"

I. TỐNG THÁI TỔ

QUYỂN 17: NĂM KHAI BẢO THỨ 9 (BÍNH TÝ, 976)

(Theo lệ của sách ‘Tư trị thông giám’, niên hiệu đều lấy năm sau làm chuẩn. Năm Vũ Đức thứ nhất, từ tháng giêng trở đi đã gọi là năm Vũ Đức thứ nhất đời Đường Cao Tổ, không gọi là năm Nghĩa Ninh thứ hai đời Tùy. Năm Thiên Thứ nhất đời Minh Hoàng, từ tháng giêng trở đi không gọi là năm Cảnh Vân thứ ba. Năm Khai Bình thứ nhất đời Lương, từ tháng giêng trở đi không gọi là năm Thiên Hữu thứ tư đời Đường. Xét thấy Thái Tông lên ngôi ngày 21 tháng 10 năm Khai Bảo thứ 9, đến ngày 22 tháng 12 đổi niên hiệu, không đợi qua năm, khác với thông lệ thông thường, nên vẫn gọi là năm Khai Bảo thứ 9.)

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu Thìn, mùng 1, Vua ngự ở điện Càn Nguyên tiếp chầu.

[2] Ngày Tân Mùi, Tào Bân sai Hàn lâm phó sứ Thái Nguyên là Quách Thủ Văn dâng tờ lộ bố, đem quốc chủ nước Nam là Lý Dục cùng con em, quan thuộc tổng cộng 55 người đến tiến hiến. Vua ngự ở cửa Minh Đức nhận lễ hiến, Dục và mọi người đều mặc đồ trắng chịu tội, Vua xuống chiếu tha tội, ban cho áo mũ, đồ dùng, tiền nong, ngựa xe tuỳ thứ bậc. Khi ấy, quan có ty bàn lễ hiến phu như trường hợp Lưu Sưởng, Vua nói: “Dục từng chịu chính sóc, không thể so với Sưởng.” Rồi cho dừng việc tuyên đọc lộ bố.

Ban đầu, Dục vì kháng mệnh, trong lòng lo sợ, không muốn sống để diện kiến Vua, Thủ Văn biết được liền nói với Dục: “Quốc gia chỉ muốn khôi phục cương thổ, dẫn đến thái bình, há lại có ý trách cứ người đến sau sao?” Dục nghe vậy lòng mới yên.

Từ Huyền theo Dục đến kinh sư, Vua triệu kiến Huyền, trách việc không sớm khuyên Dục quy thuận, lời lẽ rất nghiêm khắc. Huyền đáp: “Thần là đại thần nước Nam, nước mất, tội đáng chết, không cần hỏi gì khác.” Vua nói: “Thật là trung thần. Hãy phụng sự Trẫm như từng phụng sự họ Lý.” Rồi ban cho ngồi, an ủi phủ dụ.

Lại trách Trương Kỵ: “Ngươi dạy Lý Dục không hàng, để đến nông nỗi này.” Rồi lấy ra bức thư lụa cho xem, đó là thư trong viên sáp gọi quân cứu viện khi quân triều vây thành do Kỵ viết. Kỵ cúi đầu xin chịu tội, nói: “Thư quả là thần viết. Chó sủa không phải chủ, đó là một trong nhiều việc. Nay được chết là phận của thần.” Nét mặt không biến sắc. Ban đầu Vua muốn giết Kỵ, nhưng khi ấy lại thấy lạ, bảo rằng: “Khanh thật có gan, Trẫm không trị tội khanh. Từ nay hãy phụng sự Trẫm, đừng thay đổi lòng trung xưa.”

[3] Ngày Nhâm Thân, ban ân xá, giảm tội tử hình xuống tội lưu, tội lưu trở xuống đều được tha, nam nữ bị đày làm phu dịch cho tự do về nhà.

[4] Ngày Ất Hợi, phong Lý Dục làm Hữu thiên ngưu vệ thượng tướng quân, tước Vi Mệnh hầu. Con em đều được bổ làm chư vệ đại tướng quân, tông thất đều được bổ làm chư tướng quân.

[5] Ngày Bính Tý, phong Dục làm Tư không, Tri tả hữu nội sử sự Thang Duyệt giữ chức Thái tử thiếu chiêm sự, Thái tử thái bảo Từ Du và Tả nội sử thị lang Từ Huyền làm Thái tử suất canh lệnh, Hữu nội sử xá nhân Trương Kỵ và Vương Khắc Trinh giữ chức Thái tử trung doãn.

Khắc Trinh là người Tân Đồ, ở Giang Nam giữ đạo trung lập, được người trong nước khen là bậc trưởng giả.

Từ Huyền tính tình cương trực, không giả dối. Có viên chủ bạ họ Tạ tên Nhạc, vốn là bạn cũ của Huyền. Theo chế độ tuyển chọn (của triều đình), ai đủ 70 tuổi thì phải nghỉ việc. Nhạc vốn có hiềm khích với Thứ sử Quắc Châu, nên người này tâu rằng Nhạc đã quá tuổi, không còn đủ sức đảm đương chức vụ. Lúc bấy giờ, mỗi khi có nghi vấn về tuổi tác hay chức tước của các bậc sĩ nhân Giang Nam, quan chức địa phương đều phải nhờ Từ Huyền xác minh. Nhạc cầu xin: “Tuổi già của tôi, ngài rõ hơn ai hết. Nhà tôi nghèo, lại có nhiều người thân cần lo liệu, nếu mất chức này thì sẽ lâm vào cảnh khốn cùng, xin ngài nói rằng không biết.” Huyền đáp: “Việc tôi biết mà lại nói không biết là phỉnh gạt trời cao.” Cuối cùng, ông trả lời đúng sự thật, nên Lại bộ liền cách chức Nhạc. Tuy nhiên, những người con cháu bạn cũ và họ hàng nghèo khó đều đến nương nhờ Huyền, ông đều chia bổng lộc, mở nhà để đón họ.

[6] Phong Thẩm Thừa Lễ, Đô kiềm hạt sứ Lưỡng Chiết, giữ chức Uy Vũ tiết độ sứ.

Ban đầu, quân vây thành Nhuận Châu, binh sĩ trong thành đêm khuya kéo ra đốt trại. Có người khuyên Thừa Lễ nên đến cứu, nhưng ông nói: “Đây chính là ý nghĩa của việc ‘đánh đông nam phòng tây bắc’ trong binh pháp.” Ông ra lệnh cho quân sĩ mặc giáp đứng im. Sau đó, quân đốt trại tiến công các nơi khác, các tướng khác không phòng bị đều bối rối, duy chỉ có quân của Thừa Lễ được yên ổn, kẻ địch không dám dòm ngó.

[7] Khi Lư Ráng đang ở Tuyên châu, nghe tin Kim Lăng thất thủ, bèn dẫn quân tiến về Phúc Kiến, muốn chiếm cứ vùng Lĩnh Biểu. Đến Hấp châu, Thứ sử Cung Thận Nghi đóng cửa thành chống cự, Ráng nổi giận, đánh hạ thành, giết Thận Nghi, phóng hỏa cướp bóc khắp nơi, nơi nào đi qua đều bị kinh động. Truyền hịch đến Phúc châu, Quan sát phán quan Tra Nguyên Phương chém sứ giả của Ráng.

Ngày Kỷ Mão, Vua nghe tin Ráng làm phản, sai em trai [1] (chưa rõ chức vụ của em trai lúc đó) mang chiếu thư đến chiêu dụ.

[8] Đến thăm Tả Phi Long viện, xem bắn cung của vệ sĩ, sau đó đến thăm Bắc Uyển, sai vệ sĩ cùng sứ giả Khiết Đan thi bắn cung.

[9] Ngày Canh Thìn, Vua ban chiếu đi Tây Kinh, chuẩn bị đến tháng tư làm lễ tế Nam Giao.

[10] Tế châu Đoàn luyện sứ Lý Khiêm Bạc vì bệnh mà từ Thấp châu dùng kiệu trở về kinh sư. Vua sai trung sứ mang thuốc thang đến ban tặng, lại sai thái y đến khám. Khiêm Bạc nhiều lần dâng sớ xin nghỉ hưu, nhưng không được chấp thuận. Ngày Nhâm Ngọ, ông mất. Vua rất thương tiếc, ban thêm lễ tặng, lo việc tang lễ bằng ngân sách nhà nước.

[11] Ngày Quý Mùi, Vua sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng, Tri chế cáo Hỗ Mông, Lý Mục cùng tại Lễ bộ Cống viện duyệt xét 478 người tiến cử từ các đạo về hạng hiếu đệ, lực điền và có tài văn võ. Khi thi, hỏi về nghiệp vụ, đều không có gì đáng kể. Riêng Bộc châu tiến cử 270 người hiếu đệ, Vua kinh ngạc vì số lượng quá nhiều, triệu đến Giảng Vũ điện hỏi, phần lớn không đúng như chiếu yêu cầu. Họ vẫn tự nhận có thể luyện võ, lại thi bắn cung, nhưng đều vấp ngã. Vua nói: “Chỉ có thể đưa vào sổ binh mà thôi.” Mọi người đều khóc lóc xin tha. Vua bèn cho họ lui hết, và xét tội các quan chức địa phương tiến cử thiếu nghiêm túc.

[12] Ngày Bính Thân, Vua sai Thái thường thừa Ngụy Hàm Hi đến các huyện thuộc Khai Phong phủ định mức thuế của ba hạng nhân hộ. Hàm Hi là con của Nhân Phố.

[13] Đào sông Lạc.

[14] Tháng hai, ngày Kỷ Hợi, quần thần lại dâng biểu xin thêm tôn hiệu là ‘Nhất Thống Thái Bình’. Vua nói: “Yên, Tấn chưa khôi phục, sao đã có thể gọi là Nhất Thống Thái Bình được?” Không chấp thuận. Quần thần xin đổi thành ‘Lập Cực Cư Tôn’, Vua bất đắc dĩ phải đồng ý.

[15] Thái tử Trung Doãn Cao Dịch Tòng, Thái tử Tẩy mã Thương Trí Dụng phụ trách việc Thái Bộc tự, lúc ấy đang bàn việc tế giao, nên giao cho họ tu sửa xe cộ.

(Cao Dịch Tòng, Thương Trí Dụng, chưa rõ lai lịch.)

[16] Ngày Canh Tuất, lấy Tuyên huy Nam Viện sứ, Nghĩa Thành Tiết độ sứ Tào Bân làm Xu mật sứ, kiêm lĩnh Trung Vũ Tiết độ sứ. Xu mật kiêm lĩnh Tiết độ bắt đầu từ Tào Bân.

Sơn Nam Đông đạo Tiết độ sứ Phan Mỹ làm Tuyên huy Bắc Viện sứ. Tiết độ kiêm lĩnh Tuyên huy bắt đầu từ Phan Mỹ.

Thị vệ Mã bộ quân đô ngu hậu Lý Hán Quỳnh kiêm lĩnh Chấn Vũ Tiết độ sứ, Bộ Quân đô ngu hậu Lưu Ngộ kiêm lĩnh Đại Đồng Tiết độ sứ, Hạ Châu Thứ sử, phụ trách Tứ Phương quán sự Điền Khâm Tộ kiêm lĩnh Phần Châu Phòng ngự sứ, Đông Thượng Cáp môn sứ Lương Huýnh kiêm lĩnh Phần Châu Đoàn luyện sứ, Tây Đầu Cung Phụng Quan Lý Kế Long làm Trang Trạch phó sứ, để thưởng công lao đánh Giang Nam.

[17] Tào Bân từ Giang Nam trở về, đến Cáp Môn dâng tờ khải nói: “Phụng sắc sai đi Giang Nam giải quyết công vụ, nay trở về.” Người đương thời khen ngợi ông không khoe khoang.

Ban đầu, khi Tào Bân ra đi, Vua hứa sẽ thưởng chức Sứ Tướng. Khi trở về, Vua nói với Tào Bân: “Hiện nay các phương còn chưa hàng phục, khanh làm Sứ Tướng, phẩm vị đã đến cực điểm, liệu còn chịu gắng sức chiến đấu không? Hãy tạm thời như vậy, sau lại giúp ta lấy Thái Nguyên.” Rồi bí mật ban cho năm mươi vạn tiền. Tào Bân chần chừ trở về, đến nhà thấy tiền chất đầy phòng, bèn than rằng: “Làm quan tốt cũng chỉ được nhiều tiền mà thôi, cần gì chức Sứ Tướng?” Vua tiết chế chức tước, không tùy tiện ban phát, thường như vậy.

(Sách ‘Hội Yếu’ chép rằng Tào Bân vì công bình Giang Nam, không bị tước bỏ quyền tiết việt, nhưng chỉ đến tháng chín thì bị tước.)

