II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 25: NĂM UNG HI THỨ NHẤT (GIÁP THÂN, 984)
Từ tháng giêng năm Ung Hi thứ nhất đời Thái Tông đến tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Nhâm Tuất, Vua nói với các quan hầu cận: “Gốc rễ của giáo hóa, nguồn cơn của trị loạn, nếu không có sách vở thì lấy gì làm khuôn mẫu? Hiện nay sách ở Tam Quán lưu trữ còn nhiều thiếu sót.” Vua bèn hạ chiếu cho Tam Quán dựa theo mục lục sách bốn kho từ thời Khai Nguyên để kiểm tra các sách còn thiếu, liệt kê đầy đủ tên sách, rồi kêu gọi trong và ngoài ai có sách mang đến nộp được 300 cuốn, sẽ bàn việc tuyển chọn và ban thưởng. Những sách còn lại tùy theo số lượng cuốn mà ban thưởng theo cấp bậc. Ai không muốn nộp cho quan thì cho mượn bản chép, chép xong sẽ trả lại. Từ đó, sách từ khắp nơi dần dần xuất hiện.
[2] Ngày Giáp Tý, quan hữu ty trình báo về việc trộm cắp với tang vật đủ án tử hình. Vua hạ chiếu đặc xá tha chết cho tội nhân, rồi nói với Thừa tướng: “Trẫm luôn quý trọng sinh mệnh con người, những tội như thế này thường được tha án tử hình, chỉ thi hành cực hình với một số trường hợp nghiêm trọng để răn đe kẻ khác, không muốn kẻ tiểu nhân biết ý khoan hồng, e rằng nhiều người sẽ phạm pháp.”
[3] Ngày Ất Sửu, Vua ngự lên lầu Đan Phượng xem đèn, thấy dân chúng đông đúc, liền nói với Thừa tướng: “Quốc gia trải qua nhiều năm chiến tranh, Trẫm hết sức lo toan việc trị quốc, chỉ mong trời cao ban phúc cho dân chúng. Nay thiên hạ yên ổn, kinh đô thịnh vượng, Trẫm rất lấy làm vui. Bình thường Trẫm ít uống rượu, tối nay cùng các khanh vui chơi, nên uống cho thật say.” Vua liền nâng chén không lên cho quần thần xem.
[4] Phù Lăng huyện công Đình Mỹ đến Phòng Châu, tự trách mình nhiều, vì lo lắng mà sinh bệnh rồi qua đời. Ngày Đinh Mão, Phòng Châu báo tin lên, Vua khóc thương, nói với Thừa tướng: “Đình Mỹ từ nhỏ đã cố chấp, lớn lên càng hung ác. Trẫm vì ruột thịt, không nỡ trị tội, bắt ở Phòng Lăng[1], mong hắn nghĩ lại lỗi lầm. Trẫm luôn nhớ đến, chưa từng quên. Vừa muốn ban ơn khôi phục lại thì hắn đã qua đời, đau xót biết bao!” Vua khóc, khiến tả hữu cảm động. Bèn truy chiếu truy phong Đình Mỹ làm Phù Vương, ban thụy hiệu Điệu, tổ chức tang lễ.
[5] Sau đó, Vua thong thả nói với Thừa tướng: “Mẹ Đình Mỹ là phu nhân Cảnh thị, vốn là nhũ mẫu của Trẫm, sau gả cho nhà họ Triệu, sinh ra Phó sứ Quân khí khố Đình Tuấn. Trẫm vì Đình Mỹ, cho Đình Tuấn hầu cận, nhưng Đình Tuấn lộ chuyện trong cung cho Đình Mỹ. Trước đây, âm mưu ở Tây Trì, nếu sai quan đuổi xét, tội Đình Mỹ đáng chết. Trẫm chỉ bắt hắn giữ chức ở Tây Lạc, nhưng hắn không ăn năn, còn oán trách, nói lời xấc xược, nên mới đày đến Phòng Lăng để khoan thứ. Đến như Đình Tuấn, cũng không trị tội nặng, chỉ biếm chức. Trẫm với Đình Mỹ thật không phụ nhau.” Nói xong, Vua buồn rầu.
Lý Phưởng tâu: “Phù Lăng làm phản, cả thiên hạ đều biết. Chuyện trong cung, nếu không phải Vua tường thuật, chúng thần sao biết được.”
[6] Châu Thiền tâu rằng có dân tố cáo bị hạn hán khoảng dưới 20 mẫu, xin miễn thuế, nhưng số lượng nhiều, xin không nhận đơn. Vua nói: “Nếu thế, dân nghèo ít ruộng sẽ không được ơn. Miễn thuế vì thiên tai là vì giúp kẻ khốn cùng, sao lại lấy nhiều ít làm giới hạn?” Lo các đạo không hiểu ý, ngày Tân Mùi, ban chiếu từ nay dân tố cáo hạn hán, không kể ruộng nhiều hay ít, đều phải kiểm tra.
[7] Tả Gián nghị đại phu, Tham tri chính sự Lý Mục tính rất hiếu thuận. Mẹ ông từng nằm bệnh suốt năm, mọi cử động xoay trở đều do ông tự tay đỡ đần, luôn làm vừa lòng mẹ, chưa từng lơ là chút nào.
Ban đầu vì liên quan đến vụ án Phù Lăng, ông bị bắt giữ. Con trai ông là Duy Giản dối bà rằng Lý Mục phụng chiếu tra xét ngục án tại đài, đến khi Mục bị cách chức về nhà, vẫn không dám nói thật với mẹ, thỉnh thoảng ra ngoài thăm hỏi bạn bè, giả vờ đi trực, khi được khôi phục chức vụ, mẹ ông vẫn không biết. Sau hơn một tháng đảm nhiệm chính sự, ông gặp tang mẹ, chiếu chỉ yêu cầu ông quay lại làm việc. Lý Mục không ăn thịt cá, buồn thương quá mức, nên thân thể suy kiệt.
Ngày Quý Dậu, Lý Mục sáng sớm dậy chuẩn bị vào triều, bỗng chóng mặt đột ngột qua đời. Nhà Vua đến khóc, rơi nước mắt, nói với Tể tướng rằng: “Lý Mục giữ mình thanh liêm, giữ đạo thuần chính, thật là người hiếm có. Trẫm để ý đã lâu, vừa mới trọng dụng, bỗng đã qua đời, không phải là bất hạnh của riêng người ấy, mà là bất hạnh của Trẫm vậy.”
