"

3 VỊT CON XẤU XÍ

Phong cảnh nông thôn lúc này thật tuyệt vời. Đang là mùa hè. Lúa mì trên cánh đồng ánh lên sắc vàng rực, yến mạch xanh mơn mởn, còn trên những bãi cỏ xanh tươi, cỏ khô được chất thành đống cao ngất. Một chú cò đi dạo giữa những đám cỏ ấy trên đôi chân dài màu đỏ, miệng không ngừng lẩm bẩm thứ tiếng Ai Cập mà nó đã học được từ mẹ.

Bao quanh những cánh đồng và bãi cỏ là những khu rừng rậm rạp, và giữa rừng có một cái hồ nước sâu. Ôi, nông thôn mới đẹp làm sao, thật là một nơi vui vẻ và yên bình!

Trong một góc đầy nắng ấm, có một trang trại cổ kính xinh xắn, xung quanh là những con mương sâu; từ chân tường cho đến mép nước, những cây ngưu bàng to lớn mọc um tùm, cao đến nỗi một đứa trẻ con cũng có thể đứng thẳng dưới những tán lá xòe rộng nhất. Nơi đây hoang sơ y như thể nằm giữa chốn rừng sâu vắng lặng.

Trong nơi ẩn náu ấm áp ấy, một chị vịt đang ngồi trên ổ, mong ngóng đàn con của mình chào đời; nhưng niềm vui ban đầu dần tan biến, chị cảm thấy việc chờ đợi thật mỏi mòn, bởi lũ vịt con mãi chẳng chịu phá vỏ, mà cũng chẳng mấy ai ghé thăm. Những cô vịt khác thích bơi lội trong mương nước hơn là trèo lên bờ đất trơn tuột để ngồi dưới tán lá ngưu bàng trò chuyện cùng chị. Ôi, thật là một khoảng thời gian dài đơn côi!

Rồi cuối cùng, một quả trứng nứt vỏ, tiếp ngay sau đó là quả thứ hai, và từ mỗi vỏ trứng vỡ ra, một sinh linh bé bỏng chui lên, ngóc đầu kêu lên “Chíp, chíp” ngọt ngào.

“Quạc, quạc!” vịt mẹ kêu lên; thế là tất cả đàn con cũng cố gêu theo hết sức có thể, trong khi chúng háo hức ngó nghiêng khắp nơi giữa những tán lá xanh cao ngất. Vịt mẹ cứ để mặc cho lũ con tha hồ ngắm nghía, bởi màu xanh ấy tốt cho đôi mắt của chúng lắm.

“Thế giới này rộng lớn biết bao,” những chú vịt con thốt lên, khi nhận ra mình được tự do hơn hẳn lúc còn nằm co ro trong vỏ trứng chật chội.

“Chẳng lẽ các con tưởng đó là cả thế gian sao?” vịt mẹ hỏi. “Hãy đợi đến khi các con được thấy khu vườn kia. Xa hơn nữa, nó còn trải dài tới cánh đồng của ông mục sư, dù mẹ chưa từng dám mạo hiểm đi xa đến thế. Thế nào, tất cả đã ra hết chưa?” nó vừa nói vừa đứng dậy nhìn lại ổ trứng. “Chưa, vẫn chưa xong đâu; quả trứng to nhất vẫn còn nguyên đấy, mẹ chắc chắn là thế. Không biết phải đợi đến bao giờ nữa. Mẹ bắt đầu thấy mệt mỏi lắm rồi;” nhưng dẫu vậy, nó vẫn kiên nhẫn ngồi xuống ấp tiếp.

“Chào cô, hôm nay cô thế nào?” một chị vịt già ghé thăm hỏi han.

“Tôi có một quả trứng cứng đầu lắm, ấp mãi mà chẳng chịu nở,” vịt mẹ hiền hậu đáp, vẫn kiên nhẫn nằm trên ổ. “Nhưng cô hãy ngắm mấy đứa nhỏ này xem. Chẳng phải tôi có một đàn con xinh xắn sao? Chúng là những chú vịt con đẹp đẽ nhất cô từng thấy đấy! Giống hệt cha chúng – cái gã vô tích sự! Chẳng bao giờ thèm ghé thăm chúng tôi.”

