I. TỐNG THÁI TỔ
QUYỂN 10: NĂM KHAI BẢO THỨ 2 (KỶ TỴ, 969)
Từ tháng giêng năm Khai Bảo thứ 2 đời Thái Tổ đến tháng 12 cùng năm
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Thân, Vua đi săn ở vùng ngoại ô gần kinh thành, ban cho các quan theo hầu ngựa tốt và đồ quý.
[2] Ngày Kỷ Sửu, Vua đến viện Phi Long, ban cho Thiên Hùng tiết độ sứ Phù Ngạn Khanh cùng mười một người khác ngựa tốt, cho phép họ tự chọn. Trước đó, Ngạn Khanh cùng Thiên Bình tiết độ sứ Thạch Thủ Tín, Quy Đức tiết độ sứ Cao Hoài Đức, Trấn Ninh tiết độ sứ Trương Lệnh Đạc, Trung Chính tiết độ sứ Vương Thẩm Kỳ, Linh Vũ tiết độ sứ Phùng Kế Nghiệp đều đến kinh đô dự lễ tế giao, ở lại chưa về nhiệm sở.
(Kế Nghiệp, lần đầu xuất hiện vào năm Quảng Thuận thứ 2.)
[3] Ngày Mậu Tuất, phong Long Tiệp quân sứ Thạch Vạn Đức làm Hữu Thiên Ngưu vệ tướng quân, cho nghỉ hưu. Vạn Đức là cha của Điện tiền chỉ huy sứ đô Ngu hậu Hán Khanh. Hán Khanh đang được Vua sủng ái, nên Vạn Đức cũng được phong chức vị cao.
[4] Ngày Kỷ Hợi, phong Tiền Duy Tuấn làm Trấn Hải, Trấn Đông tiết độ sứ. Duy Tuấn vâng mệnh cha đến giúp việc tế lễ, sắp về, Vua đặc biệt ban chiếu thăng chức. Vua đối đãi Duy Tuấn rất đặc biệt, từng mời yến trong vườn ngự, sai hoàng môn tấu nhạc “Tiêu Thiều”, cho ngồi cùng hàng với các vương, ban cho đai ngọc trắng, áo đính châu, ngựa thắng yên thủy tinh, cùng vô số vật phẩm quý. Khi từ biệt, lại ban thêm áo mặc, đai ngọc, ngựa thắng yên vàng.
[5] Ngày Nhâm Dần, cử Điện trung thị ngự sử Lạc Dương Lý Oánh cùng mười bảy người khác đi các châu, điều động lương thảo quân đội về Thái Nguyên.
[6] Ngày Bính Ngọ, lại cử bốn mươi chín sứ giả đến các đạo, phát binh đóng ở các châu Lộ, Tấn, Từ.
[7] Thừa tướng, Tả bộc xạ, Bình chương sự Đường thời, Xu mật sứ Thang Duyệt bị cách chức, giáng làm Trấn Hải tiết độ sứ. Duyệt không muốn sống ở phiên trấn, dâng sớ xin từ chức. Sau đó, ông được cải nhiệm làm Thái tử thái phó, Giám tu quốc sử, nhưng vẫn kiêm chức Trấn Hải tiết độ sứ.
(Khi Duyệt vừa bị cách chức và nhận chức Trấn Hải tiết độ, thời gian không rõ. Theo ‘Lý Hậu Chủ tập’ ghi chép về bài tựa của Duyệt trong ‘Bắc Uyển thị yến phú thi’, đó là năm Ất Tỵ, tháng 2 năm Khai Bảo thứ hai. Chức vụ ghi là “tân thụ Thái tử thái phó”, chắc chắn là vào đầu tháng 2, cuối tháng giêng. Vì thế ghi lại ở đây. ‘Duyệt truyện’ nói rằng ông vừa được phong làm Tư không, lại nắm quyền. Theo ‘Hậu Chủ tập’, mùa thu năm thứ ba khi tiễn Đặng Vương đi cai trị Tuyên Thành, Duyệt vẫn với chức Thái tử thái phó, Giám tu quốc sử viết bài tựa. ‘Truyện’ nói ông được phong Tư không quá nhanh, nên không chép theo.)
[8] Khách tỉnh sứ Lư Hoài Trung đi sứ Giang Nam về, giữa đường bị bệnh, được kiệu đưa về kinh sư. Vua sai Thái y đến khám bệnh, cho thuốc ngải cứu, và dụ rằng: “Trẫm từng dùng ngải cứu, thấy có hiệu quả, khanh hãy cố gắng.” Khi Hoài Trung qua đời, Vua rất thương tiếc. Ngày Kỷ Dậu tháng 2, sai Trung sứ lo việc tang lễ.
[9] Ngày Canh Tuất, Phù Ngạn Khanh từ tạ rồi trở về trấn.
[10] Ngày Ất Mão, lệnh cho Tuyên huy nam viện sứ Tào Bân, Thị vệ bộ quân đô chỉ huy sứ Đảng Tiến, mỗi người dẫn quân tiến về Thái Nguyên.
[11] Ngày Mậu Ngọ, hạ chiếu thân chinh.
[12] Ngày Kỷ Mùi, lấy hoàng đệ Khai Phong doãn Quang Nghĩa làm Đông Kinh lưu thủ, Xu mật phó sứ Thẩm Nghĩa Luân làm Đại nội bộ thự; Chiêu Nghĩa tiết độ sứ Lý Kế Huân làm Hà Đông hành dinh tiền quân đô bộ thự, Kiến Hùng tiết độ sứ Triệu Tán làm Mã bộ quân đô ngu hậu, dẫn quân tiến về Thái Nguyên.
[13] Chương Quốc tiết độ sứ, Thị vệ mã quân đô ngu hậu Trương Đình Hàn lâm bệnh, Vua ngự giá thân đến thăm. Ngày Quý Hợi, Đình Hàn qua đời. Vua vô cùng thương tiếc, truy tặng Thị trung.
[14] Ngày Giáp Tý, Vua xuất phát từ kinh sư.
[15] Ngày Bính Dần, dừng lại ở Hoạt Châu.
[16] Ngày Đinh Mão, dừng lại ở Vương Kiều Đốn.
[17] Chương đức tiết độ sứ Hàn Trọng Uân vào triều yết kiến, Vua bảo rằng: “Khiết Đan biết ta hành quân, tất sẽ dẫn quân đến cứu viện. Chúng cho rằng trấn, định[1] không phòng bị, sẽ theo đường này tiến vào. Khanh hãy vì ta dẫn quân gấp đường đi, đánh úp bất ngờ mà phá được chúng.” Bèn phong Trọng Uân làm Bắc diện đô bộ thự, Nghĩa vũ tiết độ sứ người Lạc Dương là Kỳ Đình Nghĩa (theo ‘Tống sử’, chức này là Chương nghĩa quân tiết độ sứ Quách Diên Nghĩa) làm phó tướng.
[18] Quyền tri cống cử là Triệu Phùng tâu rằng có bảy người tiến sĩ như An Đức đỗ đạt.
(Theo ‘Hội yếu’ và ‘Đăng khoa ký’, ngày đó là Đinh Mão. Mùa xuân năm đó, Vua thân chinh, không rõ vì sao không tạm ngừng việc thi cử, Triệu Phùng sau đó cũng làm Tùy quân chuyển vận sứ, có phải là đã chọn sĩ tử ngay tại nơi hành quân không? Cần xem xét thêm.)
[19] Ngày Kỷ Tỵ, Vua dừng chân ở Tương Châu.
[20] Ngày Canh Ngọ, dừng chân ở Từ Châu.
[21] Ngày Ất Hợi, dừng chân ở Lộ Châu, vì mưa lớn nên nghỉ lại.
[22] Lúc bấy giờ, lương thảo từ các châu đều tập trung trong thành, xe cộ làm tắc nghẽn đường. Vua nghe vậy, cho là việc không hợp lý, định trị tội chuyển vận sứ. Tể tướng Triệu Phổ nói: “Đại quân vừa đến mà chuyển vận sứ bị tội, quân địch nghe tin, tất sẽ cho rằng ta thiếu lương thực, không phải cách để uy hiếp kẻ địch, chỉ nên chọn người có tài xử lý việc khó khăn đến trị lý châu này mà thôi.” Ngày Bính Tý, sắc phong Hộ bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Hỗ làm Quyền tri Lộ Châu. Hỗ lập tức sắp xếp xe cộ, đường sá thông suốt.
[23] Phong Xu mật trực học sĩ Triệu Phùng làm Tùy giá chuyển vận sứ, đồng thời đúc ấn ban cho ông.
[24] Bắc Hán Thị vệ đô ngu hậu Lưu Kế Nghiệp, Phùng Tiến Kha[2] đóng quân ở Đoàn Bách Cốc, cử Nha đội chỉ huy sứ Trần Đình Sơn dẫn vài trăm kỵ binh đến do thám. Gặp quân tiên phong của Lý Kế Huân kéo đến, Đình Sơn liền dẫn bộ hạ đầu hàng. Kế Nghiệp, Tiến Kha biết lực lượng không địch nổi, cũng dẫn quân rút về Tấn Dương. Bắc Hán chủ nổi giận, cách chức binh quyền của họ. Kế Huân bèn vây thành. Lúc ấy, sứ Khiết Đan là nội thị Hàn Tri Phan (Xét sứ Liêu ghi là Hàn Tri Phạm.) sang phong Bắc Hán chủ làm Đế, Bắc Hán chủ mở cửa bắc đón vào ban đêm. Hôm sau, mở yến tiệc, quần thần đều tham dự. Tể tướng Quách Vô Vi khóc giữa sân, rút đao tự đâm, Bắc Hán chủ vội bước xuống nắm tay ông, dẫn lên chỗ ngồi. Vô Vi nói: “Làm sao chống lại được trăm vạn quân bằng một thành trơ trọi!” ý Vô Vi muốn lung lay lòng người.
(‘Quốc sử bản kỷ’ và ‘Trần Đình Sơn truyện’ đều nói Đình Sơn lấy chức Tá thánh chỉ huy sứ dẫn bộ hạ đến đầu hàng, nhưng sự tích không rõ ràng. Nay tham khảo ‘Cửu quốc chí’ chỉnh lý. Nhưng ‘Lưu Kế Nghiệp truyện’ lại nói Đình Sơn gặp Thái Tổ, bị bắt. Xét ‘Bản kỷ’ chép việc Đình Sơn đầu hàng nằm sau ngày Mậu Dần tháng 3, trước ngày Giáp Thân. Lúc ấy xa giá còn đang ở Lộ Châu. Nay không lấy. ‘Cửu quốc chí’ lại nói quân Vương vây thành vào tháng giêng, có lẽ hơi sớm. Suy đoán có lẽ vào tháng 2, ‘Thập quốc kỷ niên’ cũng chép vào tháng 2.)