Phàm những người giữ chức kiểm hiệu quan kiêm Trung thư lệnh, Thị trung, Đồng bình chương sự, đều được gọi là Sứ Tướng. Theo chế độ nhà Đường, đều được ký tên vào chiếu chỉ. Từ thời Ngũ đại trở về sau, họ không tham gia chính sự. Khi triều hội, thân vương thì đứng vào hàng riêng, các quan khác thì gắn liền với chức vụ của mình, khi vào chầu hay tạ ơn ở chính nha thì đứng đầu hàng. Phàm những người được bổ nhiệm theo định chế, cuối chiếu chỉ ghi tên chức vụ mà không ký tên, bên cạnh ghi chú chữ “sứ”[2].

[18] Vua nghe tin Ngô Việt vương Tiền Thục sắp vào triều, ngày Tân Hợi, sai hoàng tử Hưng Nguyên doãn Đức Chiêu đến Tuy Dương đón tiếp.

[19] Khiết Đan phái Thái bộc khanh Gia Luật Diên Ninh đến chúc mừng tiết Trường Xuân.

[20] Mã Bộ quân Phó đô Quân đầu, Nghị Châu thứ sử Sử Khuê phạm tội tiết lộ lời nói trong cung, ngày Giáp Dần, bị điều ra làm Quang Châu thứ sử.

[21] Trước đây, Nội khách tỉnh sứ Đinh Đức Dụ giám sát quân Ngô Việt bình định Giang Nam, Đức Dụ ỷ thế cậy quyền, không thương xót binh lính, tham lam vô độ. Ngô Việt vương Tiền Thục tâu việc này lên, ngày Ất Mão, Đức Dụ bị điều ra làm Phòng Châu thứ sử.

[22] Ngày Mậu Ngọ, Lư Đa Tốn được thăng chức Lại bộ Thị lang, bãi chức khởi phục.

[23] Ngày Kỷ Mùi, Ngô Việt vương Tiền Thục cùng con trai là Trấn Hải, Trấn Đông Tiết độ sứ Tiền Duy Tuấn vào chầu ở điện Sùng Đức, hội yến ở điện Trường Xuân. Trước đó, Vua đến Lễ Hiền trạch, xem xét các vật dụng bày biện[3]. Khi đến nơi, Vua liền ban chiếu cho Thục ở tại đó. Ân sủng ban thưởng rất hậu, những vật phẩm Thục dâng lên cũng tăng gấp đôi so với trước.

Ngày Canh Thân, mở tiệc lớn ở điện Đại Minh.

Bốn ngày sau, Vua triệu Thục và Duy Tuấn vào vườn yến tiệc và bắn cung.

Ba ngày sau, Vua lại đến Lễ Hiền trạch.

[24] Ban đầu, khi Vua lên ngôi, triệu Cung bị khố phó sứ Ngụy Phi đến và bảo: “Xưởng chế tạo lâu nay tích tụ nhiều tệ nạn, khanh hãy vì Trẫm sửa sang lại.” Lập tức phong Phi làm Tác phường phó sứ.

Ngụy Phi tại chức rất hết lòng, ở vị trí này tám năm, sau thăng làm Tác phường chính sứ. Khi Vua đánh Trạch Lộ, Duy Dương, hạ Kinh, Quảng, thu phục Xuyên, Hạp, chinh phạt Hà Đông, bình định Giang Nam, đều trước thời hạn ban dụ chỉ, lệnh chế tạo binh khí, không gì không hoàn hảo. Nỏ giường cũ bắn xa chỉ 700 bước, Ngụy Phi cải tiến chế tạo nỏ bắn xa tới 1000 bước. Tháng ba, ngày Kỷ Tỵ, cho Ngụy Phi kiêm chức Đại Châu thứ sử, vẫn quản lý Tác phường. Khi ấy kinh đô có Tác phường, các châu có Tác viện, đều có nhiệm vụ thường xuyên. Binh khí do Tác phường chế tạo, mỗi tuần dâng lên một lần, Vua đích thân xem xét, đặt năm kho để lưu trữ. Sau đó lại chia Tác phường thành Nam và Bắc, riêng lập Cung nỗ viện.

(Việc chia Tác phường thành Nam Bắc vào tháng chín. Lập Cung nỗ viện, theo ‘Hội yếu’ cũng vào năm này, nhưng không rõ tháng ngày, nay gộp lại chép vào.)

[25] Ngày Canh Ngọ, cho phép Ngô Việt Vương Tiền Thục được mang kiếm lên điện, chiếu thư không gọi tên.

Ngày Tân Mùi, phong vợ của Thục là Hiền Đức Thuận Mục phu nhân Tôn thị làm Ngô Việt quốc Vương phi. Tể tướng cho rằng không có điển lệ phong vợ của chư hầu khác họ làm Vương phi, Vua bảo: “Lệnh này xuất phát từ triều đình ta, để biểu thị ân điển đặc biệt.” Lập tức sai con trai của Thục là Duy Tuấn mang chiếu chỉ ban cho.

Trước đó, Vua nhiều lần triệu Thục cùng Duy Tuấn vào vườn ngự uyển dự yến tiệc bắn cung, chỉ có các Vương cùng dự, Thục lạy, thường sai thị vực đỡ dậy, Thục cảm động rơi nước mắt. Lại từng lệnh Thục cùng Tấn vương Quang Nghĩa, Kinh Triệu doãn Đình Mỹ hành lễ huynh đệ, Thục quỳ gối lạy từ chối, cuối cùng Vua mới thôi.

[26] Vua chuẩn bị đi về phía tây, Tiền Thục khẩn thiết xin được đi theo, nhưng Vua không đồng ý, bèn cho lưu lại con trai là Tiền Duy Tuấn để tham gia tế lễ, và cho Tiền Thục trở về nước.

Ngày hôm đó, Vua mở yến tiệc ở điện Giảng Vũ, nói với Tiền Thục: “Phong thổ phương Nam và Bắc khác nhau, sắp vào mùa nóng nực, khanh nên sớm lên đường.” Tiền Thục khóc lóc, nguyện cứ ba năm vào triều một lần. Vua nói: “Đường xa cách trở, đợi có chiếu chỉ hãy đến.”

Trước đó, quần thần đều dâng sớ xin lưu lại Tiền Thục và lấy đất của ông, nhưng Vua không nghe. Sau đó, Vua sai lấy một gói vải màu vàng ban cho Tiền Thục, niêm phong rất kỹ, và dặn: “Trên đường đi nên mở xem kín đáo.” Khi mở ra, toàn là các sớ của quần thần xin lưu lại Tiền Thục, ông càng thêm cảm động và lo sợ. Sau khi về nước, mỗi khi làm việc ở công thần đường, một hôm, ông ra lệnh dời chỗ ngồi về phía đông, nói với tả hữu: “Hướng tây bắc, là nơi kinh đô thiêng liêng ngự trị, uy trời không cách xa nét mặt, ta sao dám yên tĩnh ngồi một chỗ?” Ông càng dâng hiến nhiều xe cộ, quần áo, đồ chơi, chế tác tinh xảo. Mỗi khi tu cống, đều bày ra sân, đốt hương rồi mới gửi đi.

(Tiền Thục thời Thái Tổ chỉ vào triều một lần. Các sách ‘Ký Văn’ và ‘Đông Hiên Lục’ có chép rằng khi Giang Nam chưa bình định, Tiền Thục vào triều, Thái Tổ cho về, sau khi Giang Nam bình định lại vào triều, đều là sai lầm. ‘Ngũ Đại Sử’ lại chép: Tiền Thục về nước, dâng hiến nhiều đồ quý hiếm, không kể xiết. Thái Tổ nói: “Những thứ này là của cải trong kho của ta, không cần phải dâng!” Xét Thái Tổ đối đãi Tiền Thục rất hậu, không thể có lời này. Lời này dường như xuất phát từ việc Ngụy Vương Kế Cấp phá Thục, có lẽ người truyền đã nhầm lẫn. Nay không chép theo.)

[27] Theo nghi lễ cũ, trước khi hành lễ ở Nam Giao, phải báo cáo trước ở Thái Miếu. Lúc đó, Vua chuẩn bị đi Tây Kinh, không muốn mang theo các bài vị thần chủ.

Ngày Nhâm Thân, Vua thân hành báo cáo ở Thái Miếu, mặc thường phục, ngồi kiệu, bá quan đứng hàng ở sân miếu, không bày nhạc khí, chỉ làm một lễ dâng rượu, không hành lễ rót rượu, không uống rượu phúc, không tế bảy vị thần. Khi hành lễ ở Viên Khâu tại Tây Kinh, hai ngày trước đó, lại sai lưu thủ Đông Kinh báo cáo ở miếu Tuyên Tổ.

[28] Ngày Quý Dậu, phong Hoàng tử Đức Phương làm Quý Châu phòng ngự sứ.

[29] Dùng Thừa tướng Thẩm Nghĩa Luân làm Lưu thủ Đông Kinh, kiêm Đại nội đô bố trí. Tả Vệ đại tướng quân (theo ‘Tống sử’ là Hữu Vệ đại tướng quân) Vương Nhân Thiệm làm quyền Phán lưu ty Tam ty, kiêm Tri Khai Phong phủ.

[30] Ngày Bính Tý, xa giá khởi hành từ kinh sư.

[31] Ngày Kỷ Mão, dừng chân tại Trịnh Châu.

[32] Ngày Canh Thìn, Vua đến yết kiến An lăng, dâng lễ vật khóc than, tả hữu đều khóc. Sau đó, Vua lên đài Khuyết[4], hướng tây bắc bắn tên vang, chỉ chỗ ấy nói: “Sau này ta sẽ an táng ở đó.”

Ban cho dân phủ Hà Nam được miễn nửa thuế ruộng năm nay, lại miễn thuế cho hộ phụng thờ lăng một năm.

(Sách ‘Đàm uyển’ chép Vua từ Tây Kinh trở về mới đến yết kiến An lăng, có lẽ là sai. Nay theo ‘Thực lục’ và ‘Chính sử’.)

[33] Ngày Tân Tỵ, Vua đến Tây Kinh, thấy cung thất Lạc Dương nguy nga tráng lệ, rất hài lòng, triệu Tri phủ Hà Nam là Hữu Vũ Vệ thượng tướng quân (bản gốc chép là “Hữu Vũ thượng tướng quân”, nhưng ‘Tống sử chức quan chí’ không có tên hiệu này, nên đây là chữ “Vệ” bị lược bỏ, cần thêm vào, nay xin thêm vào.) Tiêu Kế Huân đến khen ngợi, gia phong làm Tiết độ sứ Chương Đức. Con gái Kế Huân là phu nhân của hoàng tử Đức Phương, nên lại được trao chức tước, cũng do nhờ Đức Phương. Nhưng Kế Huân tính keo kiệt, thường cắt giảm chi tiêu trong công phủ, bị người đời chê trách.

[34] Ngày Bính Tuất, dùng Vương Nhân Khuê lĩnh chức Thứ sử Nghĩa Châu, Lý Nhân Tộ làm Bát tác phó sứ.

[35] Ngày Đinh Hợi, triệu Thẩm Nghĩa Luân đến Tây Kinh, lệnh Vương Nhân Thiệm kiêm Đại nội đô bố trí, Khai Phong suy quan là Tả Tán thiện đại phu quê Chân Định là Giả Diễm làm quyền Tri phủ sự.

[36] Ngày Canh Dần, sai các quan cận thần khắp cầu đảo tại các đền miếu trong thành, vì mưa dầm lâu ngày.

[37] Ngày Tân Mão, đến chùa Quảng Hóa ở Long Môn, mở tháp vô úy tam tạng.

[38] Mùa xuân, tạm đình chỉ thi cử.

[39] Tháng này, điều động một nghìn quân sĩ, từ cầu Thái Thị ở thành Lạc đào kênh dẫn đến cửa Tào dài hai mươi lăm dặm, để thông việc chở lương.

[40] Trước đây, dân lưu tán trở về làm ăn chỉ phải nộp thuế cho phần ruộng họ cày cấy, đợi năm năm mới khôi phục mức thuế cũ, vì thế đến năm năm họ thường bỏ trốn. Vào mùa hạ, tháng tư, ngày Kỷ Hợi, ra lệnh rằng những người tái phạm bỏ trốn sẽ không được trở về nguyên quán.

[41] Cơ quan hữu trách tâu: “Theo lệnh, trong tông miếu, điện đình, cung huyền có 30 cỗ, ở giao xã có 20 cỗ, điện đình thêm 12 án cổ xúy[5]. Trong lễ giao tế năm Khai Bảo thứ tư[6], đã nhầm dùng số lượng của tông miếu. Năm nay, khi thiên tử thân hành tế giao, xin dùng lễ cũ.” Chiếu chỉ rằng Viên Khâu thêm 16 cỗ, còn lại như chế độ trước.

[42] Ngày Canh Tý, hợp tế trời đất ở Nam Giao. (Quốc sử đổi gọi là Vu tế, sợ sai sự thật, nay theo Thực lục mà chính sửa.) Khi trở về, Vua ngự ở cửa Ngũ Phụng, đại xá thiên hạ. Cơ quan hữu trách dâng sách lên tôn hiệu, nhưng Vua kiên quyết không nhận.