“Để tôi xem thử quả trứng cứng đầu ấy nào,” chị vịt già nói. “Tôi đánh cuộc đó là trứng gà lôi đấy. Tôi từng gặp chuyện tương tự một lần, thật phiền toái vô cùng, bởi lũ gà lôi con sợ nước kinh khủng. Tôi kêu quạc quạc, cục cục đủ kiểu mà chẳng ăn thua. Để tôi xem… Đúng rồi, tôi đoán không lầm đâu; đích thị là gà lôi đấy; thôi thì nghe tôi khuyên, cứ mặc kệ nó ở đó. Ra sông dạy mấy đứa nhỏ bơi lội đi là vừa.”

“Tôi nghĩ tôi sẽ ngồi thêm một chút nữa,” vịt mẹ nói. “Tôi đã ngồi lâu đến thế này rồi, thì thêm một hai ngày nữa cũng chẳng hề gì.”

“Ừ, cô muốn thế nào cũng được,” con vịt già đáp rồi đứng dậy bỏ đi.

Cuối cùng, quả trứng to cũng nứt vỡ, và chú vịt con cuối cùng kêu lên “Chíp, chíp” khi chui ra khỏi vỏ. Ôi, sao nó lại to lớn và xấu xí đến thế! Vịt mẹ chăm chú nhìn nó mà lòng đầy bối rối. “Thật lạ lùng,” nó nghĩ, “con vịt này sao lại khổng lồ thế, và chẳng giống một đứa nào cả. Hay nó là gà lôi nhỉ? Thôi, cứ đợi xem khi xuống nước – nó phải xuống nước thôi, dù có phải tôi tự tay đẩy nó xuống đi chăng nữa.”

Ngày hôm sau, thời tiết thật đẹp. Mặt trời tỏa ánh nắng rực rỡ trên những tán lá ngưu bàng xanh mướt, vịt mẹ dẫn đàn con ra bờ nước rồi phóng mình ùm xuống dòng nước. “Quạc! Quạc!” – nó cất tiếng gọi, và lũ vịt con lần lượt nhảy theo. Nước tràn ngập đầu chúng, nhưng chúng ngay lập tức nổi lên và bơi lội thật điệu nghệ, đôi chân nhỏ quẫy đều dưới làn nước một cách tự nhiên, nhịp nhàng. Ngay cả chú vịt con xám xịt xấu xí cũng đang bơi lội cùng đàn dưới nước.

“Ồ,” vịt mẹ thốt lên, “nó không phải gà lôi đâu. Hãy xem cách nó đạp chân điêu luyện thế kia, và dáng bơi thẳng tắp của nó! Nó là con của ta, và thực ra cũng không đến nỗi quá xấu nếu nhìn kỹ. Quạc! Quạc! Giờ thì theo mẹ nào. Mẹ sẽ dẫn các con đến chốn phồn hoa và giới thiệu các con với cả sân trại, nhưng phải luôn bám sát mẹ kẻo bị người ta giẫm phải; và nhất là phải coi chừng con mèo hung dữ kia.”

Khi chúng tới sân trại, một cuộc cãi vã ồn ào đang diễn ra; hai gia đình đang tranh giành một cái đầu lươn, rốt cuộc lại bị con mèo tha đi mất. “Các con thấy chưa, đời là thế đấy,” vịt mẹ nói, vừa mài mỏ vì chính bà cũng thèm cái đầu lươn ấy. “Giờ thì bước đi ngay ngắn, để mẹ xem các con cư xử thế nào. Nhớ cúi đầu thật lịch sự trước bà vịt già kia; bà ấy thuộc dòng dõi cao quý nhất ở đây, lại mang dòng máu Tây Ban Nha; vì thế địa vị rất cao. Không thấy bà ấy có dải vải đỏ buộc ở chân sao? Đó là dấu hiệu vô cùng trang trọng, một vinh dự hiếm có đối với loài vịt; chứng tỏ ai cũng muốn giữ bà ấy lại, và cả người lẫn vật đều trọng vọng. Nào, đừng có khép ngón chân lại thế; một chú vịt con lịch thiệp phải xòe rộng bàn chân ra, y như bố mẹ nó vậy, xem này; giờ cúi đầu xuống và nói ‘Quạc!’ đi.”