[25] Tháng 3, ngày Mậu Dần mùng 1, mở tiệc thiết đãi các quan theo hầu.
[26] Ngày Canh Thìn, lấy Hình bộ viên ngoại lang Đằng Bạch làm Tri Hà Đông chư châu chuyển vận sự.
[27] Ngày Nhâm Ngọ, lấy Dĩnh Châu đoàn luyện sứ Tào Hán làm Hà Đông hành dinh đô hào trại sứ, Vương Lệnh Nham làm phó.
(Lệnh Nham, không rõ lai lịch.)
[28] Ngày Ất Dậu, phân phó các quan cận thần cầu tạnh tại các chùa miếu trong thành.
[29] Ngày Tân Mão, Bí thư thừa, Tri Hà Đông chuyển vận sự Lưu Nghi vì chậm trễ trong việc cung cấp lương thực, bị cách chức. (Lưu Nghi, chưa rõ lai lịch.) Trước đó, có chiếu lệnh mua lương thực quân sự dọc biên giới, sau lo ngại việc này làm phiền dân, vội sai sứ giả Lý Thần Hữu mang mệnh lệnh đình chỉ. Lúc đó, chiếu chỉ đã ban xuống được năm ngày, nhưng Thần Hữu chỉ trong một đêm đã trở về. Thần Hũ là người Khai Phong.
[30] Vua dừng chân ở Lộ Châu tổng cộng mười tám ngày, bắt được gián điệp Bắc Hán, hỏi han thì đáp: “Dân trong thành đã chịu khổ lâu ngày, ngày đêm mong ngóng xa giá của Bệ hạ, chỉ hận sao chậm trễ mà thôi.” Vua cười, ban cho quần áo rồi tha về.
[31] Ngày Nhâm Thìn, rời Lộ Châu.
[32] Ngày Ất Mùi, dừng chân ở Nam Quan.
[33] Lý Kế Huân tâu rằng đã đánh bại quân Bắc Hán dưới thành, chém đầu hơn nghìn người, bắt được sáu trăm ngựa.
[34] Ngày Mậu Tuất, dừng chân ở Thái Nguyên.
[35] Ngày Canh Tý, xem binh mã ở phía nam thành, bắt đầu cho xây dựng thành liên dài.
[36] Ngày Tân Sửu, đến sông Phần, cho xây cầu mới. Phong Binh bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Lư Đa Tốn làm người phụ trách việc hành phủ Thái Nguyên.
[37] Ngày Nhâm Dần, sai sứ điều động vài vạn dân các huyện Thái Nguyên đến dưới thành.
[38] Ngày Quý Mão, Phán quan Hiến Châu của Bắc Hán là Sử Chiêu Văn đem thành đến hàng, liền phong ông làm Thứ sử, ban cho y phục, đai ngọc, ngựa và yên cương.
[39] Ngày Ất Tỵ, đến phía đông nam thành, bắt đầu cho xây đê chặn nước sông Phần. Trước đó, có người đề nghị tăng quân đánh thành, Tả Thần Vũ thống quân Trần Thừa Chiêu tấu: “Bệ hạ đã có sẵn hàng ngàn vạn binh mã bên cạnh, sao không dùng?” Vua chưa hiểu, Thừa Chiêu chỉ nước sông Phần bằng roi ngựa, Vua cười lớn, bèn giao cho ông đảm nhận việc này.
(Việc xây đê chặn nước sông Phần, ‘bản kỷ’ ghi vào ngày Kỷ Hợi, nay theo ‘Thực lục’ và ‘Thập quốc kỷ niên’.)
[40] Ngày Bính Ngọ, cho đập nước Tấn Từ để tưới vào thành.
[41] Ngày Đinh Mùi, ra lệnh cho Lý Kiến Huân đóng quân ở phía nam thành, Triệu Tán đóng quân ở phía tây, Tào Bân đóng quân ở phía bắc, Đảng Tiến đóng quân ở phía đông, lập bốn trại để bao vây. Quân Bắc Hán nhân lúc trời tối mở cửa bí mật, lén đánh úp trại phía tây, Triệu Tán dẫn quân ra giao chiến, tên bắn xuyên qua chân Triệu Tán, quân Bắc Hán vẫn chưa lui. Lúc đó, Đảng Tiến sai Đô giám trại phía đông là Lý Khiêm Bạc lên núi phía tây chặt gỗ để cung cấp cho quân. Khiêm Bạc nghe tiếng huyên náo, liền dẫn quân bản bộ đến ứng cứu, quân Bắc Hán mới rút lui. Hoàng thượng vội đến nơi chiến trường, thấy quân đến cứu viện không phải là tinh binh, hỏi ra mới biết là Khiêm Bạc, rất vui lòng. Lưu Kế Nghiệp lại dùng vài trăm kỵ binh xông vào trại phía đông, Đảng Tiến xông lên đuổi theo Kế Nghiệp, có vài người theo hầu, Kế Nghiệp chạy trốn xuống hào, quân Bắc Hán kéo ra cứu viện, Kế Nghiệp trèo dây vào thành, may mà thoát được.
[42] Hữu bộc xạ nhà Đường, Phán tỉnh sự Du Giản Ngôn tự mình xử lý sổ sách, đốc thúc xử lý công việc chậm trễ, các quan lại đều sợ ông. Tuy nhiên, ông không hiểu rõ đại cục, nên không được sĩ đại phu coi trọng. Những ai đến nhờ cậy, ông đều cố tình làm trái ý, không quan tâm đến đúng sai. Ông nhiều lần xin từ chức vì lý do sức khỏe, nhưng Đường chủ không chấp thuận. Tháng đó, Du Giản Ngôn được lệnh kiêm nhiệm chức Môn hạ thị lang, Bình chương sự.
[43] Mùa hạ, tháng tư, ngày Mậu Thân mùng một, [Hoàng thượng] ngự đến phía đông thành xem đắp đê.
[44] Ngày Tân Hợi, sai Hải châu thứ sử Tôn Vạn Tiến (Vạn Tiến, chưa rõ lai lịch) dẫn mấy ngàn quân vây đánh Phần châu, lấy Phán tứ phương quán sự Nhậm Thành là Trạch Thủ Tố giám quân.
[45] Ngày Nhâm Tý, lại ngự đến phía đông thành, ban y phục theo mùa cho quần thần và các quân, mở tiệc chiêu đãi các quan theo hầu.
[46] Trước đó, Lệ châu phòng ngự sử Hà Kế Quân giữ chức Thạch Lĩnh quan bộ thự, đóng quân tại Dương Khúc[3]. Vua nghe tin quân Khiết Đan chia đường đến cứu viện Bắc Hán, một cánh từ Thạch Lĩnh quan tiến vào, bèn sai ngựa trạm triệu Kế Quân đến chỗ Vua đang ở, ban kế sách, lại cấp thêm vài nghìn kỵ binh tinh nhuệ, sai đi chặn đánh. Vua bảo Kế Quân rằng: “Ngày mai giờ Ngọ, Trẫm mong đợi tin thắng trận của khanh.” Lúc ấy đang giữa mùa hè nóng nực, Vua sai Thái quan mang cháo mè và bột mì ban cho Kế Quân, ăn xong, Kế Quân từ biệt ra đi. Hai bên giao chiến ở phía bắc Dương Khúc huyện, quân Khiết Đan bị đại bại, bắt sống Vũ châu thứ sử của họ là Vương Ngạn Phù, chém đầu hơn nghìn người, bắt sống hơn trăm người, thu được hơn bảy trăm ngựa, cùng rất nhiều áo giáp. Ngày Kỷ Mùi, Kế Quân sai con là Thừa Duệ đến dâng tin thắng trận. Thừa Duệ chưa đến, Vua đã lên đài phía bắc chờ đợi. Thấy một kỵ binh từ phía bắc đến, Vua sai người hỏi thì đúng là Thừa Duệ. Bắc Hán lén dựa vào Khiết Đan, nên thành lâu không hạ được. Vua bèn đem áo giáp và thủ cấp bắt được cho người trong thành xem, khiến họ mất hết khí thế.
(Việc Kế Quân dâng tin thắng trận, trong ‘Bản kỷ’ chép vào ngày Nhâm Tý, nay theo ‘Thực lục’. Trong ‘Khổng Thủ Chính truyện’ chép: Vua chinh phạt Thái Nguyên, Thủ Chính thuộc dưới quyền tiên phong Hà Kế Quân, gặp quân Khiết Đan do Nam Đại Vương Sa Tướng Công đến cứu viện, Thủ Chính giao chiến với chúng tại Thạch Lĩnh quan. Quân Khiết Đan thua chạy, vượt qua cửa ải phía bắc, chém đầu hơn một vạn người, bắt được Ngụy bài trận sứ Vương Phá Đắc. Thái Tổ khen ngợi, triệu về theo hầu. Cứ theo chuyện Thủ Chính theo Kế Quân đánh bại giặc, thì đó chính là trận này. Số liệu chém bắt trong hai sách đều khác nhau, chắc hẳn có một chỗ sai, nay chỉ theo bản truyện của Kế Quân. Trong bản truyện của Kế Quân lại chép bắt sống hai thứ sử Khiết Đan, căn cứ ‘Thực lục’ chỉ có một người là Ngạn Phù, nay theo ‘Thực lục’.)
[47] Ngày Nhâm Tuất, Vua đến sông Phần xem đóng thuyền.
[48] Ngày Mậu Thìn, Vua đến phía tây thành, ban rượu cho các bề tôi đi theo.
[49] Ngày Ất Hợi, Trấn quốc tiết độ sứ La Ngạn Hoàn chết. Vua đang thân chinh nơi trận mạc, nên không bãi triều, cũng không ban tặng lễ điển.
[50] Ngày Bính Tý, Vua lại đến phía tây thành.
[51] Thứ sử Lân Châu của Bắc Hán là Kết Tề La và Binh mã đô giám Gia Thả Xá Ngạc đem thành ra hàng.
[52] Tháng 5, ngày Mậu Dần, Vua phong Kết Tề La làm Phần Châu đoàn luyện sứ, Gia Thả Xá Ngạc làm Thạch Châu thứ sử.
