II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 20: NĂM THÁI BÌNH HƯNG QUỐC THỨ 4 (KỶ MÃO, 979)
Từ tháng giêng năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 đời Thái Tông đến tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Hợi, lấy Hữu bổ khuyết Thạch Hy Tải làm Binh bộ viên ngoại lang, Xu mật trực học sĩ.
[2] Xuống chiếu cho Thái tử trung doãn, Trực xá nhân viện Trương Kỵ và Trứ tác tá lang, Trực sử quán Hoa Dương Câu Trung Chánh đi sứ Cao Ly.
[3] Khi vừa lên ngôi, Vua từng nói với Tề Vương Đình Mỹ: “Thái Nguyên, ta nhất định sẽ lấy được.” Đến khi bàn việc xuất quân, Vua triệu Xu mật sứ Tào Bân hỏi: “Thời Chu Thế Tông và Thái Tổ ta, cả hai đều thân chinh Thái Nguyên, với binh lực đương thời nhưng không thể hạ được, tại sao vậy? Chẳng lẽ thành trì kiên cố, không thể công phá được sao?”
Tào Bân đáp: “Thời Thế Tông, Sử Siêu thua ở Thạch Lĩnh Quan, lòng người chấn động kinh sợ, nên quân phải rút về. Thời Thái Tổ, binh lính đóng ở vùng đầm lầy, nhiều người mắc bệnh bụng, nên đành dừng lại, không phải do thành trì không thể công phá.”
Vua hỏi: “Nay ta xuất quân, khanh nghĩ sao?”
Tào Bân đáp: “Binh giáp nước ta tinh nhuệ, lòng người hướng về, nếu xuất quân thảo phạt, sẽ như chẻ tre, há có gì không được?” Vua quyết chí.
Tể tướng Tiết Cư Chính tâu: “Ngày trước Thế Tông khởi binh, Thái Nguyên dựa vào viện trợ của Bắc Nhung, cố thủ không ra đánh, khiến quân ta mệt mỏi phải rút về. Đến khi Thái Tổ đánh bại địch ở phía nam Nhạn Môn Quan[1], đuổi hết dân chúng về phân bố ở vùng Hà – Lạc, tuy sào huyệt vẫn còn, nhưng thế lực đã suy kiệt. Chiếm được cũng không thêm được đất đai, bỏ đi cũng không thành họa. Xin Bệ hạ xem xét kỹ.”
Vua nói: “Nay việc giống mà thế khác. Địch yếu, ta mạnh. Ngày trước Tiên đế phá địch, di dân và bỏ trống đất, chính là vì việc ngày nay. Trẫm đã quyết, các khanh không cần nói nữa.” Liền trước tiên sai các quan thường triều chia nhau đốc thúc quân nhu các châu chuyển đến Thái Nguyên.
[4] Ngày Canh Dần, lấy Tuyên huy nam viện sứ Phan Mỹ làm Bắc lộ đô chiêu thảo chế trí sứ. Hà Dương tiết độ sứ Thôi Ngạn Tiến tấn công mặt phía đông thành, Chương Đức tiết độ sứ Lý Hán Quỳnh mặt phía nam, Quế Châu quan sát sứ Tào Hàn mặt phía tây, Chương Tín tiết độ sứ Lưu Ngộ mặt phía bắc.
Ngộ phải tấn công mặt phía tây, nhưng mặt này trực tiếp đối diện cung thành của Bắc Hán chủ, đặc biệt hiểm trở. Hàn muốn đổi vị trí với Ngộ, tự nói rằng mình là Quan sát sứ, thứ bậc phải dưới Tiết độ sứ, Ngộ không đồng ý, Hàn nhất quyết muốn đổi, bàn luận lâu không xong.
Vua lo các tướng không hòa hợp, bèn dụ Hàn rằng: “Khanh trí dũng vô song, mặt phía tây thành không phải khanh thì không ai đảm đương nổi.” Hàn mới vâng lệnh.
[5] Bát tác sứ Hác Thủ Tuấn sung làm Tây diện hào trại đô giám, Mã quân đô ngu hậu Mễ Tín, Bộ quân đô ngu hậu Điền Trọng Tiến sung làm Hành dinh mã bộ quân đô chỉ huy sứ, Tây thượng cáp môn sứ Quách Thủ Văn, Phán tứ phương quán sự Thuận Châu đoàn luyện sứ Lương Huỳnh giám quân.
Tín là người Hề, Trọng Tiến là người U Châu.
Chiếu phát quân trữ từ các châu Hình, Bối, Minh, Trạch đến Thái Nguyên, Trứ tác tá lang Trương Nhuận Chi chưởng lý việc xuất nạp.
[6] Ngày Tân Mão, lệnh Vân Châu quan sát sứ Quách Tiến làm Thái Nguyên Thạch Lĩnh quan đô bộ thự, Tây thượng cáp môn sứ Điền Nhân Lãng, Cáp môn chi hậu cung phụng quan Lưu Tự đi xem xét hào trại bốn mặt thành Thái Nguyên, duyệt qua các khí giới công thành.
[7] Ngày Quý Tỵ, lấy Xu mật trực học sĩ Thạch Hi Tải thiêm thự viện sự, lại ban cho một ngôi nhà. Thiêm thự Xu mật viện sự, bắt đầu từ Hi Tải.
[8] Ngày Ất Mùi, mở tiệc ở Trường Xuân điện với Phan Mỹ và các tướng, Vua thân truyền phương lược rồi sai đi.
Lúc đó Lưu Sưởng cùng Hoài Hải Vương Thích, Vũ Ninh tiết độ sứ Trần Hồng Tiến đều dự, Sưởng bèn nói: “Uy linh triều đình đến tận xa, chúa tể các nước tiếm vị ngày nay đều ở đây. Sớm chiều bình định được Thái Nguyên, Lưu Kế Nguyên lại đến, thần xin cầm gậy, làm người dẫn đầu các vương hàng.” Vua cười lớn, ban thưởng rất hậu, Sưởng hay nói đùa như vậy.
[9] Đinh Dậu, sai Hà Bắc chuyển vận sứ Hầu Trắc cùng Thiểm Tây bắc lộ chuyển vận sứ Lôi Đức Tương phân quản việc chuyển vận hai lộ Đông và Tây của Thái Nguyên.
[10] Nhâm Dần, chiếu lệnh phát lương quân từ các châu Tề, Nhữ, Thái, v.v. về Thái Nguyên.
[11] Quý Mão, khí cụ đo thiên văn mới hoàn thành, do học sinh Ty Thiên giám người Ba Trung là Trương Tư Huấn chế tạo. Đặt ở lầu chuông trống phía đông nam điện Văn Minh, phong Tư Huấn làm Hồn nghi thừa. Theo chế độ cũ, sự vận hành của mặt trời, mặt trăng ngày đêm đều do người điều khiển, còn khí cụ mới này vận hành tự nhiên, rất tinh xảo.
[12] Chiếu lệnh điều lương quân từ các châu Tào, Đơn, Hoạt, Duy, Tân, Truy, Thanh, Vận, Đồng, Diệu, Hoa và phủ Đại Danh thuộc Hà Nam về Thái Nguyên.
[13] Ngày Kỷ Dậu, sai Tả Đồn vệ Thượng tướng quân Trương Đạc làm Đô tuần kiểm nội ngoại kinh thành, vì xa giá sắp xuất chinh phía bắc.
[14] Chiếu ban thưởng tiền mỗi người 20 vạn cho Đồng phán hình bộ Tư môn viên ngoại lang Giang Trực Mộc và Đại Lý chánh Lộ Thừa Tự vì có công xử án siêng năng.
[15] Tháng hai, ngày Tân Hợi, chiếu lệnh tạm đến Trấn Châu trong tháng này.
[16] Giáp Dần, phong Hoàng tử Đức Cung làm Quý Châu phòng ngự sứ, ông là con trưởng của Tề Vương Đình Mỹ.
[17] Từ bộ lang trung Lưu Bảo Huân làm Hành tại chuyển vận sứ, Hữu bổ khuyết Cao Kế Thân làm phó. Khởi cư xá nhân Trương Khứ Hoa chuyên quản kho Tả Tàng của hành tại. Kế Thân sau đó đổi làm Lưu thủ phán quan.
[18] Ngày Bính Thìn, sai Tể tướng Thẩm Luân làm Đông Kinh lưu thủ kiêm quản việc phủ Khai Phong, Tuyên huy bắc viện sứ Vương Nhân Thiệm làm Đại nội đô bộ thự, Xu mật thừa chỉ Trần Tòng Tín làm phó.
Vua định giao cho Tề Vương Đình Mỹ quản việc lưu thủ, nhưng phán quan phủ Khai Phong là Lã Đoan khuyên Đình Mỹ: “Chúa thượng dãi nắng dầm mưa để thực hiện việc chinh phạt. Vương là người thân tín, đáng làm gương hộ giá, nếu quản việc lưu thủ thì không hợp lẽ.” Đình Mỹ nhân đó xin đi theo.
[19] Quý Hợi, ban tặng ngựa yên, quần áo, dây lưng bằng vàng ngọc cho các vị cận thần hộ giá, tùy theo thứ bậc.
[20] Ngày Giáp Tí, xa giá khởi hành từ kinh sư.
[21] Ngày Mậu Thìn, dừng chân ở Thiền châu. Khi đang qua sông, có người cầm thẻ bài, mặc áo xanh, xin gặp xa giá. Tiền quân xua đuổi, người ấy không lui, vẫn gào thét bên đường, tự xưng có việc quan quan trọng muốn tâu. Vua sai lấy xem, thì ra là chủ bạ ở Lâm Hà là Tống Tiệp. Vua rất vui, liền cho làm Tướng tác giám thừa.
(Sách ‘Ung dữu nhàn bình’ chép: Việc của Tống Tiệp, đúng là lấy tên họ để chiếm đoạt tước lộc. Nhưng ‘Đàm uyển’ lại chép: Những năm Thái Bình Hưng Quốc, quân Bắc xâm lấn biên giới, Thái Tông bèn đến Đại Danh phủ. Khi đang qua sông, có người cầm thẻ bài, mặc áo xanh, xin gặp xa giá. Tiền quân xua đuổi, người ấy vẫn gào thét bên đường, tự xưng có việc quan quan trọng muốn tâu. Thái Tông sai lấy xem, thì ra là chủ bạ ở Lâm hà là Tống Tiệp. Thái Tông rất vui, liền cho làm Tướng tác giám thừa. ‘Tải chi sự thực’ lại chép: Thái Tông đánh Thái Nguyên, dừng chân ở Thiền Uyên. Có thái bộc tự thừa là Tống Tiệp, phụ trách xuất nạp quân lương tại nơi hành quân, đến bái yết bên trái đường. Thái Tông thấy tên ông ta, mừng rỡ nói: “Quân ta có điềm thắng chắc chắn.” Quả nhiên Lưu Kế Nguyên đầu hàng. Hai sách chép khác nhau, không biết đâu là đúng.)