[43] Lúc đầu, mưa kéo dài cả tháng không dứt, Vua sai trung sứ mang ba thỏi gỗ đến ước hẹn với thần núi rằng, nếu đến ngày trai giới mưa vẫn không tạnh, sẽ bị trói buộc. Lại sai cầu đảo ở tháp Tam Tạng Vô Úy, nếu không giữ lời hứa thì sẽ phá hủy. Đến kỳ hạn thì trời quang mây tạnh, nhờ đó lễ thành. Dân chúng ở kinh đô, những người tóc bạc bảo nhau: “Chúng ta từ nhỏ trải qua loạn ly, không ngờ ngày nay lại được trông thấy nghi trượng của thiên tử thái bình.” Có người rơi lệ.

[44] Ngày Nhâm Dần, mở đại yến ở điện Quảng Thọ.

[45] Ngày Quý Mão, phong Sùng Nghĩa lưu hậu Vương Toàn Bân làm Vũ Ninh tiết độ sứ, Chiêu Hoá lưu hậu Thôi Ngạn Tiến làm Chương Tín tiết độ sứ. Vua bảo Toàn Bân: “Trẫm trước đây vì Giang Tả chưa bình, lo rằng các tướng chinh phạt phương Nam không giữ kỷ luật, nên đã ngăn khanh mấy năm để vì Trẫm định phép. Nay đã chiếm được Kim Lăng, trả lại cho khanh cờ tiết.” Lại ban thưởng hậu hĩ.

[46] Vua sinh ra ở Lạc Dương, yêu thích phong thổ nơi đây, từng có ý định dời đô. Khi mới bàn việc đi về phía tây, Khởi cư lang Lý Phú dâng thư, trình bày tám điều khó: “Kinh ấp suy tàn, là điều khó thứ nhất. Cung khuyết chưa hoàn chỉnh, là điều khó thứ hai. Giao miếu chưa tu sửa, là điều khó thứ ba. Bách quan chưa đủ, là điều khó thứ tư. Dân trong kinh kỳ khốn khổ, là điều khó thứ năm. Lương thực quân sự không đủ, là điều khó thứ sáu. Thành lũy chưa xây dựng, là điều khó thứ bảy. Nghìn xe vạn ngựa, đi trong mùa hè oi bức, là điều khó thứ tám.” Vua không nghe theo.

Sau khi tế lễ xong, Vua vẫn muốn ở lại nơi này, quần thần không ai dám can gián. Thiết kị tả hữu sương đô chỉ huy sứ Lý Hoài Trung nhân cơ hội nói: “Đông Kinh có kênh Biện vận chuyển lương thực, mỗi năm nhận được số gạo từ Giang, Hoài hàng triệu hộc, quân ở kinh đô mấy mươi vạn người đều nhờ vào đó mà sống. Bệ hạ ở đây, lấy gì mà dùng? Hơn nữa, kho tàng và quân đội hùng hậu đều ở Đại Lương, căn bản vững chắc đã lâu, không thể lay động. Nếu vội dời đô, thần thực sự chưa thấy điều nào thuận lợi.” Vua cũng không nghe theo.

Tấn Vương lại từ tốn nói: “Dời đô không thuận tiện.” Vua nói: “Dời về Hà Nam chưa xong, lâu ngày rồi sẽ dời đến Trường An.” Vương cúi đầu khẩn thiết can gián. Vua nói: “Trẫm muốn dời về phía tây không vì điều gì khác, chỉ muốn dựa vào thế hiểm yếu của núi sông mà bớt quân đội thừa, theo gương nhà Chu, nhà Hán, để yên thiên hạ.” Vương lại nói: “Nằm ở đức chứ không ở hiểm.” Vua không trả lời. Vương ra ngoài, Vua quay lại nói với tả hữu: “Lời của Tấn Vương tuy đúng, nhưng nay tạm nghe theo. Không đến trăm năm, sức dân thiên hạ sẽ cạn kiệt.”

(Lý Hoài Trung làm Tiết độ sứ vào mùa đông năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 2, lúc này chỉ lĩnh chức Phú Châu đoàn luyện sứ. Sách ‘Tam triều thánh chính lục’ gọi ông là Tiết độ sứ là sai. Việc của Tấn Vương dựa theo sách ‘Kiến Long di sự’ của Vương Vũ Xứng, chính sử không ghi chép.)

[47] Ngày Giáp Thìn, bắt đầu hạ chiếu về phía đông.

[48] Ngày Ất Tỵ, Vua ban yến cho các quan đi theo tại vườn Hội Tiết, trên đường về qua phường Thông Lợi, vì đường hẹp, đã phá bỏ nhà dân lấn đường để mở rộng.

[49] Vua sai Thái tử thái sư Vương Phổ cùng các quan trở về kinh sư trước.

[50] Thượng thư tả thừa Lữ Dư Khánh mất.

Dư Khánh trước đây bãi chức, Thượng định trao cho quyền tiết việt, nhưng gặp lúc ông bệnh, việc không thành. Nay được truy tặng chức Trấn Nam tiết độ sứ, bãi triều một ngày, cử trung sứ lo việc tang lễ.

[51] Ngày Bính Ngọ, xa giá xuất phát từ Lạc Dương cung.

[52] Ngày Kỷ Dậu, dừng chân ở Trịnh châu.

[53] Ngày Tân Hợi, đến Đông Kinh.

[54] Trước đây, Lý Dục hàng, Tào Bân sai Dục viết thư khuyên các thành ở Giang Nam đầu hàng, đều lần lượt quy thuận. Duy hiệu úy Hồ Tắc ở Giang Châu cùng nha hiệu Tống Đức Minh giết thứ sử, chiếm thành không hàng. Triều đình phong Tiên phong đô chỉ huy sứ Tào Hàn làm Chiêu an tuần kiểm sứ[7], mang quân thảo phạt. Thành Giang Châu hiểm trở kiên cố, Hàn đánh mãi không hạ, từ mùa đông đến mùa hạ, quân lính chết rất nhiều.

Ngày Đinh Tỵ, cuối cùng phá được thành, quân lính vẫn còn giành giật từng ngõ. Lúc ấy Tắc bệnh nặng, đang nằm trên giường, Hàn bắt trói, trách cứ việc chống mệnh. Tắc đáp: “Chó sủa người lạ, cớ sao Công lại ngạc nhiên?” Hàn sai chém ngang lưng, đồng thời giết luôn Đức Minh.

Trước đó, Vua ra lệnh cho Hữu Bổ khuyết Trương Tế nhận chức tri Cửu Giang, cùng với Hàn vào thành. Quân của Hàn cướp bóc nhà dân, dân khiếu kiện với Tế, Tế tra xét và xử tội giết quân của Hàn. Hàn vì dân Giang Châu kháng cự, lại căm giận việc dân khiếu kiện dẫn đến việc quân của mình bị giết, nên nổi giận tàn sát cả thành. Số người chết lên đến hàng vạn, thi thể bị vứt xuống giếng, giếng đều đầy tràn, phần còn lại ném xuống sông. Hàn vu cáo Tế, khiến Tế bị điều đến nhiệm chức tri Nhiêu Châu. Tài sản của dân giá trị hàng vạn đều bị Hàn chiếm đoạt.

(Tế, không rõ tung tích.)

Vua nghe tin Giang Châu sắp bị hạ, sai sứ mang chiếu chỉ ban cho Hàn, cấm việc giết chóc. Sứ giả đến Độc Thụ Phổ, gặp gió lớn không thể qua sông, khi đến nơi thì thành đã bị tàn sát rồi. Hàn nhân đó xin chở 500 tượng La Hán bằng sắt từ chùa Đông Lâm trên núi Lư Sơn về, đến Dĩnh Châu xây dựng chùa mới. Bèn điều động hơn mười chiếc thuyền lớn, chở đầy vàng bạc, đặt tượng sắt trên đó, đương thời gọi là “Áp Cương La Hán”[8].

[55] Ngày Kỷ Mùi, chiếu rằng từ nay về sau không có việc gì quan trọng thì bá quan được nghỉ.

[56] Ngày Nhâm Tuất, bổ nhiệm Kinh Hồ Nam lộ Chuyển vận sứ, Thái tử Trung duẫn Hứa Trọng Tuyên làm Hình bộ Lang trung, Kinh Tây Chuyển vận sứ, Khởi cư lang Lý Phù làm Tỷ bộ Viên ngoại lang, Tả Bổ khuyết, Quyền tri Thăng Châu kiêm Giang Nam Chuyển vận sứ Dương Khắc Nhượng[9] làm Binh bộ Viên ngoại lang, đều vì có công trong việc điều động quân lương.

[57] Khi Giang Nam chưa bình định, Tả Tán thiện đại phu, Tri Hán Dương quân Lý Thứ, nhiều lần dẫn quân vượt sông đánh giặc. Ngày Giáp Tý, bổ nhiệm Thứ làm Giá bộ Viên ngoại lang.

[58] Ngày hôm đó, Vua mở yến tiệc ở Giảng Vũ điện, mời các cận thần và Tiết độ sứ.

[59] Ngày Bính Dần, nước Đại Thực cử sứ sang cống vật phẩm địa phương.

[60] Tháng 5, ngày Kỷ Tỵ, Vua đến Đông Thủy cai, rồi đến Phi Long viện, xem đánh cá trên sông Kim Thủy.

[61] Lư Ráng nhận chiếu chỉ vào triều, vừa được dẫn đến yết kiến, lúc đó cháu trai của Cung Thận Nghi là Cung Dĩnh, giữ chức Hữu Tán thiện đại phu, gặp Ráng ở triều, liền chất vấn: “Giặc phản, ngươi đã giết chết chú ta, ta đợi ngươi đã lâu, nay ngươi lại ở đây sao?” Bèn bắt Ráng để tố cáo oan. Vua giao Ráng cho quan lại xét xử. Xu mật sứ Tào Bân tâu rằng Ráng dũng cảm, xin tha tội chết. Vua nói: “Diện mạo Ráng rất giống Hầu Bá Vinh, sao có thể để sống?” Ngày Ất Hợi, chém đầu Ráng ở phía tây chợ.

(Việc Lư Ráng bị xử tử, trước đây không có ghi chép, đoạn này dựa theo ‘Tân lục’, ‘Bản kỷ’ lại nói chém Ráng ở Tây Kinh, không rõ nguyên nhân. Xét thấy Ráng chết ở Cố Tử Pha, chôn tại Di Môn Sơn, có vẻ không phải ở Tây Kinh, hơn nữa xa giá lúc đó đã về Đại Lương, sao lại chém ở Tây Kinh, chắc chắn là sai chữ. ‘Giang Nam Dã Lục’ ghi Ráng quy hàng triều đình, thực sự do Tào Hàn áp giải. Thái Tổ chất vấn Ráng vì sao không hàng ngay, Ráng đáp rằng Lý Dục chưa nhận tước Vương nên không hàng, Thái Tổ khen ngợi lòng trung thành của ông, bèn phong làm Ký Châu đoàn luyện sứ. Đến khi Cung Dĩnh tố oan, Tào Hàn lại tâu Ráng không thể để sống, nên giết đi. Lại có chuyện về thiết khoán, chiên nhục, đều khác với quốc sử, nay không dùng. Tuy nhiên, quốc sử chép truyện Ráng giống với ‘Cửu Quốc Chí’, cần xem xét thêm.)

[62] Ngày Canh Thìn, Vua đến hồ Giảng Vũ, sau đó đến vườn Ngọc Tân xem việc cày cấy.

[63] Tống Châu tâu rằng gió lớn phá hủy nhà cửa của quan dân, tổng cộng hơn 4.600 gian.

[64] Ngày Quý Mùi, giáng Thân Châu thành Nghĩa Dương quân.

[65] Ngày Giáp Thân, cử Đông Thượng Các môn phó sứ Điền Thủ Kì sang chúc mừng sinh thần Khiết Đan, Hữu Tán thiện đại phu Phòng Ngạn Quân làm phó sứ.

(Ngạn Quân, chưa rõ lai lịch.)

[66] Tấn Châu dâng 29 người gồm Tuần kiểm sứ ba châu Lam, Hiến, Thạch của Bắc Hán là Vương Hồng Vũ.

(Hồng Vũ, chưa rõ lai lịch.)

[67] Ngày Tân Mão, Tả Ty viên ngoại lang, Tri chế cáo Hỗ Mông được cử quyền quản Kinh Nam phủ, do Lư Đa Tốn ghét ông.

(Theo bản truyện, không rõ vì sao mà ghét.)

[68] Cử Ty Huân viên ngoại lang Hòa Hiểm đi thăm dò Giang Nam đạo.

[69] Tháng sáu, ngày Kỷ Hợi, lấy Luyện sứ châu Dĩnh là Tào Hán làm Quan sát sứ châu Quế, vẫn kiêm phán châu Dĩnh, để thưởng công bình định Giang Nam.

[70] Vua thấy đất ở của Tấn vương Quang Nghĩa cao ráo, nước không tới được, ngày Canh Tý, đi bộ từ cửa Tả Dịch đến phủ đệ của Vương, sai thợ làm bánh xe lớn, dẫn nước sông Kim Thủy vào trong phủ, lại nhiều lần đến xem, thúc giục hoàn thành việc này.