[53] Quân Khiết Đan chia đường từ Định Châu đến tiếp viện, Hàn Trọng Uân bày trận ở núi Gia Sơn để đợi địch[4]. Quân Khiết Đan thấy cờ hiệu, hoảng sợ, muốn rút chạy. Trọng Uân liền đánh gấp, đại phá quân địch, bắt được hàng trăm ngựa. Ngày Quý Mùi, sứ giả đến báo tin thắng trận, nhà Vua mừng rỡ, ban chiếu khen ngợi.
(Sách ‘Lý Hán Siêu truyền’ chép: Thái Tổ thân chinh Thái Nguyên, Hán Siêu làm Bắc diện hành dinh đô giám, con trai ông là Thủ Ân đi theo trong quân. Khi quân Khiết Đan đến tiếp viện, đóng ở phía tây Định Châu, núi Gia Sơn, định tiến vào Thổ Môn, Thủ Ân dẫn mấy nghìn quân tinh nhuệ giao chiến, đánh bại địch, chém được ba nghìn thủ cấp, thu được nhiều ngựa chiến và khí giới, bắt sống hai mươi bảy tướng. Sau đó, đi theo Hán Siêu vào gặp Vua, được ban áo giáp, đai vàng, đồ dùng và tiền. Thái Tổ nói: “Đứa trẻ này còn nhỏ, mai sau tất là tướng tài.” Xét việc thắng trận ở Gia Sơn, chủ tướng thực sự là Hàn Trọng Uân, Kỳ Đình Nghĩa làm phó, không thấy tên Hán Siêu. Việc của Thủ Ân cũng nhỏ, nay không chép riêng nữa.)
[54] Ngày Giáp Thân, Vua đến phía bắc thành, dẫn nước sông Phần vào đê mới, cho chảy vào thành.
[55] Ngày Mậu Tý, ngự đến phía đông nam thành, ra lệnh cho thủy quân dùng thuyền nhỏ chở nỏ mạnh tấn công thành. Nội ngoại mã bộ quân đô quân đầu, Hoành Châu đoàn luyện sứ Vương Đình Nghệ thân chinh đánh trống, cởi mũ giáp xông lên trước, bị tên bắn trúng đầu mà ngã. Ngày Canh Dần, Đình Nghệ qua đời. Ngày Tân Mão, Điện tiền chỉ huy sứ đô ngu hậu, Viên Châu thứ sử Thạch Hán Khanh cũng bị tên bắn trúng, chết đuối. Ngày Quý Tỵ, truy tặng Đình Nghệ chức Kiến Vũ tiết độ sứ, Hán Khanh chức Viên Châu phòng ngự sứ. Cha của Hán Khanh là Vạn Đức được triệu ra khỏi chức trí sĩ, giữ chức Bạn thực đô chỉ huy sứ, kiêm Đoan Châu thứ sử. Hán Khanh tính tình ngang ngược, khéo chiều ý Vua, thường nói chuyện bên ngoài, ỷ thế lộng hành, trong ngoài không ai dám nói gì. Nghe tin ông ta chết, ai nấy đều vui mừng. Sau này, Vua cũng biết hết những việc bất pháp của Hán Khanh, lại cho Vạn Đức về hưu.
[56] Lấy Tiền Thục Châu thứ sử Nhiếp Chương làm Sấm Châu binh mã bộ thự, Cung uyển sứ Liêu Thành Lương Huýnh giám quân.
(Việc của Nhiếp Chương vốn xảy ra ngày Canh Dần, nay dời vào sau ngày Quý Tỵ. Chương, chưa thấy rõ.)
[57] Ngày Đinh Dậu, đến phía tây thành, ra lệnh cho các quân tấn công cửa tây. Phái một cánh quân bao vây Lam Châu, Triệu Văn Độ nguy cấp xin hàng. Ngày Mậu Tuất, [Văn Độ] đến yết kiến, được ban áo mặc, đai ngọc, yên ngựa vàng, dây cương, cùng các vật dụng, các quan trong châu đều được ban thưởng. Văn Độ tức là Hoằng[5], vì kiêng húy Tuyên Tổ nên được ban tên mới. Mẹ của Văn Độ lúc đó ở Tấn Dương, người quân tử trách ông không biết giữ tiết tháo.
[58] Ngày Kỷ Hợi, lấy Hữu Thiên Ngưu vệ tướng quân Chu Thừa Tấn làm Lam Châu đoàn luyện sứ.
[59] Ngày Canh Tý, Vua ban yến Triệu Văn Độ tại hành cung. Khi Vua trở về từ Thái Nguyên, phong Triệu Văn Độ làm Trọng Quốc tiết độ sứ.
[60] Ngày Tân Sửu, bổ nhiệm Chu Quảng, đang giữ chức Phan châu đoàn luyện sứ, làm Đô bộ thự trông coi việc công thành lâu lỗ chiến trác.
(Chu Quảng, sử không chép rõ lai lịch.)
[61] Ngày Quý Mão, bổ nhiệm Chiết Ngự Huân, đang quyền tri phủ châu, làm Vĩnh An lưu hậu. Lúc ấy, Chiết Ngự Huân cùng Kiến Ninh lưu hậu Dương Trọng Huân đều không đợi chiếu mà đến hành tại yết kiến, Vua khen ngợi tấm lòng của họ nên có mệnh lệnh này, đồng thời ban thưởng hậu hĩnh rồi cho về.
[62] Tháng đó[6], Vua thấy khí nóng đang mạnh, lòng rất thương xót cảnh khổ giam cầm. Bèn xuống chiếu cho các châu ở Tây Kinh, lệnh quan trưởng đốc thúc ngục lại mỗi năm ngày phải kiểm tra một lần, quét dọn nhà giam, rửa rửa gông cùm, người nghèo khó không tự nuôi được thì cấp cơm ăn, người bệnh thì cấp thuốc, án nhẹ tội nhỏ phải xử lý ngay, không được để chậm trễ. Từ đó, mỗi năm vào tháng Trọng Hạ, nhất định phải nhắc lại chiếu này để răn dạy quan lại.
(Chiếu này ban vào ngày Mậu Tý, nay dời ghi ở sau.)
[63] Vòng vây Thái Nguyên nguy cấp, Quách Vô Vi mưu tính bỏ trốn, bèn xin đem quân đêm ra đánh quân Vương sư. Bắc Hán chủ tin lời, chọn một ngàn quân tinh nhuệ, lệnh cho Lưu Kế Nghiệp và Quách Thủ Bân làm phó tướng, rồi đích thân lên cửa Diên Hạ tiễn họ, cũng để đợi họ quay về. Đêm ấy, ban đầu trời rất quang mây, sau đó gió mưa tối tăm, Quách Vô Vi đi đến cầu phía bắc, bèn dừng ngựa gọi các tướng, nhưng Lưu Kế Nghiệp vì ngựa bị thương chân nên đã thu quân về thành trước, Quách Thủ Bân lạc đường, gọi mà không được, Quách Vô Vi không thể tiến một mình, bèn cùng vài chục người dưới quyền cũng quay về.
[64] Tháng Nhuận ngày Mậu Thân, nước từ thành Diên Hạ chảy vào, xuyên qua hai lớp thành ngoài tràn vào trong thành, trong thành rất hoảng loạn. Vua ngự ra đê dài xem. Cửa nước dần mở rộng, người Bắc Hán dựa thành đặt chướng ngại, bị quân Vương sư bắn, chướng ngại không thể dựng được. Chốc lát có đống cỏ từ trong thành bay ra, thẳng đến cửa nước rồi dừng lại, cung nỏ của quân Vương sư không bắn xuyên qua được, người Bắc Hán nhân đó thi công, cửa nước bèn bị bít lại.
Quách Vô Vi lại khuyên Bắc Hán chủ đầu hàng, Bắc Hán chủ không nghe. Hoạn quan Vệ Đức Quý kịch liệt nói rằng Quách Vô Vi có biểu hiện phản nghịch rõ ràng, không thể tha thứ, Bắc Hán chủ liền giết ông ta để làm gương, trong thành tạm ổn định. Người Bắc Hán bất ngờ từ Tây Trường Liên thành lén ra, định đốt các công cụ chiến đấu, quân triều đánh đuổi họ, chém hơn một vạn đầu. Nửa đêm, bỗng nghe tiếng hô bên ngoài thành, nói rằng Bắc Hán chủ đã đầu hàng. Vua lệnh quân lính mặc giáp, mở cửa thành, Bát tác sứ Triệu Toại nói: “Tiếp nhận hàng giống như đối phó kẻ địch, sao có thể giữa đêm dễ dàng tin lời như vậy?” Vua cho người dò xét, quả nhiên là gián điệp giả làm.
[65] Ngày Kỷ Dậu, Vua đến phía nam thành, lệnh thủy quân dùng thuyền nhẹ đốt cổng thành.
[66] Hữu bộc xạ Ngụy Nhân Phố qua đời. Nhân Phố từng tham dự tiệc xuân, Vua cười bảo ông: “Sao không mời ta một chén?” Nhân Phố liền tiến lên chúc thọ, Vua bí mật nói: “Trẫm muốn thân chinh Thái Nguyên, khanh nghĩ sao?” Nhân Phố đáp: “Muốn nhanh thì không đạt được, xin Bệ hạ suy nghĩ kỹ.” Vua khen lời đối đáp của ông. Sau tiệc, Vua ban cho ông tại nhà mười thạch rượu quý và một trăm cừu ngự thiện. Sau đó, ông đi theo Vua, giữa đường lâm bệnh, về lại và mất tại dịch trạm Lương Hầu. Ông được truy tặng chức Thị trung, thụy hiệu Tuyên Ý.
[67] Thành Thái Nguyên lâu ngày không hạ được, Đông Tây ban Đô chỉ huy sứ người Phạm Dương là Lý Hoài Trung dẫn quân tấn công, giao tranh không lợi, trúng tên, suýt chết. Điện tiền Chỉ huy sứ Đô ngu hậu Triệu Đình Hàn dẫn các vệ sĩ đến cúi đầu xin được lên trước tấn công gấp, để dốc hết sức mình. Vua nói: “Các khanh đều do ta huấn luyện, không ai không một địch trăm, được dùng để bảo vệ bên cạnh, cùng vui lo. Ta thà không lấy được Thái Nguyên, sao nỡ để các khanh xông pha nơi mũi nhọn, bước vào chỗ chết chóc?” Mọi người đều cảm động khóc, lạy hai lạy rồi hô vạn tuế.
