"

2 TUK BÉ NHỎ

Tuk bé nhỏ! Cái tên nghe thật kỳ lạ! Nhưng đó không phải là tên thật của cậu bé. Tên thật của cậu là Carl; nhưng khi còn quá nhỏ, chưa nói năng rành rọt, cậu thường tự gọi mình là Tuk. Khó mà giải thích được tại sao, bởi cái tên này chẳng giống Carl tí nào; nhưng dù sao cũng chẳng quan trọng, miễn là mọi người hiểu đó là cậu.

Tuk bé nhỏ phải ở nhà trông em gái Gustava, cô bé còn nhỏ hơn cậu rất nhiều; đồng thời cậu cũng phải học bài. Hai việc ấy diễn ra cùng lúc, và chúng chẳng hề ăn nhập gì với nhau. Cậu bé tội nghiệp ngồi bế em trong lòng, hát cho em nghe tất cả những bài hát cậu thuộc, nhưng thỉnh thoảng lại liếc nhìn cuốn sách địa lý đang mở sẵn bên cạnh. Sáng mai, cậu phải thuộc lòng tên tất cả các thị trấn ở Seeland, và kể lại mọi điều cần biết về chúng.

Mẹ cậu bé cuối cùng cũng trở về, ôm lấy Gustava bé bỏng trong vòng tay. Tuk vội chạy ra bên cửa sổ, đọc sách say sưa đến nỗi mắt hoa lên – bởi trời đã xế chiều mà mẹ cậu lại chẳng có tiền mua nến thắp sáng.

“Kìa, bà lão giặt đồ đang lê bước trong ngõ đấy,” mẹ cậu thốt lên khi nhìn ra ngoài cửa sổ. “Bà ấy đi khập khiễng, khó nhọc quá, thật tội nghiệp. Giờ lại phải vác cả xô nước nặng từ giếng về. Tuk ngoan của mẹ, con chạy sang giúp bà ấy một tay được không?” Tuk bé nhỏ liền vội vã chạy sang, xách giúp bà lão chiếc xô nặng nề. Nhưng khi cậu quay lại phòng, trời đã tối đen như mực. Chẳng ai nhắc đến nến, và ước muốn cũng chẳng thay đổi được gì; cậu đành phải lên giường ngủ trên chiếc giường nhỏ bé của mình, vốn chỉ là một chiếc ghế dài cũ kĩ.

Cậu nằm đó, vẫn suy nghĩ về bài địa lý, về vùng Seeland, và tất cả những điều thầy giáo đã giảng. Cậu không thể đọc lại sách được, dù lẽ ra cậu phải làm thế, bởi chẳng có đèn chiếu sáng. Thế là cậu đặt cuốn sách địa lý xuống dưới gối. Có người đã bảo cậu rằng làm như vậy sẽ giúp ghi nhớ bài học một cách kỳ diệu, nhưng cậu chưa bao giờ thấy phương pháp ấy hiệu nghiệm cả.

Cậu cứ nằm đó suy nghĩ miên man, suy nghĩ không ngừng, cho đến khi bỗng nhiên cậu cảm nhận như có ai đó đang khẽ hôn lên mắt và môi mình. Cậu ngủ mà dường như chẳng ngủ, bởi cậu mơ hồ thấy ánh mắt dịu dàng, ấm áp của bà cụ giặt đồ đang nhìn mình chăm chú, và nghe tiếng bà thì thầm: “Thật đáng tiếc nếu ngày mai con không thuộc bài, Tuk bé bỏng ạ. Con đã giúp bà; giờ bà sẽ giúp lại con, và Chúa Trời sẽ phù hộ cho cả hai chúng ta.”

Bỗng nhiên, những trang sách khẽ xào xạc dưới đầu Tuk bé nhỏ, và cậu nghe thấy tiếng động lạch cạch phát ra từ dưới gối.

“Cục cục cục!” – một chú gà mái kêu lên khi bò đến gần cậu. (Nó từ thị trấn Kjöge tới.) “Ta là gà Kjöge đây” – nó tự giới thiệu. Rồi nó kể cho cậu nghe về dân số thị trấn nhỏ ấy, về trận chiến từng diễn ra nơi đó, mà giờ đây chẳng còn đáng nhắc tới nữa, bởi đã có bao điều vĩ đại hơn thế.

Chỉ trong nháy mắt, cậu đã ngồi vững trên lưng ngựa, và cứ thế phi nước đại, phi nước đại!

Cạp cạp! Lạch cạch! Giờ đây một con chim gỗ to lớn bỗng nhảy ùm xuống giường. Đó là chim bia từ sân bắn ở Præstö. Nó đã tính toán dân số Præstö, và phát hiện ra con số đó bằng đúng số móng vuốt trên người nó. Thật là một con chim kiêu hãnh. “Thorwaldsen từng sống ở góc Præstö ngay cạnh ta. Chẳng phải ta là một chú chim xinh đẹp, một chú chim bia vui vẻ hay sao?”