Những chú vịt con nghe lời dặn mà làm theo, nhưng đàn vịt cứ nhìn chòng chọc vào chúng rồi bảo: “Lại thêm một lũ nữa kìa – tưởng bọn mình chưa đủ đông hay sao? Trời đất ơi, có một con trông dị hợm quá! Chúng ta không cần nó ở đây!”. Thế rồi một con vịt xông tới mổ vào cổ nó.

“Để nó yên!” vịt mẹ bênh con. “Nó có làm gì hại ai đâu.”

“Ừ thì nó chẳng hại ai,” con vịt ác nghiệt đáp, “nhưng nó to xác mà lại xấu xí quá chừng. Trông ghê cả người! Đáng bị đuổi đi lắm. Mổ cho vài cái cũng chẳng sao.”

“Bọn còn lại đều xinh xắn cả,” bà vịt già có miếng vải quấn chân lên tiếng, “trừ mỗi đứa này. Ước gì mẹ nó sửa sang lại cho khá hơn chút. Trông chả ra thể thống gì cả.”

“Điều đó không thể được, thưa bà,” vịt mẹ đáp. “Nó không xinh, nhưng nó có tính nết rất tốt và bơi giỏi như những đứa khác, thậm chí còn giỏi hơn. Tôi nghĩ nó sẽ lớn lên xinh đẹp, và có thể sẽ nhỏ nhắn hơn. Nó đã nằm trong trứng lâu quá, nên hình dáng chưa được cân đối;” rồi bà vuốt ve cổ và chải lông cho chú vịt con, nói tiếp: “Nó là vịt đực, nên cũng chẳng sao. Tôi tin nó sẽ cứng cáp và biết tự lo cho mình.”

“Mấy đứa vịt con kia đã đủ xinh xắn rồi,” con vịt già nói. “Giờ cứ tự nhiên như ở nhà, nếu kiếm được đầu lươn thì mang đến cho tôi nhé.”

Và thế là chúng cảm thấy thoải mái như ở nhà; riêng chú vịt con đáng thương, kẻ nở ra cuối cùng và có vẻ ngoài xấu xí, lại bị mổ, bị xô đẩy và bị chế giễu không chỉ bởi đàn vịt mà bởi tất cả các loài gia cầm khác.

“Nó to xác quá,” tất cả cùng đồng thanh; trong khi đó, gà tây trống – sinh ra đã mang cựa và tự xưng là bậc đế vương – phồng ngực lên như cánh buồm căng gió rồi xông thẳng vào chú vịt con. Cái đầu nó đỏ lừ vì phẫn nộ, khiến chú vịt con tội nghiệp chẳng biết trốn đi đâu, chỉ cảm thấy vô cùng khốn khổ vì ngoại hình quá thô kệch của mình đã trở thành trò cười cho cả khu trang trại.

Ngày lại ngày trôi qua, mọi chuyện càng trở nên tồi tệ hơn. Chú vịt con đáng thương bị mọi người hắt hủi; ngay cả anh chị em ruột thịt cũng hành xử tàn nhẫn với nó, mắng nhiếc: “Đồ xấu xí, phải chi mày bị mèo tha đi cho rồi”. Người ta còn nghe thấy vịt mẹ thở than rằng giá như nó chẳng bao giờ chào đời. Những con vịt khác mổ vào người nó, lũ gà đá nó túi bụi, còn cô gái cho ăn thì dùng chân đá nó một cái.