[22] Ngày Kỷ Tỵ, dừng chân ở Đức Thanh quân. Sai Hành tại chuyển vận sứ Lưu Bảo Huân kiêm quản việc chuyển vận mặt Bắc. Cử Quân châu Thứ sử Lâm Minh là Giải Huy, Thượng thực sứ Chiết Ngạn Uân đánh Long châu.
(Truyện của Giải Huy chép là Thạch Ngạn Uân. Xét thấy Chiết Ngạn Uân lại xuất hiện vào ngày Canh Thìn tháng mười một, nên truyện của Huy có lỗi. Ngày mùng một tháng ba, lại sai Doãn Huân đánh Long châu.)
[23] Ngày Canh Ngọ, dừng chân ở Đại Danh phủ.
[24] Ngày Nhâm Thân, dừng chân ở Minh châu.
[25] Ngày Quý Dậu, Quách Tiến từ Thạch Lĩnh quan đến chầu giữa đường.
[26] Ngày Giáp Tuất, dừng chân ở Hình châu.
[27] Cho Đường châu Đoàn luyện sứ Tào Quang Thực trông coi việc quân ở Uy Thắng quân, sai điều quân lương. Quang Thực vào tâu: “Xin cầm một toán quân, dũng mãnh đi đầu.” Vua bảo: “Việc lương thảo quan trọng, cũng là góp sức vậy.”
[28] Ngày Bính Tý, lấy Lộ châu đô giám Trần Khâm Tộ làm Tri Uy Thắng quân.
(Sách ‘Thực Lục’ ghi ngày Bính Tý: Sai Uy Thắng quân sứ Mễ Văn Duệ đến Thái Nguyên, thuộc quyền Tào Hàn, lấy Lộ châu binh mã đô giám Trần Khâm Tộ làm Tri Uy Thắng quân. Còn ‘Tào Quang Thực Bản truyền’ lại nói xa giá đánh Hà Đông, lấy Quang Thực làm Tri Uy Thắng quân, khác với ‘Thực Lục’. Tuy nhiên, Mễ Văn Duệ và Trần Khâm Tộ đều không có gì đáng ghi, nên lấy việc của Quang Thực phụ chép ở đây, hoặc vì Quang Thực từ chối, nên đổi mệnh cho Khâm Tộ, cần xét thêm. )
[29] Khiết Đan sai sứ Thượng thư Gia Luật Duệ Thích Mai Lý dâng thư hỏi thăm. Ngày Đinh Sửu, được tiếp ở huyện Lâm Thành.
[30] Tháng 3 ngày Canh Thìn mùng 1, Vua dừng chân ở Trấn châu. Sai Dĩnh châu thứ sử Doãn Huân đánh Long châu. Long châu không phải châu cổ, người Bắc Hán dựa hiểm xây thành chống quân triều đình, nên trước đó đã chia quân vây thành.
(Ngày Kỷ Tỵ tháng 2 trước đó đã sai Giải Huy, Chiết Ngạn Uân đánh Long châu.)
[31] Ngày Tân Tỵ, sai Trấn châu mã bộ đô giám khách tỉnh phó sứ Tề Diên Sâm, lạc uyển phó sứ Hầu Mỹ chia quân đánh huyện Mạnh.
[32] Ngày Quý Mùi, quan Thạch Lĩnh báo dân trại Dương Khúc 338 người xin quy thuận.
[33] Dẫn tiến sứ, Phần châu phòng ngự sứ Điền Khâm Tộ giữ quân đồn Thạch Lĩnh quan, không hợp với đô bộ thự Quách Tiến. Giặc bất ngờ đến, Khâm Tộ đóng cửa cố thủ, giặc rút cũng không đuổi; lương thực lương tháng thu được, ông tích trữ nhiều để chờ giá cao hòng kiếm lợi, bị thuộc hạ tố cáo. Vua xuống chiếu tra xét, Khâm Tộ nhận tội, bị giáng làm Mục châu đoàn luyện sứ, vẫn giữ quân.
[34] Ngày Đinh Hợi, sai Thái tử trung doãn Hỗ Hoa cùng 12 người khác vận lương từ các châu An, Phục, Đường, Đặng, Thương, Phường, Từ, Túc, Duyễn, Hải, Mật, Thái[2]đến Thái Nguyên.
(Hoa, không rõ lai lịch.)
[35] Quách Tiến báo phá trại Tây Long Môn của Bắc Hán, bắt được hơn nghìn người, dâng tù binh đến nơi Vua đóng quân.
[36] Ngày Mậu Tý, sai lục trạch sứ Hầu Kế Long đánh châu Sấm, các môn chi hầu Vương Tuân đánh Phần châu. Tuân là em của Sân.
(Hầu Kế Long, không rõ lai lịch.)
[37] Ngày Nhâm Thìn, lệnh cho Thứ sử Truy Châu, Thái Nguyên là Vương Quý tấn công Tấm Châu.
[38] Cùng ngày, thiết yến các quan tòng sự và các tướng sĩ.
[39] Sai Lưu Bảo Huân đến Thái Nguyên kiểm tra việc chuyển vận.
[40] Ngày Ất Mùi, lệnh cho Tri phủ Châu, Nhàn cứu sứ là Chiết Ngự Khanh và Giám quân Cung phụng quan, Tấn Dương doãn là Doãn Hiến chia quân tấn công Lam Châu.
[41] Quách Tiến tâu rằng quân Khiết Đan mấy vạn kị binh xâm lược, đại phá chúng ở phía nam Thạch Lĩnh Quan. Do đó, viện binh của Bắc Hán bị cắt đứt. Bắc Hán chủ lại sai sứ bí mật mang thư sáp chạy đến Khiết Đan cáo cấp. Quách Tiến bắt được, đưa thư đó ra trước thành, khí thế trong thành bắt đầu suy sụp.
[42] Ngày Bính Thân, Tả Phi long sứ là Sử Nghiệp đánh bại quân Ứng Dương của Bắc Hán, chém và bắt được rất nhiều, đưa một trăm tù binh đến dâng lên.
[43] Ngày Đinh Dậu, chiếu lệnh đưa năm quân lính đầu hàng từ tiền tuyến Thái Nguyên vào quân Quy Minh, mỗi người được ban ba ngàn tiền.
[44] Ngày Canh Tý, lệnh cho Thông sự xá nhân là Vương Sân và Quân khí khố sứ là Lưu Văn Dụ dẫn quân chia nhau giữ Thạch Lĩnh Quan.
[45] Ngày Quý Mão, Hà Đông thành Tây diện Chuyển vận sứ là Lưu Bảo Huân được bổ nhiệm làm Thiểm Tây Bắc lộ Chuyển vận sứ, thay Lôi Đức Tương. Đức Tương điều động quân lương ở Tấm Châu chậm trễ, chiếu lệnh hặc tội Đức Tương, giao cho Bảo Huân kiêm quản việc này.
[46] Ngày Ất Tỵ, Định Nam lưu hậu là Lý Kế Quân tâu rằng, sai bộ tướng là Thứ sử Ngân Châu là Lý Quang Viễn và Thứ sử Tuy Châu là Lý Quang Hiến dẫn quân Hồ Hán dọc sông Hoàng Hà lập trại, vượt sông xâm lấn địa phận địch để thị uy quân lực.
[47] Chiếu lệnh Tuyền Châu phát binh hộ tống thân thuộc của Trần Hồng Tiến về kinh, các châu huyện đi qua phải cung cấp lương thực.
[48] Ngày Bính Ngọ, lệnh cho Tả Bổ khuyết là Nhạc Xung truyền lệnh đốc thúc các châu cấp dồn cỏ lương thực. Quân Bắc Hán bí mật xuất kích chạm trán quân triều, Mã quân đô Chỉ huy sứ là Mễ Tín đánh bại chúng, giết Chỉ huy sứ Khổng Hạc là Bùi Chính, dâng thủ cấp lên.
(Việc Bùi Chính, trong ‘Bản kỷ’ và ‘Thực lục’ không ghi chép, nay chép vào cuối tháng ba trước khi Vua chưa đến dưới thành, nên xem xét lại.)
[49] Tháng tư mùa hạ, ngày Kỷ Dậu, hôm nay là ngày đầu tháng, Chiết Ngự Khanh và các tướng tâu rằng đánh Lam Châu, diệt hơn một nghìn quân Bắc Hán.
[50] Chiếu lệnh điều lương thực quân nhu từ các châu Hà Nam, Vận, Tế, Bác, Lệ, Trạch, Lộ, Hoài, Nhữ, Đồng, Hoa, Quắc đến Thái Nguyên.
[51] Ngày Canh Tuất, Tề Diên Sâm và các tướng tâu rằng huyện Mạnh đã đầu hàng.
[52] Chiếu điều động quân lương từ các châu Hà Trung, Tấn, Chương, Từ, Hiệp, Giải, Tề, Đức, Tào, Đơn, Truy, Vệ đến Thái Nguyên.
[53] Ngày Ất Mão, Chiết Ngự Khanh phá được quân Khả Lam, giết hại rất nhiều, bắt sống Quân sứ Chiết Lệnh Đồ dâng lên.
[54] Ngày Canh Thân, phong Xu mật trực học sĩ thiêm thụ viện sự, Binh bộ viên ngoại lang Thạch Hi Tải làm Cấp sự trung, Xu mật phó sứ.
[55] Khảo công lang trung Phạm Mân dâng thư, xin theo đánh Thái Nguyên, được triệu làm Hữu gián nghị đại phu, Tam ty phó sứ, phụ trách việc Tam ty hành tại.
[56] Ngày Nhâm Tuất, xa giá từ Trấn Châu đến Thái Nguyên. Sai Định Vũ tiết độ sứ Mạnh Nguyên Kỷ làm Trấn Châu trú bạc binh mã đô kiềm hạt.
[57] Ngày Quý Hợi, dừng lại tại Thiên Uy quân, làm thơ “Tảo hành”, bảo các quan theo hầu họa lại.
[58] Ngày Giáp Tí, Giải Huy đánh Long Châu, Tây đầu cung phụng quan Viên Kế Trung và Vũ kị quân hiệu Hứa Quân trèo lên trước, phá được thành. Quân bị tám vết thương, giết hơn ba trăm người, bắt sống Chiêu thảo sứ Lý Tuân cùng sáu người khác dâng lên.
Kế Trung trước đây bảo vệ quân đồn trú ở Bạch Bích quan, châu Hiệp, từ trước đến nay vào đất Bắc Hán, phá ba trại, bắt hai tướng ngụy, thu được áo giáp, ngựa yên, trâu bò và tù binh hàng vạn. Quân đồn gần đó nghe tin, sợ bị trách tội vô công, bèn báo tình thực, Kế Trung chia đều chiến lợi phẩm, cho họ dâng biểu tâu. Kế Trung là người Thái Nguyên.
Quân là người Khai Phong.