Lúc ấy, đại quân đóng quân tại vùng đất Cam Thảo, gặp lúc trời oi bức mưa dầm, nhiều người bị bệnh đau bụng[7], trong khi đó Khiết Đan lại phái quân đến tiếp viện. Ngày Nhâm Tý, Thái thường bác sĩ Lý Quang Tán (Quang Tán, không rõ lai lịch.) dâng lời rằng: “Bệ hạ ứng theo mệnh trời, thuận theo lòng người, thể theo đạo lớn, trị vì thiên hạ, đánh đâu thắng đó, mưu lược đều chu toàn, các nước bốn phương nương tựa vào hiểm địa, giả mạo xưng hiệu đế vương, trước kia là láng giềng với Trung Quốc, nay đã trở thành bề tôi của Bệ hạ. Tấn Dương nhỏ bé kia, cần gì phải thân chinh! Gây thêm phiền phức vận lương, khiến dân chúng oán hận, chiếm được cũng chẳng thêm gì, mất đi cũng chẳng đáng xấu hổ. Quốc gia quý ở sự yên ổn, đạo trời ghét sự thịnh quá. Điều đáng lo là những nước vốn nương tựa vào hiểm địa, nghe tin việc binh này, sẽ vét sạch của cải trong kho, dùng hết sức dân, lòng dân phấn khích, đều nảy ý dòm ngó. Sách xưa có nói: ‘Láng giềng hùng mạnh, Vua mình suy yếu.’ Chi bằng hồi loan về đô, đóng quân ở Thượng Đảng, cho quân cắt lúa mùa hè, thu hoạch mùa màng thu, vừa giảm được sưu dịch, vừa là kế sách bình định, xin Bệ hạ xét đoán. Huống chi lúc này đang nóng nực, gặp mùa mưa dầm, nếu chỗ ngòi sông tràn lụt, đường sá khó khăn, việc vận chuyển chậm trễ, e rằng làm phiền Thánh lự.” Vua xem tấu, lấy làm vui, lại hỏi ý Thừa tướng Triệu Phổ, Phổ cũng cho là phải, bèn sai Phổ triệu Quang Tán đến an ủi vỗ về. Ngày Quý Sửu, Vua dời đến phía nam núi Hãn Sơn ở phía đông thành, bắt đầu bàn việc rút quân.
[68] Ngày Kỷ Mùi, di dời hơn một vạn gia đình dân chúng từ Thái Nguyên đến Sơn Đông và Hà Nam, cấp phát lương thực. Ngày Canh Thân, phân phái mười bảy sứ giả, điều động cấm quân hộ tống họ, đồng thời đóng quân tại các châu Trấn, Lộ,… theo kế sách của Tiết Hóa Quang, người ở đất Giáng. Hóa Quang tâu: “Phàm chặt cây, trước hết phải chặt cành lá, sau mới đào gốc rễ. Hiện nay, Hà Đông bên ngoài có sự hỗ trợ của Khiết Đan, bên trong có dân chúng nộp thuế, ta lo rằng trong năm tháng khó mà hạ được. Nên ở phía bắc Thái Nguyên, tại núi Thạch Lĩnh và vùng tây núi thuộc giới Hà Bắc[8] cùng các thôn Tĩnh Dương, trấn Lạc Bình, cửa Hoàng Trạch, xã Bách Tỉnh đều xây dựng thành trại, chặn viện binh của Khiết Đan; di dời dân chúng trong vùng đó đến Tây Kinh, Tương, Đặng, Đường, Nhữ Châu, cấp đất bỏ hoang để họ tự canh tác, cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho địch. Làm như vậy, chỉ trong vài năm, tự nhiên có thể bình định được.” Vua khen ngợi và chấp nhận kế sách này.
(Theo sách ‘Đông Trai Ký Sự’ của Phạm Trấn. Xét trong phần chí về mộ Tiết Khuê của Âu Dương Tu có ghi: cha là Hóa Quang dâng kế sách cho Thái Tông nhưng không được dùng. Âu Dương Tu chắc sai vậy. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4, bình định Thái Nguyên, thu được 35.220 hộ và 3 vạn binh. Trước đó, Trần Hồng Tiến dâng hai châu Chương, Tuyền hàng, thu được 151.978 hộ và 18.727 binh. Những vùng do Kế Nguyên thống trị gồm 11 châu quân, chỉ thu được số hộ bằng một phần năm so với Chương, Tuyền. Thực ra do kế sách của Hóa Quang được thực hiện, dân canh tác phần lớn di cư về phía nam, số còn lại rất ít, hơn nữa số binh gần bằng số dân, hầu như một hộ phải nuôi một binh, thì muốn quốc gia không diệt vong, làm sao được? Trong bản kỷ chỉ ghi Sơn Đông, nay căn cứ vào ‘Thập Quốc Kỷ Niên’ và thêm Hà Nam.)
[69] Ngày Nhâm Tuất, xa giá rời Thái Nguyên.
[70] Quân triều đình bị địch bắt giữ hàng trăm người, Vua sai Phó chỉ huy sứ Kiêu hùng là Khổng Thủ Chính, người Tuấn Nghĩa, dẫn kỵ binh đến cứu. Thủ Chính xông pha đánh trận, giành lại được hết tất cả. Bắc Hán chủ thu nhặt quân nhu bỏ lại của ta, được ba mươi vạn hộc lương, cùng mấy vạn tấm trà và lụa. Nhờ đó mà phần nào vượt qua khó khăn khi thất bại thảm hại. (Theo ‘Thập quốc kỷ niên’).
[71] Ngày Mậu Thìn, nghỉ tại Trấn Châu.
[72] Trước đây, Tô Trừng người Chân Định, giỏi phép dưỡng sinh, làm đạo sĩ ở chùa Long Hưng. Ông từng được Vua Đường và Tấn mời đến nhiều lần nhưng đều cáo bệnh không đi. Khi Khiết Đan chủ muốn tự lập, tìm các tăng đạo có danh tiếng để phong tước, chỉ có Trừng là không nhận. Vua bèn triệu ông đến, hỏi: “Trẫm xây chùa Kiến Long, muốn mời người có đạo ở đó. Sư có ý gì không?” Trừng đáp: “Kinh đô náo nhiệt, không phải nơi an tịnh.” Vua cũng không ép. Ngày Nhâm Thân, Vua đến nơi ở của ông, nói: “Sư đã ngoài tám mươi mà dung mạo còn trẻ trung, sao không dạy Trẫm phép dưỡng sinh?” Trừng đáp: “Thần dưỡng sinh chỉ là tập trung tư tưởng và luyện khí. Còn đế vương dưỡng sinh thì khác. Lão Tử nói: ‘Ta không làm gì thì dân tự hóa, ta không ham muốn thì dân tự chính.’ Không làm, không ham muốn, tập trung tinh thần vào sự hòa hợp. Xưa Hoàng Đế, Đường Nghiêu trị nước lâu dài cũng nhờ đạo này.” Vua vui lòng, ban thưởng hậu hĩ.
[73] Xu mật sứ Lý Sùng Củ bị bệnh, Vua vội sai thái y khám bệnh và cho đi xe mát về trước. Sùng Củ cúi đầu nói: “Xe mát là thứ dành cho bậc tôn quý, như thế là khiến thần chết sớm.” Ông cố từ chối, Vua đồng ý.
[74] Tháng này, Hữu bộc xạ nhà Đường, kiêm Môn hạ thị lang, Bình chương sự Du Giản Ngôn mất.
[75] Tháng sáu, ngày Kỷ Mão, Vua rời Trấn Châu.
[76] Lấy Nghi Loan sứ, Tri Dịch Châu là Hạ Duy Trung làm Dịch Châu thứ sử, kiêm chức Tuần kiểm sứ các châu Dịch, Định, Kỳ. Duy Trung giữ vững biên cương nhiều lần lập công, nên được thăng chức mà không đổi nhiệm vụ.
(Duy Trung, chưa thấy ghi chép khác.)
[77] Ngày Canh Thìn, ban chiếu rằng nơi nào xa giá đi qua, dân không phải nộp thuế mùa thu năm nay.
[78] Ngày Nhâm Ngọ, dừng chân ở Hình Châu.
[79] Ngày Quý Mùi, lấy Hữu bổ khuyết là Vương Minh, người Đại Danh, làm Kinh Hồ chuyển vận sứ, chuẩn bị dùng binh ở Lĩnh Nam.
[80] Ngày Bính Tuất, dừng chân ở Tương Châu.
[81] Nước sông Chương tràn bờ, làm hư cầu phao, lệnh cho quân sĩ khẩn trương sửa chữa. Cầu hoàn thành, Vua đi bộ qua cầu, nhưng khi Vua vừa qua, cầu lại đổ, bèn hạ lệnh cho các quân vượt sông qua dòng nước chảy xiết.
[82] Ngày Kỷ Sửu, dừng chân ở Hoạt Châu.
[83] Đường chủ sai em là Cát Vương Lý Tòng Khiêm đến cống. Ngày Tân Mão, Vua tiếp kiến tại huyện Tộ Thành. Viên ngoại lang bộ Thủy của Đường là Tra Nguyên Phương phụ trách việc dâng biểu tấu của Tòng Khiêm. Vua sai Tri chế cáo là Lư Đa Tốn chiêu đãi Tòng Khiêm tại quán dịch. Lư Đa Tốn đang chơi cờ, hỏi Nguyên Phương: “Giang Nam rồi sẽ thế nào?” Nguyên Phương chỉnh tề áo quần đáp: “Giang Nam đã thờ triều đình hơn mười năm, hết mực giữ lễ quân thần, không biết gì khác.” Lư Đa Tốn thẹn mà tạ lỗi: “Ai bảo Giang Nam không có người tài.” Nguyên Phương là con của Tra Văn Huy.
(Văn Huy, xuất hiện lần đầu vào năm Thiên Phúc thứ tám. Sự việc này theo ‘Thập quốc kỷ niên’, xảy ra vào tháng sáu.)
[84] Ngày Quý Tỵ, xa giá trở về từ Thái Nguyên.
[85] Ân xá cho tù nhân trong kinh thành.
[86] Sai sứ đi các châu phía tây kinh thành ban vải cho dân di cư từ Thái Nguyên, mỗi người một tấm. Lại sai Khống Hạc đô ngu hậu là Thôi Hàn, người Kinh Triệu, chọn những người dũng mãnh giỏi võ nghệ sung vào quân Cấm.
[87] Xu mật phó sứ Thẩm Nghĩa Luân đang để tang, được triệu làm việc lại.