[8] Ngày Đinh Sửu, nhà Vua nói với các bề tôi: “Trẫm đọc ‘Tấn sử’, thấy Vũ Đế sau khi bình định nước Ngô, đắm chìm trong sủng ái nội cung, hậu cung nuôi gần nghìn người, hao tổn nhiều, thật là trái với đạo làm đế vương. Trẫm thường lấy đó làm răn. Nay trong cung từ chức chưởng đến người làm việc thô thiển, không quá ba trăm người, Trẫm vẫn cho là nhiều quá rồi.”
[9] Tháng hai, ngày mùng 1 Nhâm Ngọ, Vua ngự tại điện Sùng Chính, thân hành xem xét các tướng hiệu trong quân, từ chức Đô chỉ huy sứ trở xuống đến chức Bách phu trưởng, đều căn cứ vào danh sách để tham khảo công trạng mà thăng giáng. Việc này kéo dài hơn một tháng mới hoàn tất.
Từ đó, Vua tuân theo chế độ này và nói với các quan cận thần: “Trẫm chọn lựa tướng hiệu, trước hết lấy người tuân thủ kỷ luật, có thể quản lý cấp dưới, sự dũng cảm là thứ yếu. Nếu bản thân không tự giữ mình nghiêm chỉnh, thì binh lính sẽ không kính nể, dẫu có sức mạnh của một người, cũng chẳng ích gì.” Vua lại nói: “Quân đội tuy đông, nhưng nếu không tuyển chọn, cũng như không có quân. Phương pháp huấn luyện của Tiên đế đều đạt được tinh túy. Trẫm nhờ việc giảng dạy tập luyện, dần dần đạt đến tinh nhuệ, nếu có tướng tài lãnh đạo, thì không địch nào không đánh bại, chỉ lo rằng nhân tài hiếm có mà thôi.”
Theo chế độ cũ, khi các tướng từ biệt hoặc có người xuất sắc trong hàng ngũ, thì các tướng hiệu phải bảo lãnh lẫn nhau. Tán viên Tả ban đô đầu là Ngụy Năng khi trấn thủ biên giới, không được mọi người bảo lãnh. Vua nói: “Người này có tài dũng, Trẫm có thể tự bảo lãnh.” Từ đó, Ngụy Năng dần được thăng chức. Ngụy Năng là người ở Vận châu.
[10] Phong Hữu bổ khuyết Kiều Duy Nhạc làm Hoài Nam chuyển vận sứ.
Trước đó, phía tây sông Hoài chảy dài ba mươi dặm, gọi là vụng Sơn Dương, dòng nước chảy xiết, thuyền chở hàng qua đây thường bị đắm. Kiều Duy Nhạc quy hoạch khơi thông hồ Cát Sa cũ, từ cửa Mạt đến cửa Ma Bàn ở Hoài Âm, dài bốn mươi dặm. Lại từ Kiến An, phía bắc đến Hoài Phệ, tổng cộng có năm đập, thuyền chở hàng mười cặp qua lại, những thuyền chở nặng đều phải chuyển bớt lúa, thường xảy ra việc thuyền hỏng mất lúa. Bọn lính canh đập thường nhân cơ hội làm bậy, ăn cắp nhiều. Kiều Duy Nhạc bèn cho xây hai cửa đập ở đập thứ ba trên sông phía tây, hai cửa cách nhau năm mươi bước, xây nhà che, đặt cửa chắn để giữ nước, đợi khi nước hồ Cát Sa bằng phẳng thì xả đi. Lại xây cầu ngang trên bờ, đắp đất chất đá để gia cố chân cầu. Từ đó, các tệ nạn được loại bỏ, thuyền chở hàng qua lại thuận lợi.
Kiều Duy Nhạc từng đến Tứ Châu để xét án, khi xét ngục, một viên pháp lại lỡ kết án tử hình một tù nhân. Duy Nhạc chất vấn, viên pháp lại khúm núm khóc và nói: “Mẹ tôi đã hơn tám mươi tuổi, nay tôi phạm tội thì mẹ tôi không thể sống được nữa.” Duy Nhạc động lòng, bèn bảo: “Sau này nếu triều đình truy hỏi, cứ nói rằng Chuyển vận sứ bảo kết án như vậy.” Viên pháp lại làm theo lời, được tha, còn Duy Nhạc bị phạt chuộc tội bằng 120 cân vàng, bị cách chức Chuyển vận sứ.
[11] Tháng ba, ngày Nhâm Tý, tổ chức yến tiệc lớn tại Đại Minh điện.
[12] Ngày Ất Mão, nhà sư Phong Nhiên cùng năm sáu đệ tử từ Nhật Bản đến triều yết. Phong Nhiên nói rằng Vua nước họ họ Vương, từ thủy tổ đến nay đã trải qua 64 đời, 85 vị Vua, các quan văn võ cũng đều là chức vụ cha truyền con nối.
Vua nghe xong than thở, bảo Thừa tướng: “Chỉ là một nước đảo nhỏ mà vẫn giữ được đạo xưa. Trung Quốc từ cuối Đường, thiên hạ phân liệt, đời sống các triều đại Ngũ đại lại càng ngắn ngủi, con cháu các đại thần ít ai kế tục được sự nghiệp của tổ phụ. Trẫm tuy đức không bằng các bậc thánh xưa, nhưng luôn cố gắng cầu trị, chỉ sợ ngục tụng có oan chưa được giải, chưa từng dám tự buông thả vui chơi với săn bắn, ca múa, mong trời cao soi xét, để lo tính kế lâu dài cho con cháu, khiến vận nước dài lâu, các đại thần cũng đời đời giữ được bổng lộc. Các khanh nên hết lòng phò tá Trẫm, đừng để chỉ có nước xa được hưởng phúc này.” Nhân đó ban cho Phong Nhiên áo cà sa màu tía, đối đãi rất hậu.
[13] Bính Ngọ, chọn Bí thư thừa Dương Diên Khánh cùng hơn mười người khác phân nhậm chức tri châu các nơi.
Nhân đó, Vua bảo tể tướng rằng: “Chức Thứ sử là chức gần gũi nhất với dân, nếu không chọn được người xứng đáng thì dân sẽ chịu họa. Xưa Tần Bành giữ chức Thái thú Dĩnh Xuyên, tôn sùng nho nhã, giáo hóa lan rộng, trong cõi xuất hiện điềm lành như phượng hoàng, kỳ lân, lúa tốt, sương ngọt, đủ thấy chính sự tốt đẹp.”
Tống Kỳ nói: “Tần Bành chỉ là một Thái thú quận mà chính sự tốt đẹp khiến trời ứng nghiệm như vậy, huống chi là bậc trị vì thiên hạ. Sao có thể nói thái bình không thể đạt, khí hòa không thể tụ được?”