[59] Ngày Bính Dần, dừng lại tại Trắc Khẩu đốn, làm thơ “Văn tiệp tấu” và “Bình Long Châu”.
[60] Nghi Châu phòng ngự sứ Trương Vạn Hữu xử tử Quân hiệu Quách Uân. Sai tra xét, Vạn Hữu thú nhận. Bấy giờ, Vua đang sủng ái võ tướng, ngày Mậu Thìn hạ chiếu tha tội.
[61] Cùng ngày, Chiết Ngự Khanh lại phá Lan Châu, giết Hiến Châu thứ sử Hoắc Dực, (Theo Tống sử, Bản kỷ ghi là Quách Dực), bắt sống Quỳ Châu tiết độ sứ Mã Diên Trung cùng bảy người khác dâng lên.
[62] Ngày Canh Ngọ, Vua đến Thái Nguyên, đóng ở phía đông sông Phần.
[63] Ngày Tân Mùi, đi xem xét trại lũy và công cụ bốn mặt thành, ban lời an ủi các tướng. Dùng thư tay dụ Bắc Hán chủ Kế Nguyên, truyền chiếu đến dưới thành, kẻ giữ thành không dám nhận.
[64] Ngày Nhâm Thân, đêm chưa tàn, Vua đến phía tây thành, đốc thúc các tướng công thành. Hiệu úy quân Thiên Vũ là Kinh Tự dẫn quân lên trước, chém chết nhiều giặc, chân bị hai mũi tên xuyên qua, tay bị thương, gãy hai răng. Vua thấy vậy, liền hạ lệnh triệu xuống, ban cho áo gấm và đai bạc. Tự là cháu của Khiêm Nho.
[65] Trước đó, Vua tuyển hàng trăm dũng sĩ từ các quân, dạy múa kiếm, đều có thể ném kiếm lên không trung, nhảy người đón lấy, người xem không ai không kinh hãi. Nhân dịp Khiết Đan sai sứ đến cống, Vua ban yến ở điện Tiện, bèn cho các kiếm sĩ biểu diễn, hàng trăm người cởi trần gào thét, vung kiếm tiến vào, nhảy nhót đón kiếm, khéo léo hết mực, sứ Khiết Đan không dám nhìn thẳng. Đến khi tuần thành, Vua bắt các kiếm sĩ đi đầu, mỗi người thi thố tài nghệ, người Bắc Hán trên thành nhìn thấy, đều sợ vỡ mật.
[66] Mỗi lần Vua đích thân mặc giáp, xông pha tên đá, chỉ huy quân sĩ, tả hữu có người can, Vua nói: “Tướng sĩ tranh nhau liều mạng nơi mũi tên, Trẫm há nỡ ngồi nhìn?” Quân sĩ nghe thế, ai nấy đều trăm lần dũng cảm, liều chết xông lên trước.
Hàng chục vạn cung thủ, dàn trận trước xa giá, giương cung bắn tới, tên bắn lên thành Thái Nguyên dày như lông nhím. Mỗi lần Vua ban tên cho các quân hàng triệu chiếc, chỉ chốc lát là hết sạch. Bắt được tù binh, nghe nói Bắc Hán chủ trong thành mua tên bắn lên, mười đồng đổi một chiếc, được hơn trăm vạn chiếc, gom lại cất giữ. Vua cười nói: “Những mũi tên ấy là để dành cho ta!” Đến khi thành đầu hàng, đều thu được hết.
[67] Điền Khâm Tộ ở ải Thạch Lĩnh, làm nhiều việc gian lợi bất pháp, Quách Tiến không thể ngăn cấm, thường bày tỏ sự bất bình, Khâm Tộ vì thế oán hận. Tiến là võ tướng, tính tình cương trực, chiến công hiển hách, Khâm Tộ nhiều lần đã ngạo mạn xúc phạm, Tiến không thể chịu nổi, ngày Quý Dậu, bèn thắt cổ tự vẫn. Khâm Tộ báo rằng Tiến đột ngột trúng phong huyễn. Vua thương tiếc mãi, ban chiếu đặc biệt truy tặng Tiến làm Tiết độ sứ An Quốc. Các bề tôi đều biết chuyện nhưng không dám nói. Vua sai Ký Châu Thứ sử Ngưu Tư Tiến làm Bộ Thự ải Thạch Lĩnh.
Tư Tiến là người Vô Cực, có sức mạnh, từng dùng cây cung cứng treo vào tai[3],kéo căng hết sức, lại đứng dựa vào tường, hai lực sĩ nắm ngực kéo mà không lay chuyển, quân sĩ đều lấy làm lạ.
[68] Ngày Giáp Tuất, Vua đến thăm các đồn trại.
[69] Ngày Ất Hợi, Vua đến Liên Thành, xem xét các đường hầm công thành.
Lúc ấy, Lý Hán Quỳnh dẫn quân xông lên trước, tên bắn trúng đầu, lại trúng ngón tay giữa, thương tích nặng, vẫn gắng sức chiến đấu[4]. Vua vội triệu đến trướng điện, xem vết thương, bôi thuốc tốt. Vua định thân đến động ốc để vỗ về quân sĩ, Hán Quỳnh khóc nói: “Tấn Dương là thành lẻ, nguy như trứng chồng, chư tướng ra sức, quân sĩ liều mạng, tên đá rơi vào động ốc như mưa, Bệ Hạ sao lại đem thân phận vạn thừa mà đến nơi nguy hiểm? Nếu Bệ Hạ không nghe, thần xin xin chết trước.” Vua bèn dừng lại.
[70] Ngày Đinh Sửu, Vua đến lầu Tây Liên Thành.
[71] Tháng 5, ngày Kỷ Mão mùng 1, Vua đến góc tây nam thành, đêm đốc thúc các tướng gấp rút tấn công. Sáng sớm, hạ được thành Dương Mã. Tuyên Huy Sứ Bắc Hán là Phạm Siêu đến hàng, quân công thành nghi ngờ Siêu ra đánh, bắt dâng lên, chém dưới cờ. Sau đó, Bắc Hán chủ giết hết vợ con Siêu, chặt đầu ném ra ngoài thành.
[72] Ngày Tân Tỵ, Vua đến góc tây bắc của thành, Quách Vạn Siêu, Đô chỉ huy sứ mã bộ quân Bắc Hán, đến đầu hàng.
(Việc Vạn Siêu đến hàng, trong ‘Thực lục’ ghi là ngày Nhâm Ngọ, nay theo ‘Bản kỷ’.)
[73] Ngày Nhâm Ngọ, Vua đến phía nam thành. Vua nói với các tướng: “Ngày mai là Tết Đoan Ngọ, chúng ta sẽ dùng bữa trong thành.” Liền tự tay viết chiếu ban cho Bắc Hán chủ. Đêm, khi đồng hồ nước chỉ một khắc, trên thành xuất hiện đám mây trắng xám hình người.
(Theo ‘Cửu quốc chí’: Thái tông ngự giá đến dưới thành, đắp đê ngăn sông Phần để dẫn nước vào thành. Ngày mùng 4 tháng 5, góc đông nam thành bị vỡ, nước tràn vào thành, Lưu Kế Nguyên rất sợ hãi, tự mình đốc thúc quân lính vác đất lấp lại. Tuy nhiên, ‘Thực lục’ và ‘Chính sử’ đều không ghi chép việc dẫn nước vào thành, cần xem xét thêm.)
[74] Ngày Quý Mùi, Vua đến phía nam thành, đốc thúc các tướng gấp rút tấn công. Quân sĩ phẫn nộ, tranh nhau leo lên thành, không ngăn nổi. Vua sợ thành bị tàn sát, bèn ra lệnh cho quân lùi lại một chút.
Người trong thành vẫn muốn cố thủ, Mã Hoạn, Tả bộc xạ đã nghỉ hưu, vì bệnh nằm tại nhà, được khiêng vào yết kiến Bắc Hán chủ, khóc lóc khuyên giải về vận mệnh hưng vong, Bắc Hán chủ bèn đầu hàng. Đêm, khi đồng hồ nước chỉ mười khắc, sai Khách tỉnh sứ Lý Huân dâng biểu xin hàng. Vua vui mừng, lập tức ra lệnh cho Thông sự xá nhân Tiết Văn Bảo mang chiếu vào thành để an ủi[5].
Đêm chưa tàn, Vua đến phía bắc thành, ban yến cho các bề tôi trên đài thành, tiếp nhận sự đầu hàng.
[75] Ngày Giáp Thân, gần sáng, Lưu Kế Nguyên dẫn các quan thuộc mặc áo trắng đội mũ sa đứng chịu tội dưới đài. Chiếu tha tội, gọi lên đài để an ủi.
Kế Nguyên cúi đầu nói: “Thần từ khi nghe tin Vua thân chinh, đã muốn đầu hàng, khiến xa giá của Bệ hạ phơi mình nơi chiến trận, sao dám dựa vào thành trơ trọi để kháng cự, chỉ vì những tên tử tù sợ chết bắt ép thần không thể đầu hàng mà thôi.”
Vua ra lệnh bắt những kẻ tử tù đến, đều chém đầu. Quay lại nói với Hoài Hải quốc vương Tiền Thục: “Khanh có thể bảo toàn một phương mà quy thuận với ta, không để xảy ra đổ máu, thật đáng khen ngợi.”
[76] Bắc Hán bình định, tổng cộng thu được 10 châu, 1 quân, 41 huyện, 35.220 hộ, 3 vạn binh.
(‘Quốc sử’ chép: Mấy trăm tên lính đào ngũ, chọn những kẻ gây hại lớn nhất chém, còn lại đều chia vào các quân. Điều này khác với ‘Cửu Quốc Chí’ và ‘Thực Lục’, nay không theo. ‘Quách Thủ Văn Truyện’ lại chép: Em của Lưu Kế Nguyên là Kế Văn chiếm giữ Đại Châu, dựa vào Khiết Đan để chống lại mệnh lệnh, Thủ Văn đánh dẹp yên. Xem ‘Cửu Quốc Chí’ thì Kế Văn đã chết trước đó, đây có lẽ là ghi chép từ mộ chí của Thủ Văn, ‘Quốc Sử’ theo đó, nay cũng không theo.)
[77] Lệnh cho Lưu Bảo Huân làm Tri phủ Thái Nguyên.
[78] Ngày Ất Dậu, tha tội trong khu vực Hà Đông, kể cả những tội thường không được tha đều được tha hết. Các chức quan do triều đình giả lập ở các châu huyện, đều cho giữ nguyên như cũ. Thuế hai kỳ của dân được miễn đóng trong hai năm, những nơi quân triều đình chưa đến được, miễn thuế một năm. Các khoản thuế thuế dịch còn nợ từ trước đều được miễn trừ, ngoài thuế thường, nếu có các khoản phụ thu vô danh, các châu phải liệt kê rõ ràng tâu lên.
