CHƯƠNG V. HÒN ĐẢO CÓ THẬT
Cả hòn đảo Neverland bỗng bừng tỉnh, nhận ra Peter đang trên đường trở về. Đáng lẽ phải dùng thì quá khứ hoàn thành và viết “đã bừng tỉnh”, nhưng “bừng tỉnh” nghe xuôi tai hơn, và Peter luôn nói thế.
Khi Peter vắng mặt, mọi thứ trên đảo Neverland thường chìm trong tĩnh lặng. Những nàng tiên ngủ nướng thêm một giờ mỗi sáng, muông thú chăm bẵm con non, bộ lạc da đỏ ăn uống no nê suốt sáu ngày sáu đêm, còn khi lũ cướp biển và bọn trẻ đi lạc chạm mặt nhau, chúng chỉ nhằn móng tay cái để hù dọa lẫn nhau. Nhưng khi Peter xuất hiện – kẻ ghét cay ghét đắng sự ì ạch – cả hòn đảo bỗng hồi sinh: giờ đây, nếu bạn áp tai xuống đất, bạn sẽ nghe thấy cả hòn đảo đang rạo rực nhịp sống.
Đêm nay, các thế lực chính trên đảo được sắp xếp như sau. Những đứa trẻ đi lạc đang truy tìm Peter, bọn cướp biển rượt đuổi lũ trẻ lạc, người da đỏ săn lùng bọn cướp biển, trong khi muông thú lại đuổi theo người da đỏ. Tất cả đều di chuyển quanh hòn đảo như một vòng tròn khép kín, nhưng chẳng bên nào gặp được bên nào bởi tốc độ của chúng đều ngang bằng nhau.
Tất cả đều khát máu, ngoại trừ lũ trẻ; dù thường ngày chúng cũng thích chuyện đổ máu, nhưng đêm nay chúng ra đi chỉ để đón chào thủ lĩnh của mình. Số lượng trẻ con trên đảo luôn biến động, tất nhiên rồi, tùy vào việc chúng bị giết hại hay những tai nạn khác; và khi có đứa nào trông đã lớn quá mức – vi phạm vào quy định – Peter sẽ “tỉa bớt” chúng đi. Hiện giờ có sáu đứa, tính cả cặp Sinh đôi là hai. Giờ hãy tưởng tượng chúng ta đang nằm giữa những khóm mía đường, lặng lẽ quan sát bọn trẻ lần lượt bò qua, mỗi đứa tay nắm chặt con dao găm sáng loáng.
Peter nghiêm cấm bọn trẻ bắt chước mình dù chỉ một chi tiết nhỏ nhất, và chúng phải khoác lên mình bộ da gấu do chính tay chúng săn được. Trong những bộ lông thú ấy, chúng tròn trịa, xù xì đến nỗi mỗi khi ngã là lăn quay vòng vòng. Nhờ thế mà đôi chân chúng trở nên cứng cáp lạ thường.
Tootles là đứa đầu tiên bước qua, dũng cảm chẳng kém ai nhưng lại là chàng trai kém may mắn nhất trong số những kẻ gan dạ ấy. Cậu bé ít được tham gia vào các cuộc phiêu lưu hơn hẳn bạn bè, bởi cứ mỗi khi cậu rẽ qua góc phố là những chuyện lớn lại xảy ra ngay lúc ấy; khi mọi thứ yên ắng, cậu tranh thủ đi nhặt vài cành củi khô, thế mà quay lại thì đám bạn đã dọn dẹp xong cảnh máu me tanh tưởi. Số phận hẩm hiu đã khắc lên gương mặt cậu chút buồn mơ hồ, nhưng thay vì khiến tâm tính trở nên chua chát, nó lại làm dịu đi, biến cậu thành đứa trẻ khiêm nhường nhất bọn. Tootles tội nghiệp, hiền lành ơi, đêm nay hiểm nguy đang rình rập cậu đấy. Hãy thận trọng kẻo cuộc phiêu lưu đang vẫy gọi kia sẽ đẩy cậu vào nỗi sầu thảm nhất. Tootles à, nàng tiên Tink – kẻ đang nuôi dưỡng ý đồ xấu xa đêm nay – đang tìm kiếm một công cụ, và nàng ta cho rằng cậu chính là đứa trẻ dễ bị lừa gạt nhất. Hãy đề phòng Tinker Bell!