Cuối cùng, nó đành bỏ trốn, khiến đàn chim nhỏ trong bụi rậm hoảng sợ khi thấy nó vụt bay qua hàng rào gỗ. “Chúng sợ hãi vì mình quá xấu xí”, nó thì thầm. Thế là nó tiếp tục bay mãi, bay mãi, cho tới khi tới được một vùng đầm lầy rộng lớn nơi bầy vịt trời sinh sống. Nó nằm co ro suốt đêm ở đó, lòng tràn ngập nỗi buồn khôn tả.

Sáng hôm sau, khi đàn vịt trời cất cánh bay lên trời, chúng đổ dồn ánh mắt tò mò vào người bạn mới. “Mày thuộc giống vịt gì thế?” cả bọn đồng thanh hỏi, vây kín xung quanh nó.

Chú vịt con cúi đầu chào đám bạn một cách lịch sự nhất có thể, nhưng nó chẳng đáp lại câu hỏi của chúng. “Mày xấu xí quá thể,” lũ vịt trời nhận xét; “nhưng cũng chẳng sao, miễn là mày đừng dại dột mà cưới ai trong họ hàng nhà chúng tao.”

Thật tội nghiệp! Nó nào có nghĩ đến chuyện kết đôi làm gì; điều duy nhất nó mong ước là được nép mình giữa đám lau sậy, thỉnh thoảng nhấp vài ngụm nước đầm lầy. Sau hai ngày lênh đênh nơi đây, bỗng xuất hiện hai chú ngỗng trời – đúng hơn là ngỗng non, vì chúng vừa mới chào đời chưa lâu, nên tính tình còn rất hỗn xược.

“Này, anh bạn,” một con lên tiếng với vịt con; “mày xấu đến mức chúng tao thấy mày thú vị đấy. Muốn đi cùng bọn tao làm chim di trú không? Gần đây có một đầm lầy khác, nơi mấy cô ngỗng trời còn độc thân đang sinh sống. Đây là cơ hội vàng để mày kiếm vợ đó. Dù gì đi nữa, mày vẫn có thể đổi đời, bất chấp ngoại hình xấu xí của mày.”

“Đoàng, đoàng,” tiếng súng nổ vang trong không trung, hai chú ngỗng trời gục xuống giữa đám lau sậy, dòng nước nhuốm màu đỏ thẫm. “Đoàng, đoàng,” tiếng súng tiếp tục dội vang xa, khiến cả đàn ngỗng trời hoảng loạn bay vút lên từ đám sậy rậm.

Tiếng súng liên hồi vang lên từ khắp các hướng, bởi lũ thợ săn đã giăng vây kín đầm lầy, có kẻ còn trèo lên ngọn cây cao rình rập phía dưới. Làn khói xanh từ những khẩu súng bốc lên tựa màn sương mỏng giữa những tán cây âm u, khi giạt qua mặt nước, bầy chó săn xông xáo xé toạc đám lau sậy, khiến chúng oằn mình rạp xuống mỗi lần chúng lướt qua. Ôi chao, chú vịt con tội nghiệp run rẩy biết bao! Nó vội vã rụt đầu vào dưới đôi cánh nhỏ bé, và ngay khoảnh khắc ấy, một con chó săn to lớn, dữ tợn sải bước đến sát bên nó. Cái mõm nó há rộng, chiếc lưỡi đỏ lè ra khỏi hàm, đôi mắt trợn trừng đầy vẻ hung ác. Nó dí mũi sát vào người chú vịt con, phô ra hàng răng nanh sắc nhọn, rồi đột ngột “tõm, tõm” lao xuống làn nước, bỏ lại chú vịt con nguyên vẹn.

“Ôi,” chú vịt con thở dài, “mình thật may mắn vì ngoại hình xấu xí; đến cả chó cũng chẳng thèm cắn mình.”