[79] Phân công tám viên quan thường tham gia triều chính làm Tri châu các châu như Hãn, Đại, v.v. Hữu Tán thiện đại phu Tang Bính làm Tri Liêu Châu, Bí thư thừa Mã Nhữ Sĩ làm Tri Thạch Châu.
Sau đó, Nhữ Sĩ bất hòa với Giám quân, một đêm đâm dao vào bụng mà chết. Bính dâng sớ nói rằng cái chết của Nhữ Sĩ không phải tự sát, xin xét rõ sự việc.
Vua xem tấu kinh hãi, lập tức sai sứ đi điều tra, triệu Bính vào cung để hỏi. Bính nói: “Nhữ Sĩ giữ chức Thái thú, không nghe nói phạm tội lớn gì, sao lại tự sát? Nếu chết oan mà không được làm rõ, người coi trực lại không bị khiển trách, thì từ nay về sau những kẻ sĩ không dám trị lí biên quận nữa.” Vua khen lời ấy.
Bính là người Đại Danh, cùng tuổi với Nhữ Sĩ.
[80] Ngày Bính Tuất, sai sứ tế lễ các tướng sĩ tử trận, ghi chép để phong cho con cháu họ.
[81] Ngày Đinh Hợi, hạ chiếu cho Lưu Kế Nguyên ở tại hành cung, cấp lương thực hậu hĩ, sai Nghi Loan sứ Khang Nhân Bảo giám sát.
[82] Ngày Mậu Tý, sai Trứ tác tá lang, Trực sử quán Thạch Hi Cổ trở về kinh thành, để báo cáo việc bình định nước Tấn với tông miếu. Hi Cổ là em của Hi Tải.
[83] Phá hủy thành Thái Nguyên cũ, đổi thành huyện Bình Tấn. Lấy huyện Du Thứ làm Tịnh Châu[6]. Di chuyển tăng đạo và những người dân giàu có về Tây Kinh[7].
(Tháng 2 năm thứ 7, lại di chuyển dân huyện Dương Khúc.)
[84] Tiết độ sứ của Lưu Kế Nguyên là Uất Tiến và Lư Toại dâng châu Phần đầu hàng.
[85] Ngày Kỷ Sửu, phong Lưu Kế Nguyên làm Hữu Vệ Thượng tướng quân, tước Bành Thành quận công. Tư không, Bình chương sự của Lưu Kế Nguyên là Lý Uẩn được làm Điện trung giám. Tả Bộc xã về hưu là Mã Hoạn được làm Thiếu phủ giám. Mã quân Đô chỉ huy sứ là Quách Vạn Siêu được làm Từ châu Đoàn luyện sứ. Khách tỉnh sứ là Lý Huân được làm Hữu Vệ tướng quân. Những người còn lại đều được phong chức khác nhau.
[86] Vua làm bài phú ‘Bình Tấn’, lệnh các quan theo hầu đều làm phú; lại làm hai chương thơ ‘Bình Tấn’, lệnh các quan theo hầu họa lại.
[87] Ngày Tân Mão, mở tiệc chiêu đãi Lưu Kế Nguyên và các quan thuộc. Kế Nguyên dâng hơn trăm cung nhân, Vua ban cho các tướng sĩ lập công.
[88] Ngày Ất Mùi, sai Khang Nhân Bảo hộ tống thân thuộc của Kế Nguyên về kinh, trên đường được tiếp tế lương thực.
[89] Ngày Bính Thân, đến phía bắc thành Thái Nguyên, ngự tại lầu cổng Sa Hà, sai sứ chia bộ di chuyển dân cư về Tân Tịnh Châu[8], thiêu hủy hết nhà cửa, dân già trẻ chạy không kịp về thành, nhiều người bị chết cháy.
[90] Ngày Đinh Dậu, bãi bỏ châu Long, phá hủy thành. Sai sứ đi kiểm tra các mỏ bạc ở các châu.
[91] Ngày Canh Tý, xa giá rời Thái Nguyên, hạ chiếu lấy hành cung làm chùa, đặt tên là Bình Tấn, Vua tự viết văn bia, khắc vào đá trong chùa.
[92] Ngày Tân Sửu, (quân đội) dừng chân ở bến đò Tịnh châu.
[93] Ngày Đinh Mùi, đóng quân tại Trấn Châu. Trước đó, bao vây Thái Nguyên nhiều tháng, lương thực gần cạn, quân sĩ mệt mỏi. Khi Lưu Kế Nguyên đầu hàng, mọi người đều mong được ban thưởng, nhưng đại quân lại định tấn công Khiết Đan, chiếm lấy U Kế. Các tướng đều không muốn đi, nhưng không ai dám nói, chỉ có Điện tiền đô ngu hậu Thôi Hàn dâng tâu: “Việc này không thể để lỡ, nên nhân đà thắng lợi như chẻ tre mà chiếm lấy, thời cơ không thể bỏ lỡ.” Vua nghe vậy vui lòng, lập tức sai Xu mật sứ Tào Bân bàn việc điều động quân lính. Lúc đó, sổ sách chở trên xe bị kẹt lại trên đường, Binh phòng lại Trương Chất bí mật tính toán số lượng quân mã[9], khi so sánh với sổ sách, không có sai sót nào. Chất là người Cao Đường.
(Trong sách ‘Chủ Sử’, Vương Đắc Thần chép: Phú Trịnh công từng nói với tôi rằng, Vĩnh Hi đánh dẹp họ Lưu ở Hà Đông, sau khi chiếm được Tịnh Châu, muốn nhân thế thắng lợi thu phục Kế Môn, bèn hỏi ý kiến mọi người[10], Tham tri chính sự Triệu Xương Ngôn đáp: “Từ đây đánh U Châu, giống như bánh nóng dễ lật.” Điện tiền đô chỉ huy sứ Hô Diên Tán ngăn lại: “Lời bọn thư sinh chưa hẳn đáng tin, chiếc bánh này khó lật lắm.” Vĩnh Hi vẫn kéo quân đánh U Kế, rồi cuốn cờ thu quân, cuối cùng như lời Tán nói. Trịnh công nhiều lần than thở với tôi: “Trong hàng vũ thần quả thật cũng có người tài.” Tra lại, Triệu Xương Ngôn làm Tham tri chính sự vào năm Ung Hi thứ 4, cách sự việc này chín năm, Đắc Thần sai lầm lớn. Lại xét năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4, Tiết Cư Chính, Thẩm Luân, Lư Đa Tốn làm Tể tướng, không có chức Tham tri chính sự, Tào Bân, Thạch Hi Tải làm Xu mật, câu nói về Tham tri chính sự này cũng sai. Hoặc giả Hô Diên Tán thực sự có nói vậy, cũng không rõ, nhưng lúc đó Hô Diên Tán chỉ là Thiết kị chỉ huy sứ, Bạch Tiến Siêu mới là Điện suý[11], Thôi Hàn là Điện hậu, còn chức Điện tiền đô chỉ huy sứ, Đắc Thần lại sai nữa. Tạm ghi lại đây để đợi tra cứu.)
[94] Tháng sáu, ngày Giáp Dần, sai sứ điều động lương thực từ các châu Kinh Đông, Hà Bắc đến doanh trại phía Bắc.
[95] Ngày Canh Thân, nhà Vua xuất chinh về hướng Bắc, xuất phát từ Trấn Châu[12]. Sáu quân hộ tống có người không đến kịp lúc, Vua nổi giận, định xử phạt theo pháp luật. Quân đô đầu Mã Bộ Quân là Triệu Diên Bạc vội tâu rằng: “Bệ hạ tuần hành biên cương, vốn vì lo nạn ngoại xâm, nay giặc chưa diệt mà đã trừng phạt tướng sĩ, nếu muốn tính kế lâu dài, còn ai dốc sức vì bệ hạ nữa?” Vua khen ngợi và nghe theo. Diên Bạc là con của Triều.
[96] Ngày Tân Dậu, dừng chân ở Định Châu. Sai sứ làm lễ tế cáo ở Bắc Nhạc, nhà Vua làm thơ thương cảm dân chúng bị giặc bắt, sai quần thần họa lại.
[97] Ngày Bính Dần, dừng chân ở Kim Đài Đốn, vùng đất do Khiết Đan chiếm giữ. Chiêu mộ trăm người dân địa phương làm hướng đạo, mỗi người ban thưởng hai ngàn tiền.
Sai Đông Tây Ban chỉ huy sứ Tuấn Nghi là Khổng Thủ Chính đi trước đến Kỳ Câu Quan. Thủ Chính đêm vượt qua tường thấp, qua chướng ngại, đến cầu gãy, khuyên quan sứ là Lưu Vũ rằng đại quân sắp đến, nên mở cửa đầu hàng. Vũ hạ cầu treo mời Thủ Chính vào, nghe theo mệnh lệnh. Thủ Chính an ủi và vỗ về quân dân, rồi trở về chỗ nhà Vua đóng quân.
[98] Ngày Đinh Mão, Vua tự mình mặc giáp trụ, dẫn quân đóng ở ải Kỳ Câu. Thứ sử Đông Dịch châu của Khiết Đan là Lưu Vũ đem châu đầu hàng, Vua để lại một nghìn quân trấn giữ. Đông Dịch châu chính là ải Kỳ Câu.
(Xét theo truyện Khổng Thủ Chính, trước đó đã vào ải Kỳ Câu, thuyết phục quan sứ Lưu Vũ đem thành đầu hàng[13], không gọi là Đông Dịch châu. Thực lục và bản kỷ đều gọi là Đông Dịch châu, không nói là ải Kỳ Câu, thực chất là một. Ngày Ất Hợi tháng 6, lấy Bát tác phó sứ Kỳ Diên Lãng làm tri châu Đông Dịch. Nhưng truyện Khổng Thủ Chính lại chép rằng chiếu cho Kỳ Diên Lãng trấn giữ ải Kỳ Câu, triệu Thủ Chính về hành tại. Có lẽ Khiết Đan gọi ải Kỳ Câu là Đông Dịch châu. Lưu Vũ có bản chép là Lưu Vũ, nay theo truyện Khổng Thủ Chính. Tuy nhiên, Thủ Chính vừa vào ải Kỳ Câu liền trở về báo, hôm sau lại cùng Phó Tiềm đến Trác châu. Nhưng bản truyện lại chép rằng chiếu cho Kỳ Diên Lãng trấn giữ ải Kỳ Câu, sau đó Thủ Chính mới về hành tại. Có lẽ là sai vậy. Diên Lãng trấn giữ ải Kỳ Câu thực sự là ngày 28 tháng 6, cách ngày Thủ Chính đến Trác châu tất cả 9 ngày, lẽ nào Thủ Chính đã hạ Trác châu lại trở về trấn giữ ải Kỳ Câu, đến ngày 28 Diên Lãng mới thay thế? Nhưng những gì truyện chép cũng đảo lộn thứ tự, nay không theo.)
[99] Chỉ huy sứ Đông Tây ban là Phó Tiềm người Hành Thủy cùng Khổng Thủ Chính đến Trác châu trước, đánh bại quân Khiết Đan, bắt sống hơn 500 người.
