,” cậu bé nói khẽ, “rằng ông rất cô đơn.”

“Ồ,” cụ già mỉm cười đáp, “ta có cả kho tàng kỷ niệm đẹp về những ngày đã qua, và bây giờ cháu đến thăm ta, thế là đủ vui rồi.”

Rồi ông rút từ giá sách ra một cuốn sách tranh dày đặc hình ảnh: những đoàn xe ngựa lộng lẫy nối đuôi nhau dài tít tắp mà giờ đây chẳng còn thấy đâu nữa, những người lính trang phục như quân bài chuồn bích sắc nét, cùng đám đông cầm cờ bay phần phật. Lá cờ của thợ may có hình chiếc kéo do đôi sư tử chống đỡ, còn trên cờ hiệu thợ đóng giày chẳng phải hình đôi ủng mà là con đại bàng hai đầu uy nghi – bởi những người thợ giày luôn làm mọi thứ thành đôi để có thể tự hào tuyên bố: “Đây là một cặp!” Quả thật đó là cuốn sách tranh kỳ diệu! Sau đó, ông lão bước sang phòng bên lấy táo và các loại hạt. Ắt hẳn phải thật ấm áp khi được sống trong ngôi nhà cổ kính ấy.

“Tôi không chịu nổi nữa,” chú lính chì đứng trên giá than thở; “nơi đây thật cô đơn và tẻ nhạt. Tôi đã quen sống trong một gia đình đông đúc, làm sao quen được với cuộc sống này. Tôi không thể chịu đựng thêm. Ngày đã dài đằng đẵng, nhưng đêm còn dài hơn gấp bội. Ở đây chẳng giống như căn nhà đối diện kia, nơi cha mẹ cháu trò chuyện rôm rả, còn cháu cùng lũ trẻ nô đùa ồn ào mà thật đáng yêu. Cháu có nghĩ ông ấy được ai hôn không? Cháu có nghĩ ông ấy từng nhận được ánh mắt âu yếm hay một cây thông Giáng sinh không? Giờ đây ông ấy chẳng còn gì ngoài nấm mồ lạnh lẽo. Ôi! Tôi không thể chịu nổi.”

“Chú không nên có vẻ mặt buồn rầu nhiều như thế,” cậu bé nhỏ nói. “Cháu thấy mọi thứ trong ngôi nhà này đều tuyệt đẹp, và tất cả những kỷ niệm xưa cũ, tươi đẹp đều trở về thăm nơi này.”

“Ồ, nhưng tôi chẳng bao giờ thấy chúng, và cũng chẳng biết chúng là gì,” chú lính chì đáp; “và tôi không thể nào chịu nổi điều đó.”

“Chú phải cố gắng chịu đựng thôi,” cậu bé nhỏ nói. Rồi ông lão quay lại với nét mặt rạng rỡ, mang theo những mứt trái cây ngào đường xinh xắn cùng táo tươi và các loại hạt, thế là cậu bé chẳng nghĩ đến chú lính chì nữa.

Cậu bé nhỏ vui sướng và hào hứng biết bao! Và sau khi trở về nhà, khi ngày tháng cùng tuần lễ trôi qua, biết bao lần những cái gật đầu chào nhau vang vọng từ nhà nọ sang nhà kia, rồi cậu bé lại đến thăm lần nữa. Những người thổi kèn được chạm khắc lại cất tiếng: “Tantara, cậu bé nhỏ đã về đây. Tantara.” Những thanh kiếm và áo giáp trên bức tranh hiệp sĩ cũ kêu lách cách, váy lụa xào xạc, tấm da thuộc lặp lại vần thơ của mình, những chiếc ghế cũ đau lưng phát tiếng “Cót két” – tất cả đều y nguyên như lần trước, bởi trong ngôi nhà ấy, mỗi ngày mỗi giờ đều giống hệt nhau.

“Tôi không chịu nổi nữa,” chú lính chì thốt lên; “nước mắt thiếc đã rơi, nơi đây buồn tẻ quá. Hãy để tôi ra chiến trường, dù mất một tay hay một chân; ít ra cũng có chút thay đổi. Tôi không thể chịu đựng thêm được. Giờ tôi đã hiểu thế nào là khi những ký ức xưa ùa về cùng tất cả những gì chúng mang theo. Ký ức của tôi đã đến thăm, và cháu tin tôi đi, điều đó chẳng dễ chịu chút nào. Tôi suýt nữa thì nhảy khỏi giá đứng. Tôi thấy rõ từng đứa trẻ trong ngôi nhà đối diện, như thể các cháu đang hiện hữu thật sự ở đó vậy.