(Diên Khánh, chưa rõ lai lịch.)
[14] Ngày Đinh Tỵ, Vua bảo tể tướng rằng: “Các bộ lạc phiên thuộc Hạ Châu đã yên ổn, những kẻ trước đây cường bạo khó trị đều quy thuận, tổng cộng bắt được hơn hai trăm bảy mươi tù trưởng, năm trăm hộ. Trong mười năm qua, người Nhung cướp đi hàng vạn người và dê ngựa, nay đều trả lại chủ. Trẫm từ trước đến nay phái tướng quân đi, đều dạy họ dùng chính sách mềm mỏng để thu phục, người Nhung sợ uy nên không cần dùng binh, đều nối gót quy phụ. Trẫm cũng lo việc vận lương phiền nhiễu, chỉ sai mang trà đến các bộ lạc để đổi lấy lương thực cung cấp cho quân đội, chưa từng bắt dân vận chuyển.”
Vua lại hỏi Lý Kế Phủng: “Khanh ở Hạ Châu dùng cách gì để khống chế các bộ lạc phiên thuộc?”
Kế Phủng đáp: “Người Nhung xảo quyệt hung hãn, thần chỉ ràng buộc họ mà thôi, chứ không thể khống chế được.”
[15] Trước đó, tại thôn Tắc Phòng, sông Hoàng Hà bị vỡ đê, huy động hơn mười vạn dân phu từ mùa thu đến mùa đông, vừa đắp xong lại bị vỡ lần nữa. Nhà Vua cho rằng mùa xuân là lúc gieo trồng, không nên làm phiền sức dân, bèn phát động năm vạn quân lính, sai Bộ quân Đô chỉ huy sứ Điền Trọng Tiến tổng đốc công việc. Cung phụng quan Lưu Cát tự nguyện xin đi, nói rằng nếu không đắp được đê, nguyện chịu tội diệt tộc. Nhà Vua khen ngợi ông, cho làm phó dưới quyền Trọng Tiến. Lưu Cát tự mình vác đất, cùng với dân phu làm việc cả ngày lẫn đêm, dặn cấp dưới không được tiết lộ. Khi sứ giả đến, phải ngầm hỏi mới biết được, về tâu lên, Nhà Vua rất vui.
Nội thị Thạch Kim Chấn phụ trách bảo vệ đê, tính tình hà khắc, được gọi là “Thạch Bộc Liệt”, thường hay xâm phạm và làm nhục Lưu Cát, nhưng Lưu Cát vẫn im lặng không so đo. Một hôm, Lưu Cát cùng Kim Chấn đi thuyền nhỏ ra giữa dòng, nói với ông ta: “Ông cậy thế gần gũi quyền quý, đã quá lấn lướt tôi. Tôi không sợ chết, sẽ cùng ông đến gặp Hà Bá thôi.” Định lắc thuyền lật úp, Kim Chấn kêu khóc, tát vào mặt mình van xin, Lưu Cát mới dừng lại. Từ đó, Kim Chấn không dám xâm phạm và làm nhục Lưu Cát nữa.
Ngày Kỷ Mùi, châu Hoạt tâu rằng đê sông Hoàng Hà đã được đắp xong, quần thần chúc mừng, công lao của Lưu Cát là lớn nhất, liền được phong làm Tây Kinh tác phường phó sứ, ban thưởng rất hậu. Nhà Vua làm bài “Bình Hà ca” để ca ngợi thành công, miễn thuế năm nay cho các châu huyện bị nước lụt ảnh hưởng.
[16] Ngày Kỷ Sửu, triệu tập tể tướng và cận thần thưởng hoa ở vườn sau, Nhà Vua nói: “Gió xuân ấm áp, vạn vật tốt tươi, bốn phương yên ổn, Trẫm lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui của mình, nên để các quan thị tòng và từ thần mỗi người làm thơ.” Từ đó bắt đầu có việc thưởng hoa làm thơ.
(Năm sau tháng tư thưởng hoa, câu cá, lại làm thơ, lần này chỉ thưởng hoa. Sách ‘Hội yếu’ cho rằng việc yến tiệc bắt đầu từ năm sau, nay ghi cả hai chi tiết này.)
[17] Ngày Nhâm Thân, Vua ngự đến vườn Hàm Phương dự yến tiệc và bắn cung. Tể tướng Tống Kỳ tâu: “Bệ hạ giương cung bắn tên, vẫn như mười lăm năm trước khi còn ở Tấn để.”
Vua nói: “Trẫm so với ngày trước sức lực chưa thấy suy giảm, nhưng trẻ thích bắn cung cưỡi ngựa, nay không làm nữa.” Và bảo Kỳ: “Nơi này ba bốn năm không đến một lần, đâu phải thường xuyên ra ngoài yến tiệc du ngoạn.”
Lúc ấy, Lưu Kế Nguyên, Lý Kế Phủng đều ngồi hầu, Kỳ nhân đó tán tụng sự thần vũ của Vua, cùng Lý Phưởng làm thơ, Vua họa lại và ban cho họ.
[18] Mùa xuân năm ấy, tể tướng tâu việc xong, Vua bảo: “Những sổ sách các khanh tâu lên đều là việc thường. Chỉ có việc thời vụ bất tiện, càng phải nói rõ sai sót, không được giấu giếm, Trẫm sẽ cân nhắc, làm theo lẽ phải. Nếu lời nói không đúng, cũng không trách.”
Tống Kỳ tâu: “Bệ hạ anh minh soi xét, không điều gì không thấu, lại còn khiêm tốn lắng nghe, chỉ tiếc kẻ hèn này ngu muội, không sao đáp ứng được ý Thánh.”
[19] Mùa hạ, tháng tư, ngày Ất Dậu, hơn nghìn người già ở núi Thái Sơn lại đến cửa khuyết xin phong thiền. Ngày Mậu Tý, quần thần dâng biểu xin phong thiền, biểu dâng ba lần. Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu định vào tháng 11 năm nay sẽ làm lễ phong thiền ở núi Thái Sơn.
[20] Cùng ngày, Vua ngự đến hồ Kim Minh để xem tập trận thủy chiến, bảo tể tướng: “Thủy chiến là việc của phương nam. Nay nơi đó đã yên, không còn dùng nữa, thường tập để tỏ ra không quên võ công.” Nhân đó ngự đến đài Giảng Vũ xem các quân bắn cung cưỡi ngựa, ai có võ nghệ siêu việt đều được ban lụa. Trở về lên lầu phía bắc vườn Quỳnh Lâm, ban rượu cho các quan, ném tiền xuống dưới lầu để các nghệ nhân tranh nhau lấy, vui vẻ đến tối mới tan.