Rồi nó nằm im bất động, trong khi tiếng đạn xé gió xuyên qua đám sậy, tiếng súng nổ vang liên hồi phía trên đầu. Mãi tới chiều tà mọi thứ mới lắng xuống, nhưng ngay cả lúc ấy, chú vịt con đáng thương vẫn chẳng dám nhúc nhích. Nó kiên nhẫn chờ đợi thêm vài giờ nữa, sau khi đã quan sát kỹ lưỡng xung quanh, mới vội vàng bỏ chạy khỏi đầm lầy nhanh nhất có thể. Nó phóng qua những cánh đồng và bãi cỏ cho tới khi cơn giông ập tới, khiến nó gần như không thể chống chọi nổi.

Khi hoàng hôn buông xuống, nó tới được một túp lều tồi tàn trông như sắp đổ sập, chỉ còn đứng vững được là vì nó chưa quyết định sẽ nghiêng về phía nào trước. Cơn bão vẫn tiếp tục dữ dội đến mức chú vịt con không thể đi xa hơn. Nó ngồi nép bên bức tường lều, rồi chợt nhận ra cánh cửa không đóng kín do một bản lề đã gãy. Có một khe hở nhỏ phía dưới đủ rộng để nó chui lọt, thế là nó khẽ khàng lách qua, tìm được chỗ trú qua đêm.

Trong căn lều này có một bà lão, một con mèo và một con gà mái. Con mèo – được bà chủ gọi bằng cái tên “Cục cưng của mẹ” – là vật cưng được cưng chiều nhất; nó có thể cong lưng, kêu gừ gừ, thậm chí còn phát ra tia lửa từ bộ lông nếu bị vuốt ngược chiều. Con gà mái có đôi chân ngắn cũn, nên được đặt tên là “Gà Chân Ngắn”. Nó đẻ trứng rất đều, nên bà chủ yêu quý nó như con đẻ. Sáng hôm sau, vị khách lạ bị phát hiện; con mèo bắt đầu gừ gừ còn con gà mái kêu cục ta cục tác.

“Tiếng gì thế nhỉ?” bà lão lẩm bẩm, đảo mắt khắp căn phòng. Nhưng đôi mắt bà đã mờ kém; thế nên khi trông thấy chú vịt con, bà tưởng đó hẳn là một con vịt béo tốt nào lạc đàn. “Ôi của trời cho!” bà reo lên. “Mong sao nó chẳng phải vịt trống, không thì ta mất mẻ trứng vịt ngon lành. Phải chờ xem đã.”

Thế là chú vịt con được phép ở lại thử nghiệm ba tuần lễ, nhưng chẳng thấy quả trứng nào đâu cả.

Lúc này, con mèo làm chủ nhà, còn cô gà mái đóng vai bà chủ; chúng luôn miệng nói: “Chúng ta và thế giới”, bởi chúng tin rằng mình là một nửa thế giới, lại là nửa tuyệt vời hơn hẳn. Chú vịt con thì nghĩ rằng có lẽ người khác sẽ không đồng tình thế, nhưng cô gà mái nhất quyết không chịu nghe những ý kiến trái chiều ấy.

“Ngươi biết đẻ trứng không?” nó hỏi.

“Không.”

“Thế thì im đi cho rồi.”

“Ngươi biết cong lưng, gừ gừ, hay phun lửa không?” con mèo hỏi tiếp.

“Không.”

“Thế thì đừng có hòng chen vào khi người khôn ngoan đang trò chuyện.”

Chú vịt con lủi vào góc, lòng nặng trĩu nỗi buồn. Nhưng khi ánh mặt trời ấm áp cùng làn gió trong lành ùa qua khe cửa mở, trong lòng chú bỗng dâng lên niềm khát khao được bơi lội mãnh liệt đến mức không thể kìm lòng được nữa.

“Đồ ngốc bày đặt!” con gà mái quát lên. “Ngươi rảnh quá nên mới sinh ra mấy ý nghĩ viển vông thế! Giá ngươi biết gừ gừ hay đẻ trứng thì đã chẳng còn thời gian mà nghĩ linh tinh nữa đâu.”

