I. TỐNG THÁI TỔ
QUYỂN 14: NĂM KHAI BẢO THỨ 6 (QUÝ DẬU, 973)
Ghi chép từ tháng giêng đến tháng chạp năm Khai Bảo thứ 6 dưới thời Thái Tổ.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Tí, đổi Vân An Giám thành Vân An Quân. Lại đặt chức Thủy Lục Kế Độ Chuyển Vận Sứ riêng biệt cho mười bảy châu: Toại, Hợp, Du, Lô, Xương, Khai, Đạt, Cừ, Ba, Bồng, Tư, Nhung, Phù, Trung, Vạn, Quỳ, Thi cùng ba quân Quảng An, Lương Sơn, Vân An. Lấy Trương Ngung, Thái tử Trung Doãn, phụ trách Vân An Giám, làm Chuyển Vận Sứ.
[2] Ngày Bính Dần, có tin từ Thiều Châu rằng hơn trăm binh sĩ Tĩnh Giang Quân nổi loạn trong thành để hưởng ứng giặc ngoài, đều bị bắt và chém ở chợ.
[3] Ngày Mậu Thìn, Vua ban cho hoàng đệ, Khai Phong Doãn, áo ngự, đai tê, năm trăm tấm lụa và ngựa có yên ngọc, vì bệnh của ông đã thuyên giảm.
[4] Ngày Quý Dậu, sai Quách Quý, Thứ sử Đức Châu, điều động một nghìn dân phu[1], sửa đê sông ở huyện Ngụy thuộc Đại Danh Phủ.
[5] Ngày Kỷ Mão, lấy Chu Ngang, Thái tử Tẩy Mã, tạm quản Bồng Châu, làm tạm quản Quảng An Quân. Khi đó, giặc yêu quái ở Cừ Châu là Lý Tiên cùng hơn vạn người cướp phá vùng quân giới, Ngang bày kế bắt được hắn. Những kẻ còn lại trong bốn châu Quả, Hợp, Du, Phù liên kết làm yêu quái đều không xét đến, dân chúng Thục nhờ đó được yên ổn. Ngang là người Trường Sa.
[6] Ngày Nhâm Ngọ, xuống chiếu cho các châu: nơi nào có lưu dân thì tính theo đường đi mà cấp lương, đưa họ về nguyên quán, khi đến nơi lại gia tăng chẩn cấp.
[7] Phó Đình Hàn, Điện trực, làm Giám áp binh mã Lệ Châu, âm mưu nổi loạn, chạy về phía bắc với Khiết Đan. Chu Vị, Hữu tán thiện đại phu, Tri châu bắt được hắn và báo lên, bèn sai sứ trói gửi vào ngục Ngự sử xét hỏi, kết quả đúng như vậy. Tháng hai, ngày Bính Tuất, chém Đình Hàn ở chợ phía tây.
[8] Ngày Bính Thân, vận chuyển hai vạn hộc gạo từ kinh đô đến cứu đói dân chúng Tào Châu.
[9] Ngày Tân Sửu, lấy Trứ tác tá lang Lục Quang Phạm làm Kinh lương liệu sứ, Thái bộc tự thừa Triệu Cự Xuyên làm Tây Kinh lương liệu sứ. (Quang Phạm, Cự Xuyên, chưa rõ lai lịch.) Ban đầu quốc gia theo chế độ cũ, dùng các đại tướng của Tam ty phụ trách chức vụ quản lý lương thực, đến nay đổi lại bổ nhiệm quan viên trong triều.
[10] Tháng ba, ngày Ất Mão mùng một, Phòng Châu báo tin Chu Trịnh Vương băng hà. Vua mặc áo tang tỏ lòng thương xót [Nguyên văn là “cử ai”, theo bản Tống, Tống toát yếu và Đại điển quyển 12306 sửa thành “phát ai”], ngừng coi chầu trong mười ngày, lệnh đưa thi hài về chôn cất bên cạnh Khánh Lăng, gọi là Thuận Lăng, truy thụy là Cung Đế.
[11] Ngày Kỷ Mùi, khôi phục Mật Châu thành An Hóa quân [Nguyên văn là “An Hóa Châu”, theo các bản khác và sách “Hoàn vũ ký” quyển 24, “Tống triều sự thật” quyển 18, “Tống hội yếu” phần phương vực 5-1 sửa lại].
[12] Ngày Tân Dậu, các tân tiến sĩ đỗ đạt như Tống Chuẩn từ Ung Khâu cùng mười người khác, và hai mươi tám người đỗ các khoa khác, đến điện Giảng Vũ tạ ơn.
Vua thấy tiến sĩ Vũ Tế Xuyên [và người đỗ] Tam Truyền là Lưu Tuấn tài chất kém cỏi, ứng đối không thứ tự, nên cách chức họ. Tế Xuyên là người cùng quê với Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng. Lúc ấy, Phưởng tạm quyền chủ trì kỳ thi, Vua không hài lòng. Nhân dịp, tiến sĩ Từ Sĩ Liêm cùng những người khác đánh trống Đăng Văn, tố cáo Phưởng thiên vị, chọn bỏ không đúng.
Vua hỏi Hàn lâm học sĩ Lư Đa Tốn, Đa Tốn nói: “Cũng nghe việc này.” Vua bèn lệnh cho trường thi ghi tên những người thi rớt, được ba trăm sáu mươi người. Quý Dậu, Vua triệu tập họ, chọn một trăm chín mươi lăm người, cùng với Chuẩn và Sĩ Liêm, mỗi người được cấp giấy bút, thi lại bài thơ phú, sai Điện trung thị ngự sử Lý Oánh và Tả ty viên ngoại lang Hầu Trắc làm quan khảo thí. Ất Hợi, Vua ngự tại điện Giảng Vũ tự xem xét, lấy hai mươi sáu tiến sĩ, trong đó có Sĩ Liêm, bốn người đỗ Ngũ Kinh, bảy người đỗ Khai Nguyên lễ, ba mươi tám người đỗ Tam lễ, hai mươi sáu người đỗ Tam Truyền, ba người đỗ Tam Sử, mười tám người đỗ Học Cứu, năm người đỗ Minh Pháp, tất cả đều được ban đỗ. Lại ban cho Chuẩn hai mươi vạn tiền[2], để mở tiệc. Cách chức Phưởng làm Thái thường thiếu khanh, các quan khảo thí như Hữu tán thiện đại phu Dương Khả Pháp đều bị khiển trách. Từ đó, thi điện trở thành quy định thường lệ.
(Khả Pháp, không rõ lai lịch.)
[13] Ngày Bính Tý, Vua ngự đến chùa Tướng Quốc, xem tháp Phổ Mãn mới sửa.
[14] Ngày Nhâm Ngọ, lấy hồ Giáo Thuyền làm hồ Giảng Vũ, sông Mẫn làm sông Huệ Dân, sông Ngũ Trượng làm sông Quảng Tế.
[15] Ngày Quý Mùi, Triều đình giáng chức Trấn quốc tiết độ sứ Lý Sùng Củ làm Tả vệ đại tướng quân. (Theo ‘Thật lục’, chỉ ghi rằng trước đây Trấn quốc tiết độ sứ, kiêm hiệu Thái phó Lý Sùng Củ được bổ nhiệm làm Tả vệ đại tướng quân. Còn ‘Bách quan biểu’ thì chép rằng Sùng Củ từ chức Tiết độ sứ bị giáng xuống làm Tả vệ đại tướng quân. Nay theo đó, nhưng cũng không rõ do tội gì[3], cần tra cứu thêm.)
[16] Ban chiếu cho các châu: dân lưu tán trở về làm ruộng được miễn tiền muối tằm năm nay, miễn thuế, và được miễn dịch ba năm.
[17] Cấm tiền đồng không được đưa vào vùng biên giới phiên quốc hoặc vượt sông biển ra ngoài.
[18] Binh sĩ tu sửa sông ở Châu Dung làm phản, giết quan lớn. Quan tri Châu Cao là Phạm Khả Vận dẫn dân và quan lại hai châu Cao, Phan đánh dẹp được. Ban chiếu miễn thuế mùa thu năm nay cho dân hai châu.
[19] Tháng này, nước Đại Thực cử sứ đến cống vật phương xa.