[88] Tháng này, chúa nước Bắc Hán chém đầu Xu mật phó sứ Đoàn Húc và Mã quân đô ngu hậu Phùng Siêu tại cửa sông Hoại Thủy, vì tội không cứu khi nước tràn vào. Nước từ dưới thành chảy vào đầm Đài Đãi, sau khi nước rút, thành nhiều chỗ đổ nát. Sứ giả nước Khiết Đan là Hàn Tri Phan vẫn còn ở Thái Nguyên, than rằng: “Quân của triều đình dùng nước ngập thành, chỉ biết một mà không biết hai. Nếu biết ngâm thành trước rồi để khô sau, thì người ở Tịnh Châu còn ai sống sót.”
[89] Lúc đó, quân Khiết Đan sai tướng Nam Đại Vương đến cứu viện, đóng quân dưới thành Thái Nguyên. Lưu Kế Nghiệp tâu với Bắc Hán chủ rằng: “Khiết Đan tham lợi bội tín, ngày sau ắt sẽ phá nước ta. Nay quân cứu viện kiêu căng không phòng bị, xin tập kích bắt chúng, thu được hàng vạn ngựa, nhân đó chiếm lấy đất Hà Đông mà quy phục Trung Quốc, khiến người Tấn thoát khỏi cảnh lầm than, Bệ hạ được mãi hưởng vinh hoa, chẳng phải là điều tốt sao?” Bắc Hán chủ không nghe theo. Mấy ngày sau, Nam Đại Vương rút quân về bắc, được ban tặng rất hậu.
Đô quỷ chủ A Phục của bộ tộc Cung Bộ Xuyên và vương tử Vật Nhi của bộ tộc Lưỡng Lâm ở phía sau núi sai người dâng biểu lên Lê Châu, xin vào tháng mười đến cống nạp. Thành Đô phủ dâng tấu tình hình này, chiếu chỉ cho phép.
(Sách ‘Tục Cẩm Lí Kì Cựu Truyền’ chép: Mùa hạ năm Càn Đức thứ ba, Lê Châu nhận được thư từ Vân Nam, nói rằng Diễn tập sảng của thành Kiến Xương nước Đại Lý chúc mừng việc bình định Thục. Lại tháng hai năm Khai Bảo nguyên niên, Lê Châu nhận được thư từ thành Kiến Xương của Nam Chiếu, bày tỏ ý muốn giao hảo. Sau đó, không có thư từ nào nữa, chỉ sai vương tử của bộ tộc Cung Bộ và Lưỡng Lâm Xuyên[9], thỉnh thoảng có cống nạp. Cung Bộ và Lưỡng Lâm Xuyên, chính là đất Huề và Diêu Châu thời xưa. Cung Bộ Xuyên cách giới hạn sông Đại Độ thuộc Lê Châu bảy ngày đường, Lưỡng Lâm Xuyên mười bốn ngày đường, thành Kiến Xương hai mươi bốn ngày đường, Vân Nam mấy chục ngày đường.
Hiện nay, quốc sử có phần truyện về bộ tộc Lưỡng Lâm phía sau núi của Lê Châu và bộ tộc Cung Bộ Xuyên của Lê Châu, nhưng không có phần truyện về nước Đại Lý của Vân Nam. Xét theo ‘Tục Kì Cựu Truyền’, thì bộ tộc Lưỡng Lâm phía sau núi và Cung Bộ Xuyên đều là bộ lạc của Vân Nam. Lại xét quốc sử, Thực lục, hội yếu, tháng mười năm Ung Hi thứ hai, đô quỷ chủ Nặc Khu của bộ tộc Cung Bộ Xuyên cùng mẹ là Nhiệt Miễn sai vương tử A Hữu đến cống nạp, chiếu chỉ phong Nặc Khu làm Hoài Hóa tướng quân. Tháng chín năm Đoan Củng thứ hai, lại sai vương tử Thiếu Cái đến cống nạp.
Năm Thuần Hóa nguyên niên, tháng hai, Nặc Khu tự dẫn ngựa đến biên giới Lê Châu để xin buôn bán. Năm thứ hai, tháng bảy, ông lại sai con trai là Mâu Ngang và chú là Ly Miệt đến triều cống. Vua ban chiếu phong Nặc Khu làm Hoài Hóa đại tướng quân. Theo quốc sử, Thực lục, hội yếu, Nặc Khu được ghi là Đô quỷ chủ của bộ tộc Cung Bộ Xuyên, rõ ràng không phải quốc chủ Đại Lý. Ghi chép này phù hợp với ‘Tục Kỳ Cựu truyện’.
Tuy nhiên, Tân Di Hiểu trong ‘Vân Nam Chí Đạo lục’ lại chép rất chi tiết về phong cảnh sông núi, phong tục của Đại Lý cùng chiếu thư từ triều đình ban cho Nặc Khu vào cuối năm Thuần Hóa. Chiếu thư viết: “Sắc cho quốc chủ Đại Lý, thống lĩnh các bộ tộc phía nam sông Đại Độ, giới hạn từ Diêu Huề Châu trước núi sau núi, gồm 36 quỷ chủ, kiêm thêm Hoài Hóa đại tướng quân, Trung Thuận vương Nặc Khu, đặc cách ban chức Kiểm hiệu thái bảo, Quy Đức đại tướng quân, vẫn giữ nguyên tước Trung Thuận vương.” Di Hiểu từng hai lần đến Vân Nam, tận mắt thấy chiếu thư, nên những gì ông ghi chép chắc chắn không sai. Như vậy, Nặc Khu thực sự là quốc chủ Đại Lý, chứ không phải Đô quỷ chủ của Cung Bộ Xuyên. Không rõ vì sao quốc sử, Thực lục, hội yếu chỉ ghi là người Cung Bộ Xuyên mà không ghi là quốc chủ Đại Lý.
Di Hiểu còn nói rằng, biểu tạ ân của Nặc Khu dùng ấn ‘Nguyên Hòa Sách Nam Chiếu’. Tra cứu sử sách trước đó, cuối năm Đại Trung, Nam Chiếu Tù Long lên ngôi, tự xưng đế, đặt quốc hiệu là Đại Lý. Cuối năm Can Phù, con của Tù Long là Pháp đổi quốc hiệu thành Hạc Thác, cũng gọi là Đại Phong Nhân, nhưng Nặc Khu vẫn dùng ấn ‘Nguyên Hòa Sách Nam Chiếu’, không rõ vì sao. Đến thời Hậu Đường lại đổi quốc hiệu thành Trường Hòa. Nay nếu coi Nặc Khu là quốc chủ Đại Lý, thì không nên xếp vào truyện người Cung Bộ Xuyên. Có lẽ quốc sử, Thực lục, hội yếu đã sai lầm. Song, Nặc Khu nhiều lần giao thiệp với Trung Quốc, làm sao sử quan lại có thể nhầm lẫn đến thế? Hay Nặc Khu từng tự xưng là người Cung Bộ Xuyên, nên sử quan dùng theo? Nếu không, có thể lễ vật triều cống của Nặc Khu chỉ thông qua người Cung Bộ Xuyên để đến Trung Quốc, nên sử quan thấy người triều cống là người Cung Bộ Xuyên mà không biết thực chất là do Nặc Khu phái đi? Hơn nữa, con trai hoặc em trai của Nặc Khu từng đến tận kinh đô, sử sách cũng ghi Nặc Khu tự dẫn ngựa đến biên giới, nên người được phái đến Trung Quốc hẳn là người Đại Lý, chứ không chỉ người Cung Bộ Xuyên. Cung Bộ Xuyên chỉ là một bộ lạc của Vân Nam. Nặc Khu há lại từ bỏ quốc hiệu của mình mà lấy tên bộ lạc làm danh hiệu? Di Hiểu còn nói Nặc Khu ở thành Tư Mị. Tư Mị là kinh đô của Vân Nam, từ Gia Châu theo đường sông Dương Sơn đến Tư Mị phải qua 49 chặng, khoảng cách đến biên giới Lê Châu có thể ước đoán được. Nặc Khu đã là quốc chủ, há lại vượt nghìn dặm đến xin buôn bán?
Theo các ghi chép trong ‘Quốc sử’, ‘Thực lục’, ‘Hội yếu’, lại sợ chưa chắc đã đúng sự thật. Những điều này đều không thể đoán định tùy tiện, nay tạm theo ‘Quốc sử’, cần phải xem xét kỹ lưỡng hơn nữa. Lại căn cứ vào ‘Quốc sử’, thành Kiến Xương cách châu Huề hai chặng đường, đó là dịch Kiệm Lãng. Chỉ riêng chưa thấy ghi chép nào về thành Kiến Xương, không biết rốt cuộc là đất nào. Lại căn cứ vào ‘Quốc sử’ và ‘Thực lục’, bộ tộc Lưỡng Lâm Man cách châu Lê bảy chặng đường, thêm một chặng nữa đến châu Huề, lại hai chặng nữa đến thành Kiến Xương. Trên núi thành Kiến Xương lại có bộ tộc Phong Bà Man, không rõ khi nước Đại Lý muốn giao hảo, tại sao lại dùng thư từ của thành Kiến Xương?
Tân Di Hiển nói rằng từ dịch Kiệm Lãng thêm một chặng nữa đến dịch Khương Lãng, đây chính là biên giới Vân Nam, có tấm bảng ghi rằng là địa phận đô đốc châu Hội, lẽ nào thành Kiến Xương chính là vùng biên giới Vân Nam, cũng giống như châu Hùng của Trung Quốc, các sứ giả qua lại ắt phải đi qua đây trước hay sao? Chưa thể biết được. Lại tra cứu ‘Quốc sử’: Từ châu Lê đi về phía đông nam một chặng đến xuyên Cung Bộ, từ châu Lê đi về phía nam bảy ngày đến xuyên Lưỡng Lâm. Có thể đoán rằng sứ giả đi Nam Chiếu ắt phải đi qua xuyên Cung Bộ trước, sau đó đến xuyên Lưỡng Lâm, mà khi Nam Chiếu muốn triều cống Trung Quốc, cũng nên đi qua xuyên Lưỡng Lâm trước, rồi mới đến xuyên Cung Bộ. Nhưng các ghi chép về đường đi giữa hai xuyên này lại không khớp với ‘Tục kỳ cựu truyền’, việc này cũng không thể đoán định tùy tiện, cần phải xem xét kỹ lưỡng mới có thể quyết định được.)
[90] Mùa thu, tháng bảy, ngày Đinh Tỵ, Vua ngự đến chùa Phong Thiền.