Giá mà em có thể nghe thấy chúng ta, nhưng chúng ta đâu thật sự ở trên đảo, còn em thì cứ thế đi ngang qua, cắn vào đốt ngón tay mình.
Sau đó là Nibs, vui tươi và dí dỏm, rồi đến Slightly, kẻ tự tạo ra những chiếc sáo từ cành cây và say sưa nhảy múa theo điệu nhạc do chính mình thổi. Slightly là đứa tự phụ nhất trong bọn. Em tự cho rằng mình còn nhớ những ngày trước khi bị lạc, cùng với lối cư xử và tập tục thời đó, điều này khiến cái mũi của em cứ nghếch lên một cách khó ưa. Thứ tư là Curly, một đứa hay gây rắc rối, đã nhiều lần phải đứng ra nhận tội khi Peter nghiêm giọng hỏi: “Đứa nào làm chuyện này, bước ra”, đến nỗi giờ đây hễ nghe mệnh lệnh đó là em tự động bước ra dù có phải do mình làm hay không. Cuối cùng là Cặp Sinh đôi, chúng tôi chẳng thể nào miêu tả được vì chắc chắn sẽ nhầm lẫn giữa hai đứa. Peter chưa bao giờ hiểu sinh đôi thực sự là gì, và cả nhóm không được phép biết bất cứ điều gì mà Peter không biết, thế nên hai đứa này luôn mơ hồ về chính mình, cố gắng hết sức để làm vừa lòng bằng cách đứng sát vào nhau với vẻ hơi ngượng ngùng.
Bọn trẻ biến mất vào trong bóng tối, và chỉ một lát sau – bởi mọi chuyện trên đảo luôn diễn ra chóng vánh – bọn cướp biển đã lần theo dấu vết của chúng. Ta nghe thấy tiếng chúng trước khi nhìn thấy, và như thường lệ, đó là bài ca ghê rợn quen thuộc:
“Buộc chặt dây neo, yo ho, bẻ lái,
Ta là lũ cướp biển tung hoàng,
Nếu đạn bay chia lìa bạn hữu,
Ắt hẵn gặp lại dưới suối vàng!”
Chưa từng có băng cướp nào trông hung ác đến thế mà vẫn còn sống sót để bị treo cổ ở bến Hành hình. Dẫn đầu là Cecco, gã Ý điển trai, thỉnh thoảng lại cúi xuống đất lắng nghe, hai cánh tay lực lưỡng để trần, đôi bông tai bằng đồng bát xu lủng lẳng. Chính hắn đã dùng máu khắc tên mình lên lưng viên cai ngục ở Gao. Theo sau là gã da đen đồ sộ đã đổi tên nhiều lần kể từ khi bỏ cái tên mà các bà mẹ da màu thường dọa con cái dọc bờ sông Guadjo-mo. Kế đó là Bill Jukes, người đàn ông phủ kín hình xăm, từng bị Flint quất ba mươi sáu roi trên tàu Walrus trước khi chịu nhả túi tiền moidores; rồi đến Cookson, kẻ được đồn là anh em với Black Murphy (dù chẳng ai chứng minh được); Gentleman Starkey, cựu giáo viên trường công vẫn giữ nét thanh lịch khi chém giết; Skylights (gã Skylights trong băng Morgan); Smee, thủy thủ Ireland hiền lành khác thường, có thể đâm người mà chẳng hề ác ý, cũng là tên nô bộc duy nhất trong đoàn của Hook; Noodler với đôi tay mọc ngược; Robt. Mullins và Alf Mason cùng vô số tên côn đồ khác đã gieo rắc kinh hoàng khắp vùng biển Caribbean từ lâu đời.