[100] Ngày Mậu Thìn, Vua đến Trác châu, phán quan Lưu Nguyên Đức đem thành đầu hàng, Vua sai Cung phụng quan Trương Hoài Huấn chỉ huy quân lính ở đây.
[101] Ngày Kỷ Tỵ, Vua đóng quân ở Đốn Diêm Câu, có dân bắt được ngựa của Khiết Đan dâng lên, Vua ban cho vải lụa.
[102] Ngày Canh Ngọ, lúc trời vừa sáng, Vua đến phía nam thành U châu, đóng quân ở chùa Bảo Quang. Hơn một vạn quân Khiết Đan đóng ở phía bắc thành, Vua thân chinh dẫn quân đánh tan, chém được hơn nghìn thủ cấp, quân địch còn lại chạy trốn.
(Truyện Khiết Đan và Hội yếu chép: Khiết Đan nghe tin quân Vua đến, đều không dám ở trong thành. Nếu không dám ở trong thành, thì sao còn phải đợi quân Tống vây đánh? Nay chỉ theo Thực lục và Bản kỷ.)
[103] Thủ lĩnh Bột Hải là Đại Loan Hà dẫn theo tướng nhỏ Lý Huân cùng 16 người, 300 kỵ binh bộ tộc và hơn 200 quân dân Phạm Dương đến đầu hàng. Nhà Vua triệu kiến, ban thưởng tiền bạc, phong Đại Loan Hà làm Đô chỉ huy sứ Bột Hải.
[104] Ngày Nhâm Thân, phân bố các tướng tấn công thành: Tiết độ sứ Định Quốc Tống Ngọ đánh mặt nam, Tiết độ sứ Hà Dương Thôi Ngạn Tiến đánh mặt bắc, Tiết độ sứ Chương Tín Lưu Ngộ đánh mặt đông, Tiết độ sứ Định Vũ Mạnh Huyền Triết đánh mặt tây. Lệnh cho Tuyên huy nam viện sứ Phan Mỹ quản lý chính sự Hành phủ U Châu. Đô chỉ huy sứ Thiết Lâm Khiết Đan Lý Trát Lư Tồn dẫn 125 binh sĩ đến đầu hàng.
[105] Xuống chiếu đặt làm 800 bộ yết cụ, hạn trong nửa tháng hoàn thành. Tướng quân Hữu Long Vũ Đốn Khâu là Triệu Diên Tiến đốc thúc công việc, tám ngày thì xong. Nhà Vua thân hành kiểm tra, rất hài lòng.
[106] Ngày Quý Dậu, di chuyển đến phía bắc thành, đốc thúc các tướng tấn công. Hơn 400 binh lính Thần Vũ sảnh U Châu và hương binh đến đầu hàng. Dân làng cướp được hơn 200 ngựa Khiết Đan dâng lên.
[107] Ngày Giáp Tuất, lệnh cho Điện trung thừa Dương Cung quản lý Trác Châu, phong Lưu Nguyên Đức làm Hữu Tán thiện đại phu, Thông phán châu sự.
[108] Ba quan chức phụ trách nghề gốm sứ ở Bát quân sơn hậu U Châu mang ấn bài Khiết Đan đã nhận đến dâng.
[109] Ngày Ất Hợi, lệnh cho Bát tác phó sứ Kỳ Diên Lãng quản lý Đông Dịch Châu.
(Kỳ, có sách chép là Kì.)
[110] Hơn trăm dân huyện Kế mang trâu rượu ra đón và khao quân, đều được ban thưởng áo quần, tiền bạc, sai sứ tuần hành các làng xóm để an ủi dân chúng.
[111] Ngày Đinh Sửu, nhà Vua ngồi kiệu đến dưới thành, đốc thúc các tướng tấn công. Hơn 150 quan chức các huyện U Châu và dân làng đến đầu hàng.
[112] Mùa thu, tháng 7, ngày Canh Thìn, Tiết độ sứ Kiến Hùng Khiết Đan ở Thuận Châu là Lưu Diên Tố cùng 14 thuộc hạ đến đầu hàng.
[113] Ngày Tân Tỵ, nhà Vua lại đến dưới thành, đốc thúc các tướng tấn công.
[114] Ngày Nhâm Ngọ, quan tri Kế Châu Khiết Đan là Lưu Thủ Tư cùng 17 thuộc hạ đến đầu hàng.
[115] Ngày Quý Mùi, đến góc tây bắc thành, đốc thúc các tướng tấn công.
[116] Ban đầu, ra lệnh cho các tướng tấn công thành, Quế Châu quan sát sứ Tào Hàn cùng Dao Châu quan sát sứ Mễ Tín dẫn quân đóng ở góc đông nam của thành để phòng bị bất trắc. Quân sĩ đào đất bắt được một con cua dâng lên, Tào Hàn bảo các tướng rằng: “Cua là loài sống ở nước mà lại ở trên cạn, là dấu hiệu mất chỗ dựa. Hơn nữa, cua nhiều chân, là điềm báo quân cứu viện của địch sắp đến. Lại nữa, ‘cua’ có nghĩa là ‘giải’ (rút lui), phải chăng là dấu hiệu rút quân?”
[117] Ngày Giáp Thân, Vua thấy thành U Châu hơn mười ngày vẫn chưa hạ được, quân sĩ mệt mỏi, đường vận chuyển xa xôi, lại lo sợ quân Khiết Đan sẽ đến cứu viện, bèn hạ chiếu rút quân. Xa giá xuất phát vào buổi tối, lệnh các tướng chỉnh đốn quân ngũ từ từ rút về.
(Theo ‘Giang Hưu Phục tạp chí’: Thái Tông từ Tịnh Châu đến U Châu, nhân lúc địch không đề phòng. Khiết Đan chúa đang đi săn, vội vàng trở về trướng, bàn bỏ Yên Kê, chỉ đặt quân phòng thủ ở Tùng Đình và Hổ Bắc Khẩu. Khi đó, Vu Việt là Xá Lợi Lang Quân – trong nước Khiết Đan, những người thân cận không có chức vụ gọi là Xá Lợi Lang Quân – xin cấp mười vạn quân cứu U Châu. Quân tiến theo dãy Tây Sơn, áp sát U Lăng, ban đêm cầm hai ngọn đuốc, sáng sớm giương hai lá cờ. Chọn ba vạn kỵ binh tinh nhuệ, ban đêm đi theo con đường khác, từ phía nam của quan quân, cuốn về phía bắc. Lại trước đó, đặt năm nghìn quân yếu phòng thủ U Châu, thấy gió thổi liền bỏ chạy. Quân triều chặn lại không cho họ thoát, nên họ cố thủ. Khi quân đã rút, có người khuyên nên tập kích, Vu Việt nói: “Nhận lệnh cứu U Kê, nay đã được rồi.” Nên không tranh giành lợi ích gì nữa. Nay chép thêm vào đây để tham khảo.)
[118] Ngày Ất Dậu, (Vua) đến Trác Châu.
[119] Ngày Bính Tuất, dừng chân tại Kim Đài dịch, nội cung phụng quan Diêm Thừa Hàn gấp báo rằng đại quân không chỉnh tề, quay về hướng nam sẽ tan rã. Vua sai Điện tiền đô ngu hậu Thôi Hàn dẫn hơn nghìn quân bảo vệ ngăn chặn, Thôi Hàn xin một mình cưỡi ngựa thẳng tiến. Đến nơi, ông dùng phương lược khuyên bảo, quân sĩ bèn yên ổn, trở về báo mệnh, không giết một ai, Vua rất khen ngợi. Thừa Hàn, người Chân Định[14].
[120] Ngày Mậu Tý, dừng chân tại Định Châu. Định Nam lưu hậu Lý Kế Quân mất, em là Kế Bổng kế vị.
[121] Ngày Canh Dần, sai Thôi Hàn và Định Vũ tiết độ sứ Mạnh Huyền Triết cùng các tướng ở lại đồn trú tại Định Châu, Chương Đức tiết độ sứ Lý Hán Quỳnh đồn trú tại Trấn Châu, Hà Dương tiết độ sứ Thôi Ngạn Tiến đồn trú tại Quan Nam, được tùy nghi hành sự. Vua bảo các tướng rằng: “Khiết Đan chắc chắn sẽ đến xâm phạm biên giới, nên tập hợp quân lính, bày phục binh đánh úp, ắt sẽ thắng lớn.”
[122] Ngày hôm ấy, xa giá rời Định Châu.
[123] Ngày Tân Mão, dừng chân tại Trấn Châu.
[124] Ngày Bính Thân, dừng chân tại Hình Châu.
[125] Ngày Mậu Tuất, dừng chân tại Minh Châu.
[126] Ngày Canh Tý, dừng chân tại Đại Danh phủ.
[127] Ngày Tân Sửu, dừng chân tại Đức Thanh quân.
[128] Ngày Nhâm Dần, dừng chân tại Thiền Châu.
[129] Ngày Ất Tỵ, xa giá từ Phạm Dương trở về.
[130] Lúc đầu, bàn việc đánh Bắc Hán, Thừa tướng Lư Đa Tốn tâu: “Tây Thục xa xôi hiểm trở, nhiều lo ngại, nếu Hoàng thượng thân chinh, nên trước hết cử bề tôi tâm phúc trọng yếu đến trấn phủ, thì sẽ không còn lo ngại sau này.”
Cấp sự trung Trình Vũ, cựu thần tại phủ đệ, từng làm tri huyện Tân Đô và các châu Hưng, Hưng Nguyên phủ, có tiếng tài năng, Hoàng thượng liền phong làm tri châu Ích.
Sau khi Hoàng thượng đóng quân ở Thái Nguyên, huyện Bì bắt được bọn cướp đưa về phủ, án đã xét xong, bỗng có chỉ triều đình: ‘Kẻ cướp chưa tái phạm, được miễn tội chết, đưa về kinh đô.’ Đây là do thời chiến, cần gấp những người dũng cảm. Quan pháp dựa vào chiếu chỉ để xin, Trình Vũ nói: “Lòng ác của người ta sợ lúc mới bắt đầu, bọn gian ác nghe lệnh này sẽ coi thường phạm tội, loạn lạc không thể kiềm chế.” Ông phán rằng: “Xa giá tuần thú, nơi non xa sông thẳm, không trừ bọn hung ác, sao yên được phương xa?” Liền giao cho huyện xử tử, xé xác nơi chợ, rồi tâu lên sự việc.
Từ đó đến khi Trình Vũ rời đi, không còn trộm cướp. Khi Trình Vũ ở Tân Đô, châu sai nha hiệu đến, thấy Trình Vũ lễ độ chậm chạp, vài năm sau, Trình Vũ nhận chức châu, người ta lo sợ cho viên hiệu, nhưng khi Trình Vũ đến lại thăng viên hiệu làm người chỉ huy đồn binh, vì tài năng của họ xứng đáng với nhiệm vụ.