Giờ đây, cậu bé Tuk không còn nằm trên giường nữa. Trong nháy mắt, cậu đã ngồi vững trên lưng ngựa, và cứ thế phi nước đại, phi nước đại! Một hiệp sĩ lộng lẫy, đầu đội mũ sắt lấp lánh, chiếc lông vũ trên mũ bay phấp phới – một hiệp sĩ từ thời xa xưa – đang đỡ cậu ngồi vững trên yên ngựa. Hai người cùng nhau phi nước kiệu, xuyên qua khu rừng bao quanh thành phố cổ Vordingborg, và nơi này bỗng chốc hiện ra như một đô thị lớn nhộn nhịp thuở nào. Những ngọn tháp cao vút của lâu đài hoàng gia vươn thẳng lên trời xanh, ánh đèn từ các ô cửa sổ lấp lánh rực rỡ. Bên trong cung điện, tiếng nhạc du dương hòa cùng không khí tiệc tùng tưng bừng. Vua Waldemar đang dẫn các quý bà cung đình ra sàn nhảy, cùng nhau khiêu vũ thật say sưa.

Bỗng nhiên bình minh ló rạng, ánh đèn mờ dần đi, mặt trời nhô lên, những tòa nhà cao lớn dần tan biến, cuối cùng chỉ còn lại ngọn tháp cao chót vót đứng đó như dấu tích của tòa lâu đài hoàng gia ngày nào. Cả thành phố rộng lớn bỗng thu nhỏ lại thành một thị trấn nhỏ bé, tiều tụy. Lũ học trò tan lớp, kẹp cuốn sách địa lý dưới nách, bảo nhau: “Ở đây có hai ngàn dân cơ đấy!”; nhưng đó chỉ là lời khoác lác, bởi thị trấn này làm gì có được ngần ấy người.

Còn Tuk bé bỏng vẫn nằm trên giường. Cậu chẳng rõ mình đang mơ hay tỉnh, chỉ biết có ai đó đang đứng ngay bên cạnh mình.

“Tuk bé nhỏ ơi! Tuk bé nhỏ!” – một giọng nói vang lên; đó là giọng của một chàng thủy thủ trẻ tuổi. “Tớ đến đây để chuyển lời chào từ Korsör tới cậu đây. Korsör giờ là một thị trấn mới, một thị trấn nhộn nhịp sức sống, với những con tàu hơi nước và xe ngựa chở thư chạy suốt ngày. Ngày trước người ta vẫn coi nó là nơi tồi tàn, xấu xí, nhưng giờ thì đã khác xưa rồi.”

“Tôi sống bên bờ biển,” Korsör nói; “Tôi có những đại lộ rộng thênh thang và những khu vườn giải trí; tôi đã sinh ra một thi sĩ tài hoa, lại còn vô cùng hài hước nữa, điều này chẳng nhà thơ nào sánh bằng. Tôi từng ấp ủ ý định phái một con tàu chu du khắp thế giới; nhưng rồi lại thôi, dù thực ra tôi hoàn toàn có thể làm được. Cuộc sống nơi đây thật dễ chịu, ngay sát bến cảng; và tôi ngát hương thơm, bởi những đóa hồng kiều diễm nhất đua nở quanh tôi, ngay trước cổng thành.”

Cậu bé Tuk như ngửi thấy mùi hương hoa hồng và thấy rõ những đóa hoa cùng tán lá xanh mướt. Nhưng trong chớp mắt, tất cả đã tan biến; thay vào đó là rừng lá xanh um tùm, dày đặc – một khu rừng nguyên sinh bạt ngàn mọc lên giữa mặt vịnh lấp lánh ánh vàng, và trên nền rừng ấy vươn lên đôi tháp chuông nhọn hoắt của một thánh đường cổ kính nguy nga. Từ sườn đồi phủ thảm cỏ non, một mạch suối phun trào với dòng nước đủ sắc cầu vồng, tiếng róc rách vui tai như khúc nhạc du dương, và ngay bên suối có một đức vua đang ngự trị, mái tóc đen dài điểm vương miện vàng chói lọi. Đó chính là Vua Hroar của những dòng suối; và gần đấy là thị trấn Roskilde (Suối Hroar). Trên con đường lớn dẫn lên đồi, tất cả các vị vua và hoàng hậu Đan Mạch tay trong tay, đầu đội vương miện lấp lánh, từng đoàn tiến vào thánh đường, trong khi tiếng đàn organ trầm hùng hòa cùng điệu suối reo trong trẻo. Bởi hầu hết các đời vua chúa Đan Mạch đều yên nghỉ trong ngôi thánh đường tuyệt mỹ này. Và cậu bé Tuk đã được tận mắt chứng kiến, tận tai lắng nghe tất cả.

“Đừng quên các thị trấn nhé,” Vua Hroar nói.