[21] Ngày Bính Thân, xuống chiếu cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Hỗ Mông, học sĩ Giả Hoàng Trung, Tán kị thường thị Từ Huyền cùng bàn định lễ nghi phong thiền.
[22] Ngày Kỷ Hợi, sai Nam tác phường phó sứ Lý Thần Hữu cùng bốn người sửa chữa đường từ kinh đô đến núi Thái Sơn.
[23] Ngày Canh Tý, lấy Thừa tướng Tống Kỳ làm Phong thiền đại lễ sứ, Hàn lâm học sĩ Tống Bạch làm Lỗ bạ sứ, Giả Hoàng Trung làm Nghi trượng sứ. Tống Kỳ và các quan bàn việc chuẩn bị nghi trượng dẫn đường dọc theo lộ trình. Vua nói: “Trẫm lần này đi là để cầu phúc cho dân chúng, nếu quá nghiêm trang cầu kỳ, không phải ý của Trẫm.” Bèn hạ chiếu chỉ chuẩn bị nghi trượng khi tế cáo tại tông miếu và khi đến chân núi Thái Sơn, còn trên đường đi không cần bày biện.
[24] Ngày Giáp Thìn, người dân thường Triệu Thùy Khánh[2] đến nộp thư vào hòm thư nói rằng: “Hoàng gia nên vượt qua Ngũ đại mà kế thừa nhà Đường, là mệnh Kim đức. Nếu lấy nhà Hậu Lương kế thừa nhà Đường, truyền đến Hậu Đường rồi đến triều đại ta[3], cũng hợp là mệnh Kim đức. Hơn nữa, từ khi thiền nhượng đến nay, điềm lành liên tiếp xuất hiện, màu sắc lông chim, những loài màu trắng không kể xiết, đều là ứng nghiệm của mệnh Kim đức. Kính mong sửa đổi niên hiệu, thay đổi màu sắc xe cộ, quần áo và cờ xí[4] để kế thừa mệnh trời.”
Sự việc được đưa xuống Thượng thư tỉnh, triệu tập trăm quan để bàn định. Hữu tán kị thường thị Từ Huyền cùng các quan tấu rằng: “Ngũ vận kế thừa nhau, việc lớn của quốc gia, đã được ghi chép từ trước, rõ ràng trong sử sách. Gần đây, cuối thời Đường loạn lạc, họ Chu Lương soán ngôi, Trang Tông sớm được ghi vào tông tịch, kế thừa công lao của tiên tổ, thân chinh báo thù quốc gia, thiên hạ đều ca ngợi. Nay so sánh họ Lương với những kẻ như Nghệ, Trác, Vương Mạng, không thể xem là chính thống được. Trang Tông trung hưng cơ nghiệp nhà Đường, khôi phục vận Thổ. Sau đó, các triều đại kế tiếp nhau, nhà Tấn lấy vận Kim, nhà Hán lấy vận Thủy, nhà Chu lấy vận Mộc. Trời sinh ra Hoàng Tống, ứng với vận Hỏa đức. Huống chi lúc lập quốc đã tế tự Hoả đế là Cảm sinh đế, đến nay đã 25 năm, lại còn tế lễ ở Viên khâu đến sáu lần. Từ đó, ngày càng hưng thịnh, mùa màng bội thu, binh đao ngừng nghỉ. Nếu chế độ thánh thượng không hợp ý trời, sao có thể có thái bình như ngày nay? Đây đều là do trời cao ban phúc, tông miếu linh thiêng, giúp khôi phục vận mệnh thống nhất. Sao có thể vì lời dâng hiến mà thay đổi ngay, e rằng trái ý trời, điều này thật không ổn.”
Lại có ý kiến cho rằng: “Nhà Lương đến nhà Chu không hợp để kế thừa ngũ vận, mong triều đại ta nối tiếp nhà Đường, nên là đức Kim. Hơn nữa, từ nhà Hậu Đường về sau, chiếm cứ trung nguyên, hợp lẽ nên được coi là chính thống, nay đột nhiên bị phế bỏ, lý lẽ thật vô cùng. Huống hồ, ngũ vận thay đổi, đều là kế thừa trực tiếp, sự chuyển giao giữa chất văn nối tiếp liền mạch, không thể ngắt quãng, há có thể bỏ qua mấy đời trên, kế thừa vận mệnh trăm năm? Điều này thật không thể chấp nhận. Theo sách ‘Đường thư’, năm Thiên Bảo thứ 9, Thôi Xương đã dâng tấu rằng: ‘Nhà Ngụy, Tấn đến Chu, Tùy đều không được coi là chính thống.’ Mong nhà Đường kế thừa từ xa nhà Hán, lập con cháu nhà Chu, Hán làm hậu duệ các vương, thiết lập lễ Tam Khác. Lúc đó, trong triều có nhiều ý kiến trái chiều, Học sĩ Tập Hiền Vệ Bao đã ủng hộ Lý Lâm Phủ, thực hiện việc này, đến năm thứ 12, sau khi Lý Lâm Phủ qua đời, lại lấy con cháu nhà Ngụy, Chu, Tùy làm Tam Khác như cũ, Thôi Xương và Vệ Bao đều bị giáng chức xa, việc này lại được ghi chép rõ ràng trước đây. Nay quốc gia sắp làm lễ phong thiền, nên tuân theo chế định, để đáp lại ân đức trời cao, kính mong Thánh Tống mãi mãi là đức Hỏa.” Được chấp thuận.
[25] Tháng đó, Vương Diên Đức từ Cao Xương trở về[5]. Diên Đức tường trình:
Ban đầu xuất phát từ kinh đô, sang năm sau, tháng tư mới đến nước Cao Xương. Sư Tử Vương đang tránh nóng ở Bắc Đình, giao cho cậu là A Đa Vu Việt trông coi nước. Trước đó, [A Đa Vu Việt] sai người nhắn với Diên Đức rằng: “Ta là cậu của Vương[6], sứ giả có lạy ta không?” Diên Đức đáp: “Ta mang mệnh triều đình đến, dù gặp Vương cũng không lạy.” A Đa Vu Việt vài ngày sau mới gặp mặt[7], nhưng tiếp đãi rất cung kính.
Sư Tử Vương mời Diên Đức đến Bắc Đình, đi qua Giao Hà Châu[8], lên Kim Lĩnh, tổng cộng mười bốn ngày mới đến.