[20] Trước đó, ban chiếu cho các quan triều thần nếu có người vì việc công mà tử trận ở phương xa, thì được cho con họ vào làm quan.
Bấy giờ, con trai của Hữu Tán thiện đại phu Lục Quang Bội là Thản được ban danh hiệu Tiến sĩ xuất thân, con trai của Giám sát ngự sử Vương Khải là Khắc được ban danh hiệu Đồng tam truyền xuất thân, con trai của Hữu Bổ khuyết Ngô Quang Phụ là Dụng Chi, con trai của Hữu Tán thiện đại phu Lưu Sư Đạo là Truyền Khánh đều được ban danh hiệu Xuất thân đồng học cứu. Tất cả đều phải qua kỳ thi tại học sĩ viện, sau đó mới được bổ nhiệm.
[21] Mùa hạ, tháng tư, ngày Giáp Thân, ban lệnh hạn định số lượng tăng ni các châu. Những châu nào có sổ tăng ni từ một trăm người trở lên, mỗi năm được cho thêm một người, nhưng phải là người có học kinh điển.
[22] Ngày Ất Dậu, ban chiếu rằng: “Các châu tuyển chọn quan coi thi, lệnh cho trưởng lại chọn kỹ những liêu thuộc có tài học, công chính để bổ nhiệm. Quan tri cống cử cùng với quan coi thi xem xét kỹ lưỡng các bài thi nghĩa[4], định rõ thông suốt hay không, nếu không thông thì bác bỏ, không được ưu tiên giả tạo, kéo dài đến cuối kỳ thi[5]. Cấm việc tiến cử riêng người thân thuộc, khuyến khích tố giác, kẻ nào tố giác sẽ được thưởng khác nhau. Các cử nhân bị buộc trở về nguyên quán chịu dịch nặng, vĩnh viễn không được vào khoa trường.”
[23] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu cho hoàng đệ Khai Phong doãn, Tiết độ sứ Thiên Bình là Thạch Thủ Tín cùng người khác dự yến tiệc và bắn cung trong vườn thượng uyển.
[24] Khôi phục châu Nam Nghĩa.
[25] Ngày Đinh Dậu, cấm tổ chức đạo tràng quán đính thủy lục.
[26] Ngày Tân Sửu, Hàn lâm học sĩ Lư Đa Tốn cùng người khác dâng sách mới biên soạn là ‘Khai Bảo Thông Lễ’ gồm 200 quyển và ‘Nghĩa Toản’ 100 quyển, đều giao cho cơ quan hữu trách thi hành. Ban chiếu đổi ‘Hương cống Khai Nguyên Lễ’ thành ‘Hương cống Thông Lễ’, kỳ thi này đều dùng sách mới để hỏi.
Hôm đó[6], Vua sai Lư Đa Tốn làm sứ giả quốc tín sang Giang Nam chúc mừng sinh thần. Đa Tốn đến Giang Nam, được lòng Vua chúa và bề tôi nơi ấy. Khi trở về, ông dừng thuyền ở cửa Tuyên Hóa, sai người báo với Quốc chủ rằng: “Triều đình đang tu sửa lại ‘Thiên hạ đồ kinh’, nhưng Sử quán lại thiếu bản đồ các châu Giang Đông, mong được xin mỗi nơi một bản để đem về.” Quốc chủ vội lệnh cho viết lại, cử Trung thư xá nhân Từ Giáp đốc suất việc đối chiếu suốt đêm, rồi giao cho ông. Đa Tốn bèn khởi hành. Nhờ đó, ông nắm được tình hình địa thế, vị trí quân đồn, cùng số hộ khẩu nhiều ít của mười chín châu Giang Nam. Khi về, ông liền tâu lên tình trạng suy yếu của Giang Nam có thể đánh chiếm được. Vua khen ngợi mưu kế ấy, bắt đầu có ý trọng dụng ông.
[27] Ngày Nhâm Dần, lệnh cho Tri chế cáo Trương Đạm tạm quyền lo việc ở Hàn lâm viện.
(Sách ‘Đạm bản truyện’ ghi là ‘quyền Trực học sĩ viện’, nay theo ‘Thực lục’.)
[28] Ngày Giáp Thìn, nước Chiêm Thành sai sứ đến cống nạp đặc sản.
[29] Ngày Bính Ngọ, châu Lê báo có hơn bảy mươi người dân tộc Bảo Tắc từ sông Đại Độ quy phụ.
[30] Ngày Mậu Thân, ban chiếu sai Tham tri chính sự Tiết Cư Chính giám tu bộ sử năm đời: Lương, Hậu Đường, Tấn, Hán, Chu.
[31] Tri chế cáo Vương Hỗ dâng lên bộ ‘Trọng định Thần nông bản thảo’ gồm hai mươi quyển. Vua viết lời tựa, cho khắc in và ban hành khắp thiên hạ.
[32] Trước đó, Giang Nam bị đói kém, chiếu dụ Quốc chủ mượn thuyền chở lúa mì từ Hồ Nam về cứu tế[7]. Ngày Tân Hợi, Quốc chủ sai sứ đến tuế cống tạ ơn.
(Việc ban lúa mì đã nói đến trước đó.)
[33] Giang Nam quốc chủ lấy Tư không, kiêm phán Tam ty Thượng thư đô tỉnh là Thang Duyệt coi việc Tả Hữu nội sử. Duyệt lấy cớ tuổi già, nước nguy, cố xin từ chối, nhưng không được chấp thuận.
(Việc Thang Duyệt, căn cứ vào sách ‘Thập quốc kỷ niên’ xảy ra vào mùa hạ này, nay ghi phụ vào.)
[34] Ngày Quý Sửu, có chiếu rằng: “Mười lăm viên đường hậu quan từ trước đến nay chưa từng thay đổi, nên sai Lại bộ Lưu nội tuyển trong số các lệnh lục, phán ty bạ uý đương chức hoặc đã qua nhiệm kỳ trước[8], tuyển chọn những người am hiểu công việc, có đạo đức, không phạm lỗi, mười lăm người, ghi rõ tên họ tâu lên để bàn bạc bổ nhiệm, sau ba năm thì thay thế. Nếu không phạm lỗi, lệnh lục thăng làm quan triều, phán ty bạ uý thăng làm huyện lệnh cấp trên.”
[35] Tháng 5, ngày Bính Thìn, lấy cựu Vũ Đức huyện úy là Khương Tuyên Nghệ làm Mi châu biệt giá, sung chức đường hậu quan. Sau đó lại bổ nhiệm Tân Thành châu lục sự tham quân là Nhậm Năng, cựu Bì huyện lệnh là Hạ Đức Sùng, cựu Tam Nguyên huyện úy là Khổng Sùng Chiếu, đều cho làm thượng tá các châu.
[36] Vua biết các viên đường lại lạm quyền trung thư, phần nhiều làm việc tham ô, muốn đổi dùng sĩ nhân, nhưng các cơ quan tuyển chọn không đủ số, bèn triệu các cựu nhân là Lưu Trọng Hoa[9] cùng ba người khác, trực tiếp răn dạy, cho quay lại làm việc cũ. Nếu hết năm không phạm lỗi, sẽ thăng làm huyện lệnh cấp trên; nếu có chút sai phạm, sẽ bị nghiêm trị.
[37] Binh bộ thị lang, Tham tri chính sự Lưu Hi Cổ, vì bị bệnh chân, liên tiếp dâng bốn biểu xin từ chức. Ngày Canh Thân, được thụ chức Hộ bộ thượng thư, về hưu.
[38] Cung bị khố sứ Lý Thủ Tín, nhận chiếu mua gỗ ở vùng Tần, Lũng, ăn cắp của công một số tiền lớn, đến khi trở về, bị bộ hạ tố cáo. Thủ Tín đến huyện Trung Mâu, nghe tin việc bại lộ, liền tự sát tại nhà trạm.
Vua sai Ty huân lang trung, Giám tại kinh thương thuế vụ Tô Hiểu điều tra việc này, bắt giữ rất nhiều người. Vợ của Hữu thập di, Thông phán Châu Tần Mã Thích là con gái của Thủ Tín. Thủ Tín từng dùng gỗ đóng bè để tặng Thích, Hiểu bắt được thư riêng ấy dâng lên. Vua đang định tha tội, nhưng Hiểu kiên quyết yêu cầu xử Thích theo pháp luật. Thích bị xử tử, tịch thu gia sản, những người liên quan đều bị vạ lây, nhiều người phá sản, và toàn bộ số tiền ăn cắp của công đều được thu hồi. Vua hài lòng, ngày Quý Hợi, phong Hiểu làm Hữu gián nghị đại phu, Phán Đại Lý tự sự, sau đó thăng làm Tả gián nghị đại phu, lại giữ chức Giám tại kinh thương thuế vụ.