Giữa bọn hải tặc ấy, gã đen đúa và cao lớn nhất trong đám người hung dữ kia chính là thuyền trưởng James Hook, hay như hắn thường ký tên, Jas. Hook. Người ta đồn rằng hắn là kẻ duy nhất khiến gã Đầu Bếp Biển Cả phải run sợ. Hắn nằm thong dong trên chiếc xe gỗ thô kệch do đám thuộc hạ kéo đẩy, thay vì bàn tay phải là chiếc móc sắt mà hắn thỉnh thoảng lại quất vào lưng bọn chúng để thúc giục. Hắn đối xử với chúng như chó săn, và chúng cũng phục tùng hắn như chó ngoan.
Dáng người hắn gầy guộc, nước da sạm đen, mái tóc xoăn dài như những ngọn nến đen, khiến khuôn mặt ưa nhìn của hắn mang vẻ đe dọa khác thường. Đôi mắt xanh biếc như hoa lưu ly thường chất chứa nỗi buồn thăm thẳm, trừ khi hắn giơ móc sắt ra đâm bạn – lúc ấy, hai chấm đỏ lóe lên trong mắt, khiến chúng rực sáng một cách ghê rợn. Cử chỉ của hắn vẫn phảng phất nét quý tộc, đến mức ngay cả khi đâm bạn, hắn vẫn làm điều đó với vẻ lịch lãm. Người ta kể rằng hắn là một tay kể chuyện có hạng. Hắn càng lịch sự bao nhiêu, lại càng trở nên tàn nhẫn bấy nhiêu – có lẽ đó mới là thước đo thật sự cho sự giáo dục của một tên cướp biển. Ngay cả khi chửi rủa, giọng điệu của hắn vẫn sang trọng, phong thái khác biệt hẳn so với đám thủy thủ thô lỗ, chứng tỏ hắn chẳng giống bọn chúng.
Hắn là kẻ có lòng dũng cảm không gì khuất phục nổi, nhưng người ta đồn rằng hắn chỉ sợ một thứ – nhìn thấy máu của chính mình, thứ máu đặc quánh và có màu sắc kỳ lạ. Trang phục của hắn phảng phất phong cách thời vua Charles II, bởi hắn từng nghe đồn rằng mình có nét giống những vị vua nhà Stuart đầy tai ương. Trong miệng hắn lúc nào cũng ngậm một dụng cụ tự chế, cho phép hắn hút hai điếu xì gà cùng lúc. Nhưng thứ đáng sợ nhất trên người hắn, không gì khác ngoài chiếc móc sắt.
Giờ hãy cùng chứng kiến cách Hook xử lý một tên cướp biển để hiểu thủ đoạn của hắn. Skylights sẽ là nạn nhân. Khi đoàn người đi qua, Skylights loạng choạng vô tình đâm phải hắn, làm bẩn chiếc cổ áo ren kiêu sa. Trong chớp mắt, chiếc móc sắt vung ra – một tiếng xé thịt chói tai, một tiếng thét kinh hoàng, xác hắn bị đá văng sang lề đường, trong khi bọn cướp biển mặt lạnh như tiền tiếp tục hành quân. Điều kinh khủng là hắn thậm chí chẳng buồn nhả điếu xì gà đang ngậm.
Đó chính là kẻ thù đáng gờm mà Peter Pan phải đương đầu. Ai sẽ là người chiến thắng?