Ấy là một buổi sáng Chủ nhật, lũ trẻ đứng vây quanh bàn, cất cao bài thánh ca vẫn hát mỗi sớm. Các cháu đứng im phăng phắc, hai tay chắp lại, cha mẹ chúng cũng nghiêm trang không kém, thì cửa bỗng mở ra, cô bé Maria chưa đầy hai tuổi bước vào. Cháu biết đấy, em bé ấy cứ nhảy tưng tưng mỗi khi nghe tiếng nhạc hay lời ca, thế nên em liền nhún nhảy ngay, dù lẽ ra không nên thế; nhưng điệu nhảy chẳng ăn nhịp vì giai điệu quá khoan thai, thành ra em cứ nhón chân bên nọ rồi bên kia, cúi đầu thật sâu, trông chẳng hợp với nhạc chút nào. Mấy đứa lớn đứng nghiêm trang, dù khó nhịn cười lắm, còn tôi thì cười đến nỗi ngã lăn từ bàn xuống, để lại vết bầm đến giờ vẫn còn. Tôi biết cười như thế là không phải. Tất cả những chuyện ấy, cùng bao điều khác tôi từng chứng kiến, cứ xoay vần mãi trong đầu, hẳn đó chính là những ký ức xưa mang theo biết bao suy tư. Hãy kể cho tôi nghe các cháu còn hát thánh ca vào Chủ nhật không, em bé Maria giờ ra sao, và người bạn cũ của tôi – chú lính chì kia thế nào rồi. À, chắc hắn nó đang rất vui vẻ. Cuộc sống này, tôi thực sự không thể chịu nổi.”

“Cháu đã tặng ông rồi,” cậu bé thỏ thẻ; “chú phải ở lại đây. Chú không nhìn thấy sao?”

Rồi ông lão bước vào, mang theo một chiếc hộp đựng đầy những vật kỳ lạ để cho cậu bé xem. Có hộp phấn má hồng, lọ đựng nước hoa, và những lá bài cổ to bản được dát vàng lộng lẫy đến mức ngày nay chẳng còn thấy những thứ như thế nữa. Lại còn những chiếc hộp nhỏ hơn để ngắm nghía, cùng cây đàn piano mở nắp, bên trong nắp đàn vẽ những bức tranh phong cảnh. Nhưng khi ông lão gảy đàn, âm thanh phát ra nghe thật chói tai.

Sau đó, ông ngắm nhìn bức tranh mua từ tiệm đồ cũ, đôi mắt ông bỗng sáng lên khi gật đầu chiêm ngưỡng và thốt lên: “À, cô ấy có thể hát được khúc nhạc ấy.”

“Tôi sẽ ra trận! Tôi sẽ ra trận!” chú lính chì hét lên đầy quyết tâm, rồi phóng mình nhảy xuống sàn nhà. Nó đã rơi vào đâu thế nhỉ? Ông lão cặm cụi tìm kiếm, cậu bé cũng hì hục lục soát, nhưng chú lính đã biến mất không dấu vết.

“Rồi ta sẽ tìm thấy nó,” ông lão tự nhủ. Nhưng ông chẳng bao giờ tìm thấy – chú lính chì đã lọt qua khe hở giữa những tấm ván sàn và nằm im đó, như thể đang yên nghỉ trong một nấm mồ lộ thiên.

Ngày tháng trôi đi, cậu bé trở về nhà; tuần này qua tuần khác, rồi nhiều tuần nữa đi qua. Mùa đông đến, những tấm kính cửa sổ đóng băng trắng xóa, khiến cậu bé phải áp miệng thổi hơi ấm rồi dùng tay chà một lỗ nhỏ để ngắm nhìn ngôi nhà cũ. Tuyết phủ dày trên những họa tiết trang trí và dòng chữ khắc, bậc thềm phủ đầy tuyết trắng như thể nơi này đã bị bỏ hoang. Và quả thật chẳng còn ai ở đó nữa, bởi ông lão đã ra đi mãi mãi.

Vào chiều tối, người ta đưa ông lão về quê hương để yên nghỉ trong ngôi mộ của mình; thế là họ chuyển ông đi. Chẳng có ai tiễn đưa ông cả, bởi tất cả bạn bè ông đều đã khuất núi, chỉ còn cậu bé đứng đó vẫy tay từ biệt người bạn già khi thấy ông được khiêng đi.

Mấy hôm sau, ngôi nhà cũ tổ chức buổi đấu giá. Từ khung cửa sổ nhà mình, cậu bé nhìn thấy người ta khiêng đi hết thảy: những bức tranh hiệp sĩ và mệnh phụ xưa cũ, những chậu hoa có tai lừa, những chiếc ghế cổ và cả những cái tủ già nua. Mỗi món đồ một ngả. Riêng bức chân dung của nàng – bức tranh mua từ người bán đồ cũ – lại được trả về cửa hiệu của lão chủ cũ, và nó cứ nằm đó, bởi hình như chẳng ai nhận ra nàng là ai, cũng chẳng mảy may quan tâm đến bức họa xưa ấy nữa.

Vào mùa xuân, người ta bắt đầu phá dỡ ngôi nhà cũ. Ai nấy đều gọi nó là một đống đổ nát tan hoang. Từ ngoài phố, người ta có thể nhìn thấy căn phòng với những bức tường bọc da đã rách bươm, cùng cây xanh trên ban công lủng lẳng treo lơ lửng trên xà nhà. Họ phá hủy rất nhanh, bởi trông nó như sắp sập đến nơi, và cuối cùng mọi thứ đều bị dọn sạch bong.