Hiểu không có con trai, chỉ có một cô con gái rất yêu quý, nhưng cũng qua đời trước Hiểu, người đời cho rằng đó là do Hiểu quá khắt khe mà ra.
[39] Vua ngự đến vườn Ngọc Tân xem gặt lúa.
[40] Xu mật phó sứ Thẩm Nghĩa Luân sống trong ngôi nhà nhỏ hẹp, nhưng vẫn an nhiên tự tại. Lúc bấy giờ, nhiều kẻ quyền quý đã lén lút mua gỗ quý ở vùng Tần, Lũng để xây dựng nhà riêng. Khi việc bị phát giác, họ đều tự đến xưng tội trước mặt Vua. Nghĩa Luân cũng từng mua gỗ để xây chùa cho mẹ, bèn tâu lên việc này. Vua cười và nói với Nghĩa Luân: “Ngươi không phải là kẻ vượt quyền.” Biết nhà của Nghĩa Luân vẫn chưa được tu sửa, Vua liền sai trung sứ mang bản vẽ và chỉ huy 500 thợ đến sửa chữa. Nghĩa Luân bí mật nói với sứ giả rằng muốn công trình có quy mô nhỏ gọn. Sứ giả tâu lại, Vua cũng không trái ý ông.
[41] Ngày Mậu Thìn, hạ chiếu rằng: “Triều đình lập khoa thi chọn kẻ sĩ, phân chức quan nơi bộ máy hành chính, là để phân biệt đẳng cấp, khác với dân thường. Nếu việc thật giả lẫn lộn, sẽ làm rối loạn danh thực, nên cần có sự sửa đổi, không thể để hỗn tạp. Từ nay, các châu có kẻ mạo nhận chức vụ ở làng để làm quan lâm thời, đều không được dùng lễ của khách tiếp kiến quan lại châu huyện, cũng không được giả mạo văn thư, quan địa phương phải hủy bỏ những giấy tờ ấy. Những người đã qua thi tuyển hoặc từng nhậm chức, không áp dụng chế độ này.”
[42] Ngày Canh Ngọ, mở tiệc bắn cung trong vườn.
[43] Ngày Giáp Tuất, lấy điện trung thị ngự sử người Cự Dã là Phùng Bỉnh làm thị ngự sử tri tạp, phụ trách việc ở ngự sử đài. Vua chú trọng việc xét xử, chuyên tâm thương xót, nên đặc biệt lựa chọn các quan thuộc ngự sử và Đại Lý. Vua từng triệu Phùng Bỉnh đến và nói: “Trẫm mỗi lần đọc ‘Hán thư’, thấy Trương Thích Chi và Vu Định Quốc xử án, thiên hạ không có dân oan, đó là điều Trẫm mong mỏi ở khanh.” Vua ban áo tía và vàng để khích lệ ông.
[44] Tĩnh Hải tiết độ sứ của Nam Hán là Đinh Liễn nghe tin Lĩnh Nam đã bình định, bèn sai sứ đến triều cống, dâng biểu xưng theo mệnh lệnh của cha là Đinh Bộ Lĩnh. Ngày Mậu Dần, phong Đinh Liễn làm Tĩnh Hải tiết độ sứ.
(Trong chiếu chỉ phong chức tiết độ sứ cho Đinh Liễn có đoạn: “Kính tuân mệnh cha, hổ thẹn thờ nước ngụy.” Có thể thấy đây là lời trong biểu của Đinh Liễn.)
[45] Hai viện tuần tra quân đội tả hữu ở kinh thành, chuyên trách việc tra xét án kiện. Trước đây, Khai Phong phủ tuyển chọn các nha hiệu để phân công đảm nhiệm chức vụ này. Vua thương xót các vụ án, bèn hạ chiếu thay thế bằng các sĩ nhân. Ngày mùng 1 tháng 6 (Quý Mùi), lấy cựu huyện lệnh Quán Đào là Lý Ngạc làm quang lộc tự thừa kiêm tả quân tuần kiểm, huyện lệnh An Phong là Triệu Trung Hoành làm đại phủ tự thừa kiêm hữu quân tuần kiểm.
[46] Ngày Kỷ Sửu, Quảng Châu báo tin đồng tri châu, Bảo Tín tiết độ sứ Doãn Sùng Kha qua đời. Vua ban chiếu ưu ái, truy tặng chức thị trung, sai trung sứ hộ tống tang lễ, đưa về an táng ở Lạc Dương.
[47] Ngày Tân Mão, Vua triệu tập hơn 700 lại viên của các cơ quan trong kinh thành đến điện tiện. Vua thân hành xem xét và thử việc, ra lệnh cho 400 người về quê làm ruộng.
[48] Ban đầu, Lý Khiêm Bạc rời khỏi Thấp châu, các tướng biên giới nhiều lần vi phạm kỷ luật, nên lại dùng Khiêm Bạc làm Tuần kiểm sứ Thấp châu. Dân biên giới vui mừng khi Khiêm Bạc đến, cùng nhau ra đón trên đường. Ngày Quý Tỵ, Khiêm Bạc tâu rằng đã dẫn quân vào địa giới Bắc Hán, liên tiếp hạ được bảy trại.
(Khiêm Bạc lại làm Tuần kiểm sứ Thấp châu vào tháng 4 năm Khai Bảo thứ 5, nay ghi chép cùng ở đây. Sách ‘Cửu quốc chí – Thế gia’ chép rằng năm sau quân triều đình xâm phạm Lam châu, Thạch châu[10], hạ được bảy trại của ta. Tức là sự việc này.)
[49] Nước Chiêm Thành lại cử sứ giả đến cống nạp sản vật địa phương.
[50] Ban đầu, dân Thục nộp hai loại thuế đều dùng vải lụa để thay thế[11], về sau giá thị trường ngày càng cao, nhưng quan phủ thu thuế vẫn theo lệ cũ. Vua lo ngại việc này gây thiệt hại cho dân, ngày Nhâm Dần, ban chiếu cho các châu Tây Xuyên, phàm dùng vải lụa để thay thế thuế, đều phải theo giá thị trường.
[51] Trước đây, Lôi Đức Tương bị điều đến Thương Châu làm Ty hộ Tham quân. Thứ sử vì Đức Tương trước đây từng làm Thượng thư lang nên đối đãi với ông rất lễ độ. Đến khi Hề Tự làm châu mục[12], Hề Tự chiều theo ý tể tướng, khi đến nơi liền ngạo mạn tiếp nhận lễ bái nơi đình thự[13], Đức Tương không chịu nổi, bèn bộc lộ lời oán hận. Hề Tự nghe được, nổi giận. Có người nói Đức Tương từng viết văn chế giễu triều đình, Hề Tự bèn triệu Đức Tương đến nói chuyện, ngầm sai quan lại dùng lời lừa gạt gia nhân của Đức Tương để lấy được bài văn đó, rồi lập tức xiềng xích Đức Tương, trình bày sự việc lên triều đình. Vua tha tội cho ông, nhưng tước hết quan tịch và đày đến Linh Vũ.
Con trai của Đức Tương là Lôi Hữu Lân, nghi ngờ Triệu Phổ thực sự đã chèn ép cha mình, nên ngày đêm tìm cách báo thù. Khi đó, quan đường hậu là Hồ Tán và Lý Khả Độ tại chức đã lâu, có người nói hai người này thường nhận hối lộ và nhờ vả. Bí thư thừa Vương Động cùng Lôi Đức Tương đỗ cùng khoa, Hữu Lân thường đến yết kiến Động, Động thường nhờ Hữu Lân lo việc nhà.
Một hôm, Động nhờ Hữu Lân mua nửa thỏi bạc, rồi nói với Hữu Lân: “Cái này là để tặng Hồ tướng quân.” Hồ tướng quân chính là Hồ Tán. Hữu Lân cũng thường lui tới nhà Hồ Tán, nên Động mới nói với ông như vậy.