Theo sau dấu chân bọn cướp biển, lặng lẽ luồn lách trên con đường chiến tranh vô hình với kẻ ngoài cuộc, là đoàn thổ dân da đỏ với ánh mắt dò xét. Tay họ nắm chặt rìu chiến và dao găm, thân hình trần trụi bóng loáng dưới lớp sơn và mỡ thú. Những chiếc da đầu lủng lẳng quanh hông – của cả trẻ con lẫn cướp biển – bởi đây là bộ lạc Piccaninny tàn bạo, chẳng giống những tộc Delaware hay Huron nhút nhát. Đi đầu hàng, bò bằng bốn chi, là Đại Tù Trưởng Little Panther – chiến binh với thành tích lấy da đầu nhiều đến mức chúng cản trở bước chân ông khi di chuyển. Ở vị trí cuối cùng nguy hiểm nhất, Tiger Lily đứng thẳng kiêu hãnh – nàng công chúa bản địa. Nàng là tuyệt sắc giai nhân giữa những nữ thần săn bắn da nâu, đóa hoa kiêu sa của bộ lạc Piccaninny khi thì đỏng đảnh, khi lạnh lùng, lúc lại đắm say. Chẳng chiến binh nào không khao khát được nàng làm vợ, nhưng nàng từ chối mọi lời cầu hôn bằng lưỡi rìu nhỏ. Hãy ngắm cách họ vượt qua những cành cây gãy mà không gây tiếng động. Chỉ nghe thấy tiếng thở hơi nặng nhọc. Sự thật là tất cả đều hơi béo tròn sau bữa tiệc thịnh soạn, nhưng rồi thời gian sẽ làm họ thon gọn lại. Nhưng hiện tại, chính điều này khiến họ gặp nguy hiểm.
Những người da đỏ biến mất một cách lặng lẽ như khi họ đến, chẳng khác nào một cái bóng tan vào đêm. Chẳng bao lâu sau, chỗ của họ được lấp đầy bởi muông thú – một đoàn rước đông đúc gồm đủ loài: sư tử, hổ, gấu, cùng vô số thú hoang nhỏ bé hơn đang chạy trốn khỏi chúng. Bởi trên hòn đảo ưu ái này, tất cả muông thú, đặc biệt là những loài ăn thịt người, đều sống hòa hợp bên nhau. Những chiếc lưỡi đỏ lè ra, đêm nay chúng đang đói khát.
Khi đoàn thú đi qua, hình bóng cuối cùng hiện ra – một con cá sấu khổng lồ. Chúng ta sẽ sớm biết nó đang tìm kiếm ai.
Con cá sấu lầm lũi bò qua, nhưng rồi bọn trẻ lại xuất hiện, bởi cuộc diễu hành này phải tiếp diễn mãi cho đến khi một bên dừng bước hoặc thay đổi nhịp độ. Chỉ khi ấy, chúng mới có thể nhanh chóng đè bẹp lấy nhau.
Tất cả đều dồn sự cảnh giác về phía trước, nhưng chẳng ai ngờ rằng hiểm nguy có thể đang rình rập từ phía sau. Điều ấy càng chứng tỏ hòn đảo này thực đến nhường nào.
Những đứa trẻ là lũ đầu tiên thoát khỏi vòng xoáy ấy. Chúng lăn mình xuống thảm cỏ xanh mượt, gần ngôi nhà nhỏ ẩn sâu dưới lòng đất của chúng.
“Giá mà Peter quay về,” chúng đồng thanh thốt lên với vẻ bồn chồn, dù về chiều cao và nhất là bề ngang, bọn trẻ đều vượt trội hơn vị đội trưởng của mình.
“Tao là đứa duy nhất chẳng sợ lũ cướp biển,” Slightly huênh hoang tuyên bố bằng giọng điệu khiến cậu ta trở nên kém được lòng đồng đội; nhưng có lẽ một âm thanh xa xôi nào đó đã làm cậu bất an, nên vội vã thêm vào, “nhưng tao cũng mong cậu ấy về, kể cho tụi mình nghe thêm chuyện về nàng Lọ Lem.”
Chúng bàn luận về nàng Lọ Lem, và Tootles tin chắc rằng mẹ cậu bé hẳn phải rất giống nàng.
Chỉ khi Peter không có mặt, lũ trẻ mới dám nhắc đến chuyện các bà mẹ – đề tài bị cậu ta cấm tiệt vì cho là vớ vẩn.
“Tất cả những gì tao nhớ về mẹ,” Nibs kể với đám bạn, “là bà cứ bảo bố tao: ‘Ước gì em có cuốn sổ séc riêng nhỉ!’ Tao chẳng hiểu sổ séc là gì, nhưng tao rất muốn kiếm một cuốn tặng mẹ.”