“Nhưng được bơi lội trên mặt nước mới thú vị làm sao,” chú vịt con nói, “và thật khoan khoái khi cảm nhận làn nước tràn ngập đầu mình lúc lặn sâu xuống đáy.”

“Thú vị ư? Chắc hẳn đó phải là một thứ niềm vui quái lạ,” gà mái càu nhàu. “Trời đất ơi, ngươi hẳn là mất trí rồi! Cứ thử hỏi con mèo xem – nó là sinh vật khôn ngoan nhất mà ta từng biết; xem nó có thích bơi lội hay chìm nghỉm dưới nước không, vì ta chẳng buồn nói ý kiến của mình nữa. Thử hỏi bà chủ già của chúng ta xem; cả thế gian này chẳng ai sáng suốt bằng bà ấy đâu. ngươi tưởng bà ấy sẽ thích rong ruổi dưới nước hay để cho sóng nước trùm lên đầu chăng?”

“Tôi thấy các bạn chẳng hiểu tôi chút nào,” chú vịt con buồn bã nói.

“Bọn ta không hiểu ngươi? Ai mà hiểu nổi cái thứ như ngươi chứ? ngươi tưởng ngươi khôn hơn cả con mèo với bà chủ nhà này sao? – Ta chưa nói gì đến bản thân ta đấy nhé. Đừng có ảo tưởng mấy cái vớ vẩn ấy, thằng nhóc, mà nên biết ơn vì cái phước được ở đây. ngươi chẳng phải đang sống trong căn phòng ấm cúng, được giao lưu với xã hội để học hỏi hay sao? Nhưng ngươi lắm mồm quá, ở đây chẳng ai ưa đâu. Tin ta đi, tao nói thế là vì thương ngươi đấy. Ta có thể nói thẳng những lời khó nghe, nhưng đó chính là bằng chứng của tình bạn chân thành. Vì thế, ta khuyên ngươi hãy tập đẻ trứng và học cách gừ gừ cho nhanh vào đi.”

“Tôi tin rằng mình phải ra ngoài thế giới một lần nữa,” chú vịt con nói.

“Ừ, cứ đi đi,” con gà mái đáp. Thế là chú vịt con rời khỏi ngôi nhà và chẳng bao lâu sau tìm thấy một vũng nước để bơi lội, lặn ngụp, nhưng tất cả những con vật khác đều tránh xa nó vì vẻ ngoài xấu xí của chú.

Mùa thu tới, lá trong rừng chuyển màu cam và vàng; rồi khi mùa đông đến gần, gió thổi bay những chiếc lá đang rơi, cuốn chúng xoáy trong không khí lạnh lẽo. Những đám mây nặng trĩu mưa đá và tuyết trắng, sà thấp xuống bầu trời, trong khi con quạ đứng giữa đám lau sậy, kêu lên “Quạ, quạ.” Chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến người ta rùng mình vì lạnh. Tất cả những điều này thật đáng buồn cho chú vịt con tội nghiệp.

Một buổi chiều tà, khi mặt trời dần khuất sau những tầng mây rực rỡ, từ bụi rậm bỗng vút lên một đàn chim tuyệt đẹp. Chú vịt con chưa từng thấy loài chim nào như thế bao giờ. Đó là những chú thiên nga – chúng cong cổ một cách kiêu sa, bộ lông mềm mại tỏa ánh trắng lấp lánh. Chúng cất tiếng gọi lạ lùng khi xòe đôi cánh rộng, bay về phương Nam ấm áp bên kia đại dương. Càng lúc chúng càng vút cao, khiến chú vịt con xấu xí trào dâng cảm xúc khó tả. Nó xoay tròn trong nước như chiếc bánh xe, vươn cổ dài theo hướng những chú chim ấy, bật lên tiếng kêu khiến chính nó cũng giật mình. Làm sao nó có thể quên được hình ảnh những chú chim hạnh phúc, xinh đẹp kia chứ? Khi bóng chim đã khuất hẳn, nó lao xuống nước rồi lại trồi lên, gần như điên cuồng vì xúc động. Nó chẳng biết tên loài chim ấy, cũng chẳng rõ chúng bay về đâu, nhưng trái tim nó run lên một thứ tình cảm chưa từng dành cho bất kỳ loài chim nào khác trên đời.