[91] Ngày Giáp Tí, mở tiệc lớn ở điện Quảng Chính, ban cho các quan cận thần áo mặc và đai vàng.
[92] Ngày Bính Dần, lấy Thiên Hùng tiết độ sứ Phù Ngạn Khanh làm Phượng Tường tiết độ sứ. Ngạn Khanh trấn trị Đại Danh hơn mười năm, giao chính sự cho nha hiệu Lưu Tư Ngộ. Tư Ngộ tham lam và xảo quyệt, lạm quyền, tham nhũng, khiến quân phủ suốt thời gian dài không được yên ổn. Do đó, bắt đầu bàn việc chọn quan khác thay thế.
[93] Ngày Mậu Thìn, con trai của hầu tước Tây Nam Di là Vũ Tài cùng 142 người đến triều cống. Phong Vũ Tài làm Quy Đức tướng quân.
[94] Ban chiếu rằng từ nay tế trời đất dùng lễ Thái Lao, còn lại nếu cần dùng trâu thì thay bằng dê và lợn.
[95] Ngày Quý Dậu, Vua ngự đến Tân Thủy Cái.
[96] Sông Biển vỡ đê ở huyện Hạ Ấp, châu Tống.
[97] Trong tháng này, lệnh cho các châu Trấn, Thâm, Triệu, Hình, Minh củng cố thành trì ở các huyện, trấn, quân trại trong phạm vi quản hạt.
[98] Tháng tám, ngày Kỷ Mão, ban chiếu cho Khai Phong, Hà Nam phủ rằng từ nay nô tỳ bị chết oan phải lập tức kiểm tra, cho phép chôn cất nhanh chóng[10], còn người chết vì bệnh thì không cần kiểm tra[11]. Quan lại nào gây phiền nhiễu sẽ bị trị tội.
[99] Lại ban chiếu: “Nghe nói ở Lưỡng Kinh, các gia đình sĩ thứ trong việc cưới hỏi, tang lễ, quan lại phủ đài cùng bọn người buôn thường đến nhà, chặn đường đòi tiền của. Từ nay cấm chỉ việc này, kẻ vi phạm sẽ bị trừng trị nặng.”
[100] Linh Vũ tiết độ sứ Phùng Kế Nghiệp sau khi giết anh, thay cha lãnh đạo trấn, tỏ ra kiêu ngạo, thường xuất quân cướp bóc dê ngựa của người Khương Di, khiến người dân không phục. Lại đối xử bạc với quân sĩ, bộ hạ phần lớn phản lại. Kế Nghiệp cũng lo sợ họ làm phản. Khi Vua còn ở ngôi bá, có quen biết Kế Nghiệp, đến khi lên ngôi, Kế Nghiệp nhiều lần đến chầu và dâng cống, nhân đó xin cả gia tộc dời vào trong thành. Ngày Canh Thìn, lấy Kế Nghiệp làm Tĩnh Nan tiết độ sứ.
[101] Lấy Lệ Châu phòng ngự sứ Hà Kế Quân lãnh Kiến Vũ tiết độ sứ, kiêm quản Lệ Châu.
[102] Ngày Đinh Hợi, lệnh cho các châu Xuyên, Thiềm tra xét dân chúng nào còn cha mẹ mà phân tài sản riêng, tội đáng chết.
[103] Ngày Quý Tỵ, đến phủ Khai Phong.
[104] Ngày Kỷ Hợi, quan Hộ bộ Viên ngoại lang, tri chế cáo là Vương Hộ được quyền giữ chức Tri phủ Đại Danh. Khi từ biệt, Vua bảo ông rằng: “Đại Danh là quê hương của khanh, như người xưa nói, đây là dịp khanh được vẻ vang trở về.”
[105] Tây Kinh lưu thủ là Hướng Củng ở Hà Nam hơn mười năm, chỉ chuyên lo sửa sang vườn tược, nhà cửa, ham mê thanh sắc, ngày đêm say sưa, buông thả theo ý thích. Chính sự suy đồi, trộm cướp công khai hoành hành nơi chợ búa, quan lại không bắt nổi. Vua nghe tin nổi giận, ngày Canh Tý, điều Củng làm An Viễn tiết độ sử.
[106] Tháng chín, ngày Ất Tỵ mùng một, đến miếu Võ Thành Vương.
[107] Ngày Đinh Mùi, lấy Tả Vũ vệ Thượng tướng quân là Tiêu Kế Huân làm Tri phủ Hà Nam. Vua dặn Kế Huân rằng: “Tây Lạc đã lâu không được trị yên, khanh chớ bắt chước Hướng Củng.” Kế Huân nhậm chức hơn một tháng, kinh thành trở nên yên ổn.
[108] Ngày Canh Tuất, ra lệnh phải tâu xin ý chỉ của Vua khi xử tử kẻ trộm cướp.
([12], sai mang thêm vàng lụa để khao thưởng dân chúng. Tư Cung nhậm chức, sửa chữa những lỗi lầm của Kế Nghiệp, chăm lo vỗ về, khiến bộ lạc yên ổn, thường xuyên thăm hỏi dân tình, dâng nhiều tấu chương, được lòng quan lại và dân chúng.
[110] Ngày Canh Thân, đặt trấn Nùng Hồi của hợp Châu làm Quảng An quân.
[111] Khiết Đan Trác châu Thứ sử Hứa Chu Quỳnh đến hàng, được bổ làm Hữu Vũ lâm tướng quân, vẫn kiêm nhiệm Trác châu Thứ sử.
(Chu Quỳnh, sử không chép rõ.)
[112] Ngày Nhâm Mậu, ngự đến vườn Ngọc Tân dự tiệc và bắn cung.
[113] Ngày Tân Mùi, lấy Long Tiệp tả sương đệ lục quân chỉ huy sứ Phan Quang Dụ làm Nội ngoại mã bộ quân phó đô đầu, kiêm nhiệm Chấn châu đoàn luyện sứ, để thưởng công chống giặc ở ải Thạch Lĩnh[13].
(Phan Quang Dụ, sử không chép rõ.)
[114] Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Thân, cựu Tư đồ Đậu Trinh Cố qua đời. Năm Kiến Long đầu tiên, Trinh Cố với tư cách là cựu Tam công đến kinh đô dự lễ, đến gặp Phạm Chất xin được bổ nhiệm chức Đông cung tam thiếu để tham dự triều hội. Chất không tâu lên Vua, [Trinh Cố] bèn trở về Lạc Dương, ngao du sơn thủy, cùng với những người áo vải mang theo ca kỹ, rượu chè để tự vui.
[115] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu cho các đạo Tây Xuyên, Sơn Nam, Kinh Hồ, từ nay phái cử nhân đi thi, khi đi và về đều cấp giấy thông hành.
(Theo 'Đông Đô sự lược' của Vương Xưng: Ngày Đinh Hợi, tháng 10, năm Khai Bảo thứ hai, Vua ban chiếu rằng: "Xưa, nhà Tây Hán tìm những người trong dân và quan lại am hiểu kinh thuật, cho họ đi cùng với bọn kế sĩ, các huyện tiếp tục cấp lương thực, đó là đạo lý ưu đãi người hiền. Nay quốc gia mỗi năm mở khoa thi để tìm người tài, sĩ tử bốn phương dù xa xôi đều đến, nhưng đường sá xa xôi, tiền nong có khi thiếu thốn, Trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, các cử nhân ở Tây Xuyên, Sơn Nam, Kinh Hồ, khi đi và về đều được cấp giấy thông hành.")
[116] Ngày Mậu Tý, đi săn ở vùng ngoại ô.
[117] Tán chỉ huy đô tri Đỗ Diên Tiến cùng mười chín đồng đảng mưu làm loạn, việc bị phát giác. Đêm ấy, Vua mở cửa Huyền Vũ, sai nội thị bí mật truyền lệnh cho điện tiền đô ngu hậu là Dương Nghĩa bắt giữ. Đến sáng, tất cả đều bị bắt. Vua ngự tại điện nhỏ, thân hành tra hỏi. Ngày Canh Dần, tất cả bị chém ở chợ, giết cả họ tộc. Nha môn của Dương Nghĩa nằm bên cạnh cổng Huyền Vũ. Một hôm, Vua tập trận ở hồ sau, tiếng hò reo vang ra ngoài. Dương Nghĩa nghe thấy, không rõ nguyên do, vội vào đến cổng vườn thượng uyển, vẫn mặc áo bào màu đen. Vua triệu vào gặp, cho ngồi, bảo rằng: "Ta đang tập thủy chiến, nên bảo họ hò reo thôi." Khi Dương Nghĩa ra ngoài, Vua nói với các thị thần: "Đây thật là bề tôi trung thành."
[118] Ngày Tân Mão, ban chiếu cho các châu Quy, Hiệp trực thuộc kinh sư.
[119] Ba trăm ba mươi bốn dân phu của ba châu Tương, Thâm, Triệu chết dưới thành Thái Nguyên, được chiếu miễn thuế ba năm cho gia đình.
[120] Ngày Mậu Tuất, Vua đến thăm Tân Thủy Cối, rồi đến Phi Long viện, ban cho các quan theo hầu mỗi người một con ngựa. Sau đó, Vua đến thăm chùa Phong Thiền.
[121] Châu Dịch báo: tướng quân Hữu thiên ngưu vệ của Khiết Đan là Vương Giáp dâng châu Phong xin quy phụ. Vua lập tức cho con ông là Thừa Mỹ làm nha nội chỉ huy sứ của châu Phong.
(Sách 'Hội yếu' và 'Kinh vũ thánh lược' đều chép rằng: châu Phong vốn là nơi ở của thủ lĩnh tộc Tạng Tài hà Tây là Vương Giáp, được Khiết Đan phong làm Hữu thiên ngưu vệ đại tướng quân. Năm Khai Bảo thứ hai, ông dẫn dân chúng quy thuận, rồi con ông là Thừa Mỹ được phong làm nha nội chỉ huy sứ. Nhưng trong 'Bản kỷ' và 'Thực lục' lại chép rằng Hữu thiên ngưu vệ tướng quân Vương Thừa Mỹ đến quy hàng, là sai vậy.)