Lúc ấy, triều đình lại có chiếu chỉ: Quan chức nhiệm chức ba lần mà có đầy đủ giấy tờ giải nhiệm, cho phép nộp đơn lên hữu ty, sẽ được dẫn vào thi và xét tuyển.
Hữu Lân vốn có quan hệ giao thiệp với Lưu Vĩ, người trước kia tạm giữ chức Chủ bạ Thượng Thái. Hữu Lân biết rằng Lưu Vĩ tuy đã ba lần nhậm chức nhưng một lần bị mất giấy tờ giải nhiệm. Người anh của Vĩ là Sân, trước đây đỗ Tiến sĩ[14], đã làm con dấu giả cho Vĩ để đưa đến bộ Lại.
Hữu Lân bèn dâng sớ tố cáo việc này, đồng thời nói rằng Triệu Phu giữ chức Tông chính thừa, trong niên hiệu Càn Đức được bổ nhiệm làm quan ở Tây Xuyên, nhưng viện cớ bệnh tật không đến nhậm chức, đều là do tể tướng bao che.
Vua nổi giận, hạ lệnh đưa hết xuống ngục Ngự sử để tra xét sự thật, từ đó bắt đầu nghi ngờ Phổ. Ngày Nhâm Dần, ra chiếu cho Tham tri chính sự Lữ Dư Khánh, Tiết Cư Chính thăng lên đô đường, cùng tể tướng bàn luận chính sự.
Ngày Quý Mão, Lưu Vĩ bị xử trảm bêu đầu. Triệu Phu cùng Động, Sân, Tán, Khả Độ đều bị đánh bằng gậy và tước bỏ danh phận, Tán và Khả Độ còn bị tịch thu gia sản. Phong cho Hữu Lân làm Chính tự Bí thư tỉnh, ban thưởng hậu hĩ. Từ đó, Hữu Lân thường xuyên dâng sớ tố cáo việc âm mưu của người khác, chẳng bao lâu bị bệnh, ban ngày thấy Lưu Vĩ vào nhà lấy gậy đánh vào lưng. Hữu Lân kêu gào, tiếng vang ra ngoài, vài ngày sau thì chết.
(Việc Động bị tước danh phận, Thực lục ghi là vào tháng 7 ngày Ất Hợi, nay ghi chung lại.)
[52] Cấm dân các châu ở Lĩnh Nam bắt voi, tịch thu vũ khí giao lên quan phủ.
[53] Miễn thuế năm nay cho dân châu Dung.
[54] Bỏ châu Lãng[15], khôi phục châu Xuân.
[55] Ngày Đinh Mùi, khôi phục châu Tầm[16], châu Tân.
[56] Triệu Phổ khi phụ trách việc chính sự thì chuyên quyền, các quan trong triều đa phần đều không ưa ông. Vua ban đầu nghe theo lời tố cáo của Triệu Biền, định cách chức Triệu Phổ, nhưng rồi thôi. Lư Đa Tốn đang ở Hàn Lâm, nhân dịp được triệu kiến, liền nhiều lần nói xấu và chỉ trích Triệu Phổ, lại còn tâu rằng Phổ từng lấy đất trống để đổi lấy vườn rau của Thượng Thực, mở rộng nhà cửa, xây dựng quán trọ, chiếm đoạt lợi ích của dân. Vua hỏi ý kiến Lý Phưởng, Phưởng tâu: “Thần chỉ phụ trách việc soạn chiếu chỉ, những việc Triệu Phổ làm, thần không biết được.” Vua im lặng. Từ khi Lý Sùng Củ bị bãi chức, Vua đã bắt đầu có chút xa cách với Triệu Phổ[17], đến khi Triệu Phu và những người khác bị kết tội, ân sủng của Triệu Phổ càng suy giảm.
Ngày Canh Tuất, lại xuống chiếu cho Tiết Cư Chính, Lữ Dư Khánh cùng Triệu Phổ thay nhau cầm ấn, đứng đầu khi tấu sự, để phân quyền của Phổ.
[57] Dịch Châu tâu rằng Thứ sử Hạ Duy Trung qua đời.
Duy Trung tính tình cương trực, rất hiểu biết sách vở, thông thạo binh pháp, có tài năng chiến lược. Khi ở Dịch Châu, ông tu sửa đồn lũy, đối đãi với binh sĩ được lòng họ. Mỗi lần dùng binh trấn giữ biên ải[18], tiến đánh đâu thắng đó, danh tiếng làm Khiết Đan khiếp sợ, hơn mười năm chúng không dám quấy nhiễu biên giới, dân chúng đều nhờ cậy ông. Khi ông qua đời, Vua rất thương tiếc, liền phong cho con trai ông là Chiêu Độ làm Cung phụng quan.
[58] Sông Hoàng Hà vỡ đê ở cửa Dương Lưu thuộc Vận Châu, lại vỡ đê ở huyện Hoạch Gia thuộc Hoài Châu.
[59] Xuống chiếu cho 2000 hương binh ở Đàm Châu và 300 hương binh ở Sâm Châu được miễn thuế cho gia đình một năm, với những người tử trận thì được miễn hai năm.
(Việc này chắc chắn liên quan đến hành doanh, nhưng bản kỷ không ghi rõ, cần xem xét.)
[60] Mùa hạ này, Đô quỷ chủ xuyên Cung Bộ là Quy đức tướng quân A Phụ cùng chủ tộc man Lưỡng Lâm sau núi là Vật Nhi có lời qua tiếng lại bất hòa, Vật Nhi đem quân xâm lược các thành lũy xuyên Cung Bộ, giết hại nhiều người. A Phụ báo lên Lê Châu, châu tâu lên triều đình, Vua ban chiếu thư an ủi, chỉ dụ mỗi bên giữ lấy biên giới của mình, không được xâm phạm lẫn nhau.
[61] Trước đây, các đạo, châu, phủ cử các nha hiệu làm chức Mã bộ đô ngu hậu và phán quan xét án, nhiều việc xử không đúng. Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Tý, mùng 1, Vua ban chiếu bãi bỏ chức này, đổi Mã bộ viện thành Tư khấu viện, lấy những người vừa đỗ tiến sĩ, cửu kinh, ngũ kinh và những người được tuyển có tư cách tương đương làm Tư khấu tham quân.
[62] Sai Hữu lĩnh quân vệ đại tướng quân Vương Chiêu Viễn, Nhàn cứu sứ Dương Trọng Mỹ đi sứ Giao châu.
(Chiêu Viễn, Trọng Mỹ, chưa rõ xuất xứ.)
[63] Dân các châu ở Quảng Nam nộp thuế gạo, thời Lưu Sưởng mỗi thạch phải đóng thêm 160 tiền, ngày Bính Thìn, Vua ban chiếu chỉ lấy 10 tiền.
[64] Ngày Tân Dậu, Vua đến đô đình dịch.
[65] Trung thư dự định cử Tả bổ khuyết Tân Trọng Phủ làm Hoài Nam chuyển vận sứ, Vua không đồng ý, ngày Ất Hợi, tuyển thụ làm Tam ty hộ bộ phán quan, ban 100 vạn tiền. Có chủ lại Giác cô là Vũ Hi Liễn cùng hơn 30 người khác, nợ thuế hàng năm hơn 30 vạn quan, bị giam cầm nhiều năm, hao hết tài sản vẫn không trả được, có mấy người chết đói, nhưng vẫn bị áp giải. Trọng Phủ tâu xin bãi bỏ, lại xin cho bách quan giảm bổng lộc để ước tính giá trị thực.
[66] Thông sự xá nhân Tống Duy Trung bị đánh trượng, bãi chức về làm dân, vì khi làm tri Hào châu có hành vi bất chính, bị người tố cáo, tra xét ra sự thật nên bị xử.
[67] Thời Mạnh Sưởng, dân Tây Xuyên khi gả con gái, tư trang đều bị khai báo để thu thuế. Ngày Ất Dậu, tháng 8, Vua ra lệnh không được thu nữa.
[68] Ngày Đinh Hợi, Vua đến Ngọc Tân viên xem lúa.
[69] Người nơi thảo dã là Vương Đức Phương dâng sớ nói lợi hại của việc sửa sông. Ngày Tân Mão, ban cho Đức Phương học vị Đồng học cứu.