Nó chẳng hề ghen tị với những sinh vật xinh đẹp kia; nó chưa từng mơ ước mình cũng xinh đẹp như chúng. Chú vịt con xấu xí tội nghiệp ấy, nó sẽ hạnh phúc biết bao nếu được sống cùng đám vịt kia, chỉ cần chúng đối xử tử tế và cho nó chút động viên.

Trời mùa đông ngày càng buốt giá; nó buộc phải bơi liên tục để ngăn nước đóng băng, nhưng mỗi đêm khoảng nước nó bơi lại thu hẹp dần. Cuối cùng, mặt hồ đóng băng cứng đến nỗi lớp băng kêu răng rắc dưới mỗi chuyển động của nó, chú vịt con phải dùng hết sức đạp chân để giữ cho khoảng nước nhỏ bé không bị đóng kín hoàn toàn. Rồi nó kiệt sức, nằm bất động, bị lớp băng lạnh giá khóa chặt cứng.

Vừa tảng sáng, một bác nông dân đi qua trông thấy cảnh tượng ấy. Bác lấy chiếc guốc gỗ đập vỡ lớp băng ra từng mảnh, rồi bế chú vịt con tội nghiệp về nhà giao cho vợ. Hơi ấm trong nhà khiến chú chim nhỏ dần tỉnh lại; nhưng khi lũ trẻ con xúm lại định chơi đùa, chú vịt tưởng chúng muốn hại mình, liền giật thót người, hoảng sợ vỗ cánh nhảy bổ vào chảo sữa khiến sữa bắn tóe khắp gian bếp. Thấy vậy, người đàn bà vỗ tay đánh đét, càng làm chú sợ hãi hơn. Nó lại lao đầu vào thùng bơ, rồi lăn vào cả thùng bột mới bay ra ngoài. Trông nó lúc ấy thật thảm hại biết bao! Người phụ nữ quát tháo ầm ĩ, tay cầm chiếc kẹp lửa đuổi đánh; lũ trẻ thì cười ré lên, xô đẩy nhau giành phần bắt nó, may thay chú vịt đã kịp thoát thân. Cánh cửa hé mở; sinh vật bé bỏng vội lách mình qua bụi rậm, nằm vật ra đó, kiệt sức giữa lớp tuyết trắng vừa rơi.

Thật đáng buồn nếu phải kể lại hết những gian khổ và thiếu thốn mà chú vịt con đáng thương đã trải qua trong mùa đông khắc nghiệt ấy. Nhưng khi mùa đông qua đi, vào một buổi sáng, chú thấy mình đang nằm giữa đầm lầy, giữa những khóm sậy xanh. Ánh mặt trời ấm áp chiếu xuống, tiếng chim sơn ca véo von vang lên, và chú nhận ra mùa xuân tươi đẹp đã tràn ngập khắp nơi.

Bỗng chú cảm thấy đôi cánh mình trở nên mạnh mẽ lạ thường. Khi vỗ cánh, chú bất ngờ bay vút lên bầu trời. Đôi cánh đưa chú đi xa, và trước khi kịp nhận ra điều gì đang xảy ra, chú đã đứng trong một khu vườn rộng lớn. Những cây táo đang khoe sắc hoa rực rỡ, những bụi cơm cháy tỏa hương thơm ngát, những cành lá xanh mướt uốn mình xuống dòng suối trong vắt uốn quanh thảm cỏ xanh mượt. Tất cả đều tươi tắn trong sắc xuân mơn mởn. Từ bụi cây gần đó, ba chú thiên nga trắng muốt xinh đẹp xuất hiện, xù lông và bơi lướt nhẹ nhàng trên mặt nước phẳng lặng. Nhìn thấy những chú chim kiều diễm ấy, chú vịt con bỗng cảm thấy một nỗi buồn kỳ lạ, nỗi bất hạnh chưa từng thấy trỗi dậy trong lòng.