Đang lúc trò chuyện rôm rả, bỗng chúng nghe thấy một âm thanh văng vẳng đâu đó. Những kẻ phàm trần như anh hay tôi, không phải sinh linh hoang dã của rừng thẳm, hẳn chẳng nhận ra gì, nhưng lũ trẻ đã nghe thấy – đó là khúc ca khiến người ta dựng tóc gáy:
“Yo ho, yo ho, cuộc đời cướp biển,
Lá cờ đầu lâu xương chéo,
Một khúc ca vui, một sợi dây thòng lọng,
Và kìa, Davy Jones hãy chờ!”
Ngay lập tức, bọn trẻ lạc đã biến mất – nhưng chúng đã đi đâu? Chúng không còn ở đó nữa. Ngay cả một chú thỏ cũng chẳng thể biến đi nhanh hơn thế.
Tôi sẽ tiết lộ cho bạn nơi chúng đang trốn. Ngoại trừ Nibs, cậu bé đã phóng đi do thám, tất cả đều đã lẩn vào ngôi nhà dưới lòng đất – một chốn ở kỳ thú mà chúng ta sắp được khám phá biết bao điều ly kỳ. Nhưng làm cách nào chúng xuống được đó? Bởi chẳng có lối vào nào lộ ra, không một tảng đá lớn nào có thể lăn sang để lộ miệng hang. Thế nhưng, nếu quan sát kỹ, bạn sẽ nhận ra bảy cây cổ thụ sừng sững, mỗi thân cây khoét một lỗ trống rộng đủ cho một đứa trẻ chui qua. Đó chính là bảy cửa ngõ dẫn vào căn nhà bí mật dưới đất – nơi mà Hook bao lâu nay truy tìm trong vô vọng. Liệu đêm nay, tên cướp biển có thể phát hiện ra chăng?
Khi đoàn cướp biển tiến tới, đôi mắt tinh anh của Starkey phát hiện Nibs biến mất vào rừng, hắn lập tức rút súng lục ra bắn. Nhưng một móng vuốt sắt nhọn hoắt đã quặp chặt lấy vai hắn.
“Thưa thuyền trưởng, xin ngài buông tay ra!” Hắn kêu lên, vùng vẫy tuyệt vọng.
Đây là lần đầu tiên chúng ta được nghe giọng nói của Hook. Một thứ âm thanh đen tối, ngột ngạt. “Cất khẩu súng vào chỗ cũ đi,” giọng nói ấy lạnh lùng đe dọa.
“Nhưng đó chính là một trong lũ trẻ mà ngài căm ghét. Tôi có thể bắn hạ nó ngay bây giờ.”
“Đúng thế, và tiếng súng sẽ dẫn đường cho bọn da đỏ Tiger Lily tới đây. Ngươi muốn bị lột da đầu hay sao?”
“Để tôi đi theo hắn, Đội trưởng,” Smee nài nỉ một cách tội nghiệp, “và chọc Johnny Vặn Nút vào người hắn?” Smee luôn đặt những cái tên ngộ nghĩnh cho mọi thứ, và con dao găm của hắn được gọi là Johnny Vặn Nút, bởi hắn thích vặn nó trong vết thương. Có thể kể ra vô số nét đáng yêu của Smee. Chẳng hạn, sau mỗi lần giết người, hắn lại lau cặp kính của mình thay vì vũ khí.
“Johnny là một gã trầm lặng,” hắn nhắc khéo Hook.
“Không phải lúc này, Smee,” Hook đáp với giọng u ám. “Hắn chỉ có một mạng, còn ta muốn bảy đứa cùng chịu tội. Hãy phân tán ra và lùng bắt chúng.”
Bọn cướp biển tan biến giữa những gốc cây, chỉ trong chốc lát, chỉ còn lại Đội trưởng và Smee đứng đó. Hook thở dài não nề, và tôi không rõ vì sao, có lẽ bởi vẻ đẹp mơ màng của đêm xuống, nhưng một nỗi khát khao giãi bày cùng tên thủy thủ trung thành về câu chuyện đời mình bỗng trào dâng trong hắn. Hắn nói rất lâu, rất tha thiết, nhưng Smee, kẻ khờ khạo, chẳng hiểu được lời nào hắn nói.