Vương tính nhân hiếu, Vua rất yêu quý, coi việc ở Kinh 15 năm, các việc đều được sửa sang, Vua nhiều lần đến phủ, ban ân lễ rất hậu. Khi Vương bệnh nặng, gần như không biết gì, Vua vội tới thăm, tự tay châm ngải, Vương cảm thấy đau, Vua cũng lấy ngải tự đốt, từ giờ Thìn đến giờ Dậu, Vương đổ mồ hôi rồi tỉnh lại, Vua mới về. Khi bệnh khỏi hẳn, Vua lại đến thăm, ban cho chăn đệm có hình rồng phượng.

Lại có lần dự tiệc trong cung, Vương say, không thể cưỡi ngựa, Vua đứng lên tiễn đến thềm điện, tự tay đỡ. Quân sĩ dưới trướng của Vương là Cao Quỳnh ở Mông Thành tay trái nắm yên ngựa đưa ra, Vua trông thấy, bèn ban cho Quỳnh và những người hầu cận áo, đai và đồ dùng, bảo họ hết lòng phục vụ. Có lần bảo các cận thần rằng: “Tấn vương bước đi như rồng như hổ, lại sinh ra có điềm lạ, ắt là Vua thái bình, phúc đức không phải do ta mà có được.”

(Sách ‘Quỳ Châu trực bút’ của Thái Đôn chép: Thái Tổ lấy Tấn vương coi việc ở Kinh, khi xong việc, bảo rằng: “Lâu không thấy ngựa của ngươi, dắt tới xem.” Rồi truyền gọi đến đài ngựa dưới thềm điện, ra lệnh cho Tấn vương cưỡi lên ngựa trước mặt. Thái Tông sợ hãi từ chối, [Thái Tổ] bèn bảo riêng rằng: “Sau này ngươi tự nhiên phải thường lên xuống chỗ này, từ chối làm gì?” Thái Tông sợ đổ mồ hôi, vội bước ra. Thái Tổ sai thị vần giữ lại, đưa lên ngựa. Vương liền lạy hai lần, rồi cưỡi ngựa đi vòng quanh sân điện mà ra. Thái Tổ tỏ ý sẽ truyền ngôi. Xét ý truyền ngôi của Thái Tổ, vốn đã định trước ở trước giường Chiêu Hiến rồi, nay không thuật lại.)

[71] Ngày Quý Mão, Vua nước Ngô Việt là Tiền Thục sai sứ vào cống, tạ ơn vì được triều kiến và ban lễ đặc biệt, lại được cho về nước.

[72] Vũ Ninh tiết độ sứ, được tặng chức Trung thư lệnh là Vương Toàn Bân qua đời. Toàn Bân coi nhẹ của cải, trọng đãi sĩ tử, không cầu danh tiếng hiển hách, khoan dung với mọi người, binh sĩ đều vui lòng phụng sự. Ông bị biếm trích ở ngoại quận gần mười năm[10], vẫn an nhiên tự tại, người hiểu biết đều khen ngợi ông.

[73] Mùa thu, tháng bảy, ngày Mậu Thìn, Vua đến phủ của Tấn Vương, xem nước chảy vào hồ mới.

[74] Ban đầu, lưu hậu của Vĩnh An là Chiết Ngự Huân nhân dịp tế giao ở Tây Lạc đến triều, đi đường bị bệnh nên đến trễ. Ngày Bính Tý, điều Ngự Huân làm lưu hậu của Thái Ninh quân, triệu em của Ngự Huân là Chiết Ngự Khanh làm Phó sứ nhàn cứu, coi quản phủ Châu.

[75] Cùng ngày, Vua đến phủ của Kinh Triệu Doãn là Đình Mỹ thăm bệnh, hai ngày sau lại đến nữa.

[76] Bình Hải tiết độ sứ Trần Hồng Tiến vì Giang Nam và Ngô Việt vào triều nên không yên lòng, ngày Mậu Dần, sai con là Thứ sử Chương Châu là Trần Văn Hạo đến cống nạp sản vật địa phương, và xin vào chầu, chiếu cho phép. Hồng Tiến đi đến Nam Kiếm Châu, nghe tin trong nước có tang, bèn trở về trấn để tổ chức tang lễ.

[77] Trước đó, lệnh cho các châu bán muối, giá mỗi cân sáu mươi đồng giảm xuống năm mươi, bốn mươi đồng giảm xuống ba mươi. Đến lúc này, muối hạt giảm xuống còn bốn mươi bốn đồng. Ngày Ất Dậu, lệnh giảm thêm bốn đồng.

[78] Sai các quan cầu tạnh mưa ở các đền miếu trong kinh thành.

[79] Ngày Đinh Hợi, chiếu rằng các đền miếu của các đế vương và thần núi sông đã sửa chữa gần với huyện, trấn thì dời trị sở đến đó.

[80] Theo chế độ cũ, các vụ án hình ngục trong thiên hạ do Đại Lý tự xét xử chi tiết, còn hình bộ xem xét lại.

Năm ngoái vào mùa thu, từng có chiếu lệnh hai cơ quan này thảo luận cùng nhau rồi tấu trình. Khi đó, Hữu tán thiện đại phu Trương Tất phụ trách hình bộ, Tỷ bộ viên ngoại lang Lý Phù phụ trách Đại Lý. Phù tính tình cứng rắn, thường nặng nhẹ khác nhau trong việc áp dụng pháp luật, Tất thường bác bỏ và sửa chữa, nhiều lần dẫn đến tranh cãi, hồ sơ vụ án bị trì hoãn. Tất dâng sớ xin khôi phục chế độ cũ nhưng không được phúc đáp, bèn xin nhậm chức ngoài triều.

Tháng 8, ngày Mậu Tuất, Tất được bổ nhiệm quyền tri Vinh châu. Trước đây, các quan từ triều đình giả nhận chức ngoài khi vào từ biệt, thường được căn dặn nhiều lần. Đến khi Tất từ biệt, Vua nói: “Chỉ có khanh không cần Trẫm dặn dò, nên Trẫm mới cất nhắc khanh.” Tất tại châu quả nhiên có chính sự tốt.

(Việc hai cơ quan cùng xét xử văn án, theo sớ của Tất là chiếu chỉ tháng 7 năm ngoái, nhưng trong ‘Thực lục’ và ‘Bản kỷ’ không ghi chép, nay nhân việc Tất ra ngoài, ghi lại để tham khảo.)

[81] Ngày Kỷ Hợi, Vua đến chùa Long Hưng mới.

[82] Ngày Ất Tỵ, Vua đến viện Đẳng Giác, rồi đến viện Đông Nhiễm, ban tiền cho thợ thuyền. Lại đến doanh Khống Hạc, xem kỵ sĩ bắn cung, ban lụa theo thứ bậc. Lại đến chùa Khai Bảo, xem kho kinh sách.

[83] Ngày Đinh Mùi, Vua ra lệnh đánh Bắc Hán, lấy Thị vệ mã quân đô chỉ huy sứ Đảng Tiến làm Hà Đông đạo hành doanh mã bộ quân đô bộ thự, Tuyên huy bắc viện sứ Phan Mỹ làm đô giám, Hổ tiệp hữu sương đô chỉ huy sứ Dương Quang Nghĩa làm đô ngu hậu.

Ngày Kỷ Dậu, Tiến và những người khác vào từ biệt, được ban quân phục, đai vàng, ngựa yên và vũ khí rồi lên đường.

[84] Khi mới bình định Giang Nam, Thứ sử Viên châu Lưu Mậu Trung cùng Thứ sử Cát châu Đồ Lệnh Kiên hẹn nhau không tuân mệnh. Gặp lúc Lệnh Kiên chết, Giám quân Thị Kỳ Trinh quyền tri Cát châu, việc này đành bỏ dở, rồi Mậu Trung cùng Trinh vào triều. Mậu Trung thường hay xâm lấn biên giới, Vua trách hỏi, Mậu Trung nói: “Thần phụng sự Lý Dục chỉ lo hết sức, dù Bệ hạ thân chinh, thần cũng liều thân không tiếc.” Vua khen ngợi lòng trung thành của ông.

Ngày Canh Tuất, bổ nhiệm Mậu Trung làm Thứ sử Đăng châu, Trinh làm Nhàn cứu sứ.

(Trinh, không thấy ghi chép.)

[85] Tại Tấn châu bắt được gián điệp Bắc Hán là Triệu Huấn, áp giải về kinh, Vua tha tội không giết, ban cho quần áo rồi thả về.

[86] Bãi bỏ Chế trí sứ các huyện ở Giang Nam do ngụy triều đặt ra[11].

[87] Ngày Tân Hợi, lệnh cho Tuần kiểm ở Tây Sơn thuộc Trấn châu, Phòng ngự sứ ở Minh châu là Quách Tiến làm Đô giám quân mã bộ thuộc hành dinh các châu Hãn, Đại thuộc đạo Hà Đông.

[88] Ngày Nhâm Tý, lấy Xu mật phó sứ Sở Chiêu Phụ[12], Hữu vệ Đại tướng quân kiêm phán Tam ty Vương Nhân Thiệm cùng chia quản việc Tuyên huy Nam Bắc viện. Từ đó về sau, khi chức Tuyên huy sứ khuyết, liền lệnh cho Xu mật phó sứ kiêm quản viện sự.

(Việc bổ nhiệm Tuyên huy sứ sau này không ghi chép đầy đủ, đây là sự việc ban đầu nên đặc biệt ghi lại.)

[89] Ngày Bính Thìn, ra chiếu chia quân tiến vào địa giới Bắc Hán:

– Tây thượng Cáp môn sứ Hác Sùng Tín cùng Giải châu Thứ sử Vương Chính Trung tiến ra Phần châu;

– Nội y khố phó sứ Diêm Ngạn Tiến cùng Trạch châu Thứ sử Tề Siêu (Siêu, không thấy ghi chép) tiến ra Sấm châu;

– Nội y khố phó sứ Tôn Yến Tuyên (Yến Tuyên, không thấy ghi chép) cùng Bộc châu Thứ sử An Thủ Trung tiến ra Liêu châu;

– Dẫn tiến phó sứ Tề Diên Sâm (Diên Sâm, không thấy ghi chép) cùng Tuần kiểm các châu Tấn, Thấp, Nhữ châu Thứ sử Mục Ngạn Chương (Ngạn Chương, không thấy ghi chép) tiến ra Thạch châu;

– Lạc uyển phó sứ Hầu Mỹ cùng Quách Tiến tiến ra Hãn, Đại.

[90] Tháng 9, ngày Giáp Tý, ngự giá đến Lăng cẩm viện.

[91] Ngày Ất Sửu, phủ Khai Phong tâu rằng các nhà ngục của các cơ quan trong kinh thành đều trống, không có tù nhân giam giữ.

[92] Ngày Bính Dần, bắt đầu cho phép các Thứ sử, Lang trung, Tướng quân trở lên được nghỉ vào ngày kỵ riêng.

[93] Ngày Đinh Mão, lấy Khố bộ viên ngoại lang Phạm Mân làm người phụ trách công việc chuyển vận thủy lục kế độ các châu Hoài Nam cùng các châu Từ, Hải, Nghệ thuộc Hoài Bắc. Vua bảo Mân rằng: “Trẫm giao cho khanh trọng trách một phương, phàm việc trừ bỏ nỗi khổ của dân, vận chuyển lương thực quân nhu, đều cho phép tùy nghi xử lý, không cần phải báo cáo từng việc một[13]. Vả lại, Trẫm nghe nói khanh vốn nghèo, nếu có gì cần dùng, cứ lấy tiền quan mà dùng.” Mân mỗi năm vận hơn một triệu thạch gạo cung cấp cho kinh sư, đương thời được khen là người có mưu lược.

[94] Vua Cao Ly là Vương Chiêu mất. Con trai ông là Vương Trụ tạm thời quản lý việc nước. Ngày Canh Ngọ, sai sứ Triệu Tôn Lễ sang cống nạp và xin phong mệnh.

[95] Ngày Nhâm Thân, Đảng Tiến dẫn quân đến dưới thành Bắc Hán, đóng trại ở phía nam sông Hà, Phần, đánh bại mấy nghìn quân địch ở phía bắc Thái Nguyên, bắt được hơn nghìn ngựa và hơn sáu trăm bộ vũ khí.

[96] Ngày Quý Dậu, Hộ bộ thượng thư về hưu, được tặng chức Tả bộc xạ Lưu Hi Cổ mất.

[97] Khi mới bình định Giang Nam, sai Trứ tác tá lang người Kiến Dương là Dương Triệt làm Thông phán châu Kiền, theo Tào Bân nhận nhiệm vụ phân binh. Tiết độ sứ Quách Tải Hưng (Tải Hưng, chưa thấy ghi chép) đang cố thủ với quân mình, Triệt một mình cưỡi ngựa thẳng đến doanh trại, dùng uy tín của triều đình khuyên bảo, Tải Hưng liền trao ấn tín và nghe theo mệnh lệnh.