Sư Tử Vương lại sai người nhắn trước, sẽ chọn ngày tốt để gặp sứ giả, mong đừng ngại vì chờ đợi lâu. Đến ngày thứ bảy mới gặp, Vương cùng các Vương tử và thị giả đều quay hướng đông lạy, nhận lễ vật, có người cầm khánh gõ nhịp, Vương nghe tiếng khánh mới lạy. Sau đó, con cháu và thân thích của Vương đều ra, vây quanh lạy tạ nhận lễ. Rồi mở tiệc vui chơi, diễn các trò hài. Lại nhiều ngày liền cùng Diên Đức đi thuyền, thăm viếng các chùa chiền.
Ở Cao Xương vẫn dùng lịch năm Khai Nguyên thứ bảy, xem ngày mùng 9 tháng 3 là Tết Hàn Thực, hai kỳ Tế Xã và Đông Chí cũng vậy. Các chùa phần nhiều xây từ thời Đường, biển hiệu và kinh sách cũng do Đường ban tặng. Tháng bảy, [Sư Tử Vương] sai Diên Đức trở về trước, Quốc vương đến tháng chín mới về.
Lúc đó, sứ giả nước Khiết Đan đến, nói với Sư Tử Vương rằng: “Nghe nói nhà Hán cử sứ giả đi Đạt Đát mà đường đi qua lãnh thổ của Vương, dụ dỗ Vương dòm ngó biên cương. Nên sớm đưa họ đến Đạt Đát, không để họ lưu lại lâu.” Rồi lại nói: “Sứ giả nhà Hán đến dò xét lãnh thổ của Vương[9], chắc có ý đồ khác, Vương nên xem xét kỹ.”
Diên Đức biết được lời này, liền nói với Vương: “Giặc Khuyển Nhung vốn không thuận với Trung Quốc, nay lại giở trò phản gián, ta muốn giết hắn.” Vương khuyên can mãi mới thôi.
Ban đầu, Diên Đức từ Hạ Châu đi qua trấn Vương Đình[10], Hoàng Dương Bình, ngang qua các bộ lạc Phiên, đều dùng chiếu thư ban cho quân trưởng áo bào, đai vàng, lụa vải[11]. Quân trưởng các nơi đều cử sứ giả đến tạ ơn. Năm sau, Diên Đức cùng với hơn trăm sứ giả đi theo con đường cũ mà trở về, đến kinh sư.
Khi Diên Đức mới đến đất Đạt Đát, thấy nhiều con cháu của những người bị bắt làm tù binh từ cuối thời Tấn, họ cùng nhau ra đón, dâng đồ ăn thức uống, hỏi thăm quê quán và người thân, lòng đầy xúc động, lưu lại mười ngày không nỡ rời đi.
[26] Tháng năm, ngày Đinh Hợi, Vua đến phía nam kinh thành xem lúa mạch. Sau đó, Vua đến vườn Ngọc Tân, ngắm cá, dự yến tiệc và bắn cung, nói với các cận thần rằng: “Trẫm xem các đế vương từ thời Ngũ đại trở lại đây, ban đầu cần kiệm chăm chỉ, về sau quên mất gian khổ, buông thả hưởng lạc, không quan tâm đến binh sĩ, sinh lòng nghi kỵ, nên sụp đổ nhanh chóng, đều là tự chuốc lấy. Những người ở ngôi cao nên lấy đó làm răn.”
[27] Ngày Giáp Tí, lấy Giám sát ngự sử Tống Đường làm Thiểm Tây chuyển vận sứ.
Trước đó, Đường từng giữ chức Tri Tần châu, bèn sai Vi Đản thay thế. Đường rời Tần chưa đầy trăm ngày, Đản vì phạm tội bị bắt giam, Vua thấy Đường trước đây có thành tích trị an, bèn ra lệnh cho Đường giữ lại chức Tri Tần châu, ban thưởng 50 vạn tiền. Đường ổn định các tộc Nhung, trong bộ được yên ổn, rồi được thăng làm Tỷ bộ viên ngoại lang, tổng cộng 6 năm mới được triệu về. Đường là người Vị Nam.
[28] Ngày Đinh Sửu, hai điện Càn Nguyên và Văn Minh xảy ra hỏa hoạn. Hôm ấy, chiều tối, mây đen kéo đến, gió sấm dữ dội, đêm đến mưa to sấm chớp, lửa bùng lên từ cửa Nguyệt Hoa, người gác cổng không hay biết, lửa lan dần về phía bắc, đến khoảng giờ Thìn-Tỵ ngày hôm sau mới tắt.
[29] Tháng này, bãi bỏ chức Nông sư ở các châu.
[30] Chiếu cho các quan chức quyền nhiếp ở Quảng Nam đều được cấp giấy ấn, lệnh các châu theo lệ của chính quan ghi lại công tội trong nhiệm kỳ.
[31] Lấy Tướng tác giám thừa Lý Nguyên Cát, Đinh Cố Ngôn làm đường hậu quan, ban áo đỏ, đai bạc, hốt ngà và 100 nghìn tiền. Từ đây, quan Kinh được bổ nhiệm làm đường hậu quan[12].
[32] Diêm thiết sứ Vương Minh xin mở lệnh cấm muối ở Giang Nam, tính mỗi năm bán được 53 vạn 5 nghìn quán, cấp muối cho dân, thu tiền theo thuế, 24 vạn quán cho thương nhân buôn bán, thu thuế, được Vua chấp thuận.
[33] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu cầu lời nói thẳng, đại ý rằng: “Tai họa đã xảy ra ở chính điện, chính là để cảnh cáo Trẫm. Há chẳng phải do hình phạt và ban thưởng có sai lầm, việc sắp xếp không đúng; hoặc do kẻ thân cận che giấu, khiến tình hình bị bưng bít, thuế má chưa được công bằng, hiền tài nhiều người bị bỏ sót. Chỉ cần một điều trong số đó, cũng đủ làm rối loạn chính sự. Các bề tôi trong ngoài, đều nên thẳng thắn, không giấu giếm.”
Rồi nhà Vua nói với Thừa tướng: “Trẫm tìm kiếm lời nói ngay thẳng để sửa chữa lỗi lầm của mình. Xưa Vua Đại Vũ kính cẩn đón nhận lời phải, đời sau khen ngợi sự sáng suốt của ngài. Nay những người can gián nếu thực sự chỉ ra được những tệ nạn của thời đại, Trẫm há tiếc lời khen như Đại Vũ sao? Hơn nữa, đạo làm Vua chính là phải nghe rộng việc bên ngoài, phân biệt thiện ác. Trẫm trị vì thiên hạ, cẩn thận siêng năng, sắp tròn mười năm, luôn nghĩ đến bờ cõi muôn dặm, nhưng lại ở sâu trong chín cửa cung, tình người khó lòng thấu hiểu hết. Nếu chẳng chịu nghe ngóng, thì làm sao biết được năng lực của quan lại, lợi hại của dân chúng? Người xưa dùng chuỗi ngọc che mắt, bông tơ bịt tai để không bị ngoại vật làm mờ mắt, điếc tai. Nếu áp dụng cách đó vào thời nay, thì không phải là đạo trị quốc đúng đắn.”