(Theo ‘Trình Thác soạn Trình Vũ từ đường ký’, Trình Vũ làm tri châu Ích vào tháng 5 năm thứ 2, nay ghi thêm sau khi Hoàng thượng trở về từ Phạm Dương.)
[131] Tháng 8, ngày Mậu Thân mùng một, 28 người Khiết Đan là Tô Triết đến hàng, được ban quần áo, tiền lụa, rồi sung vào quân Khiết Đan trực[15].
[132] Thủ Trung thư lệnh, Tây kinh lưu thủ Thạch Thủ Tín theo chinh phạt Phạm Dương, đốc suất tiền quân phạm tội thất luật. Ngày Nhâm Tý, bị giáng chức làm Sùng Tín tiết độ sứ, kiêm Trung thư lệnh.
(Việc Thủ Tín thất luật, Thực lục và chính sử đều không ghi rõ, có lẽ việc rút quân là do sự việc này[16], cần xem xét thêm.)
[133] Tương tác giám Đoàn Tư Cung bị giáng làm Thiếu phủ thiếu giám. Tư Cung trước đây làm Tri binh châu, đã tự ý mượn tiền quan để chế tạo đồ dùng, lại mượn danh nghĩa cống phẩm để mua rẻ lông nhung và da hổ làm đồ trang trí ngựa, bị Thông phán Vương Diên Phạm tố cáo. Diên Phạm là người Giang Lăng.
[134] Ngày Giáp Dần, Chương Tín tiết độ sứ Lưu Ngộ bị giáng làm Túc châu quan sát sứ, Quang châu Thứ sử Sử Khuê bị giáng làm Vũ Định hành quân tư mã, đều do theo chinh phạt Phạm Dương mà binh lính dưới quyền chần chừ, thất luật.
(Việc Lưu Ngộ và Sử Khuê thất luật trong truyện của họ cũng không ghi rõ, e rằng quốc sử có điều gì né tránh, cần tham khảo thêm.)
[135] Lúc đầu, Lưu Kế Nghiệp giúp Lưu Kế Nguyên giữ thành Thái Nguyên, rất là dũng cảm. Đến khi Kế Nguyên đầu hàng, Kế Nghiệp vẫn cố thủ trong thành giao chiến kịch liệt.
Vua vốn biết ông dũng cảm, muốn bắt sống, nên sai sứ giả đến bảo Kế Nguyên chiêu dụ Kế Nghiệp. Kế Nguyên cử người thân tín đến, Kế Nghiệp bèn quay mặt về hướng bắc lạy hai lạy, khóc lớn, rồi cởi áo giáp đến yết kiến. Vua mừng, vỗ về ông rất hậu, cho ông khôi phục lại họ Dương, chỉ lấy tên Nghiệp, rồi phong làm Tả lĩnh quân vệ Đại tướng quân[17]. Ngày Đinh Tỵ, cho Nghiệp làm Phòng ngự sử Trịnh châu.
(Theo quốc sử ‘Dương Nghiệp truyền’ thì nói quân cô thành nguy ngập, Nghiệp khuyên chủ đầu hàng để bảo toàn tính mạng. Kế Nguyên vừa đầu hàng, Vua sai sứ giả triệu Nghiệp, được ông, rất mừng, cho làm Lĩnh quân Đại tướng quân. Khi quân rút về, bèn bổ làm Phòng ngự sử Trịnh châu. Lời chế viết: “Trăm trận gắng sức, một lòng không thay đổi, gió mạnh không lay, sấm nhanh không biến. Biết thành kiên cố không giữ được, lo ngọc đá cùng cháy[18], quyết định xin đầu hàng, dâng mình cầu mệnh, trung với việc mình làm, giỏi tự mưu tính.” Khác rất nhiều với ‘Cửu quốc chí’. Xét ‘Ngũ đại sử’, người khóc lóc khuyên Kế Nguyên đầu hàng chỉ có Mã Hoạn mà thôi, không phải Dương Nghiệp. Nếu Nghiệp khuyên đầu hàng thì lẽ ra phải cùng Kế Nguyên ra yết kiến, cần gì phải sai sứ giả đến triệu? Nhưng lời chế lúc đó không nên sai sự thực, lại nghi ngờ lời chế có ý gì đó nên mới nói thế. Nay theo ‘Cửu quốc chí’, cần phải xem xét thêm).
[136] Ngày Quý Hợi, lệnh cho Phan Mỹ làm Đô bộ thự Tam Giao Khẩu Hà Đông, để chống lại Khiết Đan.
[137] Ngày Tân Mùi, châu Thần báo rằng dân làng Tống Tái Quân cùng sáu người khác dụ dỗ người, lén đưa ra biên ải bán cho người man châu Khê, lấy tiền. Chiếu lệnh đánh bằng gậy, thích chữ lên mặt, cho ngồi xe gông giải về kinh; từ nay những kẻ dám vi phạm, đều lệnh cho địa phương đánh chết, nơi nào phải đốc thúc quan lại biên giới cẩn thận bắt giữ.
[138] Giáp Tuất, Châu Tống tâu rằng sông vỡ đê ở huyện Tống Thành, Vua xuống chiếu huy động 3.500 trai tráng từ các huyện đến đắp đê, sai Bát tác sứ Hác Thủ Tuấn trông coi việc này.
[139] Trước đó, Vũ Công quận vương Đức Chiêu theo Vua đánh U Châu, giữa đêm quân sỹ trong doanh bỗng nhiên xôn xao, không biết bệ hạ ở đâu, có kẻ tính lập (Đức Chiêu) làm Vua. Khi biết Vua đang ở đâu, kế hoạch mới thôi. Vua nghe lỏm được chuyện này, lòng không vui. Khi về kinh[19], vì thua trận ở phía bắc, nên đã lâu không ban thưởng cho quân sỹ ở Thái Nguyên, các quan đều cho là không nên. Do đó, Đức Chiêu nhân lúc vắng vẻ đến tâu việc, Vua nổi giận nói: “Chờ ngươi tự làm rồi ban thưởng cũng chưa muộn!”
Đức Chiêu hoảng sợ, trở về cung, hỏi tả hữu: “Có mang dao không?” Tả hữu thưa rằng trong cung không dám mang dao. Đức Chiêu bèn vào nhà trà rượu, đóng cửa, lấy dao gọt trái cây tự đâm cổ chết. Vua nghe tin, vừa kinh hoàng vừa hối hận, đến ôm xác Chiêu, khóc lớn: “Đứa trẻ ngốc, sao đến nỗi này!” Truy phong làm Ngụy Vương, thụy là Ý.
(Ghi theo ‘Tư Mã Quang ký văn’, bản truyện chép Đức Chiêu thích ăn thịt béo ngậy, nên sinh bệnh mà chết. Nay không theo.)
[140] Bính Tý, thủ lĩnh Cung Bộ xuyên Mâu Ngang, Phó sứ Quỷ chủ các tộc Ly Mạt đem vật địa phương đến tiến cống.
[141] Tháng này, bái Tán thiện đại phu Vi Đản và 14 người khác làm Phán quan ở các trấn tiết độ. Đản và những người này đỗ tiến sĩ đầu niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, liền làm Thông phán các châu[20], đến nay mãn nhiệm về triều. Vua cho rằng hai chức phán quan làm sứ quan mà được thăng chức thì rất ít, nhân chỗ khuyết nhiều, bèn bổ Đản và những người này vào[21], lại cho họ tích lũy kinh nghiệm, xem khả năng giúp việc trị dân, mãn nhiệm đều cho làm quan ở kinh đô.
[142] Dựng Thái Thanh lâu.
[143] Tháng chín, ngày Kỷ Mão, Châu Vệ báo cáo sông Hoàng Hà vỡ đê ở huyện Cấp.
[144] Ngày Tân Tỵ, ban chiếu rằng các trại dọc biên giới các châu Hãn, Lam, Hiến không được để quân sĩ vào cướp bóc lãnh thổ của người Phiên. Nếu cần trả thù giết chóc, phải đợi mệnh lệnh của triều đình.
[145] Ngày Ất Dậu, lệnh cho Nội y khố sứ Trương Thiệu Kình và Nam tác phường phó sứ Lý Thần Hữu dẫn quân đóng đồn ở Châu Định.
[146] Trước đó, ngày hôm sau khi Lưu Kế Nguyên đầu hàng, Tả thập di ở Đại Danh là Tống Bạ dâng bài “Bình Tấn tụng”. Đêm đó, Vua triệu ông đến hành cung khen ngợi và nói: “Đợi về kinh, sẽ phong cho ngươi chức quan chuyên về thư mệnh.” Ngày Bính Tuất, ông cùng Hữu bổ khuyết Quách Chí được bổ nhiệm làm Trung thư xá nhân.
(Theo “Tống triều yếu lục”, Lý Phưởng, Hỗ Mông, Lý Mục đều được thăng chức, ban thưởng vì công lao hộ giá.)
[147] Ngày Mậu Tý, ban chiếu đổi tên 25 cổng thành trong và ngoài kinh thành.
[148] Ngày Đinh Hợi, lần đầu đặt chức Hoàng tử thị độc, cử Tả tán thiện đại phu Dương Khả Pháp đảm nhận, ban thưởng áo đai ngũ phẩm, ngựa bạc, 500 lạng bạc và 50 vạn tiền. Sau đó thăng làm Hữu bổ khuyết, vẫn giữ chức thị độc.
[149] Ngày Canh Dần, Hộ bộ lang trung Hầu Trắc được bổ nhiệm làm Gián nghị đại phu, quyền Ngự sử trung thừa. Đây là lần đầu tiên chức quyền trung thừa được lập.
[150] Ngày Quý Tỵ, Châu Gia báo cáo rằng dân ở trấn Nhược Yên, huyện Giáp Giang là Vương Nghệ tìm được hai phiến đá đen, trên đó có chữ đỏ, một phiến viết “Quân vương vạn vạn tuế”, một phiến viết “Triệu nhị thập nhất đế”, đóng hộp đá dâng lên.
[151] Ngày Bính Thân, ban chiếu: “Trước đây cấm tiền đồng vào địa giới Kiếm Nam, nay nên bãi bỏ[22]. Từ nay dân hai xứ Xuyên được phép dùng lẫn tiền đồng và tiền sắt, nhưng không được mang ra khỏi địa phận. Quan lại biên giới phải cảnh giác, người vi phạm sẽ xử theo pháp luật.”
[152] Châu Đại báo rằng chủ phủ An Khánh của dân Khiết Đan là An Hải Tiến xin nội thuộc, ban sáp thư để phủ dụ.
[153] Ngày Kỷ Hợi, ngự giá đến chùa Kiến Long, rồi đến góc tây nam thành Tân Thành xem quân Thiết Lâm tập bắn nỏ mạnh.
[154] Ngày Canh Tý, Chuyển vận sứ Kinh Hồ Nam Lộ báo rằng thủ lĩnh Mười Động Dương Uẩn xin nội thuộc.