Ngày Tân Tỵ, lệnh cho Tải Hưng làm Thứ sử châu Hải, Triệt chọn lấy năm trăm quân sĩ dũng cảm trong thành làm một đội, đưa về kinh sư. Thổ hào họ Lê và họ La, dựa vào núi tụ tập đảng cướp làm loạn, Triệt đánh dẹp yên, bắt được hai tên thủ lĩnh, giải về kinh.

[98] Ngày Tân Tỵ, Quách Tiến báo rằng đã dẫn quân ra khỏi đường Hãn, Đại, bắt được ba vạn bảy nghìn dân các châu phía sau núi của Bắc Hán.

[99] Ngày Canh Dần, ngự giá đến đình ao phía nam thành, rồi đến Lễ Hiền trạch, lại đến phủ của Tấn vương.

[100] Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Ngọ, mùng một, Định Nan tiết độ sứ Lý Quang Duệ dẫn quân bản bộ đóng ở hai cửa ải Thiên Triều và Định Triều, sai sứ báo rằng đợi sông Hoàng Hà đóng băng sẽ tiến vào địa giới Bắc Hán.

[101] Ngày Đinh Dậu, An Thủ Trung tâu rằng cùng với Mã Kế Ân, Giám áp binh mã trại Lạc La, (Kế Ân, chưa rõ lai lịch.) dẫn quân ra đường Liêu Châu, đốt hơn bốn mươi trại của Bắc Hán, bắt được hàng nghìn người cùng trâu dê.

(Theo ghi chép tháng 8, sai Nội y khố phó sứ Tôn Yến Tuyên cùng Bộc Châu thứ sử An Thủ Trung theo đường Liêu Châu tiến vào địa giới Hà Đông. Truyện của Thủ Trung cũng chép rằng Thủ Trung lúc đó làm Tri châu Liêu Châu, cùng Mã Kế Ân tiến vào địa giới, nhưng Cựu lục lại nói: Tri châu Liêu Châu Tề Siêu tâu việc, đó là sai. Tề Siêu thực là Thứ sử Trạch Châu, theo đường Sấm Châu tiến vào địa giới, không phải Liêu Châu. Tân lục chỉ ghi là Liêu Châu, có lẽ đã nhận ra sai sót của Cựu lục nên sửa lại, nay ghi thẳng là An Thủ Trung.)

[102] Tề Siêu tâu rằng dẫn quân theo đường Sấm Châu, đánh bại năm trăm quân Bắc Hán, bắt sống ba mươi người.

(Theo Bản kỷ. Tân lục và Cựu lục không ghi, nghi ngờ Thực lục bị thiếu sót, hoặc cùng ngày tấu trình với An Thủ Trung. Cần xem xét thêm.)

[103] Ngày Kỷ Hợi, Vua đến Tây giáo trường, xem quân sĩ Phi Sơn bắn đá bằng máy.

[104] Ngày Canh Tý, Quách Tiến tâu rằng phá được huyện Thọ Dương của Bắc Hán, bắt được hơn chín mươi dân.

[105] Đảng Tiến tâu rằng lại đánh bại hơn một nghìn quân Bắc Hán ở phía bắc thành Thái Nguyên.

[106] Trước đây, quan châu Kinh Châu hàng năm mua ngựa, Tiết độ sứ Chương Nghĩa Trương Đạc tăng giá nhiều để tư lợi, tích lũy đến mười sáu vạn quan, lại tự ý mượn hơn một vạn quan tiền công khố, lạm dụng sáu nghìn bốn trăm bánh rượu quan. Việc bại lộ, bị triệu về kinh, châu này xiềng xích con trai ông là Bảo Thường cùng thân lại Tống Tập.

Vua vì Đạc là bậc cố cựu, xuống chiếu tha không hỏi tội, chỉ cách chức Tiết độ sứ, những gì ông ta chiếm đoạt đều được miễn trừ. Bảo Thường và Tập cũng được tha.

Ngày Canh Tuất, phong Trương Đạc làm Tả đồn vệ Thượng tướng quân. Đạc là người Hà Sóc.

[107] Ban đầu, có vị thần giáng xuống nhà dân Trương Thủ Chân ở huyện Chu Chất, tự xưng: “Ta là tôn thần của trời, hiệu là Hắc Sát Tướng quân, phụ tá của Ngọc Đế.” Thủ Chân mỗi khi trai giới cầu khẩn, thần đều giáng xuống trong phòng, gió lặng yên, tiếng nói như trẻ con, chỉ mình Thủ Chân có thể hiểu được. Những lời tiên đoán về họa phúc đều rất linh nghiệm. Thủ Chân từ đó trở thành đạo sĩ.

Lúc Vua không khoẻ, cho người ngựa trạm triệu Thủ Chân vào cung.

Ngày Nhâm Tý, sai nội thị Vương Kế Ân đến đàn trai ở quán Kiến Long, lập đàn hoàng lục, khiến Thủ Chân triệu thần. Thần nói: “Cung khuyết trên trời đã hoàn thành, khoá ngọc mở. Đấng Tấn Vương có lòng nhân.” Nói xong, thần không giáng xuống nữa.

(Theo ghi chép của ‘Quốc sử Phù Thụy chí’, có thêm từ ‘Đàm uyển’ của Dương Ức. ‘Đàm uyển’ lại viết: “Thái Tổ nghe lời Thủ Chân cho là yêu quái, định giết, nhưng gặp lúc băng hà.” Sợ không phải, nay không dùng.)

Vua nghe lời ấy, liền đêm triệu Tấn Vương, giao phó việc về sau.

Tả hữu đều không nghe thấy gì, chỉ từ xa trông thấy dưới ánh nến, Tấn vương thỉnh thoảng rời khỏi chỗ ngồi, có vẻ như đang nhường nhịn tránh điều gì đó. Sau đó, Thượng cầm chiếc rìu gỗ chặn xuống đất[14], lớn tiếng bảo Tấn vương rằng: “Hãy làm tốt việc này. (Hảo vi chi).”

(Đoạn này căn cứ theo ‘Tương Sơn Dã Lục’ của nhà sư Ngô Văn Oánh, chính sử và Thực lục đều không có ghi chép. Dã Lục chép rằng: Khi tổ tiên còn ẩn cư, thường đi chơi với một đạo sĩ trên sông Quan Hà, không rõ tên họ, tự xưng là Hỗn Độn, hoặc còn gọi là Chân Vô. Mỗi khi thiếu thốn, đạo sĩ lại thò tay vào túi, vàng càng lấy càng nhiều. Ba người thường uống rượu say mèm. Đạo sĩ thích hát bài Bộ Hư làm trò[15], có thể lấy được giọng cao vút từ chốn u u minh minh. Thỉnh thoảng một hai câu, theo gió trời bay xuống, chỉ có tổ tiên nghe được, rằng: “Kim Hầu Hổ Đầu Tứ, Chân Long Đắc Chân Vị.” Khi tỉnh lại hỏi thì đạo sĩ nói: “Lời nói trong cơn say, há đáng tin sao?” Đến ngày Thượng nhận mệnh trời lên ngôi, đó là ngày mồng 4 tháng giêng năm Canh Thân.

Từ khi lên ngôi, Thượng không gặp lại đạo sĩ nữa, bèn xuống chiếu cho tìm kiếm khắp nơi. Có người thấy đạo sĩ trên đường Hoàn Viên, hoặc ở Tung Sơn, Lạc Dương, đó là năm Khai Bảo Ất Hợi. Ngày Thượng dự lễ tẩy trần, xa giá đến Tây Chiểu, thấy đạo sĩ say ngồi dưới bóng cây bên bờ, cười chào Thái Tổ rằng: “Từ ngày chia tay, ngài mạnh khỏe chứ?” Thượng mừng lắm, lập tức sai người bí mật dẫn đạo sĩ vào hậu cung, sợ đạo sĩ bỏ đi, vội vàng trở lại gặp, mọi chuyện như xưa, cùng nhau uống rượu thỏa thích.

Thượng bảo đạo sĩ: “Ta từ lâu muốn gặp ngươi, quyết định một việc, không gì khác, ta còn sống được bao lâu nữa?” Đạo sĩ nói: “Chỉ cần đêm 20 tháng 10 năm nay trời quang, thì ngài có thể kéo dài thêm một kỷ, nếu không, thì phải sớm chuẩn bị.”

Thượng giữ đạo sĩ ở lại, cho nghỉ tại vườn sau. Quan lại vườn thỉnh thoảng thấy đạo sĩ ngủ trên ngọn cây trong tổ chim, hoặc mấy ngày không thấy tăm. Thượng luôn khắc ghi lời đạo sĩ, đến đêm hẹn, ngự tại Thái Thanh các để xem thiên tượng.

Đêm đó trời quang, sao sáng rực rỡ, Thượng vui mừng. Thình lình mây đen ùn ùn kéo đến, trời đất bỗng đổi, mưa tuyết đá bất ngờ trút xuống[16], Thượng dời gậy xuống các. Vội truyền mở cửa cung, triệu Khai Phong Doãn, tức Thái Tông. Mời vào cung lớn, cùng uống rượu. Hoạn quan, cung nữ đều phải lánh đi, chỉ từ xa thấy dưới ánh nến, Thái Tông thỉnh thoảng tránh chỗ ngồi, có vẻ không chịu nổi. Uống xong, canh ba, tuyết dưới điện đã dày vài tấc. Thái Tổ cầm rìu gỗ chặn tuyết, quay lại bảo Thái Tông: “Hãy làm tốt, làm tốt! (Hảo tố, hảo tố!) Rồi cởi đai đi ngủ, tiếng thở như sấm.

Đêm hôm đó, Thái Tông ở lại nghỉ trong cấm cung, gần đến canh năm, người canh chòi thấy yên lặng không nghe thấy gì[17], Thái Tổ đã băng hà. Thái Tông tiếp nhận di chiếu, trước linh cữu lên ngôi. Đến sáng, lên Minh Đường, tuyên đọc xong di chiếu, mọi người khóc thương, dẫn các cận thần vây quanh áo ngọc để chiêm ngưỡng thi thể, sắc mặt tươi sáng như vừa tắm gội xong.

Thái Tổ anh minh vũ dũng, thông hiểu sinh mệnh, có thể thấy được điều đó. Văn Oánh hẳn không nói sai, nên đặc biệt ghi lại ở đây. Tuy nhiên, Văn Oánh nói về đạo sĩ mà không rõ tên họ, phải chăng là Trương Thủ Chân? Hoặc cũng có thể là một đạo sĩ khác. E rằng Văn Oánh nghe được từ lời đồn, nên không chắc chắn, như nói “ở dưới bóng cây bên hồ Tây cười chào Thái Tổ”, “nghỉ đêm trong tổ chim ở vườn sau”, nói “đêm 20 tháng 10 trời quang, thì tuổi thọ của Thánh thượng có thể kéo dài thêm một kỷ”, nghi ngờ đều là những lời thêu dệt của kẻ thích chuyện lạ, chưa hẳn là thật. Lại nói “Thái Tông ở lại nghỉ trong cấm cung”, điều này cũng sai lầm. Thái Tổ đã không khỏe, há lại tự lên lầu, hơn nữa còn ra sân giữa điện đánh tuyết sao? Nay xin lược bớt và chỉnh sửa, chờ xem xét kỹ hơn.

Cố mệnh, là việc lớn, nhưng Thực lục, chính sử đều không ghi chép được, thật đáng tiếc. Thái Đôn trong ‘Trực bút’ viết: Thái Tổ triệu Trần Đoàn vào triều, hỏi về tuổi thọ, Đoàn đáp rằng vào đêm ngày 20 tháng 10 năm Bính Tý, nếu thấy tuyết rơi thì phải chuẩn bị kế hoạch ra đi, nếu trời quang đãng thì có thể kéo dài thêm 12 năm. Đến đêm hôm trước, Vua không ngủ. Ban đầu, sai cung nhân ra xem, về tâu rằng tinh tú sáng rực. Đến canh chuyển, lại sai ra xem, lần này tâu rằng trời âm u, tiếp đó báo tuyết rơi, liền mở khóa cấm cung, sai trung sứ triệu Thái Tông vào đối, lệnh dọn rượu, trao bút ngự bút phó thác việc kế vị, nửa đêm lui về. Vua vào ngủ, người hầu nghe tiếng thở khác thường, lập tức xem thì Vua đã băng hà. Thái Tông nhận lời kế vị.

Xét những điều Đôn ghi chép, gần giống với Văn Oánh, chỉ khác là người đạo sĩ đó là Trần Đoàn. Theo bản truyện của Đoàn và ‘Đàm Uyển’, cả hai đều nói Đoàn chưa từng vào yết kiến trong triều Thái Tổ, e rằng Đôn cũng nhầm, có lẽ là Trương Thủ Chân.