[70] Hữu bổ khuyết Tô Đức Tường bị tước hai chức vụ, vì để môn nhân cầm khoán tư cưỡi ngựa qua sông Hoài. Đức Tường là con của Vũ Khuê.
(Vũ Khuê, xuất hiện lần đầu năm Thiên Phúc 12.)
[71] Suy quan quân sự Tứ châu là Hầu Tế bị đánh trượng, bãi chức, vì khi ứng thi Bạt tụy khoa đã nhờ người khác làm bài, đến nay bị phát giác.
[72] Ngày Giáp Thìn, Tả bộc xạ, kiêm Môn hạ thị lang, Bình chương sự Triệu Phổ bị bãi chức, giáng làm Hà Dương tam thành tiết độ sứ, Đồng bình chương sự.
Phổ một mình làm Thừa tướng suốt mười năm, bình tĩnh và quyết đoán, lấy việc thiên hạ làm trách nhiệm của mình, Vua tin tưởng dựa vào ông, nên Phổ có thể hoàn thành công lớn. Có lần ông muốn tiến cử một người vào một chức quan, nhưng do không hợp ý Vua nên không được chấp thuận. Hôm sau, Phổ lại dâng tấu lên, vẫn không được dùng. Hôm sau nữa, ông lại dâng tấu, Vua nổi giận, xé tờ tấu ném xuống đất, nhưng Phổ vẫn giữ vẻ mặt bình thản, từ tốn nhặt tờ tấu về vá lại. Hôm sau, ông lại dâng lên. Vua chợt hiểu, bèn chấp thuận tờ tấu. Người đó sau này quả nhiên được khen ngợi là xứng chức.
Lại có người lập công nên được thăng chức, nhưng Vua vốn không ưa người ấy, nên không đồng ý. Phổ cố gắng xin cho người đó, Vua nổi giận nói: “Trẫm đã không cho thăng chức, thì sao?” Phổ đáp: “Hình phạt để trừng trị kẻ ác, ban thưởng để đền đáp công lao, đó là đạo lý xưa nay. Hơn nữa, hình phạt và ban thưởng là của thiên hạ, chứ không phải của riêng Bệ hạ, sao có thể tùy ý đắc chí hay sân hận mà định đoạt.” Vua không nghe, đứng dậy, Phổ đi theo. Vua vào cung, Phổ đứng ở cửa cung, rất lâu không rời, cuối cùng Vua đành nghe theo lời xin của ông.
Một hôm, trong buổi yến tiệc lớn, mưa đổ xuống dữ dội, Vua không vui. Mưa lâu không tạnh, Vua tỏ ra giận dữ, tả hữu đều khiếp sợ. Phổ liền tâu: “Bề ngoài dân chúng đang mong mưa, cuộc yến tiệc lớn có hại gì, chỉ ướt lều trướng và áo nhạc công mà thôi. Lúc này mưa rất quý, dân chúng được mưa đều vui mừng, âm nhạc chính hợp thời, xin hãy cho nhạc công tấu nhạc dưới mưa.” Vua rất vui, yến tiệc kết thúc. Phổ tùy cơ ứng biến, có thể thay đổi ý Vua như vậy.
Phổ từng đặt một chiếc bình sứ lớn trong phòng làm việc, những tờ biểu từ trong ngoài mà ông không muốn làm, thì ném vào bình, rồi buộc lại đốt đi, nên ông nhận nhiều lời chê trách, có lẽ cũng vì thế.
Sau khi Triệu Phổ ra trấn, ông dâng sớ tự phân trần rằng: “Người ngoài cho rằng thần khinh suất bàn luận về hoàng đệ Khai Phong doãn, hoàng đệ vốn trung hiếu toàn đức, há có gì để chê trách? Huống chi, khi Chiêu Hiến Hoàng thái hậu bệnh nặng, thần thật sự có tham dự nghe lời di mệnh. Người hiểu thần chỉ có bệ hạ, mong được ban ơn soi xét.” Vua tự tay niêm phong thư này, cất giữ trong kim quỹ.
(Trích từ ‘Mưa Trong Tác Lạc’, theo ‘Đinh Vị Đàm Lục’. Thái tổ thường tổ chức yến tiệc lớn vào mùa thu, không rõ năm nào. Theo ‘Triệu Phổ Hành Trạng’, sự việc này xảy ra vào mùa xuân năm Càn Đức thứ 5, nay phụ lục ở đây.)
[73] Ngày Kỷ Dậu, Vua ngự đến Tân Thủy Cai, tổ chức yến tiệc và bắn cung trong vườn.
[74] Tháng này, Lưu nội tuyển dâng tâu xin khôi phục chế độ tuyển chọn bốn mùa, những người cần được dẫn đối, mỗi quý một lần dẫn đối, chiếu chuẩn y. Lúc đó, quốc gia đã chiếm được Kinh, Hoành, khắc phục Lương, Ích, hạ giao, Quảng, mở rộng lãnh thổ, nên quan chức thiếu hụt nhiều. Vì vậy, hàng năm thường tổ chức phóng tuyển, người ứng tuyển nộp hồ sơ tại Nam Tào, sau khi xét duyệt đưa về Thuyên ty sắp xếp bổ nhiệm. Sau đó, do các bộ thiếu quan, lại đặc chiếu miễn lấy giải, ứng tuyển bất thường, gọi là “phóng tuyển”, dần thành lệ. Chế độ tuyển chọn theo quý chỉ còn danh mà không còn thực chất.
(Theo ‘Bản Chí’, ‘Thực Lục’ không ghi, ‘Hội Yếu’ thì nói việc khôi phục tuyển chọn bốn mùa vào tháng 8 năm thứ 9, có lẽ sai chữ.)
[75] Thái tử trung xá, quyền phán Quốc tử giám Trần Ngạc bị miễn chức, Tứ môn bác sĩ Giải Tốn bị xóa tên khỏi quan chức thành dân thường, đều do giám sinh Từ Nhượng Năng tố cáo.
[76] Ở Lĩnh Nam, bọn giặc vẫn chưa dẹp yên. Tháng 9, ngày Nhâm Tý, phái Đường châu thứ sử Tào Quang Thực làm Chư châu đô tuần kiểm sứ. Quang Thực đến nơi, bắt giết chúng, vùng biên giới yên bình.
[77] Lại bộ thị lang, Tham tri chính sự Lữ Dư Khánh vì bệnh xin giải chức. Ngày Đinh Mão, bị bãi chức làm Thượng thư tả thừa.
Dư Khánh vốn là nguyên lão trong phủ của Thượng. Triệu Phổ, Lý Xử Vân được tiến dụng trước, Dư Khánh điềm nhiên không để ý. Khi Xử Vân bị tội, Dư Khánh từ Giang Lăng về triều, Thượng hỏi kỹ về chuyện Xử Vân, Dư Khánh đều kể lại đúng sự thật. Đến khi Triệu Phổ làm trái ý Thượng, tả hữu đều tranh nhau hãm hại, chỉ có Dư Khánh một mình biện minh, ý Thượng mới dần nguôi, bấy giờ người ta đều khen ông là bậc trưởng giả.
[78] Ngày Kỷ Tỵ, hoàng đệ Khai Phong doãn Quang Nghĩa được phong làm Tấn vương. (Theo ‘Tống sử’ chép là ‘phong làm Tấn vương kiêm Thị trung.’) Sơn Nam Tây đạo tiết độ sứ Quang Mỹ làm Vĩnh Hưng tiết độ sứ, kiêm Thị trung; hoàng tử Quý Châu phòng ngự sứ Đức Chiêu làm Sơn Nam Tây đạo tiết độ sứ, đồng Bình chương sự; Lại bộ thị lang, Tham tri chính sự Tiết Cư Chính làm Môn hạ thị lang; Xu mật phó sứ, Hộ bộ thị lang Thẩm Nghĩa Luân làm Trung thư thị lang, đều giữ chức Bình chương sự; Thiên Bình tiết độ sứ Thạch Thủ Tín kiêm Thị trung; Quy Đức tiết độ sứ Cao Hoài Đức, Trung Vũ tiết độ sứ Vương Thẩm Kỳ đều được gia chức Đồng Bình chương sự; Hàn lâm học sĩ, Binh bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Lư Đa Tốn làm Trung thư xá nhân, Tham tri chính sự; Tả Kiêu vệ đại tướng quân, Phán tam ty Sở Chiêu Phụ làm Xu mật phó sứ.