[122] Ngày Kỷ Hợi, Vua bày tiệc chiêu đãi các bậc phiên thần tại vườn sau. Khi rượu đã ngà ngà, Vua từ tốn nói: "Các khanh đều là bậc cựu thần của quốc gia, đã lâu đảm nhiệm những trọng trấn khó khăn, việc vương sự bề bộn, không phải là ý của Trẫm muốn đãi ngộ hiền tài vậy." Tiết độ sứ Phượng Tường kiêm Trung thư lệnh Vương Ngạn Siêu hiểu ý Vua, liền tiến lên tâu: "Thần vốn không có công lao gì, lại lâu được hưởng vinh sủng, nay đã già yếu, xin được nghỉ hưu, trở về quê nhà, đó là nguyện vọng của thần." Tiết độ sứ An Viễn kiêm Trung thư lệnh Vũ Hành Đức (Hành Đức, lần đầu được đề cập vào năm Thiên Phúc thứ 12), Tiết độ sứ Hộ Quốc Quách Tòng Nghĩa, Tiết độ sứ Định Quốc Bạch Trọng Uân, Tiết độ sứ Bảo Đại Dương Đình Chương đều tranh nhau kể lại những chiến công và những khó khăn mà họ đã trải qua. Vua nói: "Đó là chuyện đời trước, không đáng bàn nữa."
Ngày Canh Tý, phong Vũ Hành Đức làm Thái tử thái phó, Quách Tòng Nghĩa làm Tả Kim Ngô vệ thượng tướng quân, Vương Ngạn Siêu làm Hữu Kim Ngô vệ thượng tướng quân, Bạch Trọng Uân làm Tả Thiên Ngưu vệ thượng tướng quân, Dương Đình Chương làm Hữu Thiên Ngưu vệ thượng tướng quân.
(Theo sách 'Bảo huấn' và cố sự, có ghi rằng cùng ngày, Hướng Củng và Viên Ngạn cũng bị miễn chức ở phương trấn, được phong làm hoàn vệ. Nhưng xét vào tháng 7 năm nay, Viên Ngạn từ Tĩnh Nan được điều đến Bảo Đại, Hướng Củng từ Tây Kinh được điều đến An Viễn, lúc này cả hai đều không ở kinh sư, có lẽ là nhầm lẫn. Nay không lấy làm căn cứ.)
[123] Thái tử thái phó Vương Phổ được thăng làm Thái tử thái sư, vào tạ ơn, Vua nhìn ông và nói: "Phổ đã làm tướng mười năm, ba lần được thăng lên nhất phẩm, phúc lộc thịnh vượng, đời gần đây chưa từng có."
[124] Ban đầu, Đinh Đức Dụ, Vương Ban và Trương Dư cùng lĩnh binh đóng quân ở Tây Xuyên. Đức Dụ thường tự chuyên quyền, ngạo mạn. Binh mã đô giám Trương Diên Thông cùng phe với Trương Dư, càng không vừa ý. Lúc ấy, Vua thân chinh đánh Bắc Hán, có sứ giả từ Thái Nguyên trở về, kể lại việc Vua trong tiết nắng gắt, vất vả cầm cung đá xông pha trận mạc. Diên Thông bèn nói với Đức Dụ: "Vua phơi mình giữa nắng gió như vậy, mà chúng ta ngày ngày hưởng thụ của ngon vật lạ, chỉ lo hưởng nhàn." Diên Thông nói vậy là thể hiện ý tự thấy bất an, nhưng Đức Dụ không đáp lại. Sau đó, Trương Dư về kinh trước, được Vua ban thưởng hậu hĩnh. Khi Diên Thông và Đức Dụ về đến, Vua lại triệu Diên Thông vào hỏi han, nhưng đối đãi với Đức Dụ thì hơi lạnh nhạt. Đức Dụ nghi ngờ Diên Thông gièm pha mình, nên sinh lòng lo sợ, bèn tâu lên rằng Diên Thông từng nói trước đám đông những lời phạm thượng và các việc phi pháp, lại chỉ Trương Dư là đồng đảng. Vua nổi giận, bắt giam Diên Thông, Trương Dư và Vương Ban vào ngục của Ngự sử để tra xét. Diên Thông đều nhận tội, mong được gặp Vua để phân rõ phải trái. Ngày Quý Mão, Vua ngự ở điện nhỏ, cho gọi lên chất vấn. Diên Thông cãi lại, lời lẽ không kính trọng. Vua liền ra lệnh chém đầu nơi chợ. Trương Dư, Vương Ban và nội phẩm Vương Nhân Cát đều bị đánh bằng gậy vào xương sống. Trương Dư cùng gia quyến bị đày ra đảo Sa Môn, tịch thu gia sản. Vương Ban bị đày đến Hứa Châu, Nhân Cát bị phát vãng đến Tây Sằn Vụ.
[125] Tháng 10, các tộc Khiết Đan gồm Xá Lợi, Vu Lỗ cùng 16 tộc khác quy phụ. Phong bốn đại thủ lĩnh là La Mỹ làm Hoài Đức tướng quân, tám người làm Hoài Hóa lang tướng; 15 thứ thủ lĩnh là Nặc Nhĩ Sấm Vượng Bố làm Quy Đức ty qua.
(Trong 'Bản kỷ', sau ngày Canh Dần và trước ngày Mậu Tuất, có ghi rằng Thứ sử Phong Châu là Vương Trọng An tâu rằng 16 tộc Khiết Đan quy phụ. Lại trong ngày Mậu Tuất, châu Dịch tâu rằng Hữu Thiên Ngưu vệ tướng quân của Khiết Đan là Vương Thừa Mỹ đến hàng. Xét cha của Vương Thừa Mỹ là Giáp thực tế cư trú tại Phong Châu, không rõ Thứ sử Phong Châu Vương Trọng An được nhắc trong 'Bản kỷ' là ai. 'Hội yếu' và 'Khiết Đan truyện' cũng ghi chép về Vương Trọng An giống 'Bản kỷ', đồng thời ghi việc phong chức cho các đại thủ lĩnh, nhưng 'Thực lục' lại không có. Điều này đáng nghi. Hơn nữa, không rõ Phong Châu này có phải là nơi Vương Giáp cư trú hay là một Phong Châu khác, và Vương Trọng An cũng là một Thứ sử khác. Theo 'Thực lục', năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 7, tháng 12 nhuận, có ghi rằng Thứ sử Phong Châu Vương Thừa Mỹ tâu rằng các tộc Xá Lợi, Vu Lỗ đến hàng, tên gọi gần giống với lời tâu của Vương Trọng An. Phải chăng các tộc Xá Lợi, Vu Lỗ đã hàng rồi lại phản, phản rồi lại hàng? Nếu không, điều này cũng đáng nghi. Tên và chức vụ của Vương Thừa Mỹ trong 'Bản kỷ' và 'Thực lục' đều sai, trước đây đã sửa lại. Riêng tên hiệu của Vương Trọng An không có tài liệu khảo chứng, nay vào cuối tháng này vẫn ghi việc các tộc Xá Lợi, Vu Lỗ quy thuận, nhưng bỏ đi câu "Thứ sử Phong Châu Vương Trọng An tâu" gồm tám chữ, để không lẫn lộn với Vương Giáp và Vương Thừa Mỹ, đợi sau này xem xét lại.)
[126] Tháng 11, ngày Mậu Thân, ngày Đông chí, Hoàng đế ngự tại điện Càn Nguyên nhận triều.
[127] Ngày Giáp Dần, đi săn ở vùng ngoại ô. Khi trở về, ngự đến vườn Kim Phượng.
[128] Ngày Canh Thân, người Hồi Cốt và Vu Điền đều cử sứ giả đến triều cống phương vật. Sứ giả Hồi Cốt đi qua Linh Châu, giao dịch ở chợ. Tri châu Đoàn Tư Cung sai lại viên mua cương sa, lại viên và sứ giả tranh giá, cãi nhau giận dữ. Tư Cung tha cho lại viên, không hỏi tội, nhưng lại trói sứ giả vài ngày rồi mới thả. Sứ giả về nước, tố cáo việc này. Khả hãn Hồi Cốt cử sứ giả mang thư đến Linh Châu hỏi lý do bị trói. Tư Cung biết mình lý khuất, không dám trả lời. Từ đó mấy năm liền, Hồi Cốt không đến triều cống nữa.
[129] Ngày Bính Dần, Vua đi săn ở vùng ngoại ô, rồi về thăm vườn Kim Phượng.
[130] Ngày Mậu Thìn, Vua xuống chiếu cho Trung thư xá nhân Lý Phưởng và Binh bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Lư Đa Tốn cùng làm việc ở Viện Học sĩ. Việc phân công trực ở Viện Học sĩ bắt đầu từ Phường và Đa Tốn. Trước đây, khi đường lại đến Hàn Lâm, họ đều lạy dưới sảnh, học sĩ hơi đứng dậy chào, xong việc liền lui, chưa từng ngồi cùng. Phường trước kia ở Hàn Lâm cũng vậy. Đến lúc này, người có việc bẩm báo liền lạy trên sảnh, lại còn kể lể chuyện trong ngoài, không còn giữ lễ như trước. Phường ngạc nhiên, hỏi đồng liệt, thì được biết việc này đã theo thói quen mấy năm, không ai biết lý do. Lễ bộ thượng thư người Trường An là Dương Chiêu Kiệm thích châm chọc, bèn nói rằng Phường đã lạy đường lại, từng nhận được danh thiếp của họ.
(Chiêu Kiệm là cháu đời thứ tư của Dương Tự Phục, lần đầu xuất hiện vào năm Thanh Thái thứ hai.)
[131] Tháng này, Vua nước Đường đi săn ở núi Thanh Long, về đến Đại Lý Tự, thân chính xét tù nhân, tha nhiều người. Trung thư thị lang Hàn Hi Tải dâng tấu: "Việc ngục tù phải do quan chức phụ trách, trong ngục không phải là nơi xa giá nên đến, xin phạt ba trăm vạn tiền trong kho để sung vào quân nhu."
[132] Ngày Giáp Tuất, mùng một tháng chạp, Vua đi săn ở vùng ngoại ô.
[133] Ngày Tân Tỵ, Hộ bộ phán quan, Hữu bổ khuyết Lý Lệnh Tuân bị miễn chức, vì tội để mất vật phẩm của quan khi làm nhiệm vụ ở Tam ty tùy quân.
[134] Ngày Quý Mùi, Vua đến Trung thư tỉnh thăm tể thần Triệu Phổ đang ốm.