Vương Vũ Xứng trong ‘Kiến Long Di Sự’ viết: Vua sắp băng hà, hôm trước, sai trung sứ gấp triệu tể tướng Triệu Phổ, Lư Đa Tốn vào cung, gặp ở phòng ngự. Vua nói: “Ta biết bệnh này không qua khỏi, gọi các khanh vào không vì việc gì khác, chỉ vì có mấy việc chưa kịp làm, các khanh hãy lấy bút nghiên, theo lời ta viết ra, sau khi ta mất nhất định phải thi hành, ta nhắm mắt không hối hận.” Liền trao bút nghiên cho Phổ, Vua tự thuật, Phổ chép theo lời, những việc đó đều là đạo lý cứu đời an dân. Phổ khóc nói: “Xin tuân theo mệnh lệnh. Nhưng còn một việc lớn, chưa thấy bệ hạ xử trí.” Vua hỏi: “Việc gì?” Phổ nói: “Ngôi thái tử chưa định, nếu bệ hạ không may băng, nên lập ai trong các vương?” Vua đáp: “Có thể lập Tấn Vương.” Phổ lại nói: “Bệ hạ vất vả khởi nghiệp, cuối cùng đến thăng bình, tự có Thánh tử nối ngôi[18], không thể bàn đến huynh đệ. Thần e rằng đại sự một khi đã qua, khó mà quay lại, bệ hạ nên suy nghĩ kỹ.” Vua nói: “Ta trên không nỡ trái lời giáo huấn từ ái của Thái hậu, dưới vì thiên hạ vừa bắt đầu yên ổn, mong có người lớn tuổi để trấn an, ý ta đã quyết, mong các khanh hãy giúp đỡ Tấn Vương.” Liền xuất châu ngọc vàng bạc trong ngự phủ ban cho Phổ, lệnh trở về phủ. Hôm sau, Vua băng hà ở Trường Khánh điện.

Do đó, Tấn Vương nghe được rằng Triệu Phổ và những người khác đã dâng tấu nghị này, nên vô cùng oán hận. Sau khi lên ngôi, vì liên quan đến việc của Lư Đa Tốn và Tần phủ, Triệu Phổ bị giáng chức và chết ở Lĩnh Biểu. Triệu Phổ nhờ một người cung nữ lấy lòng, nên được miễn tội.

Xét theo truyền thuyết trong “Kiến Long Di Sự” gồm 13 chương, đây là chương thứ 11, nhưng sự việc quá vô lý và không đáng tin. Bởi vào tháng 8 năm Khai Bảo thứ 6, Triệu Phổ đã bị bãi chức tể tướng và được cử ra trấn thủ Hà Dương, ba năm sau khi Thái Tổ băng hà, lúc đó Triệu Phổ đang ở Hà Dương, sao có thể cùng Lư Đa Tốn cùng giữ chức tể tướng? Hơn nữa, chương thứ 7 của “Di Sự” nói rằng: “Đỗ Thái Hậu và Thái Tổ triệu tập Tấn Vương, Tần Vương, Nam Dương Vương, cùng thỏa thuận truyền ngôi, Đào Cốc soạn thệ thư, Triệu Phổ tế cáo trời đất và tông miếu.” Điều này hoàn toàn không đúng. Nếu như điều đó đã được thỏa thuận từ đầu thời Kiến Long, thì cuối thời Khai Bảo, việc chỉ định tể tướng còn cần gì phải thỉnh cầu? Dù có thỉnh cầu, chắc chắn cũng không phải là Triệu Phổ.

Hơn nữa, “Di Sự” là do một người viết, đầu đuôi nên thống nhất, nhưng chương 7 đã nói vậy, chương 11 lại nói vậy, chẳng phải là tự mâu thuẫn sao? Thần Đạo từng xem xét kỹ chương này, đây chắc hẳn là do những người thân cận của Lư Đa Tốn, vốn là kẻ thù của Triệu Phổ, muốn vu khống, nên mạo tên Vũ Xứng để thêm vào “Di Sự”, thực ra không phải do Vũ Xứng viết. Vũ Xứng phụng sự Thái Tông, vì thẳng thắn nên nhiều lần bị giáng chức, bọn tiểu nhân nhân đó mà lợi dụng, nhưng Vũ Xứng vốn là người hiểu đạo lý, trung nghĩa, chắc chắn không thể bịa đặt, bôi nhọ quân vương như vậy. Hơn nữa, trong tập của Vũ Xứng có nhiều biểu chương thay mặt Triệu Phổ, truyện của Vũ Xứng cũng nói rằng Triệu Phổ rất quý trọng Vũ Xứng, dù Vũ Xứng có viết xấu về Triệu Phổ, cũng cần phải xác minh sự thật.

Khi Thái Tổ băng hà, Triệu Phổ không còn ở ngôi tể tướng, các sĩ đại phu ai chẳng biết, mà chương này lại nói rằng ông cùng Lư Đa Tốn vào cung, chắc chắn không phải do Vũ Xứng viết, điều này đã rõ ràng. Hẳn là do những kẻ thân cận của Lư Đa Tốn, không hiểu rõ việc triều đình, bịa đặt mà thôi. Không chỉ chương này đáng ngờ, các chương khác cũng không hoàn toàn đúng, bởi Vũ Xứng nổi tiếng với văn chương, mà những lời trong “Di Sự” lại quá thô tục, khác xa với phong cách thường ngày của ông. Vì vậy, thần [Lý] Đào nghi ngờ, chỉ tin vào những gì đáng tin. Các học sĩ đại phu thấy sách mạo danh Vũ Xứng liền tin ngay, không xem xét kỹ, điều này rất hại đạo nghĩa. Vì thế, không thể không phân biệt, để răn dạy đời sau.)

[108] Ngày Quý Sửu, Vua băng hà tại điện Vạn Tuế. Lúc đó đêm đã khuya khoảng giờ Tý thứ tư, Tống Hoàng hậu sai Vương Kế Ân đi triệu Quý Châu Phòng ngự sứ Đức Phương. Kế Ân biết ý định truyền ngôi về Tấn Vương của Thái Tổ đã định từ trước, nên không đi tìm Đức Phương mà trực tiếp đến phủ Khai Phong triệu Tấn Vương, gặp Tả áp nha Trình Đức Huyền đang ngồi trước cửa phủ. Đức Huyền là người Huỳnh Trạch, giỏi nghề y. Kế Ân hỏi, Đức Huyền đáp: “Tôi nghỉ tại phường Tín Lăng, vào giờ Sửu có người gọi cửa rất gấp rằng: ‘Tấn Vương triệu.’ Ra xem thì không thấy ai, lặp lại ba lần như vậy. Tôi sợ Tấn Vương có bệnh nên đến đây.” Kế Ân lấy làm lạ, bèn viện cớ cáo từ, rồi gõ cửa cùng người giữ cổng đi vào gặp và truyền triệu Vương.

Tấn Vương rất kinh ngạc, do dự không muốn đi, nói: “Ta phải bàn với gia nhân.”

Vào lâu mà không ra, Kế Ân thúc giục: “Việc chậm trễ, e sẽ thuộc về người khác.” Lúc đó tuyết lớn, bèn cùng Tấn Vương đi bộ trong tuyết đến cung.

Kế Ân mời Tấn Vương dừng ở nhà trực, nói: “Xin Vương hãy đợi ở đây, thần sẽ vào báo trước.”

Đức Huyền nói: “Phải tiến thẳng vào, còn đợi gì nữa!” Rồi cùng Tấn Vương tiến đến tẩm điện.

Hoàng hậu nghe Kế Ân đến, hỏi: “Đức Phương đến chưa?”

Kế Ân đáp: “Tấn Vương đã đến.”

Hoàng hậu thấy Tấn Vương, ngạc nhiên, vội gọi “Quan gia”, nói: “Mẹ con tôi xin gửi tính mệnh vào tay Quan gia.”

Tấn Vương khóc mà rằng: “Chúng ta cùng giữ phú quý, không phải lo.”

(Điều này theo sách ‘Ký Văn’ của Tư Mã Quang, nhầm Vương Kế Ân là Kế Long, Trình Đức Huyền là Giả Đức Huyền, nay căn cứ ‘Quốc Sử’ mà sửa lại. Chú: Hoàng hậu Khai Bảo nhập cung vào tháng hai năm Khai Bảo thứ nhất, Đức Phương cưới con gái của Tiêu Kế Huân vào tháng bảy năm Khai Bảo thứ tám, xuất cáp lúc mười bảy tuổi. Truyện về Đức Phương không chép mẹ là Hoàng hậu Khai Bảo, truyện về Hoàng hậu cũng không nói có con là Đức Phương[19], nghi ngờ Đức Phương không phải con của Hoàng hậu Tống. Cần xét lại.

Theo ‘Quốc Sử – Phương Kỹ Truyền’: Mã Thiều người Bình Kích, học thiên văn tam thức. Năm Khai Bảo, Thái Tông làm Tấn Vương coi giữ kinh ấp, triều đình ban lệnh cấm tư học thiên văn. Thiều vốn thân với thân lại của Thái Tông là Trình Đức Huyền, Đức Huyền thường khuyên Thiều không đến nơi đông đúc. Đêm 19 tháng mười năm thứ chín, Thiều bỗng đến gặp Đức Huyền, Đức Huyền rất sợ, hỏi tại sao đến, Thiều nói: “Mai là ngày Tấn Vương được lợi kiến.” Đức Huyền hoảng hốt, bèn giữ Thiều ở một phòng, vội vào báo với Thái Tông. Thái Tông sai Đức Huyền cho người phòng thủ, định tâu với Thái Tổ. Đến sáng, Thái Tông vào diện kiến, quả nhiên nhận di chiếu lên ngôi. Vài ngày sau, Thiều được tha.

Xét việc này so với truyện về Trình Đức Huyền chép việc ở phường Tín Lăng, đêm có người gọi cửa gấp rồi đến phủ đệ khác nhau, hẳn có một chỗ sai. Nay chỉ theo truyện về Đức Huyền và sách ‘Ký Văn’ của Tư Mã Quang.

Sách ‘Ung dữu nhàn bình’ bàn: Từng đọc sách ‘Kiến Long Di Sự’ do Vương Vũ Xứng soạn, chép đoạn lập Tấn Vương đều là ý của Thái Tổ muốn như vậy, không phải từ Đỗ Thái Hậu. Đoạn trước chép Thái Tổ muốn lập Thái Tông, việc đã định, Thái Hậu bèn sai Triệu Phổ soạn thệ thư, để lại trong cung, sau đó Thái Tông lên ngôi. Đoạn sau chép lúc Thái Tổ sắp băng, mời Triệu Phổ vào điện ngủ, lúc Triệu Phổ muốn lập con của Thái Tổ mà Thái Tổ không cho, rồi lập Thái Tông, về sau Thái Tông nghe chuyện này, nên xảy ra hiềm khích với Triệu Phổ. Việc trong sách trước sau chép cùng một việc mà khác nhau như vậy, tại sao vậy?)

[109] Giáp Dần, Thái Tông lên ngôi, quần thần vào chầu ở gian đông điện Vạn Tuế, Vua khóc lóc thảm thiết, ngất đi.

[110] Ngày Ất Mão, đại xá thiên hạ, những ai không nằm trong phạm vi ân xá thông thường cũng được miễn trừ. Lệnh: “Cấm quân biên giới tự ý tụ tập binh lính hoặc xâm phạm lãnh thổ nước ngoài. Nếu quần thần có điều muốn bàn luận hoặc dâng biểu, đều được phép trình bày đầy đủ; nếu cần phải tấu trình trực tiếp, sứ giả Cáp Môn sẽ ngay lập tức dẫn vào yết kiến. Nền tảng của phong hóa lấy hiếu đễ làm đầu, nếu có người bất hiếu với cha anh, tự ý rời khỏi gia tộc để lập hộ riêng, Ngự sử đài và quan lại địa phương phải tiến hành kiểm tra xử lý. Tiên hoàng đế dựng nước suốt hai mươi năm, mọi việc đều có phép tắc, chế độ đã quy định rõ ràng, pháp luật đã thiết lập ổn định, không ai được tùy tiện thay đổi. Trẫm mong rằng bách quan và dân chúng đều nghiêm túc tuân theo, thể hiện sự đồng lòng với ý chỉ của Trẫm.”

[111] Ngày Bính Thìn, quần thần dâng biểu xin Vua ra coi chính sự, không chấp nhận. Ngày Đinh Tỵ, Thừa tướng Tiết Cư Chính cùng các quan vào gặp Vua, cúi đầu khẩn thiết thỉnh cầu, Vua mới đồng ý. Ngay hôm đó, Vua dời đến điện Trường Xuân, bảo Tiết Cư Chính rằng: “Việc biên phòng quan trọng, chính sự muôn vàn, nên theo đúng quy cũ của Tiên đế, không được thay đổi.”

[112] Bổ nhiệm Phán quan phủ Khai Phong, Trứ tác lang Lục Trạch Trình Vũ làm Cấp sự trung, quyền coi phủ Khai Phong, Suy quan, Hữu tán thiện đại phu Giả Diễm làm Tả chính gián đại phu, Xu mật trực học sĩ, môn nhân huyện Tương Ấp Quách Chí làm Trứ tác tá lang. Chính gián tức là chức Gián nghị, vì kiêng tên Vua nên đổi.

[113] Ban phát vật phẩm của Tiên đế để lại cho các cận thần, tùy theo thứ bậc.