“Ta sẽ bay đến với những chú chim cao quý kia,” nó thốt lên, “và chúng sẽ giết ta vì dám đến gần dù ta xấu xí thế này. Nhưng chẳng sao cả; thà chết bởi chúng còn hơn bị lũ vịt mổ, bị đàn gà đá, bị cô gái chăn nuôi xua đuổi, hay chết đói giữa mùa đông lạnh giá.”

Thế rồi nó lao xuống mặt nước, bơi về phía đàn thiên nga lộng lẫy. Vừa trông thấy kẻ lạ mặt, những chú chim kiêu hãnh liền xoè cánh rộng, vội vã bơi đến đón nó.

“Hãy giết tôi đi,” chú chim tội nghiệp thì thào, cúi gằm đầu xuống làn nước trong vắt, im lặng chờ đợi cái chết.

Nhưng điều gì đã hiện ra dưới mặt hồ phản chiếu kia? Một hình ảnh không còn là chú chim xám xịt xấu xí, mà là một thiên nga thanh thoát, duyên dáng đến ngỡ ngàng!

Sinh ra trong một cái tổ vịt ở nông trại chẳng có ý nghĩa gì đối với một chú chim nếu nó nở ra từ quả trứng thiên nga. Giờ đây, nó cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì đã trải qua bao nỗi buồn và gian khó, bởi chính những thử thách ấy đã giúp nó biết trân trọng hơn gấp bội mọi niềm vui và hạnh phúc đang hiện hữu quanh mình. Những chú thiên nga trưởng thành bơi đến vây quanh vị khách mới, dùng chiếc mỏ thanh thoát vuốt ve cổ nó như lời chào đón nồng nhiệt nhất.

Trong khu vườn lúc ấy, mấy đứa trẻ đang chơi đùa. Chúng ném những mẩu bánh mì và bánh ngọt xuống mặt nước lấp lánh.

“Xem kìa!” đứa bé nhất reo lên, “có một chú thiên nga mới kìa!”. Những đứa trẻ còn lại cũng vui mừng khôn xiết, chúng chạy ùa về phía bố mẹ, nhảy cẫng lên vỗ tay hò reo: “Thêm một chú thiên nga nữa đã đến! Một chú thiên nga mới đã tới rồi!”.

Chúng liền ném thêm bánh mì và bánh ngọt xuống nước, vừa nói: “Con vịt mới đến là đẹp nhất trong tất cả, trông nó thật trẻ trung và xinh xắn làm sao!” Những chú thiên nga già cũng cúi đầu chào nó.

Nó cảm thấy vô cùng ngượng ngùng, vội rụt đầu vào dưới đôi cánh, chẳng biết phải ứng xử thế nào – nó quá đỗi hạnh phúc, nhưng không hề sinh lòng kiêu ngạo. Ngày trước, nó từng bị đối xử tệ bạc, bị chê bai vì vẻ ngoài xấu xí, vậy mà giờ đây mọi người đều công nhận nó là chú chim đẹp nhất. Ngay cả bụi cây cơm cháy cũng nghiêng cành chạm mặt nước như đang vái chào, ánh mặt trời ấm áp chan hòa tỏa sáng. Nó rùng mình xù lông, ngẩng cao chiếc cổ thon dài uyển chuyển, cất tiếng kêu vang đầy hoan hỉ từ tận đáy tim: “Ta chưa từng dám mơ tới hạnh phúc như thế này khi còn là chú vịt con xấu xí bị mọi người khinh rẻ!”

Bản quyền

Truyện Cổ Tích Hans Andersen - Tập Một Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.