Tống Kỳ nói: “Đấng quân vương mở bốn mắt, thông bốn tai, nhờ đó mà nhìn xa nghe rộng, thấu hiểu tình hình. Bệ hạ rộng hỏi việc đời, xét xử oan khuất, cảnh cáo quan lại lười nhác, điều chỉnh chế độ chưa hợp lý. Siêng năng không mệt mỏi, từ đó đạt được thái bình, thiên hạ thật may mắn thay.”
(Trong ‘Bản kỷ’, sự việc “Minh mục đạt thông” được ghi phụ vào cuối tháng bảy dưới mục Thái Nhất cung, theo ‘Bảo huấn’.)
[34] Ngày Nhâm Thìn, Vua ban chiếu rằng: “Các chức vụ trong phủ, quan lại các châu, huyện, nếu biết được lợi hại trong dân tục, sự tốt xấu của chính lệnh, đều được phép gửi văn bản theo hệ thống truyền trạm của bản châu để tâu lên. Những lời tâu có thể áp dụng được thì nhất định sẽ ban thưởng, còn nếu không có gì đáng lấy thì cũng không bị tội.”
Trước đó, các chức Chuyển vận sứ, Tri châu và Thông phán [13] đều được dâng thư trình bày việc, còn các quan lại thuộc cấp châu huyện thì không. Vua lo lắng tình hình dưới bị bưng bít, nên ban chiếu này.[14].
[35] Vua nói với Xu mật sứ Vương Hiển rằng: “Năm nay mưa gió tuy hòa thuận, nhưng vẫn lo lúa hoa chưa được tươi tốt. Hôm qua sai Trung sứ đi đến các vùng ngoài trăm dặm quanh kinh thành, nhổ vài chục cây lúa và đậu, đều cao vài thước, thực là mạ khỏe.” Vua bèn lấy ra cho quần thần xem, vẻ mặt đầy vui mừng.
[36] Hôm đó, có người dân thường dâng thư nói về thời chính, lời lẽ ngạo mạn. Vua không trị tội, mà an ủi rồi cho về.
[37] Ngày Đinh Dậu, Vua nói với Thừa tướng rằng: “Các vị đế vương thời trước phần nhiều tự coi mình ở địa vị cao quý, nghiêm khắc, bề tôi không dám tùy tiện dâng lời. Trẫm thường cùng các khanh thân mật bàn bạc việc thời sự, là muốn thông suốt tình cảm trên dưới, không để điều gì bị che giấu. Các khanh hãy thẳng thắn thi hành, ngăn chặn việc nhờ vả, chớ lo vì lời đời mài lưỡi sắc như dao. Gần đây trong ngoài bàn tán việc triều chính thế nào?”
Tống Kỳ đáp: “Bệ hạ chăm lo trị nước, xa gần đều không có lời xa cách.”
Vua nói: “Dù là lời vọng như bức thư của kẻ dân thường hôm qua, Trẫm cũng chưa từng trách phạt.”
Kỳ nói: “Người mù quáng ấy đáng bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng hái cỏ trên đồng cũng không bỏ, để mở đường cho lời can gián, đó là đức lớn của bậc thánh vương.”
[38] Ngày Canh Tý, bắt đầu lệnh cho các châu mười ngày một lần xét lại án tù.
[39] Ngày Nhâm Dần, Vua nói với Thừa tướng: “Lễ phong thiền đã bỏ lâu nay, nhưng nay thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, thực hiện việc này cũng phải lẽ. Tuy nhiên, chính điện vừa bị hỏa hoạn, nếu tổ chức đại sự ngay thì e rằng chưa hợp ý trời. Hơn nữa, mùa hè đang nắng nóng gay gắt, ta lo ngại việc này sẽ làm hao tổn sức dân, nên từ tốn dần cũng chưa muộn.” Vua liền ban chiếu dừng lễ phong thiền, đến đông chí sẽ tổ chức việc tế lễ ở Nam Giao.
[40] Mùa thu, tháng bảy, ngày Nhâm Tý, đổi tên điện Càn Nguyên thành điện Triều Nguyên, điện Văn Minh thành điện Văn Đức.
[41] Trước đó, năm sứ ở Nam Giao đều tạm dùng ấn của các cơ quan khác. Đến ngày Quý Sửu, Vua mới lệnh đúc ấn mới và ban cấp cho họ.
[42] Vua nói [15]: “Ngự sử đài, cạnh cổng Cáp, là nơi chuẩn mực cho bốn phương. Nghe nói ở Ngự sử đài xét án, nhiều ngự sử không tự mình thân cận, ngồi sau rèm ung dung tự đại, quyền xử án đều giao cho lại dịch. Muốn dân không oan, pháp không lạm, sao có thể được?” Vua liền ban chiếu từ nay việc xét án, ngự sử phải tự mình thực hiện, không được giao hết cho lại dịch.
[43] Ngày Canh Thân, đổi viện Quỹ thành viện Đăng Văn Kiểm, trạm Đông Diên Ân Quỹ thành trạm Sùng Nhân Kiểm, trạm Nam Chiêu Gián Quỹ thành trạm Tư Gián Kiểm, trạm Tây Thân Oan Quỹ thành trạm Thân Minh Kiểm, trạm Bắc Thông Huyền Quỹ thành trạm Chiêu Hiền Kiểm. Vẫn lệnh viện Gián cử một quan gián viên phụ trách như trước.
[44] Mùa thu, tháng tám, ngày Mậu Dần (mùng 1), Vua bảo tể tướng rằng: “Mỗi khi xem tấu án từ Đại Lý, nếu có chi tiết nào chưa đầy đủ, phải chuyển văn án để xét lại, bởi địa phương xa xôi, có khi cách đến mấy nghìn dặm, tù nhân bị giam lâu ngày, thật đáng thương. Từ nay các khanh hãy xét kỹ, nếu việc không liên quan đến tính mạng con người, thì cứ căn cứ vào tội mà phân xử, không cần tra xét lại.”