[114] Ngày Canh Thân, lấy hoàng đệ là Đình Mỹ, chức Vĩnh Hưng Tiết độ sứ, kiêm Thị trung, làm Khai Phong Doãn, kiêm Trung thư lệnh, phong làm Tề Vương; hoàng tử là Đức Chiêu, chức Sơn Nam Tây Đạo Tiết độ sứ, kiêm Đồng bình chương sự, làm Vĩnh Hưng Tiết độ sứ, kiêm Thị trung, phong làm Vũ Công quận vương; Quý Châu Phòng ngự sứ Đức Phương làm Sơn Nam Tây Đạo Tiết độ sứ, kiêm Đồng bình chương sự. Vua tỏ lòng thương yêu đặc biệt, không muốn Đức Phương có cách xưng hô khác biệt, nên sai chiếu cho ba công chúa họ Vương, họ Thạch và họ Ngụy[20], vẫn giữ nguyên danh xưng là hoàng tử và hoàng nữ.

[115] Thừa tướng Tiết Cư Chính được gia hàm Tả bộc xạ, Thẩm Luân được gia hàm Hữu bộc xạ. Thẩm Luân tức là Nghĩa Luân. Tham tri chính sự Lư Đa Tốn làm Trung thư Thị lang, kiêm Bình chương sự; Xu mật sứ Tào Bân được gia hàm Đồng bình chương sự; Xu mật phó sứ Sở Chiêu Phụ làm Xu mật sứ. Trước đây, Tào Bân từng giữ chức Xu mật sứ, kiêm Trung Vũ Tiết độ sứ, đến nay mới bãi chức. (Việc Tào Bân gia hàm Bình chương sự và bãi chức Tiết độ sứ, theo ‘Tống hội yếu’, các sách khác không ghi rõ, cần tra cứu thêm).

[116] Sai Tề Vương Đình Mỹ làm Sơn lăng sứ.

[117] Ngày Nhâm Tuất, sắc phong Chiêu Khánh Công chúa làm Trịnh Quốc Công chúa, Diên Khánh Công chúa làm Hứa Quốc Công chúa, Vĩnh Khánh Công chúa làm Quắc Quốc Công chúa.

[118] Lý Quang Duệ tâu rằng đã dẫn quân vào địa giới Bắc Hán, phá được trại Ngô Bảo[21], chém được bảy trăm thủ cấp, bắt sống trại chủ Hầu Ngộ, thu được hàng ngàn trâu dê cùng khí giới, áo giáp. Quang Duệ sau đó đổi tên thành Khắc Duệ.

[119] Các quan chức tâu rằng những tên phẩm hàm, châu huyện trùng với chữ dưới trong tên Vua, đều phải đổi. Chương Nghĩa quân đổi thành Chương Hoá quân, Nghĩa Thành quân đổi thành Vũ Thành quân, Bảo Nghĩa quân đổi thành Bảo Bình quân, Cảm Nghĩa quân đổi thành Cảm Đức quân, Nghĩa Vũ quân đổi thành Định Vũ quân, Chiêu Nghĩa quân đổi thành Chiêu Đức quân, Sùng Nghĩa quân đổi thành Sùng Tín quân, Quy Nghĩa quân đổi thành Quy Hoá quân, Đại Nghĩa quân đổi thành Đại Thuận quân, Nghĩa Châu đổi thành Nghi Châu, Nam Nghĩa Châu đổi thành Nam Nghi Châu, Nghĩa Dương quân đổi thành Tín Dương quân. Trấn Ninh tiết độ sứ Lưu Quang Nghĩa đổi tên là Đình Nhượng, Vũ Định tiết độ sứ Kỳ Đình Nghĩa đổi tên là Đình Huấn.

[120] Trước đó, các khoản thuế trà, muối, rượu có mức thuế ít, bèn chiêu mộ dân giàu chịu trách nhiệm, dân thường tăng mức thu để cầu lợi, năm mất mùa, thương nhân không đi lại, đến nỗi thất thu khoản thường thuế, bèn tịch thu tài sản để bù đắp. Do đó ban chiếu lấy mức thuế năm Khai Bảo thứ tám làm định mức, không được tùy tiện tăng thêm.

[121] Lại ban chiếu: “Những quan chức được tuyển chọn, có người từ ngoài dẫn vào yết kiến xin chỉ dụ, hoặc bị giáng chức, hoặc không được bổ nhiệm, hãy để cho bộ Lại xem xét, nếu vốn không có lỗi lầm và bệnh tật thì y theo phẩm hàm bổ nhiệm, nếu có người từ chức Lệnh, Lục bị giáng làm Bạ, Úy, thì cho khôi phục phẩm hàm, hoặc có người đã qua chức xa nên được tham gia tuyển chọn mà bị lệnh chờ tuyển chọn, cũng cho phép đến dự.”

[122] Tháng 11, ngày Giáp Tý, truy phong Doãn thị làm Thục Đức hoàng hậu, Việt quốc phu nhân họ Phù làm Ý Đức hoàng hậu. Bà Doãn thị là chị gái của Sùng Kha, được Vua cưới khi còn hàn vi.

[123] Ngày Đinh Mão, ban chiếu rằng Tề Vương Đình Mỹ, Vũ Công quận vương Đức Chiêu có vị trí ở trên Thừa tướng.

(Sách ‘Đông Đô Sự Lược’ chép chiếu rằng: “Đức hoá của Đế Nghiêu, thực sự lấy thân tộc làm đầu; chế độ nhà Chu, xếp họ khác về sau. Từ nay về sau, trong các buổi triều hội, Tề Vương Đình Mỹ, Vũ Công quận vương Đức Chiêu, vị trí nên ở trên Thừa tướng.”)

[124] Lại ban chiếu rằng các quan trong ngoài thăng giáng, từ nay phải đến chính điện từ tạ, người vi phạm sẽ bị các quan nghị tội. Đây là khôi phục lại chế độ cũ.

[125] Thừa tướng Tiết Cư Chính dâng tên lăng của Đại Hành hoàng đế là Vĩnh Xương, được Vua chuẩn y.

[126] Mậu Thìn, ban chiếu rằng: “Dân thường lấy nghề nông làm gốc, trước đây quy định hộ phụng phải nộp tiền mỗi tháng, việc chuẩn bị vất vả, nay đều bãi bỏ. Lương bổng của quan lại đều cấp bằng vật phẩm công, cho phép bán được đến bảy phần, vẫn theo chiếu tháng 12 năm Hiển Đức thứ 5 triều Chu, tăng cấp thêm gạo và lúa mạch.”

[127] Phân phái sứ giả đem vật phẩm còn lại của Đại Hành ban cho chư hầu bên ngoài.

[128] Ngày Canh Ngọ, lấy Lý Hán Siêu, chức Phòng ngự sứ Tề châu, làm Quan sát sứ Vân châu, kiêm quản Tề châu, và tiếp tục chỉ huy quân đồn trú tại Quan Nam[22]; Quách Tiến, chức Phòng ngự sứ Minh châu, nhận chức Quan sát sứ Ứng châu, kiêm quản Hình châu, và tiếp tục giữ chức Tuần kiểm vùng Tây Sơn. Lúc đầu, các vùng Tịnh, Ích, Quảng Nam đều tự xưng đế hiệu, còn các vùng Kinh Hồ, Giang Biểu chỉ dâng cống phẩm, trong khi vùng Tây Bắc chưa quy thuận.

Thái Tổ đặc biệt chú trọng đến việc tuyển chọn tướng lĩnh, phân công Lý Hán Siêu và Quách Tiến chỉ huy phòng thủ vùng Tây Bắc. Gia đình của họ ở kinh đô được đối đãi rất hậu hĩnh; lợi nhuận từ việc quản lý các châu huyện đều được giao cho họ, để họ có thể kinh doanh buôn bán, miễn thuế khi qua lại; được phép chiêu mộ dũng sĩ làm thân tín, mọi việc trong quân đội đều được tuỳ ý quyết định; mỗi khi vào triều, đều được triệu kiến, ban cho chỗ ngồi và tiệc yến, ban thưởng hậu hĩnh rồi mới cho về. Nhờ vậy, các tướng biên cương đều giàu có, có thể nuôi quân, dùng gián điệp, nắm rõ tình hình địch, mỗi khi có giặc cướp đều biết trước để chuẩn bị, bố trí mai phục đánh úp, thường dành được thắng lợi. Vì thế, suốt thời Thái Tổ, không lo lắng về phía Tây Bắc, các thế lực phản loạn lần lượt bị tiêu diệt, võ công lừng lẫy. Đó là nhờ thu phục được anh hùng để bảo vệ biên cương, đặt lòng tin vào lòng người mà thành.

(Trong các tác phẩm “Quốc Sử Luận”, “Tổ Tông Cố Sự”, “Kinh Vũ Thánh Lược”, liệt kê 14 tướng lĩnh. Lý Hán Siêu đóng quân ở Quan Nam, Mã Nhân Vũ phòng thủ Doanh châu, Hàn Lệnh Khôn trấn giữ Thường Sơn, Hạ Duy Trung bảo vệ Dịch châu, Hà Kế Quân trấn giữ Lệ châu để chống lại Khiết Đan. Quách Tiến kiểm soát vùng Tây Sơn, Vũ Thủ Kì trấn thủ Tấn châu, Lý Khiêm Bạc phòng thủ Thấp châu, Lý Kế Huân trấn giữ Chiêu Nghĩa để đối phó với Bắc Hán. Triệu Tán đóng quân ở Diên châu, Diêu Nội Bân phòng thủ Khánh châu, Đổng Tuân Hối đóng quân ở Hoàn châu, Vương Ngạn Thăng phòng thủ Nguyên châu, Phùng Kế Nghiệp trấn giữ Linh Vũ để phòng bị Tây Nhung. Trong số 13 người này, mỗi người đều có công tích riêng, chỉ có việc Vũ Thủ Kì trấn giữ Tấn châu chưa rõ, cần xem xét thêm.)

Lúc đó, phòng ngự sứ Mã Nhân Vũ trấn thủ Đặng Châu, giám quân Bá Châu. Nhân Vũ tuy xem Hán Siêu như anh nhưng thường tự ý hành động, tự tiện phát quân vào lãnh thổ địch, cướp bóc dân chúng và gia súc, khiến hai tướng trở mặt với nhau. Vua lo sợ xảy ra xung đột biên giới, liền sai sứ mang vàng lụa ban cho Hán Siêu và Nhân Vũ[23], ra lệnh bày tiệc để hòa giải. Sau đó, Nhân Vũ được điều đi làm tri châu Liêu.

Hán Siêu trấn giữ Tề Châu suốt 17 năm, cai trị giản dị, được quan dân tin yêu. Ông từng đến kinh đô xin dựng bia để ghi công đức. Vua hạ chiếu cho Thái tử suất canh lệnh Từ Huyền viết văn bia. Ông chia sẻ ngọt bùi với binh lính, đến khi qua đời, cả quân đội đều khóc thương.

(Việc dựng bia cho Hán Siêu diễn ra vào tháng 11 năm Khai Bảo thứ 8, nay ghi chép tại đây.)

Quách Tiến trấn thủ Tây Sơn suốt 20 năm. Thuở nhỏ ông nghèo hèn, vô lại, nương nhờ nhà giàu ở Cự Lộc. Con trai nhà giàu muốn giết ông, may nhờ vợ người ấy là Trúc Thị bí mật báo tin, ông mới thoát chết. Khi làm quan ở Hình Châu, ông liền sai người tìm Trúc Thị. Lúc đó Trúc Thị đã mất, gia đình lâm vào cảnh cùng khốn, ông bèn đón con gái bà về nuôi dưỡng như con đẻ. Khi định gả cô ấy làm vợ một đại hiệu, cô từ chối vì xuất thân nhà nông, Tiến bèn chọn con trai một gia đình bình dân để thành thân. Khi ở Minh Châu, ông cho trồng liễu khắp bốn phía thành, trong hào trồng sen, súng, bồ, vĩ, về sau cây cối um tùm, người dân trong châu trông thấy, có người rơi lệ, nói: “Đây là do Quách công trồng[24].”

[129] Sai các châu tìm những người thông thạo thiên văn, thuật số, đưa về kinh đô, ai dám che giấu sẽ bị xử tử, kẻ nào tố cáo sẽ được thưởng 30 vạn tiền.

[130] Chiếu dụ các đạo chuyển vận sứ, mỗi người phải xem xét và tiến cử các chức tri châu, thông phán, giám lâm vật vụ, kinh triều quan trong bộ mình[25], chia làm ba hạng để đánh giá năng lực: người có chính tích xuất sắc được xếp hạng thượng, người giữ chức vụ ổn định, công việc tạm ổn được xếp hạng trung, người làm việc chậm chạp, không có thành tích gì được xếp hạng hạ. Cuối năm báo cáo, sẽ có thưởng phạt lớn.

[131] Ngày Ất Hợi, lấy người tạm thời phụ trách việc nước Cao Ly là Vương Trụ làm Cao Ly quốc vương.

[132] Lấy Thái tử thiếu chiêm sự Đường Duyệt, Suất canh lệnh Từ Huyền cùng làm Trực học sĩ viện. Thái tử trung doãn Trương Kỵ làm Trực xá nhân viện. Việc đặt chức Trực xá nhân viện bắt đầu từ Kỵ.