Thỉnh thoảng hắn lại nghe thấy cái tên Peter.
“Trên hết,” Hook nói với một niềm đam mê cháy bỏng, “ta muốn bắt lấy thủ lĩnh của lũ trẻ đó, Peter Pan. Chính hắn đã chặt đứt cánh tay ta.” Hắn quật chiếc móc sắt lên một cách đầy đe dọa. “Ta đã chờ đợi quá lâu để được bắt tay hắn bằng thứ này. Ôi, ta sẽ xé nát hắn ra từng mảnh!”
“Thế nhưng,” Smee nhẹ nhàng nói, “tôi vẫn thường nghe ngài bảo rằng chiếc móc này còn quý giá hơn hai mươi bàn tay, vừa dùng để chải tóc, lại vừa tiện cho đủ thứ việc vặt.”
“Đúng vậy,” thuyền trưởng đáp, “nếu ta là mẹ, ta sẽ cầu nguyện cho đứa con của mình sinh ra với cái này thay vì cái kia,” và hắn ngắm nghía cánh tay sắt của mình với vẻ kiêu hãnh, còn cánh tay kia thì đầy khinh miệt. Rồi hắn lại nhíu mày.
“Peter quẳng cánh tay của ta,” hắn nói, nhăn nhó, “cho một con cá sấu tình cờ bơi ngang.”
“Tôi thường,” Smee nói, “để ý thấy nỗi sợ kỳ lạ của ngài trước loài cá sấu.”
“Không phải cá sấu,” Hook sửa lại, “mà là con cá sấu ấy.” Hắn hạ giọng trầm xuống. “Nó khoái cánh tay của ta đến nỗi, Smee à, nó đã lẽo đẽo theo ta từ đó tới giờ, từ biển này tới biển kia, từ đất liền này sang đất liền nọ, liếm mép chực chờ phần còn lại của ta.”
“Xét cho cùng,” Smee nói, “đó cũng là một lời tán dương.”
“Ta không cần thứ tán dương nhảm nhí ấy,” Hook gầm lên đầy bực dọc. “Ta muốn Peter Pan, kẻ đầu tiên đã dụ lũ thú hoang ấy nếm thử thịt da của ta.”
Hắn ngồi xuống một cây nấm khổng lồ, giọng nói giờ đây run rẩy yếu ớt. “Smee,” hắn thì thào, “con cá sấu quái ác kia đáng lẽ đã nuốt chửng ta rồi, nhưng may mắn thay, trong bụng nó còn ngậm cả một chiếc đồng hồ kêu tích tắc. Thế nên trước khi nó mon men tới gần, ta đã nghe tiếng kêu ấy mà chạy thoát thân.” Hắn bật cười, nhưng tiếng cười vang lên trống rỗng, chẳng chút vui vẻ.
“Rồi sẽ đến ngày,” Smee đáp lời, “chiếc đồng hồ ấy ngừng kêu, và lúc đó nó sẽ tóm được ngài đấy.”
Hook liếm môi khô nẻ. “Phải,” hắn thừa nhận, “đó chính là nỗi khiếp sợ không ngừng ám ảnh ta.”
Vừa ngồi được chốc lát, hắn bỗng cảm thấy nóng bừng khác thường. “Smee,” hắn kêu lên, “chỗ này sao nóng dữ vậy?” Hắn bật đứng dậy. “Trời ơi, nóng như lửa đốt!”
Họ xem xét cây nấm, thấy nó to lớn và cứng cáp hơn bất kỳ cây nấm nào từng mọc trên đất liền; họ thử nhổ nó lên, và nó bật ra ngay trong tay họ, bởi chẳng có rễ nào bám vào đất. Điều kỳ lạ hơn nữa là ngay lập tức, những làn khói bắt đầu tuôn ra. Bọn cướp biển nhìn nhau chằm chằm. “Một cái ống khói!” cả hai đồng thanh thốt lên.