Bắt đầu ra lệnh cho các châu, tội đánh roi và gậy không cần bắt người làm chứng, quan trưởng có thể quyết định ngay, không cần giao cho cơ quan khác. Quần thần nhận chiếu tra án, án đã xong, gửi nhanh lên triều đình, cơ quan xét xử xong, lại gửi nhanh xuống. Các châu trình án nghi ngờ, cơ quan xét kỹ mà không thấy có điều gì đáng ngờ, thì các quan đều bị xử tội vi phạm chế độ. Những án nghi ngờ cần tấu lên, cũng gửi nhanh để báo.
[45] Ngày Quý Tỵ, có người dân thường dùng túi đen đựng thư dâng lên, Vua xem qua, thấy toàn là việc tầm thường, hơn nữa lời lẽ quá ngông cuồng, nhưng Vua không trách móc. Nhân đó bảo tể tướng: “Gần đây ta hạ chiếu thăm dò lợi hại trong dân, nhưng người dâng thư phần nhiều không biết thứ bậc trong triều đình, lời nói thường bừa bãi, không hợp thời cơ. Vốn muốn thông suốt tình hình dưới, việc không bị bế tắc, nên dù nói ngông cũng chấp nhận. Từ xưa bề tôi can gián Vua, vốn là việc tốt, nhưng phải nói đúng lý. Quốc gia bổ nhiệm chức vụ cũng cần người công bằng, nếu kẻ nào vì bán đạo lấy tiếng, cầu may thăng tiến, đều không phải người tốt.”
Tống Kỳ nói: “Tiểu thần dâng chương tấu, Bệ hạ đều xem xét kỹ, thiện ác hiền ngu không thể lọt lưới trời. Nếu trong trăm việc có một hai điều đáng lấy, cũng là lợi ích cho quốc gia.”
[46] Hữu bổ khuyết, tri Mục châu Điền Tích dâng sớ rằng:
Thần kính nghĩ, tài trí của mình không thể so với người xưa, lại giữ chức ở hàng ngũ can gián, dám không thường xuyên suy nghĩ bù đắp để báo đáp ân đức của Thánh thượng. Ngày 13 tháng 9 năm thứ 6, thần đến cửa cung dâng thư, liều chết trình bày việc, Bệ hạ bèn ban dụ cho phép người được thẳng thắn can gián, xuống chiếu khen thần dám nói. Ngày 14 tháng 12 năm thứ 7, thần lại dâng tấu sớ lên, nhưng không biết có đến được tay Vua hay không, tuy cầu xin được dùng lời thẳng, nhưng không biết có được thi hành hay không. Nay Bệ hạ có việc cần, đang khát khao nghe lời nói chí thiết, có việc làm đang mong chờ lời can gián thẳng thắn, tự trách mình, tu sửa đức hạnh để mới mẻ hơn. Thần cho rằng trách nhiệm thuộc về các bề tôi gần gũi chứ không phải thuộc về Thánh thượng, tội lỗi ở hàng ngũ bề tôi chứ không phải ở Vua.
Gần đây, Bệ hạ có việc ban lệnh buổi sớm sửa lại chiều tối, do chiếu chỉ ban ra có lúc không hợp lý, mà không có người nào dám phê phán, đó là lỗi của chức Cấp sự trung. Nếu Cấp sự trung được bổ nhiệm người xứng đáng[16], chiếu chỉ nếu được cho phép phê phán, thì những chiếu chỉ ban ra sẽ không khi nào không hợp lý, những việc làm sẽ không khi nào không tinh tế. Việc không tinh tế thì sẽ trở thành điển chương, chiếu chỉ không hợp lý thì sẽ được biên soạn thành quy cách, làm sao có nỗi ban lệnh ban ngày sửa lại chiều tối, làm sao có lo sợ việc không tinh tế hay không hợp lý?
Đó là lý do thần cho rằng trách nhiệm thuộc về các bề tôi gần gũi chứ không phải thuộc về Thánh thượng.
Thần lại thấy Bệ hạ có việc bỏ gần tìm xa, do lời nói và hành động chưa hợp với đạo lý, mà không ai dám can gián, đó là lỗi của các quan Thập di, Bổ khuyết. Nay các quan Thập di, Bổ khuyết là bề tôi hầu cận, mà không được ở bên cạnh, chức phận vốn phải dâng lời can gián, nhưng chưa từng dâng sớ trình. Từ đó, quốc gia có việc gì bất tiện, Thập di, Bổ khuyết không dám can ngăn; triều đình có luật lệ nào trái đạo, Thập di, Bổ khuyết không dám nói. Lại thêm thời gian dài thái bình, thiên hạ thống nhất, khiến Bệ hạ cho rằng thái bình tự nhiên, tự cho mình công nghiệp rộng lớn, ngày qua tháng lại, dần thành thánh tính, bên trái lấy, bên phải theo, đều là mưu trí của Bệ hạ. Vì thế, Bệ hạ nói một lời, liền cho rằng có thể so sánh với Thang, Vũ; Bệ hạ làm một việc, liền cho rằng có thể nối tiếp Nghiêu, Thuấn.
Từ khi lên ngôi đến nay đã chín năm, bốn phương tuy yên ổn, vạn quốc tuy an định, nhưng hình phạt chưa được giảm nhẹ, thuỷ hạn chưa được điều hoà, Bệ hạ bảo là thái bình, ai dám không bảo là thái bình, Bệ hạ bảo là đạo lý, ai dám không bảo là đạo lý! Vừa muốn vì dân cầu phúc, báo đáp công trời, làm việc tại Thái Sơn, dâng lễ lên Thượng đế, mưu người tuy thành, ý trời chưa thuận. Lửa trong cấm thành, sắp khiến bậc minh quân chợt tỉnh, chiếu xuống khắp thiên hạ, bèn truyền cáo đến dân chúng. Các quan cận thần nghe lời Bệ hạ tỉnh ngộ, há không lo sợ; các quan gián quan xem chiếu Bệ hạ lo lắng, ai chẳng hoang mang.
Bởi vậy, thần cho rằng lỗi ở các quan cận thần, chứ không ở Bệ hạ, tội ở các quan gián quan, chứ không ở Bệ hạ. Thần chịu tội chết, tội chết.
Nhưng thần đã hai lần dâng sớ, mà Bệ hạ không dùng một lời, nay thần mấy năm ở ngoài, mà Bệ hạ giao cho việc phân lo, bận rộn theo đám đông, lo việc bỏ bê không rảnh, hối hả có chí, nghĩ đến việc can gián chưa làm được. Nay may được trời mở lòng thánh, thần giúp vận nước, cảm nhận Bệ hạ chờ đợi lời can gián thẳng thắn, khiến Bệ hạ chuyên tâm tìm lời nghịch tai, thần bèn lại dốc hết lòng dạ, trình bày ý kiến thô thiển.