[155] Ngày Quý Mão, Vua man hai vùng Lưỡng Lâm ở Sơn Hậu, Đại tướng quân Quy Hóa là Vật Nhi phái con trai là Tộ Ngộ đem ngựa danh tiếng đến cống nạp.
[156] Ngày Bính Ngọ, Hữu thập di Lý Hãn bị giáng chức làm Hữu tán thiện đại phu. Trước đây, khi Lý Hãn còn làm quan ở Hùng Châu, nhân lúc quân Phạm Dương rút về, binh sĩ bỏ chạy tới thành châu, Hãn đóng cổng không cho vào, gây ra rối loạn, cướp bóc dân chúng, cuối cùng tụ lại thành giặc, vì thế mới có lệnh này.
[157] Trước đây, các châu ở Giang Nam, Lưỡng Chiết dùng lụa để tính giá trị tang vật, giá lụa hai tấm ở đây mới bằng một tấm ở Giang Bắc, chiếu chỉ lệnh từ nay nên tính tội theo giá một tấm lụa là một nghìn tiền.
[158] Đại quân Khiết Đan xâm lược, Đô kiềm hạt Trấn Châu, Quan sát sứ Vân Châu là Lưu Diên Hàn (người Tuấn Nghi) đem quân chống cự, đóng quân trước ở sông Từ. Thôi Ngạn Tiến bí mật dẫn quân ra phía bắc đê Hắc Lô, men theo cửa Trường Thành, ngậm tăm đuổi theo phía sau quân địch[23], Lý Hán Quỳnh và Thôi Hàn cũng dẫn binh tiếp ứng đến.
Vua trước kia đã trao trận đồ cho các tướng, bảo họ chia thành tám trận. Đại quân đóng quân tại Mãn Thành, quân kị địch ào đến, Hữu Long Vũ tướng quân Triệu Diên Tiến đứng trên cao quan sát, thấy phía đông và tây trải dài khắp cánh đồng, không thấy đuôi quân địch, Hàn và các tướng đang theo trận đồ bày binh, các trận cách nhau trăm bước, quân sĩ lo sợ, không còn chút khí thế.
Diên Tiến nói với Hàn và các tướng: “Chúa thượng giao việc biên ải cho chúng ta, là mong chúng ta đánh bại quân địch. Nay quân kị địch như thế, mà quân ta lại bày binh rải rác, tình thế cách biệt quá lớn, nếu chúng thừa cơ tấn công, chúng ta sẽ xoay xở thế nào? Chi bằng hợp lực đánh chúng, mới có thể quyết thắng. Dù trái lệnh mà có lợi, chẳng phải vẫn hơn là nhục quốc sao?”
Hàn và các tướng hỏi: “Nếu chẳng may không thắng thì sao?”
Diên Tiến đáp: “Nếu có thất bại, Diên Tiến sẽ một mình chịu trách nhiệm.”
Hàn và các tướng vẫn nghi ngại việc tự ý thay đổi chiếu chỉ, Giám quân Trấn Châu, Lục trạch sứ Lý Kế Long nói: “Binh pháp quý ở ứng biến, sao có thể lấy việc dự đoán làm quy tắc? Tội trái chiếu, Kế Long xin một mình chịu.”
Hàn và các tướng mới quyết định, liền chia quân làm hai trận, trước sau hỗ trợ nhau, quân sĩ đều vui mừng. Ba trận liền đánh bại quân địch, chúng tan vỡ, chạy tán loạn về phía tây núi, nhảy xuống hố sâu, người chết không kể xiết. Truy kích đến Toại Thành, chém hơn một vạn thủ cấp, bắt được hơn nghìn con ngựa, bắt sống ba tù trưởng, bắt giữ ba vạn già trẻ, cùng nhiều binh khí, xe trướng và dê gia súc.
Tháng 10 mùa đông, ngày Canh Ngọ, tin thắng trận báo về, chiếu khen ngợi.
[159] Ngày Ất Hợi, Tề vương Đình Mỹ được tiến phong làm Tần vương, tể tướng Tiết Cư Chính được thăng làm Tư không, Thẩm Luân được thăng làm Tả bộc xạ, Lư Đa Tốn kiêm nhiệm chức Binh bộ thượng thư, Xu mật sứ Tào Bân kiêm nhiệm chức Thị trung. Các quan văn võ có công trong việc bình định Thái Nguyên đều được thăng chức tước khác nhau, đây là lần đầu thực hiện điển lệ thưởng công.
(Theo sử Thực lục, nhưng Điền Tích vào tháng 9 năm thứ 6 dâng chương, vẫn nói rằng công lao bình định nước Tấn chưa được thưởng, không rõ vì sao? Cần xem xét. Theo ‘Tống triều yếu lục’: Chiêu Phụ được phong Kiểm hiệu Thái uý, Hi Tái được thăng làm Hình bộ thị lang, Phan Mỹ được phong Kiểm hiệu Thái uý, Vương Nhân Thiệm được phong Kiểm hiệu Thái phó, Thôi Hàn, Lưu Diên Hàn, Mễ Tín, Điền Trọng Tiến từ chức Quan sát sứ được thăng làm Tiết độ sứ, đây là lần đầu thực hiện việc thưởng công bình định nước Tấn.)
[160] Mã quân đô ngu hậu, Tiết độ sứ Bảo Thuận là Mễ Tín, có nhiều thân tộc ở ngoài biên ải. Khi ấy, con trai của anh trai ông là Kim từ Sóc Châu trốn về. Vua cho triệu kiến, ban thưởng hậu hĩnh, sai Kim đi ngựa truyền đến Đại Châu, tìm cơ hội đón gia quyến, phái quân hộ tống. Sau đó, Kim ở lại hơn một năm, nhưng do địch canh phòng nghiêm ngặt, cuối cùng không thể đón được. Mễ Tín cảm khái nói: “Ta nghe nói trung hiếu không thể cùng lập, được hưởng ân huệ quá lớn, đang nghĩ đến việc hy sinh báo quốc, sao còn có thể lo nghĩ đến thân thích nữa?” Ông nhìn về phương Bắc khóc lóc từ biệt, dặn con cháu không được nhắc đến chuyện này nữa.
[161] Tháng 11, ngày mùng 1 Đinh Sửu, ban áo ấm cho quân lính biên thùy.
[162] Ngày Canh Thìn, Đại Châu báo rằng quân Khiết Đan đóng trại ở Nhạn Môn, Tây Kinh, Hộ Quốc, Nam Xuyên thuộc Đại Châu. Chiết Ngạn Uân cùng Đô giám Đổng Tư Nguyện, Lưu Tự, Tuần kiểm Hầu Mỹ đuổi đánh, đại phá quân địch, thu được nhiều ngựa, khí giới.
(Theo ‘Hội yếu’, đây là sự việc ngày 4 tháng 11, Chiết Ngạn Uân đã xuất hiện từ ngày Kỷ Tỵ tháng 2.)
[163] Ngày Bính Tuất, ban chiếu rằng khoa Minh pháp trong các sách chỉ học một ít, nên bãi bỏ; khoa Học cứu dù thông hiểu ba kinh, nhưng khó tinh thông, nên chia làm ba khoa, vẫn kiêm học pháp lệnh. Lại ban chiếu rằng ngày thi Tiến sĩ và các khoa khác, đều hỏi nghĩa lý trong luật văn để sơ khảo.
[164] Ngày Kỷ Sửu, Vua ngự đến Ngọc Tân Viên, rồi săn bắn ở vùng ngoại ô.
[165] Ngày Tân Mão, đổi huyện Thiệu Vũ thuộc Kiến Châu thành quân Thiệu Vũ.
[166] Vua thấy Trịnh Châu phòng ngự sứ Dương Nghiệp nhiều năm kinh nghiệm việc biên giới, thông thuộc tình hình địch, ngày Quý Tỵ, ban lệnh cho Nghiệp làm Tri châu Đại Châu kiêm bộ thự binh mã trú đóng tại Tam Giao. Vua cho đóng gói kín, ban thưởng rất hậu.
[167] Ngày Kỷ Hợi, lấy Hà Bắc chuyển vận sứ Cao Kế Thân làm Đô chuyển vận sứ Hà Bắc Nam lộ, Khởi cư lang Quách Bí làm Thủy lộ chuyển vận sứ từ Ngự Hà đến Quan Nam, Hồng lư tự thừa Vương Tại Điền làm Phán quan lục lộ chuyển vận, Trứ tác tá lang Thôi Mại làm Phán quan thủy lộ chuyển vận.
(Theo ‘Phàn Tri Cổ truyện’, danh hiệu Đô chuyển vận sứ bắt đầu từ Tri Cổ. Việc này xảy ra vào tháng 10 năm Đoan Củng nguyên niên. Còn theo Thực lục, Cao Kế Thân đã giữ chức này từ tháng 11 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ tứ, chắc có sự nhầm lẫn, tạm ghi lại để chờ xét kỹ. ‘Hội yếu’ chép: Thời Thái Bình Hưng Quốc đầu, Hà Bắc chia làm Nam lộ, thời Ung Hi lại chia làm Đông Tây, sau hợp lại. Việc chia làm Nam lộ có thể bắt đầu từ đây, cần kiểm tra kỹ.)
[168] Lam Châu tâu rằng phá được hơn nghìn quân Khiết Đan ở cửa Tam Giao.
[169] Ngày Tân Sửu, Hân Châu tâu rằng phá được mấy nghìn quân Khiết Đan, chém được bốn mươi lăm thủ cấp, thu được ngựa, áo giáp; bắt sống sáu mươi người dâng lên.
[170] Quan Nam lại tâu rằng phá được mấy vạn quân Khiết Đan, chém được hơn một vạn thủ cấp, thu được năm mươi ba con lạc đà. Vua ra chiếu phân phát cho các tướng sĩ.
[171] Ban đầu, dân tộc phía Tây Nam không nộp cống vật, thường cướp phá biên giới. Hứa Trọng Tuyên, Hình bộ lang trung, làm Chuyển vận sứ Tây Xuyên, tự mình đến sông Đại Độ khuyên bảo họ về thuận nghịch, chỉ ra uy phúc, người dân tộc đều quy phục.
Sau hơn ba năm tại chức, có người tố cáo Trọng Tuyên trong thời gian dụng binh ở Giang Biểu đã chiếm đoạt tiền của triều đình. Tháng đó, ông bị triệu hồi, lệnh cho Ngự sử đài kiểm tra toàn bộ sổ sách tài chính.
Sau hơn một năm giám sát, không thấy có sự gian lận, bèn bổ nhiệm Trọng Tuyên làm Chuyển vận sứ Lĩnh Nam. Trọng Tuyên có tài tính toán, khéo xử lý việc lớn. Trong thời gian dụng binh ở Giang Biểu, quân đội cần nhiều vật tư, Trọng Tuyên đều dự trữ đầy đủ không thiếu thứ gì. Tào Bân lấy làm lạ, đêm đánh thành, nhân đó lấy hàng vạn đồ gốm, chia cho binh sĩ đánh thành thắp đèn tự soi. Trọng Tuyên đã dự liệu trước, cấp đủ số lượng như vậy, các vật dụng khác cũng tương tự.