“Thật nhẹ cả người,” những ngôi nhà bên cạnh thở phào.

Rồi một ngôi nhà mới xinh đẹp mọc lên, lùi sâu vào phía trong, cách xa con đường. Nó có những ô cửa sổ cao vời vợi và bức tường nhẵn bóng, nhưng ngay trước mặt, chính nơi ngôi nhà cũ từng đứng, một mảnh vườn nhỏ được vun trồng, với dây leo hoang dại bò kín bức tường nhà hàng xóm. Trước vườn là hàng rào sắt đồ sộ cùng cánh cổng lớn trông thật bệ vệ. Người qua đường thường dừng chân, tò mò nhìn lén qua khe rào.

Lũ chim sẻ tụ tập thành đàn trên những dây leo rậm rạp, cất tiếng hót ríu ran hết cỡ, nhưng chẳng bài ca nào nhắc về ngôi nhà xưa. Không một con chim nào còn nhớ đến nó nữa, bởi bao năm tháng đã trôi qua; nhiều đến nỗi cậu bé ngày nào giờ đã trở thành một người đàn ông, một người đàn ông tử tế thực sự, khiến cha mẹ cậu vô cùng tự hào. Anh vừa mới cưới vợ và cùng người vợ trẻ dọn về ngôi nhà mới với khu vườn phía trước. Giờ đây, anh đứng đó bên cạnh nàng khi cô trồng một đóa hoa dại mà cô cho là đẹp nhất. Cô tự tay vun trồng bằng đôi bàn tay nhỏ nhắn, dùng ngón tay ấn nhẹ đất xuống. “Trời ơi, cái gì thế này?” cô kêu lên khi có vật gì đó đâm vào tay. Từ lớp đất mềm mại, một thứ gì đó nhô lên.

Đó là – hãy nghĩ mà xem! – chính là chú lính chì, đúng là chú lính chì đã bị thất lạc trong căn phòng của ông lão và bị vùi lấp giữa đống củi mục cùng rác rưởi suốt bao ngày tháng, rồi cuối cùng chìm sâu xuống lòng đất, nơi chắc hẳn chú đã nằm đó biết bao năm trời. Người vợ trẻ cẩn thận lau chú lính chì, trước hết bằng chiếc lá xanh tươi, sau đó bằng chiếc khăn tay thơm phức nước hoa của nàng. Chú lính chì bỗng cảm thấy như vừa tỉnh lại sau một giấc ngủ dài mê mệt.

“Để anh xem nào,” chàng trai trẻ lên tiếng, nở nụ cười rồi lắc đầu nói: “Khó mà tin được đây là cùng một chú lính chì, nhưng nó khiến anh nhớ đến chuyện xảy ra với một trong những chú lính chì của anh thuở nhỏ.”

Rồi chàng kể cho vợ nghe về ngôi nhà cũ kỹ, về ông lão và về chú lính chì chàng đã gửi tặng vì nghĩ rằng ông lão cô đơn. Câu chuyện được kể lại sống động đến nỗi người vợ trẻ bỗng rưng rưng nước mắt vì thương cảm cho ngôi nhà xưa và ông lão cô độc.

“Có lẽ đây chính là chú lính chì đó,” cô gái nói, “em sẽ giữ gìn nó cẩn thận và luôn nhớ những câu chuyện anh kể. Nhưng một ngày nào đó, anh phải dẫn em đến thăm mộ của ông cụ nhé.”

“Anh không biết mộ ông ở đâu,” chàng trai đáp, “chẳng ai biết cả. Tất cả bạn bè của ông đều đã mất. Không còn ai chăm sóc ông hay viếng thăm ngôi mộ nữa, lúc đó anh chỉ là một đứa trẻ thôi.”

“Ôi, chắc hẳn ông đã cô đơn lắm,” cô gái thốt lên.

“Đúng vậy, cô đơn vô cùng,” chú lính chì bỗng lên tiếng, “nhưng thật tuyệt khi không bị người đời lãng quên.”

“Thật tuyệt làm sao!” một giọng nói vang lên ngay gần đó. Chỉ mình chú lính chì nhận ra tiếng nói ấy phát ra từ một mảnh da cũ rách nát đang đong đưa. Mảnh da đã bong hết lớp mạ vàng, trông xám xịt như đất ẩm, nhưng nó vẫn có quan điểm riêng và phát biểu rành rọt:

“Lớp mạ vàng rồi sẽ phai nhạt dần theo năm tháng và những cơn gió mưa khắc nghiệt,
Nhưng da thuộc thì vững bền; chẳng thứ gì sánh được với da đâu.”

Thế nhưng, chú lính chì nhất quyết không chịu tin vào những lời như vậy.

[Hình ảnh]

Bản quyền

Truyện Cổ Tích Hans Andersen - Tập Một Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.