[133] Lấy Cung phụng quan Tiết Duy Cát làm Hữu Thiên Ngưu vệ tướng quân, Thẩm Kế Tông và Hương cống tiến sĩ Lư Ung cùng làm Thủy bộ viên ngoại lang.

Ung là con của Lư Đa Tốn, mới bắt đầu làm quan đã được phong cùng chức với Kế Tông. Đa Tốn lúc đó đang được Vua yêu quý, nên Vua đặc cách ban chức, không theo lệ cũ.

[134] Ngày Nhâm Ngọ, sai Trứ tác lang Phùng Chính, Trứ tác tá lang Trương Khôn đi sứ Khiết Đan, thông báo việc kế thừa ngôi vị. (Chính, không rõ tung tích).

[135] Ngày Nhâm Thìn, sai Tả Ty ngự phó suất Vu Diên Siêu, Ty nông tự thừa Từ Chiêu Văn đi sứ Cao Ly. (Chiêu Văn, không rõ tung tích).

[136] Chiếu dụ các loại tuyển nhân, những ai đã từng được dẫn kiến, đặc cách giáng chức, không được bổ nhiệm quan chức, quan lại phải xét duyệt, nếu không có thiếu sót gì, đều được bổ nhiệm theo lệ cũ.

[137] Tháng này, Lưu Sưởng được phong làm Vệ quốc công, Lý Dục được phong làm Lũng Tây quận công. Dục bỏ hiệu Vi Mệnh hầu.

[138] Tháng 12, ngày Quý Tỵ mùng 1, Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng dâng thụy hiệu cho đại hành hoàng đế là Anh Vũ Thánh Văn Thần Đức, miếu hiệu là Thái Tổ.

[139] Vua khi mới lên ngôi, xuống chiếu bãi bỏ quân đội Hà Đông. Ngày Quý Mão, Tuyên huy nam viện sứ Phan Mỹ, Thị vệ mã quân đô chỉ huy sứ Đảng Tiến đều từ hành doanh trở về kinh. (‘Thập Quốc Kỷ Niên’ chép rằng tháng 11 quân Tống thất bại, đốt doanh trại rút về. Khác với chuyện này, cần xem xét thêm).

[140] Ngày Nhâm Tý, phá hủy các nhà lộ thiên trên tường thành ở các châu phía nam sông Dương Tử.

[141] Sách ‘Thái Tông chí nhân ứng đạo thần công thánh đức văn vũ duệ liệt đại minh quảng hiếu hoàng đế kỷ nhất’.

(Theo lệ của ‘Tư trị thông giám’, vào tháng giêng năm nay đã nên lập ‘Thái Tông hoàng đế kỷ’, nhưng vì Thái Tông đổi niên hiệu không đợi qua năm, khác với thông lệ, nên nay đặc biệt lập kỷ vào tháng đổi niên hiệu và vẫn để trong quyển này, không tách ra riêng.)

[142] Tháng 12, ngày Giáp Dần, Vua ngự ở điện Càn Nguyên để thụ triều, treo cờ mà không tấu nhạc. Ra lệnh đại xá, đổi niên hiệu. Những quan văn thường tham triều mặc áo đỏ, xanh đã 20 năm, các cơ quan dâng tên lên. Các quan ở kinh đương nhiệm đã hết hạn vẫn được cấp bổng lộc. Quần thần dâng chúc mừng ở điện Đại Minh. Vua vì mới thân chính hơn một tháng, đặc biệt làm mới thiên hạ, đây không phải là lệ cũ.

[143] Ngày Đinh Tỵ, lấy Xu mật trực học sĩ, Tả chính gián đại phu Giả Diễm làm Tam ty phó sứ. Tam ty đặt phó sứ bắt đầu từ Giả Diễm.

[144] Ngày Mậu Ngọ, sứ Khiết Đan là An bí khố sứ Tiêu Bồ Cốt Chỉ đến tu sửa lễ phúng viếng, Vua sai Dẫn tiến phó sứ Điền Thủ Kỳ ra ngoài thành đón tiếp, ban thêm tặng phẩm rồi tiễn về.

[145] Trước đây, hai lộ Xuyên, Hiệp đặt chuyển vận sứ, muối từ Hiệp chuyển hết về Kinh Nam, dân Tây Xuyên thiếu ăn. Thái Tổ sai sứ xét tội hai chuyển vận sứ, đến khi Vua lên ngôi đều tha. Lúc này lệnh cho chuyển vận sứ Tây Xuyên Thân Văn Vĩ kiêm nhiếp lộ Hiệp, chuyển vận phó sứ lộ Hiệp Hàn Khả Biền[26] kiêm nhiếp lộ Tây Xuyên, để muối được lưu thông.

(Thân Văn Vĩ, xem năm Kiến Long thứ 3, e rằng không phải người này. Hàn Khả Biền, chưa thấy ghi chép.)

[146] Ngày Kỷ Mùi, Vua ngự ao Giảng Vũ, rồi ngự vườn Ngọc Tân. Bí thư thừa An Lân bị đánh roi, tước bỏ chức tịch làm dân thường, vì khi làm tri châu Đạo nhận hối lộ phạm pháp.

[147] Năm đó, người nước Cao Ly là Kim Hành Thành bắt đầu vào học ở Quốc Tử Giám.


  1. khiển kì đệ tập: chữ 'tập' nguyên bản là 'cung', căn cứ vào Đại Điển quyển 123, Bát Cập Lục Du trong Nam Đường Thư quyển 14, Thập Quốc Xuân Thu quyển 3, và Lư Ráng Truyện mà sửa lại
  2. Đoạn này nguyên văn lẫn vào chú thích, căn cứ theo Tống bản, Tống Toát Yếu bản và Đại Điển quyển 12308, Tống Sử Toàn Văn quyển 2 hồi lại thành chính văn. Lại theo Biên Niên Cương Mục quyển 2, dưới 'các quan khác thì gắn liền với chức vụ của mình' có thêm chữ 'ban'. Cuối đoạn, Tống bản, Tống Toát Yếu bản và Đại Điển đều có dòng chữ nhỏ 'theo Hội Yếu chép thêm vào'.
  3. 'Xem xét' nguyên văn là 'sưu tập', căn cứ theo Tống bản, Tống Toát Yếu bản, các bản khác và Đại Điển quyển 12308, Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt quyển 4 đổi lại.
  4. Chữ 'đăng' nguyên tác 'chí'; chữ 'khuyết' nguyên tác 'tịch', đều theo bản Tống, bản Tống tóm lược cùng 'Tục thông giám' quyển 8 mà sửa.
  5. 'Án' nguyên viết là 'Cự', căn cứ theo 'Thái Thường Nhân Cách Lễ' quyển 17 và 'Tống Sử' quyển 126 Lạc Chí mà sửa
  6. 'Tự' nguyên viết là 'Xã', căn cứ theo bản Tống, 'Tống Toát Yếu' và sách trên mà sửa
  7. Chiếu phong Tiên phong đô chỉ huy sứ Tào Hàn làm Chiêu an tuần kiểm sứ, chữ 'sứ' ở sau 'tuần kiểm' vốn thiếu, nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và Đại điển quyển 12308, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 3 mà bổ sung.
  8. Chú thích: Từ 'Áp' ở dưới nguyên có chữ 'Kim', đã dựa vào sách Tống bản, Tống Toát Yếu bản, Các bản và Đại Điển quyển 12308, Tống Sử Toàn Văn quyển 2 hạ mà xóa bỏ.
  9. Nguyên tác là 'Dương Khắc Tương', đã dựa vào Đại Điển quyển 12308, Tống Sử quyển 270 truyện Dương Khắc Nhượng và sách này quyển 162, ngày Đinh Mùi mà sửa lại.
  10. 'kỷ' tự nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và Đại điển quyển 12308 bổ sung.
  11. Bãi bỏ chức Chế trí sứ giả mạo do các huyện ở Giang Nam đặt ra (chữ 'thự' nguyên văn là 'hiệu', căn cứ vào các bản khác và quyển 12308 trong Đại điển sửa lại).
  12. Lấy Xu mật phó sứ Sở Chiêu Phụ (chữ 'dĩ' nguyên văn là 'Tuyên', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và quyển 12308 trong Đại điển, cùng với Tống hội yếu chức quan 6-44 sửa lại).
  13. Không cần phải báo cáo từng việc một, chữ 'trung' nguyên bản là 'thân', căn cứ theo các bản khác và Đại điển quyển 12308, Tống sử quyển 249 truyện Phạm Mân mà sửa.
  14. Sau đó, Thượng cầm chiếc rìu gỗ chặn xuống đất. 'Rìu gỗ' nguyên bản là 'gỗ rìu', chữ 'chặn' bị thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tóm Tắt Tống, bản Các và Đại Điển quyển 12308, Biên Niên Cương Mục quyển 2, Tống Sử Toàn Văn quyển 2 hạ để sửa bổ.
  15. Đạo sĩ thích hát bài Bộ Hư làm trò. Bản Tóm Tắt Tống, bản Các và Đại Điển quyển 12308 cũng như vậy, bản Tống và bản Tục Tương Sơn Dã Lục của nhà sư Văn Oánh viết 'thích' thành 'giỏi'.
  16. Mưa tuyết đá bất ngờ trút xuống. 'Tuyết đá' nguyên bản là 'sấm chớp', Tục Tương Sơn Dã Lục và bản Tống, bản Tóm Tắt Tống đều chép là 'tuyết đá'. Xét thời điểm đã vào mùa đông, và đoạn sau có câu 'dưới điện tuyết đã dày vài tấc', nguyên bản chưa thật chính xác, nay căn cứ theo Dã Lục và bản Tống để sửa.
  17. người canh chòi thấy yên lặng không nghe thấy gì 'người canh chòi', bản các bản giống nhau, bản Tống ghi là 'người hầu chòi', sách 'Tục Tương Sơn Dã Lục' ghi là 'người canh chòi', có lẽ nên theo 'Dã Lục'. Bản 'Tống Toát Yếu' thì ghi là 'người hầu ngủ hoàn toàn không nghe thấy gì', xem phần dưới dẫn lời Thái Đôn trong 'Trực Bút' có câu 'người hầu ngủ nghe tiếng thở khác lạ', nghi ngờ bản 'Toát Yếu' có lẽ dựa vào đây mà sửa chữa.
  18. 'Thánh tử nối ngôi', chữ 'thụ' ban đầu thiếu, dựa theo bản Tống, bản Tống tóm tắt và 'Đại điển' quyển 12308 bổ sung.
  19. Truyện về Hoàng hậu cũng không nói có con là Đức Phương, hai chữ 'Đức Phương' vốn thiếu, theo bản Tống, bản ‘Tống Toát Yếu’ và ‘Đại Điển’ quyển 12308 mà bổ sung.
  20. Bản gốc chữ 'thạch' viết nhầm thành 'hậu'. Theo 'Tống hội yếu', quyển 8, phần 4, mục 6, và 'Tống sử', quyển 248, truyện về các công chúa, Triệu Khuông Dận có sáu con gái, trong đó ba công chúa nước Thân, nước Thành và nước Vĩnh đều mất sớm; Chiêu Khánh công chúa gả cho Vương Thừa Diễn, Diên Khánh công chúa gả cho Thạch Bảo Cát, Vĩnh Khánh công chúa gả cho Ngụy Hàm Tín. Chữ 'hậu' là sai so với chữ 'thạch'. Nay căn cứ vào bản Tống, bản 'Tống toát yếu', bản các và 'Đại điển', quyển 12308 sửa lại.
  21. Bản gốc thiếu chữ 'Ngô'. Căn cứ vào 'Đại điển', quyển 12308 và 'Thập triều cương yếu', quyển 1 bổ sung.
  22. Nguyên văn viết 'Hán Nam', căn cứ vào bản Tống, bản 'Tống Toát Yếu', 'Long Bình Tập' quyển 16, 'Đông Đô Sự Lược' quyển 29, truyện Lý Hán Siêu, sửa lại. Trong phần chú thích của bản này, 'Quan Nam' viết nhầm thành 'Quan Tây', căn cứ vào 'Đại Điển' quyển 12308, sửa lại
  23. Lời chú: Chữ 'tức' trong 'tức khiển sứ' ban đầu bị sót, được bổ sung dựa theo Tống bản, Tống Toát Yếu bản, Các bản và Đại Điển quyển 12308
  24. Lời chú: Chữ 'thử' trong 'thử quách công sở chủng dã' ban đầu bị sót, được bổ sung dựa theo sách trên và Biên Niên Cương Mục quyển 3
  25. chữ 'sát' trong 'các sát cử bộ nội tri châu thông phán giám lâm vật vụ kinh triều quan đẳng' nguyên bản viết 'án', theo bản Tống, bản 'Tống Toát Yếu' và 'Tống Sử Toàn Văn' quyển 2, được sửa lại.
  26. 'Lộ Hiệp' hai chữ nguyên bản thiếu, căn cứ vào 'Đại điển' quyển 12308 bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.