[79] Ngày Tân Mùi, Tĩnh Giang tiết độ sứ[19], Điện tiền đô ngu hậu Dương Nghĩa làm Kiến Vũ tiết độ sứ, Điện tiền đô chỉ huy sứ. Từ khi Hàn Trọng Uân bị bãi chức Điện tiền đô chỉ huy sứ, trong sáu năm không ai được bổ nhiệm, đến đây mới lệnh cho Dương Nghĩa đảm nhận.
[80] Ngày Nhâm Thân, chiếu chỉ Tấn vương được đứng trên tể tướng.
[81] Ngày Đinh Sửu, lệnh các châu không được chiếm đoạt lưu dân, ai tố cáo sẽ được thưởng mỗi hộ năm nghìn tiền.
[82] Chiếu chỉ các cửa điện ở Tây kinh đặt kích theo chế độ như Đông kinh.
[83] Giang Nam Nội sử xá nhân Phan Hữu cùng Hộ bộ thị lang Lý Bình (Bình, xuất hiện từ năm Càn Hữu thứ nhất) rất thân thiết[20]. Phan Hữu thích chuyện thần tiên. Lý Bình khá am hiểu thuật tu luyện dưỡng sinh, lời nói phần nhiều kỳ lạ huyễn hoặc, Phan Hữu đặc biệt tin tưởng ông ta. Lý Bình tự nói mình có thể kết nối với tiên nhân, cha của Phan Hữu là Phan Xử Thường nay đã là tiên quan, rất quý trọng, còn bản thân và Phan Hữu cũng là tiên quan. Hai người đều đặt trong nhà một căn phòng tịnh, vẽ hình thần quái, xõa tóc, cởi trần mà làm lễ, người ngoài không được xem. Lý Bình nói với Phan Hữu: “Trong mộ của các đại thần thời Lục triều, nhiều báu kiếm và bảo giám, nếu lấy được mà đeo, có thể trừ tà, thoát khỏi kiếp người để thành tiên.” Phan Hữu mong cầu rất thiết tha, nhưng không thể đạt được.
Khi ấy, Trương Kỵ cũng thích thuyết phương sĩ, bèn cùng mua mấy chục khoảnh đất mộ cổ trước núi Kê Lung, dựng biệt thự, gặp ngày nghỉ, hai người cùng cưỡi ngựa, dẫn theo gia nhân, mang cuốc xẻng đến. Đào phá một ngôi mộ, tìm được cổ vật, đều truyền nhau ngắm nghía, ngâm nga tự tại, nói: “Không biết đời này đào được mấy ngôi mộ?” Cái kỳ lạ quái đản của họ đại loại như vậy.
Hữu từng nói với Quốc chủ rằng: “Cái gốc làm giàu đất nước[21], là ở việc coi trọng nông tang.” Nhân đó xin khôi phục phép tỉnh điền, kiềm chế mạnh mẽ việc kiêm tính đất đai, ai mua ruộng của người nghèo đều bắt trả lại. Lại theo Chu lý tạo sổ dân, tạo sổ trâu, bắt mọi người khai khẩn đất hoang để trồng dâu, tiến cử Bình làm phán ty Nông tự để đốc thúc. Lệnh ban ra gấp như lửa cháy, dân chúng xôn xao, Quốc chủ vội sai bãi bỏ. Hữu nghi ngờ các quan chấp chính ngăn cản mình, bèn liên tục chỉ trích các đại thần và những người nắm binh quyền kết bè kết phái, sắp mưu phản loạn, lại nói rằng đất nước sắp diệt vong, nếu không phải mình làm tướng thì không thể cứu được.
Chính sự Giang Nam phần lớn ở Thượng thư tỉnh, nhân đó tiến cử Bình có thể coi việc tỉnh, Giám Ty thiên Dương Hi Trừng có thể đảm nhận Xu mật, Hiệu úy Hầu Anh có thể quản cấm vệ. Quốc chủ không chấp nhận, Hữu càng tức giận, dâng sớ kháng nghị xin giết Tể tướng Thang Duyệt và mấy chục người khác.
Quốc chủ viết thư khuyên răn, Hữu bèn không vào triều nữa, ở nhà dâng biểu nói: “Bệ hạ đã không thể mạnh, lại không thể yếu, chi bằng đem mười vạn quân giúp thu phục Hà Đông, rồi dẫn quan lại vào triều yết kiến, đó cũng là kế sách giữ nước hay vậy.” Quốc chủ bắt đầu ghét, không trả lời nữa. Hữu lại xin nghỉ hưu[22], vào núi lánh nạn, Quốc chủ cho là điên, bỏ mặc không hỏi[23].
[84] Mùa đông, tháng mười, ngày Nhâm Ngọ, Hữu dâng biểu thứ bảy rằng: “Thần nghe rằng: ‘Tam quân có thể đoạt tướng, nhưng không thể đoạt chí của kẻ thất phu.’ Thần gần đây liên tục dâng chương, chỉ rõ những kẻ gian tà, vạch rõ tội trạng của chúng, đến mấy vạn lời, sáng rõ như vẽ chữ đỏ, minh bạch trung trực, lời lẽ tận cùng mà lý lẽ đúng đắn, trung thần và gian thần phân biệt rõ ràng. Nhưng Bệ hạ lại che chở cho bọn gian tà, dung túng những kẻ nịnh nọt, tiếp nhận sự xu nịnh của bọn tặc thần, coi chúng như cốt nhục, khiến quốc gia u ám, như mặt trời sắp lặn. Bệ hạ không đoái hoài đến nỗi khổ của muôn dân, không lo lắng cho sự nghiêp đổ nát của tông miếu. Xét theo cổ nhân, thì Bệ hạ làm Vua thật vô đạo quá sâu vậy! Xưa có Kiệt, Trụ, Tôn Hạo, phá nước hại nhà, do tự mình gây ra, còn bị ngàn đời chê cười. Nay Bệ hạ lại noi theo bọn gian tà, khiến quốc gia suy bại loạn lạc, vậy thì Bệ hạ làm Vua còn kém xa Kiệt, Trụ, Tôn Hạo. Thần đã quyết chí lui bước, chỉ còn cái chết mà thôi, rốt cuộc không thể cùng bọn gian thần chung chạ, mà phụng sự ông Vua mất nước, để rồi một ngày kia bị thiên hạ chê cười. Nếu Bệ hạ cho thần có tội, xin ban cho thần cái chết, để tạ lỗi với trong ngoài.”
Quốc chủ nổi giận, cho rằng Hữu cuồng ngạo báng bổ, bắt đầu từ Lý Bình[24], bèn bắt giữ Lý Bình giam vào ngục Đại Lý, sau mới bắt giữ Hữu. Hữu liền tự sát, mẹ và vợ con bị đày đến Nhiêu Châu. Lý Bình cũng tự treo cổ chết trong ngục.
(Sách thần đã sửa “Bệ hạ” trong biểu văn của Hữu thành “Điện hạ”, nay theo nguyên văn trong ‘Cửu quốc chí’.)
Quốc chủ sau đó nói với tả hữu rằng: “Trẫm giết Hữu, suy nghĩ hơn mười ngày mà không quyết, thật là bất đắc dĩ.” Năm sau, đều tha cho gia đình ông, cấp lương bổng.
Hữu ban đầu kết giao thân thiết với Trương Kỵ, sau cùng làm Trung thư xá nhân, không thể cùng đứng vững, dần đối đầu nhau. Hữu từng trả lời thư của Trương Kỵ rằng: “Trương kia đàng hoàng, nhưng khó cùng làm việc nhân đức.” Cái chết của Hữu, Trương Kỵ có phần đóng góp không nhỏ. Trương Kỵ lúc ấy làm Thanh Huy điện học sĩ, tham dự vào việc cơ mật, được ân sủng vô cùng. Thanh Huy điện nằm trong hậu uyển, Quốc chủ không muốn Trương Kỵ xa rời tả hữu, nên ban cho chức vụ này. Trương Kỵ cùng Thái tử thái phó Lâm Nhữ Quận công Từ Liêu, Thái tử thái bảo Văn An Quận công Từ Du ở riêng tại Trừng Tâm đường, bí mật vạch ra chỉ dụ, phần lớn từ Trừng Tâm đường mà ra, con trai của Từ Du là Nguyên Vũ đảm nhiệm việc tuyên truyền thực hiện. Trung thư và Mật viện, chỉ còn như bãi đất bỏ hoang.