Quả thực, họ đã tình cờ phát hiện ra ống khói của ngôi nhà nằm sâu dưới lòng đất. Bọn trẻ thường lấy nấm che lại mỗi khi kẻ thù đến gần.
Không chỉ có khói bay ra từ đó. Những giọng nói trẻ thơ cũng vang lên ríu rít, bởi chúng cảm thấy an toàn trong nơi trú ẩn đến mức thoải mái trò chuyện. Bọn cướp biển chăm chú lắng nghe, sau đó đặt cây nấm trở lại vị trí cũ. Chúng đảo mắt nhìn quanh, ghi nhận những chiếc lỗ trên bảy cây cổ thụ gần đó.
“Ngài có nghe bọn chúng nói Peter Pan đi vắng không?” Smee thì thầm, tay mân mê Johnny Vặn Nút Chai.
Hook gật đầu. Hắn đứng lặng rất lâu, chìm sâu vào suy tư, rồi cuối cùng, một nụ cười rùng rợn nở ra trên gương mặt đen sạm. Smee đã chờ đợi khoảnh khắc này. “Xin ngài hãy nói ra kế hoạch đi, thưa thuyền trưởng,” hắn hét lên đầy phấn khích.
“Quay về tàu,” Hook trả lời chậm rãi qua kẽ răng, “và nướng một chiếc bánh thật to, thơm phức, dày cộm với lớp đường xanh phủ lên. Chắc chắn dưới nhà chỉ có một căn phòng, vì chỉ thấy một ống khói. Lũ chuột chũi ngốc nghếch không hiểu rằng chúng đâu cần mỗi đứa một cửa riêng. Điều đó chứng tỏ chúng chẳng có mẹ. Ta sẽ đặt chiếc bánh trên bờ Đầm Nàng Tiên Cá. Bọn trẻ con này luôn bơi lội quanh đó, chơi đùa với tiên cá. Chúng sẽ phát hiện ra chiếc bánh và ăn ngấu nghiến, bởi vì không có mẹ, chúng không biết ăn bánh ẩm ướt béo ngậy nguy hiểm thế nào.” Hắn bật cười, không phải tiếng cười giả tạo nữa, mà là tiếng cười thật sự đắc ý. “Aha, chúng sẽ chết.”
Smee lắng nghe với vẻ ngưỡng mộ ngày càng dâng cao.
“Chính sách tàn nhẫn mà tuyệt diệu nhất ta từng được nghe!” hắn reo lên, và trong cơn phấn khích, họ cùng nhau nhảy múa, cất lời ca:
“Buộc chặt dây, quay bánh lái, khi ta hiện ra,
Chúng run sợ đến tận xương tủy;
Chẳng còn gì trên thân xác ngươi khi ngươi
Đã đối mặt với Hook.”
Họ bắt đầu bài hát, nhưng chẳng bao giờ kịp hát xong, bởi một âm thanh khác đột ngột cắt ngang, khiến cả hai im bặt. Ban đầu, đó chỉ là tiếng động rất khẽ, nhỏ đến mức một chiếc lá rơi cũng đủ lấn át, nhưng càng lúc, nó càng vang rõ hơn, gần hơn.
Tích tắc tích tắc tích tắc!
Hook đứng đó, toàn thân run rẩy, một chân co lên.
“Cái con cá sấu ấy!” hắn thốt ra trong hơi thở gấp gáp, rồi phóng đi, đám thủy thủ của hắn hối hả chạy theo.
Quả thật là con cá sấu. Nó đã vượt qua lũ thổ dân da đỏ – những kẻ giờ đang săn đuổi bọn cướp biển khác – và giờ đang lê bước nặng nề đuổi theo Hook.