Rồi tất cả biến mất; dù chúng đi đâu thì cậu không biết. Dường như là lật từng trang sách.

Và giờ, trước mặt cậu là một bà lão nông dân từ Sorö, thị trấn nhỏ yên tĩnh nơi cỏ mọc ngay giữa chợ. Chiếc tạp dề vải lanh màu xanh của bà trùm qua đầu và lưng, và chiếc tạp dề ướt sũng, như thể trời vừa mưa lớn.

“Đúng vậy đấy,” bà nói. Và bà kể rất nhiều điều hay ho từ các vở hài kịch của Holberg, và ngâm những bài ca dao về Waldemar và Absalon; vì Holberg đã thành lập một học viện ở quê nhà bà.

Bỗng nhiên bà khom người xuống và lắc lư đầu như thể một con ếch sắp nhảy. “Ộp!” bà kêu; “Ướt quá, lúc nào cũng ướt, và ở Sorö thì tĩnh lặng như tờ.” Bà đã biến thành ếch. “Ộp!” và rồi bà lại là một bà lão. “Người ta phải mặc đồ theo thời tiết,” bà nói.

“Ướt quá! Ướt quá! Quê hương tôi giống hệt một cái chai; người ta chui vào từ nút chai, và cũng phải chui ra từ nút chai. Ngày xưa chúng tôi có loài cá ngon nhất đời; giờ đây chúng tôi có những cậu bé hồng hào, tươi tắn dưới đáy chai. Ở đó chúng học đủ thứ – tiếng Hy Lạp, tiếng Hy Lạp, và cả tiếng Do Thái! Ộp!”

Nghe y như tiếng ếch kêu, hoặc như có ai đang lội bì bõm trên đầm lầy với đôi ủng nặng trịch. Giọng bà cứ đều đều, đơn điệu đến mức cậu bé Tuk thiếp đi lúc nào không hay; và đó là điều may mắn cho cậu.

Nhưng ngay trong giấc ngủ cũng hiện ra giấc mơ, hay bất cứ thứ gì người ta gọi như thế. Em gái Gustava bé bỏng của cậu, với đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng xoăn óng ả, đã trở thành thiếu nữ cao ráo, xinh đẹp, dù không có cánh nhưng vẫn bay lượn được; và thế là họ cùng nhau bay khắp vùng Seeland – qua những cánh rừng xanh thẳm và mặt hồ xanh biếc.

“Nghe đây! Con có nghe tiếng gà trống gáy không, Tuk bé bỏng? ‘Ò ó o!’ Chú gà đang bay từ Kjöge về đây, và rồi con sẽ có cả một nông trại, một sân gà rộng lớn, thật rộng lớn của riêng mình! Con sẽ chẳng bao giờ phải chịu cảnh đói khát hay thiếu thốn nữa. Chú ngỗng vàng, loài chim mang điềm lành, sẽ thuộc về con; con sẽ trở thành một người đàn ông giàu sang và hạnh phúc. Ngôi nhà của con sẽ vươn cao ngất như những tòa tháp của Vua Waldemar và sẽ được tô điểm lộng lẫy bằng những bức tượng đẹp như tác phẩm của Thorwaldsen ở Præstö.”

“Hãy ghi nhớ lời ta; tiếng thơm của con sẽ lan xa khắp thế gian, tựa như con tàu từng xuất phát từ Korsör, và ở Roskilde, con sẽ cất lời nói cùng đưa ra những lời khuyên sáng suốt, chính xác, Tuk bé nhỏ ạ, giống như Vua Hroar xưa kia; rồi khi cuối cùng con yên nghỉ trong ngôi mộ thanh bình, con sẽ ngủ yên lành như –”

“Giống như con đang ngủ ở Sorö vậy,” Tuk nói rồi tỉnh giấc. Một buổi sáng tươi sáng, cậu chẳng thể nhớ nổi giấc mơ đêm qua, nhưng điều ấy có quan trọng gì đâu. Đời người đâu cần biết trước mình sẽ được chứng kiến những gì.

Cậu vội vàng nhảy khỏi giường, tìm ngay cuốn sách vẫn nằm dưới gối. Lật giở trang sách, Tuk ngạc nhiên nhận ra mình đã thuộc làu tên các thị trấn.

Bà giặt đồ già thò đầu qua khung cửa, gật gù thân thiện: “Cảm ơn cậu bé ngoan của bà vì đã giúp đỡ hôm qua. Cầu Chúa ban cho con những giấc mơ tươi đẹp nhất trở thành hiện thực! Bà tin Người sẽ làm điều ấy.”

Chú bé Tuk không thể nhớ nổi mình đã mơ thấy những gì, nhưng điều ấy có hề gì đâu. Bởi trên kia, có Đấng Toàn Năng thấu hiểu tất cả.

[Hình minh họa]

Bản quyền

Truyện Cổ Tích Hans Andersen - Tập Một Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.