[85] Ngày Quý Tỵ, Yên quốc Cung Ý Trưởng Công Chúa băng hà, Vua đến viếng, khóc rất thương xót, hạ chiếu cho các quan lo việc cờ quạt, nhã nhạc, được chôn theo ở An Lăng.
[86] Ngày Đinh Dậu, cử người bị tước chức là Lôi Đức Tương làm Bí thư thừa, phụ trách phân xử việc ở ba viện của Ngự sử đài.
[87] Ngày Giáp Thìn, đặc xá cho các quan lại ở Trung thư, Xu mật viện, Tam ty cùng các cơ quan khác về tội che giấu, lừa dối trước đây chưa bị phát giác, cho họ cơ hội tự đổi mới.
[88] Trước đó, Tả tàng khố sứ người Nguyên Thành là Điền Nhân Lãng bị hoạn quan gièm pha, Vua nổi giận, lập tức triệu Nhân Lãng đến mặt để tra hỏi. Khi đến cửa điện, Vua truyền bỏ mũ đai trước. Nhân Lãng thần sắc không chút nao núng, bình thản tâu: “Thần từng làm Đô giám Trại Hào Phượng châu, chặt cây mở đường, theo đại quân đánh Thục, không hề xâm phạm gì. Bệ hạ dùng thần, sai quản kho trong cấm cung, há lại làm việc gian lợi để tự làm nhục mình sao?” Vua nguôi giận. Ngày Ất Tỵ, bổ Nhân Lãng làm Giác dịch sứ.
(Bản truyện nói chỉ miễn chức của Nhân Lãng, nhưng nay theo Thực lục, xem ra chưa từng bị miễn chức.)
[89] Tháng 11, ngày Quý Sửu, sai các quan thường triều đã đỗ tiến sĩ, mỗi người tiến cử một người có học vấn.
[90] Ngày Giáp Tý, Vũ Ninh tiết độ sứ, được tặng chức Thị trung Cao Kế Xung mất. Kế Xung trấn giữ Bành Môn hơn 10 năm, có chính sách nhân từ, dân xin được giữ lại chôn cất, Vua không đồng ý.
[91] Ngày Đinh Mão, hạ chiếu cho các châu trưởng lại và quan giám đương không được che chở người thay thế, nếu phát giác, sẽ xử nặng tội.
[92] Thiếu phủ giám hưu trí Lư Ức (Ức người Hà Dương, lần đầu xuất hiện năm Khai Vận thứ nhất), có kiến thức cao, ghét việc làm của con mình là Tham tri chính sự Lư Đa Tốn, từng nói: “Triệu Phổ là nguyên huân, mà tiểu tử hủy báng, tai họa ắt đến ta. Ta chết sớm, không kịp thấy nó thất bại, là may lắm rồi.” Tháng 12, ngày Canh Tý, Ức lo lắng mà mất.
Ngày Bính Tý, Đa Tốn được khởi phục.
[93] Nữ Chân sai sứ dâng ngựa cống.
[94] Năm đó, Vua sai Tham tri chính sự Lư Đa Tốn, Tri chế cáo Hỗ Mông, Trương Đạm căn cứ vào các quy định hiện hành về ‘Trưởng định’, ‘Tuần tư cách’ cùng các chiếu chỉ giáng chức, xem xét và sửa chữa những chỗ sai lệch[25], bỏ đi những phần trùng lặp, bổ sung chỗ thiếu sót, tham khảo và bàn bạc kỹ lưỡng[26], chọn lấy những quy định lâu dài và có thể áp dụng, soạn thành bộ ‘Trưởng định cách’ gồm 3 quyển. Vua ban chỉ hạn chế số lượng người được tuyển chọn, quy định các khoa mục để lấy người xuất thân, cơ quan thuyên tuyển kiểm tra và ghi chép tình trạng tăng giảm số lượng tuyển chọn, Nam Tào kiểm tra việc sử dụng chức vụ, thời hạn mãn nhiệm, kỹ thuật, khảo khóa, các việc tạp vụ trong kỳ thi Xuân vi. Sửa chữa và ghi chú tổng cộng 20 điều, 287 sự việc, soạn thành ‘Tuần tư cách’ 1 quyển, ‘Chế sắc’ 1 quyển, ‘Khởi thỉnh điều’ 1 quyển. Sách soạn xong, dâng lên Vua, được ban hành làm quy chế vĩnh viễn. Từ đó, việc thuyên tuyển càng thêm có quy củ.
(Việc trọng định ‘Tuần tư cách’, Thực lục ghi vào ngày Kỷ Mùi tháng 7, nay theo bản chí ghi vào cuối năm.)
[95] Tiết độ sứ Thành Đức của Bắc Hán, Thái sư, kiêm Trung thư lệnh Lưu Kế Ngung vốn là một nhà sư, lại giữ chức vị tướng tương, bị dư luận đương thời coi thường, nhiều lần dâng biểu xin từ chức nhưng không được chấp thuận. Năm đó, Kế Ngung qua đời, được truy phong làm Định Vương.
Các quan như Tiền Đại nội đô điểm kiểm Lưu Kế Khâm, Điện tiền đô ngu hậu Trương Trọng Huấn, Thị vệ bộ quân đô chỉ huy sứ Trịnh Tiến, Tiền Lam châu thứ sử Trương Chiêu Mẫn, Liêu châu thứ sử Vệ Thù, Đô dẫn tiến sứ Lý Ẩn đều bị giết.
[96] Ban đầu, Bắc Hán chủ giữ chức Đại nội đô điểm kiểm. Hiếu Hòa Đế thấy còn non trẻ, bèn lệnh cho Kế Khâm làm phó, giao phó việc cấm vệ. Khi Bắc Hán chủ lên ngôi, nhiều người thân cũ hoặc bị giết hoặc bị đày. Kế Khâm liền xin từ chức vì bệnh. Bắc Hán chủ nói: “Kế Khâm chỉ phụng sự Tiên đế, há chịu vì ta tận lực sao?” Bèn giáng chức cho về ở Giao Thành, phụng sự lăng tẩm, sau lại sai người giết đi. Trịnh Tiến và Tuyên huy sứ Mã Hoạn không hòa hợp. Hoạn nổi giận, đoạt quyền bính của Tiến. Tiến không chịu nỗi nhục, mắng Hoạn ở triều. Bắc Hán chủ nổi giận, ngày hôm sau, sai đưa đến Định Tương an trí rồi giết chết trên đường đi.
Trương Chiêu Mẫn từng giữ chức Lễ bộ thượng thư, tham nghị Trung thư sự. Tính người liêm trực, không chấp nhận cầu cạnh quyền thế, nhiều kẻ thù mà ít bạn bè. Ít lâu sau, bị điều ra làm Tri châu Lâm, rồi được triệu về, bắt về tư đệ, vì buông lời oán hận nên bị bóp cổ chết. Vệ Thù theo nhiều lần chinh phạt, chuyên cai quản quân Thổ Hồn. Hoạn quan Vệ Đức Quý ghen ghét công lao của Thù, khiến ra làm Tri Châu Liêu. Hàng nghìn quân Thổ Hồn chặn đường xin giữ lại, nhưng Bắc Hán chủ không chấp thuận. Quân Thổ Hồn mất chủ tướng, nên cả đội quân không thể dùng được nữa. Thù từ nhỏ lớn lên ở bộ lạc, không thích làm quan châu, nên thường buông lời oán hận. Bắc Hán chủ lo sợ người làm phản, bí mật sai người giết đi. Lý Ẩn tiếc thương Thù trung dũng, bị kẻ hầu cận vu cáo, lộ vẻ phẫn uất trên mặt. Đức Quý biết được, ghét bỏ, báo với Bắc Hán chủ, liền đưa đến Lâm Châu an trí, ít lâu sau bị giết.