Bọn trẻ lại ùa ra ngoài trời một lần nữa; nhưng hiểm nguy của màn đêm vẫn chưa chấm dứt, bởi ngay sau đó Nibs hớt hải chạy về phía chúng, bị một bầy sói hung dữ rượt đuổi. Những chiếc lưỡi đỏ lè của kẻ săn mồi thè ra ngoài, tiếng hú rợn người của chúng vang lên ghê rợn.
“Cứu tôi với, cứu tôi!” Nibs kêu thét lên rồi ngã sóng soài xuống đất.
“Nhưng chúng ta có thể làm gì đây, chúng ta có thể làm gì bây giờ?”
Đó là một lời tán dương vĩ đại dành cho Peter khi trong khoảnh khắc hiểm nguy ấy, tâm trí bọn trẻ đều hướng về cậu.
“Peter sẽ làm gì đây?” chúng đồng thanh thốt lên.
Gần như cùng lúc, chúng reo lên: “Peter sẽ nhìn chúng qua kheo chân!”
Rồi ngay sau đó: “Hãy bắt chước những gì Peter sẽ làm!”
Đó chính là cách đối phó với bầy sói hiệu quả nhất, và như một khối thống nhất, cả bọn cúi người xuống, đưa mắt nhìn qua kheo chân mình. Khoảnh khắc tiếp theo dài đằng đẵng, nhưng chiến thắng đến bất ngờ – khi lũ trẻ tiến tới với tư thế kỳ dị ấy, đàn sói cụp đuôi, quay đầu bỏ chạy.
Giờ đây Nibs đứng dậy khỏi mặt đất, những đứa trẻ khác tưởng rằng đôi mắt trợn trừng của em vẫn đang dõi theo bầy sói. Nhưng không, em chẳng nhìn thấy sói nữa rồi.
“Tớ đã thấy một thứ còn kỳ diệu hơn nữa,” cậu bé reo lên, khi cả bọn vội vã xúm lại quanh cậu trong háo hức. “Một con chim trắng to lớn. Nó đang bay thẳng về phía chúng ta đấy!”
“Thế theo cậu thì nó là chim gì?”
“Tớ không rõ,” Nibs đáp, giọng đầy kính nể, “nhưng trông nó có vẻ mỏi mệt lắm, và trong lúc bay nó cứ rên rỉ mãi: ‘Wendy tội nghiệp.'”
“Wendy tội nghiệp ư?”
“Tớ nhớ ra rồi,” Slightly nhanh nhảu nói, “có một loài chim tên là Wendies đấy.”
“Nhìn kìa, nó tới rồi!” Curly hét lên, tay chỉ thẳng lên Wendy đang bay trên trời cao.
Lúc này Wendy đã gần như ở ngay trên đầu lũ trẻ, và chúng có thể nghe rõ những tiếng rên rỉ đáng thương của nàng. Nhưng giọng nói the thé của Tinker Bell lại vang lên rành rọt hơn. Nàng tiên ghen tuông giờ đã vứt bỏ hết vẻ ngoài thân thiện, đang lao vào tấn công nạn nhân từ mọi phía, mỗi lần chạm tới đều véo một cái thật đau điếng.
“Chào Tink,” bọn trẻ đồng thanh reo lên, giọng đầy ngỡ ngàng.
Tiếng Tink vang lên trong không gian: “Peter muốn các cậu bắn Wendy.”
Không phải vì bản tính hung hăng, mà bởi khi Peter ra lệnh, chúng chẳng thèm thắc mắc. “Hãy làm theo ý Peter!” bọn trẻ hồn nhiên hô vang. “Mau lên, lấy cung tên ra!”
Tất cả đều lao xuống khỏi cây, chỉ trừ Tootles. Cậu bé vội vã cầm lấy cung tên, và Tink thấy thế, liền xoa xoa đôi bàn tay bé nhỏ của mình trong háo hức.
“Nhanh lên, Tootles, nhanh lên nào,” nàng tiên réo gọi. “Peter sẽ rất vui đấy.”
Tootles hăng hái giương cung lên. “Tránh ra đi, Tink,” cậu hét lên rồi buông tên, và Wendy chao đảo ngã xuống đất, một mũi tên cắm thẳng vào ngực.