[172] Trước đó, sắc lệnh cho Trung sứ Triệu Thủ Luân mua ngựa tư nhân ở kinh đô và các châu với giá hậu, thu được 173.579 con.
(Sách ‘Bản chí’ chép việc mua ngựa vào năm Hưng Quốc thứ tư. Xét thời điểm xuất quân vào tháng giêng, e rằng việc này xảy ra trước năm thứ tư. ‘Thực lục biệt bản’ chép số ngựa mua của Triệu Thủ Luân vào ngày Ất Tỵ tháng 11 năm thứ tư, nay theo đó, vì việc mua ngựa xảy ra trước đó, đến đây mới dâng số lượng thu được.)
[173] Tháng 12, ngày Đinh Mùi mùng 1, nước Chiêm Thành sai sứ đến cống nạp sản vật.
[174] Thủ lĩnh Thác Bạt Nhật Vinh phái Tù trưởng Thác Bạt Lâm Thấm, Đại thủ lĩnh 16 phủ La Lãng Xuy Dụ Lặc phái Phiên quan Kết Thư đến dâng cống.
[175] Bổ nhiệm Hữu Tán thiện đại phu Cự Dã Hạ Hầu Kiều cùng 15 người làm Điện trung thừa, vì họ từng đốc thúc việc vận chuyển ở Thái Nguyên, Phạm Dương, nên được thưởng công lao.
[176] Thời Khai Bảo, cấm dân buôn bán trà giả, phạt 100 trượng nếu bán một cân, hơn 20 cân thì xử tử. Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu từ nay thi hành theo luật, nếu vi phạm, sẽ luận tội.
[177] Ngày Canh Thân, ban chiếu từ nay nếu người Nữ Chân ở Đăng Châu dâng ngựa, vật phẩm đi kèm phải được cấp giấy chứng nhận, các nơi kiểm tra, nếu vật phẩm ngoài giấy tờ thì tịch thu. Theo tấu của Cung phụng quan Lư Tập.
[178] Ngày Đinh Mão, đi săn ở vùng ngoại ô.
[179] Chiếu cải Ty khấu tham quân thành Ty lý tham quân [24], đổi Ty khấu viện thành Ty lý viện, lệnh cho Ty tuyển bộ chọn những người từng trải thanh liêm, có khả năng xử án và biện luận để đảm nhận, hết nhiệm kỳ được miễn tuyển chọn và triệu tập.
Lại đặt thêm một chức phán quan, giao cho các châu từ hàng hiệu úy chọn những người có năng lực, thông hiểu pháp luật và giàu có để đảm nhận. Cấp lương tháng theo lệ cũ của phán quan Mã Bộ. Hết nhiệm kỳ, trình bày thành tích để định việc thăng giáng, nếu có vi phạm thì bắt tội từ viên chức cao nhất trở xuống.
(Phán quan Ty lý bị liên đới chịu tội, bản Thực Lục khác ghi vào ngày Canh Ngọ tháng 10 năm thứ 6, nay theo bản Chí ghi chung vào đây.)
Sau đó, lại xuống chiếu yêu cầu các châu xem xét Ty lý tham quân, nếu xử án không rõ ràng dẫn đến việc ngục tù trì trệ, phải báo danh để triều đình biết, còn ai che giấu không tố cáo sẽ bị trị tội.
(Có lẽ chiếu này ban vào ngày Canh Thìn tháng 8 năm Ung Hy thứ 2, cần xem xét thêm.)
[180] Năm đó, lệnh cho hữu ty lấy các chiếu chỉ từ lúc khai quốc soạn thành ‘Thái Bình Hưng Quốc Biên Chiếu’ gồm 15 quyển, ban hành khắp nơi.
[181] Ba châu Tào, Vận, Tru gặp lũ lụt, miễn thuế. Châu Thái Bình đói kém, triều đình cứu tế.
[182] Cải Ty thị mãi thành Tạp mãi vụ.
[183] Trước đây, việc tuyên chỉ nội đình và ban thưởng ở điện tiền đều giao cho Ty khố, chưa có người chuyên trách. Bây giờ bắt đầu đặt ấn hợp đồng bằng kho, giao cho Phó sứ Tả Tàng khố Lưu Mông Chính và Cung phụng quan Quách Diên Tuấn cùng quản lý. Mông Chính là con của Hi Cổ. Diên Tuấn là con của Đình Vị.
(Truyện của Diên Tuấn chép là đầu niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc. Xét truyện của Hi Cổ, năm thứ 4 Thái Bình Hưng Quốc Hi Cổ chuyển làm Phó sứ Nội Tàng khố. Nhân đó ghi chung vào cuối năm này.)
[184] Khiết Đan quốc chủ Minh Kỷ đổi niên hiệu thành Càn Hanh.
- Theo 'Tống bản' và 'Tống Toát yếu', cùng 'Trị tích thống loại' quyển 2, 'Tục thông giám' quyển 9 bổ sung chữ 'Nam' ↵
- Thái nguyên tác 'Sát', căn cứ bản khác sửa. ↵
- từng dùng cây cung cứng treo vào tai, chữ 'quai' nguyên là 'huyền', bản Tống, bản Tống Toát Yếu viết là 'huyền'. Chữ 'huyền' ở đây khó hiểu, căn cứ vào 'Tống sử' quyển 273, truyện Ngưu Tư Tiến sửa lại. ↵
- vẫn gắng sức chiến đấu, chữ 'chiến' nguyên là 'tật', căn cứ vào bản Tống Toát Yếu, bản Các sửa lại. Xem 'Tống sử' quyển 260, truyện Lý Hán Quỳnh và 'Tục thông giám' quyển 10 đều viết là 'cố gắng chiến đấu'. ↵
- Việc lệnh cho Thông sự xá nhân Tiết Văn Bảo mang chiếu vào thành an ủi, năm chữ 'Tiết Văn Bảo mang chiếu' ban đầu bị thiếu, nay dựa theo bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Tống hội yếu' binh thất chi thất, 'Trị tích thống loại' quyển 2 bổ sung. ↵
- Lấy huyện Du Thứ làm Tịnh Châu, các bản và sách 'Tống Hội Yếu' phương vực 6.4, 'Tống Triều Sự Thật' quyển 18 phần Thái Nguyên phủ, 'Phương Dư Kỷ Yếu' quyển 40 phần Du Thứ huyện đều ghi tương tự. 'Trị Tích Thống Loại' quyển 2 và phần dưới của quyển này thì thêm chữ 'Tân' trước 'Tịnh Châu', có lẽ để phân biệt với Tịnh Châu cũ. ↵
- Di chuyển tăng đạo và những người dân giàu có về Tây Kinh, chữ 'Cao' nguyên bản là 'Hậu', sửa theo bản Tống, bản các và 'Tục Thông Giám' quyển 10. ↵
- Sai sứ chia bộ di chuyển dân cư về Tân Tịnh Châu, chữ 'sứ' nguyên bản bị thiếu, bổ sung theo bản Tống, 'Tống Toát Yếu', bản các và 'Tống Hội Yếu' binh 7.8, 'Trị Tích Thống Loại' quyển 2. ↵
- Binh phòng lại Trương Chất bí mật tính toán số lượng quân mã 'Quân mã' trên nguyên bản thừa chữ 'Tại', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản mà xóa. ↵
- Bèn hỏi ý kiến mọi người 'Bèn' nguyên bản là 'tạm', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và sách 'Chủ Sử' quyển thượng chương Trung đảng mà sửa. ↵
- Bạch Tiến Siêu mới là Điện suý 'Bạch' trên nguyên bản thừa chữ 'liên', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản mà xóa. ↵
- Trấn Châu nguyên bản viết là 'Trấn Xuyên', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống, bản Các cùng sách 'Trị Tích Thống Loại' quyển 3, 'Biên Niên Cương Mục' quyển 3 sửa lại. ↵
- chữ 'sứ' viết là 'lại', căn cứ vào bản Tống, bản trích yếu Tống và phần chính văn trên đổi thành 'sứ' ↵
- Nguyên tác là 'Trực Định', căn cứ vào các bản khác sửa lại. ↵
- Sung vào quân Khiết Đan trực, chữ 'trực' ban đầu viết là 'Trí', căn cứ bản trong các sách sửa lại. Tra 'Tống sử' quyển 187, Binh chí, chép: Hậu Đường lập quân Khiết Đan trực, sau bãi bỏ. Năm Khai Bảo thứ 3, do người Liêu quy phụ mà lập lại. Thời Thái Bình Hưng Quốc, nhân có việc lập lại, rồi lại bãi bỏ. Trong đoạn trên chép '28 người Khiết Đan là Tô Triết đến hàng', chính là sung vào quân này. ↵
- 'Do thử' dưới nguyên bản có thêm chữ 'cố', theo Tống bản và Tống toát yếu bản mà bỏ ↵
- 'Thụ', nguyên bản viết 'thụ', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các sửa lại ↵
- 'Dĩ', nguyên bản viết 'chi', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống sửa lại ↵
- Nguyên bản chép 'nãi quy', theo các bản Tống bản, Tống toát yếu bản, 'Biên niên cương mục' quyển 3, 'Tống sử toàn văn' quyển 3 sửa thành 'cập quy'. ↵
- 'Thông phán' nguyên bản chép 'tùy phán', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa. Xét đoạn này nói Đản và 14 người khác, xem 'Tống hội yếu' chức quan 48.5. ↵
- 'Đản và những người này' nguyên bản chép 'tự Đản', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và bản khác sửa. ↵
- Chữ 'trừ' nguyên bản viết 'phụ', theo các bản ‘Các bản’ và ‘Biên niên cương mục’ quyển 3 sửa lại. ↵
- 'Địch' trong 'hàm mai nhiếp địch hậu' vốn bị khuyết. Xét sách 'Trị tích thống loại' quyển 3 chép 'hàm mai nhiếp địch hậu', bản Tống, bản 'Tống toát yếu', và 'Tống sử toàn văn' quyển 3 thượng đều chép 'hàm mai nhiếp lỗ hậu', 'Tống sử' quyển 260 truyện Lưu Đình Hàn lại chép 'hàm mai nhiếp Khiết Đan hậu'. Nay căn cứ 'Trị tích thống loại' và 'Tục thông giám' quyển 1 bổ chữ 'Địch'. ↵
- Chiếu cải Ty khấu tham quân thành Ty lý tham quân, năm chữ 'thành Ty lý tham quân' ban đầu bị thiếu, dựa theo các bản Tống, Tống Toát Yếu và 'Thập Triều Cương Yếu' quyển 2, 'Tống Sử Toàn Văn' quyển 3 phần trên bổ sung. ↵