[135] Ngày Ất Dậu, lấy Phòng ngự sứ Phòng Châu là Vương Ngạn Thăng làm Phòng ngự sứ Nguyên Châu. Ngạn Thăng có sức mạnh, giỏi đánh kiếm, trong quân gọi ông là "Vương Kiếm Nhi". Tính tình tàn nhẫn, ở Nguyên Châu tổng cộng năm năm, người Nhung nào phạm luật nhà Hán, Ngạn Thăng không gia hình, mà triệu tập các thuộc hạ uống rượu, dẫn người Nhung phạm tội ra trước mặt, tay nắm tai họ mà cắn, rồi uống rượu. Người Nhung chảy máu đầm đìa, run rẩy không dám nhúc nhích. Trước sau ông cắn tai của hàng trăm người, người Nhung sợ hãi, không dám xâm phạm biên giới. Đến đời Thiên Thánh, người Nhung phương Tây vẫn còn những kẻ cụt tai, đều là do Ngạn Thăng cắn.
[136] Có người tên là Tân Văn Duyệt, không rõ quê quán, Thượng từ nhỏ theo Văn Duyệt học hành, đến khi lên ngôi, triệu kiến, phong làm Thái tử Trung Doãn, kiêm chức Phán Thái Phủ Tự. Lúc đó Chu Trịnh Vương đang ở Phòng Châu, Thượng cho rằng Văn Duyệt là người trưởng thượng, ngày Mậu Tuất, sai Văn Duyệt làm Tri phủ Phòng Châu.
(Sách ‘Tân Lục’ và ‘Cựu Lục’ đều ghi rằng Chu Trịnh Vương ra ở Phòng Châu vào năm Kiến Long thứ ba, nhưng ‘Đường Dư Lục’ lại nói Trịnh Vương ra khỏi Tây Cung vào năm Khai Bảo thứ ba, không rõ căn cứ từ đâu. E rằng ‘Đường Dư Lục’ sai. Theo ‘Tân Lục’ và ‘Cựu Lục’, Tân Văn Duyệt làm Tri phủ Phòng Châu vào ngày Mậu Tuất tháng 12 năm Khai Bảo thứ hai, nhưng bản truyện của Văn Duyệt lại ghi là năm thứ ba, e rằng bản truyện sai, nay theo ‘Thực Lục’.)
[137] Đức Dụ lại tấu rằng Chuyển vận sứ Tây Xuyên, Lang trung Lễ bộ là Lý Huyền cũng thường say rượu, lời nói có ý phỉ báng, Thượng sai trạm dịch bắt Huyền giam vào ngục Ngự sử để tra xét. Huyền nhân đó cáo rằng Đức Dụ khi ở Thục nhiều lần nhờ vả việc riêng, ông đều từ chối, đều có bằng chứng. Ngự sử tâu lên, Thượng hiểu ra, chỉ xử tội Huyền vì lỡ lời khi say. Ngày Kỷ Hợi, giáng Huyền làm Tả Tán Thiện Đại Phu.
(Sách ‘Thành Đô Ký’ chép rằng Lý Huyền bị giáng chức vì cùng Trương Diên Thông viết kinh chữ vàng, khác với bản truyện, nay theo ‘Quốc Sử’. Lý Huyền, không rõ. Tra ‘Tống Sử’, ghi là Hữu Tán Thiện Đại Phu.)
[138] Tước bỏ hai nhiệm kỳ của Hữu tán thiện đại phu Vương Chiêu Văn (theo ghi chép trong Tống sử và Tiết Ứng Kỳ Tục Thông Giám, đều viết là Vương Chiêu.) Chiêu Văn bị điều phối đến Nhữ Châu, chịu trách nhiệm giám sát đại doanh Thảng, nhưng con trai của ông đã cấu kết với quan lại tại Thảng để thực hiện hành vi gian trá, dẫn đến bị kết tội.
[139] Phượng Tường tiết độ sứ Phù Ngạn Khanh bị bệnh, dùng kiệu đến trấn nhậm, đến Tây Kinh, dâng tâu bệnh nặng, được chiếu cho yết kiến tại Lạc Dương. Hết hạn nghỉ 100 ngày, vẫn nhận bổng lộc như cũ, bị ngự sử tố cáo, xin đưa đến Lưu Đài thẩm vấn. Nhà Vua vì Ngạn Khanh là người thân cũ, đặc cách tha bổng, chỉ bãi chức tiết độ sứ.
(Chức tiết độ sứ bị bãi, theo "Hội Yếu" vào tháng 11.)
[140] Năm ấy, chúa Khiết Đan là Minh bị thuộc hạ sát hại. Minh tính tình nghiêm khắc và hay ghét bỏ, lúc say, đòi ăn không được, định giết người đầu bếp. Người đầu bếp dâng thức ăn, giấu dao, giết Minh dưới chân núi Hắc Sơn. Minh trị vì 19 năm, được truy thụy là Mục Tông, hiệu là Thiên Thuận Hoàng Đế. Ông không có con, các bộ lạc chủ trì đón lập con của Thiên Thụ Hoàng Đế Ngột Dục là Minh Ký, hiệu là Thiên Tán Hoàng Đế, đổi tên là Hiền, cải nguyên thành Bảo Ninh. Cử Xu mật sứ (theo "Liêu Sử", ghi là Nam viện Xu mật sứ) Tri Chính sự lệnh Cao Huân giữ chức Chính sự lệnh, phong làm Tần Vương; Thị trung Tiêu Thủ Hưng làm Thượng thư lệnh, phong làm Ngụy Vương. Mỗi khi triều hội, đều mời ngồi bàn việc nước. Lấy con gái của Thủ Hưng là Yến Yến làm Hoàng hậu. Trước đây, Ngột Dục và vợ cùng ngày bị hại, Minh Ký khi đó mới 9 tuổi, được người khác bọc trong chiếu, giấu trong đống củi, nhờ vậy mà thoát chết. Khi lên ngôi, Minh Ký bị bệnh phong thấp, mọi việc nước đều do Yến Yến quyết định.
(Vợ của Minh Ký là Tiêu thị, tức Yến Yến. "Nhân Tông Thực lục" lại ghi Yến Yến là con gái của Bắc tể tướng Tiêu Tư Ôn, khác với chỗ này. Có lẽ Thủ Hưng có tên khác là Tư Ôn, cần khảo cứu thêm.)
[141] Con của Thiên Vương nương tử nước Tháp Thản là Sách Bốc Địch đến triều cống. (Theo "Hội Yếu" không ghi thời gian.).
- Chúng cho rằng trấn, định không phòng bị (nguyên bản là 'Chân định', theo sửa đổi từ bản Tống, bản Tóm tắt Tống sử và các sách 'Biên niên cương mục' quyển 2, 'Trị tích thống loại' quyển 1). ↵
- Phùng Tiến Kha nguyên tác là 'Phùng Tiến Kỳ', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và phần văn sau đây, cùng 'Trị tích thống loại' quyển 1 sửa lại. ↵
- Dương Khúc nguyên bản viết là 'Khúc Dương', căn cứ vào bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và đoạn dưới của bản này đã sửa lại. ↵
- 'Bày trận ở' dưới chữ 'Trận' vốn bị sót, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Các bản bổ sung. ↵
- Văn Độ tức là Hoằng, 'Hoằng' nguyên bản viết là 'Dẫn'. Theo 'Tống sử' quyển 482, 'Triệu Văn Độ truyền' ghi: 'Văn Độ vốn tên là Hoằng, vì phạm húy miếu hiệu Tuyên Tổ nên được ban tên mới', sự tích của ông cũng giống với sách này. Nay căn cứ sửa lại. Lại theo 'Thập quốc xuân thu' quyển 108, 'Triệu Hoằng truyền' ghi: 'Vì tên Hoằng phạm húy Tuyên Tổ nên được ban tên Văn Độ.' 'Thập triều cương yếu' quyển 1 thì ghi: 'Bắc Hán ngụy Lam Châu thứ sử Triệu Hồng dâng thành đầu hàng, được ban tên Văn Độ.' 'Hoằng' viết thành 'Hoành', 'Hồng', có lẽ do người đời sau kiêng húy mà thay đổi. ↵
- 'Tháng đó' nguyên bản chép là 'ngày đó', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản sửa lại. ↵
- 'Đa phá phúc bệnh', các bản đều giống nhau. 'Tống sử toàn văn' quyển 2 phần thượng viết là 'Đa bị phúc bệnh'. ↵
- Chữ 'núi Thạch Lĩnh' trong nguyên văn là 'Thạch Lĩnh thượng', chữ 'giới' và 'tây' đảo lộn, nay căn cứ vào sách Tống bản, Tống toát yếu bản và Tục thông giám quyển 5 để sửa lại. ↵
- Khóc mà tế lễ (chữ 'Khóc' nguyên bản viết là 'Khí', theo Tống bản, Tống Toát Yếu bản, Các bản và 'Tục Thông Giám' quyển năm sửa lại). ↵
- 'chôn cất' nguyên văn là 'tật', theo 'Thông Khảo' quyển 11, phần Hộ Khẩu Khảo sửa lại. ↵
- 'chết' nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung. ↵
- Theo sách 'Hình pháp chí', việc giải tội nhân về kinh đô xét là việc năm sau, nay theo lời ghi trong 'Thực lục'.) [109] Triều đình chọn người thay thế Phùng Kế Nghiệp, bấy giờ Khảo công lang trung là Đoàn Tư Cung đang làm Tri châu Tứ Châu, Vua thấy Tư Cung từng lập công ở Mi Châu, bèn triệu về kinh, phong làm Tri châu Linh Châu. Trước hết, Vua dặn rằng: "Phùng Kế Nghiệp nói, Linh Châu nếu không do tướng người Hồ cai trị, thì dân nơi đó sẽ không phục, dù là danh tướng như Vệ, Hoắc cũng sẽ bị đuổi. Ý hắn cho rằng, ngoài ta, không ai trị nổi nơi đó. Khanh có thể trị được không?" Tư Cung thưa: "Cẩn tuân mệnh." Vua khen ông có chí khí, lại bảo: "Lý Tĩnh, Quách Tử Nghi đời Đường đều xuất thân từ nhà Nho, lập được đại công, há đời ta lại không có người tài sao?" Vua ban hậu thưởng rồi cho đi, lại vì đường đi qua các miền Hồ biên[footnote]Chữ 'thiệp' nguyên bản là 'trắc', nay sửa theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và sách 'Tống sử' quyển 27, truyện Đoàn Tư Cung ↵
- 'Thạch Lĩnh khuyết' nguyên bản chép 'Thạch Lĩnh khuyết', căn cứ vào bản trong các bộ sách khác và đoạn trước trong quyển này nói về Lệ châu phòng ngự sứ Hà Kế Quân đánh bại quân Khiết Đan ở Dương Khúc mà sửa lại. ↵