(Trương Chiêu Mẫn làm Lễ bộ thượng thư, tham nghị Trung thư sự, việc này chỉ căn cứ vào ‘Cửu quốc chí’, không rõ xảy ra lúc nào. Sách lại chép Chiêu Mẫn và Quách Vô Vi bàn việc không hợp, khi Kế Nguyên lên ngôi, bị điều làm Tri Châu Lâm. Xét Triệu Văn Độ đầu hàng khi ở Lâm Châu, Kế Nguyên mới lên ngôi hơn một năm. Văn Độ trước đó đã ở Lâm Châu, Chiêu Mẫn sao có thể lại ra ngoài? Vậy thì Chiêu Mẫn ra làm Tri Châu Lâm, hẳn là sau khi Văn Độ đầu hàng. Khi Văn Độ đầu hàng, quân vương còn ở dưới thành, chẳng mấy chốc bị giết, sao có thể lại để Chiêu Mẫn ra ngoài? Việc Chiêu Mẫn ra ngoài, hẳn là vì bất hòa với kẻ hầu cận khác.[27]. Nay chép nhiều thù ít bạn, không ghi việc bất hòa với Quách Vô Vi[28], để tránh mâu thuẫn, cần kiểm tra kỹ và xác định lại. Việc của Lưu Kế Khâm, Trịnh Tiến, Trương Chiêu Mẫn, Vệ Thù, Lý Ẩn năm người, đều căn cứ vào bản truyện ‘Cửu quốc chí’, chỉ riêng Trương Trọng Huấn không có truyện, không rõ sự việc. Sáu người Kế Khâm bị giết, chưa hẳn đều trong một năm, không thể khảo cứu được, nên theo bản chí, ghi chép vào cuối năm, còn ngày tháng đều không rõ.)
- Sai Quách Quý, Thứ sử Đức Châu, điều động một nghìn dân phu (chữ 'khiển' nguyên bản là 'tiến', theo các bản khác và 'Đại Điển' quyển 12306 đã sửa lại) ↵
- các bản khác, Đại điển quyển 12306, 'Trị tích thống loại' quyển 28, 'Tống sử toàn văn' quyển 2 đều ghi như nhau. 'Biên niên cương mục' quyển 2, 'Thông khảo' quyển 30 về chương Tuyển cử, 'Tống sử' quyển 155 chương Tuyển cử chí không có chữ 'Chuẩn'. Xét 'Tống hội yếu' Tuyển cử 7-1, 'Chuẩn' viết là 'Chuẩn đẳng', theo nghĩa văn, 'Hội yếu' đúng hơn. ↵
- Chữ 'tọa' (tội) vốn thiếu, căn cứ vào 'Đại điển' quyển 12306 bổ sung. ↵
- 'Nghĩa quyển' nguyên là 'Thí quyển', theo Tống bản, Tống toát yếu và Đại điển quyển 12306, Tống hội yếu tuyển cử 3/3 mà sửa ↵
- 'Chí' nguyên là 'lệnh', theo sách trên mà sửa ↵
- Nguyên văn là 'tháng này', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và quyển 2 phần dưới của 'Tống sử toàn văn' sửa lại. Xét 'Tống sử' quyển 3, phần 'Kỷ Thái Tổ' ghi: Mùa hạ, tháng tư 'ngày Tân Sửu, sai Lư Đa Tốn làm sứ giả quốc tín sang Giang Nam.' 'Trị tích thống loại' quyển 1 cũng giống như 'Tống sử'. Đoạn trên của bản này chính là ngày Tân Sửu, có thể chứng minh 'hôm đó' là đúng. ↵
- Chữ 'Nam' trong câu 'Chiếu dụ Quốc chủ mượn thuyền chở lúa mì từ Hồ Nam về cứu tế' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 3 và 'Tục thông giám' quyển 7 bổ sung. ↵
- Chữ 'ty' trong 'phán ty bạ uý' nguyên là 'quan', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tống hội yếu' chức quan 3-22 mà sửa. Từ sau đều theo. ↵
- Lưu Trọng Hoa, các bản in cùng 'Đại điển' quyển 12306, 'Tục thông giám' quyển 7 đều giống nhau. Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tống hội yếu' chức quan 3-22, 'Tống sử toàn văn' quyển 2 hạ đều là 'Lưu Trọng Hoa'. ↵
- Nguyên bản chép 'Cốc châu', các bản khác và 'Đại điển' quyển 12306 đều chép 'Thạch châu'. Theo 'Thông giám' quyển 290, phần Hậu Chu kỷ 1, và 'Thập quốc xuân thu' quyển 112, bảng địa lý liệt kê các phủ, châu thuộc Bắc Hán, đều có Thạch chứ không có 'Cốc châu'. 'Hoàn vũ ký' quyển 42, phần Hà Đông đạo cũng có Thạch châu. 'Cốc châu' là sai, nay sửa lại. ↵
- 'Sung chiết', các bản đều giống nhau. Theo 'Biên niên cương mục' quyển 2 chép 'Chiết sung', 'Tống đại chiếu lệnh tập' quyển 185, chiếu về việc thu thuế lụa vải ở Tây Xuyên theo giá thị trường, thì chép 'Chiết nạp'. ↵
- Chữ 'tri' trong 'Hề Tự tri châu' nguyên bản viết là 'Chí', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tống sử toàn văn' quyển 2 hạ, 'Tống sử' quyển 278 truyện Lôi Đức Tường sửa lại. ↵
- Chữ 'Chí' trong 'Chí tắc cứ thụ đình tham' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung. ↵
- Chữ 'tiền' trước 'tiến sĩ Sân' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống và truyện Lôi Đức Tường trong Tống sử quyển 278, Tục thông giám quyển 7 bổ sung. ↵
- Châu Lãng nguyên bản viết là 'châu Lũng', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống và Đại điển quyển 12306, Hoàn vũ ký quyển 164 điều Khang châu, Tống triều sự thật quyển 19 sửa đổi. ↵
- Châu Tầm nguyên bản viết là 'châu Tầm', căn cứ vào bản sách quyển 135 tháng 5 ngày Ất Sửu, Hoàn vũ ký quyển 163, Tống hội yếu phương vực 7.20 và Tống sử quyển 90 Địa lý chí sửa đổi. ↵
- chữ 'ư' nguyên là 'dữ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, cùng Đại điển quyển 12306 sửa ↵
- Chữ 'tắc' nguyên là 'hàn', theo Tống bản, Tống toát yếu bản cùng Đại điển quyển 12306, Tống sử toàn văn quyển 2 phần hạ, Tống sử quyển 273 truyện Hạ Duy Trung sửa ↵
- Nguyên bản chép 'Tĩnh Giang' là 'Tĩnh Giang', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, các bản khác và Đại điển quyển 12306 đổi lại. Xem 'Vương Tượng Chi Dư địa kỷ thắng' (dưới đây gọi tắt là 'Kỷ thắng') quyển 103, thời Đường Quang Hóa, thăng Quế Quản làm Tĩnh Giang quân tiết độ, nhà Nam Hán và nhà Tống vẫn theo đó. ↵
- 'Tối tương thân thiện', chữ 'tương' nguyên bản là 'kiến', nay căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản cùng sách 'Biên niên cương mục' quyển 2, 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 3 mà sửa. ↵
- Cái gốc làm giàu đất nước, chữ 'Quốc' nguyên bản là 'Quý', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và Đại điển quyển 12306, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 3 sửa lại. ↵
- Hữu lại xin nghỉ hưu, chữ 'Hữu' nguyên bản là 'Hựu', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 3 sửa lại. ↵
- Bỏ mặc không hỏi, chữ 'Tất' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và Đại điển quyển 12306, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 3 bổ sung. ↵
- Bắt đầu từ Lý Bình, 'bắt đầu' nguyên văn là 'Đãi', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và bản ‘Trường biên kỷ sự bản mạt’ quyển ba mà sửa lại. ↵
- Chữ 'chính' trong 'khảo chính vi dị' nguyên bản là 'đại', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và Đại điển quyển 12306 sửa lại. ↵
- Chữ 'hiệu' trong 'tham hiệu tường nghị' nguyên bản không có, căn cứ vào Tống sử quyển 158, phần Tuyển cử chí bổ sung. ↵
- 'Hẳn là vì bất hòa với kẻ hầu cận khác' Nguyên văn chữ 'thả' nay đổi thành 'nhĩ' theo các bản và ‘Đại điển’ quyển 12306 ↵
- 'Không ghi việc bất hòa với Quách Vô Vi' Chữ 'bất' nguyên là 'hạ', theo sách trên đã đổi ↵