Thần đã nói Bệ hạ có chuyện ban lệnh buổi sáng rồi buổi chiều đã thay đổi, xin lấy vài việc để làm rõ: việc đặt ra rồi bỏ ngay là chức Nông sư, việc cấm đoán nhưng không nghiêm là xe và y phục.
Thần đã nói Bệ hạ có việc bỏ gần tìm xa, xin lấy vài điều để làm rõ: việc Thừa tướng không được dùng người, mà ủy thác cho các viên lang sai khiển; việc cận thần không chuyên chịu trách nhiệm, mà lại đòi các lệnh lục nộp chương tấu. Từ đó, chương tấu sẽ tăng nhiều, việc nghe dùng sẽ rộng rãi; việc nghe dùng đã rộng thì điều lệ chế độ sẽ phức tạp, điều lệ chế độ đã phức tạp thì người tuân theo sẽ ít; vì người tuân theo ít nên pháp lệnh không thực thi được, pháp lệnh không thực thi được là do quy hoạch chưa thỏa đáng. Như việc năm trước ban sắc chỉ, lệnh các châu phụ cận sai chức Ty lý phán quan; đến năm nay lại hạ chiếu, cho phép bản châu tiếp tục sai đặt như cũ. Lại như năm trước ban sắc chỉ, các quan lại lo về thuế khóa, ai hoàn thành trước hạn thì được thăng chức, chưa xong việc sau hạn sẽ bị giáng chức, không căn cứ vào lớn nhỏ của huyện, khó dễ của thuế, phì bạc của đất đai, mùa màng được mất, phong tục chăm lười, năng lực của quan lại, mà đều chịu ràng buộc bởi thời hạn, lấy thăng giáng làm tiêu chuẩn. Nhưng từ đó về sau, chưa từng nghe ai bị giáng chức vì chậm hạn, hay ai được thăng chức vì xong việc trước hạn. Điều này chẳng phải chỉ là lời nói suông, tỏ ra thiếu tin cậy sao!
Xin Bệ hạ từ nay về sau, mỗi khi có chương tấu hay điều gì trình bày, may sao Bệ hạ xem xét kỹ lưỡng, rồi sai các đại thần bàn bạc rồi thi hành. Bởi vì bề tôi trình bày thì gọi là phong chương, Bệ hạ thi hành thì đó là pháp lệnh. Pháp lệnh cần đơn giản chứ không nên phức tạp, chế độ cần bền vững chứ không nên thay đổi luôn. Thay đổi không nhất quán là bộc lộ sự suy nghĩ không tinh tế, quá nhiều điều lệ khó theo là khiến người ta bối rối không biết làm sao.
Kinh ‘Thượng thư’ nói: “Cai trị dân chúng phải giản dị.” Lại nói: “Có được người thầy giỏi thì thành bậc Vương.” Nay nếu các bậc tể thần tài đức[17], xin Bệ hạ tin dùng họ[18]. Nếu tể tướng không tài đức, xin Bệ hạ chọn người có thể dùng mà giao việc, sao lại đặt họ vào hàng bề tôi vô dụng, rồi nghi ngờ như đối với kẻ thường dân? Bá quan mỗi người đều giữ chức vụ của mình, xin Bệ hạ lắng nghe và sử dụng họ. Nếu bá quan chưa xứng với chức vụ, xin Bệ hạ cân nhắc tài năng mà sử dụng, sao lại đặt họ vào hàng người thừa, rồi đối đãi như kẻ không cần thiết?
Thần cho rằng nếu trăm chức đều được cử người tài, thì muôn việc tự nhiên sẽ ổn định; nếu bá quan chưa tu chỉnh[19], thì muôn việc cũng sẽ hủy bại. Nếu vừa giao việc lại nghi ngờ, thì trên dưới không đồng lòng; vừa nghi ngờ lại sử dụng, thì quân thần không hòa hợp. Vì sao vậy? Nghi ngờ sinh ra lời gièm pha, gièm pha lại sinh ra nghi ngờ. Nghi ngờ từ gièm pha mà ra, thì đạo cha con đôi khi thiếu đi lòng nhân ái và hiếu thảo; gièm pha do nghi ngờ mà nảy sinh, thì mối quan hệ quân thần có khi biến thành thù hận. Nguỵ Văn Hầu đốt sách gièm pha, Bệ hạ chắc đã từng biết; Lệnh Hồ Sở có bàn về biện pháp chống gièm, Bệ hạ nên xét kỹ. Như thế mới bảo toàn được lòng trung của bề tôi từ đầu đến cuối, duy trì được ân tín của bậc quân vương, đúng là Vua là đầu, bề tôi là chân tay vậy.
(Đoạn này trích từ ‘Tục Cẩm Lý Kỳ Cựu Truyền’.)
[47] Tháng chín. Ban đầu, Lý Kế Bổng vào triều, em ông là Hạ châu Phiên lạc sứ Kế Thiên ở lại Ngân châu.
Khi chiếu chỉ truyền đưa thân thuộc của Kế Bổng về kinh, chỉ có Kế Thiên không muốn vào nội địa, lúc đó ông mười bảy tuổi, dũng cảm và mưu lược, giả vờ nói mẹ nuôi đã chết, đem ra ngoại thành chôn cất, giấu binh khí trong quan tài, cùng vài chục tùy tùng chạy vào vùng Hạ châu Phiên tộc địa bàn là Địa Cân Trạch, cách Hạ châu ba trăm dặm về phía đông bắc, đưa tượng tổ tiên là Di Hưng ra cho người Hạ xem, người Hạ đều lạy khóc, Kế Thiên tự nói: “Ta là con cháu họ Lý, ắt sẽ khôi phục tông tộc.” Các bộ lạc dần quy phụ, từng cử người dâng biểu đến Lân châu cống ngựa và lạc đà. Chiếu thư chiêu dụ, Kế Thiên không ra.
Tháng đó, Tri Hạ châu Doãn Hiến dò biết chỗ ở của Kế Thiên, cùng Tuần kiểm sứ Tào Quang Thực chọn kị binh tinh nhuệ, đêm kéo quân đánh úp Địa Cân Trạch, sau hai ngày đêm thì đến, chém được năm trăm thủ cấp, đốt hơn bốn trăm lều trại, bắt được mẹ và vợ của Kế Thiên cùng hàng vạn cừu, ngựa, khí giới, Kế Thiên chỉ thoát được một mình.
(Bản kỉ, Thực lục chép sự việc này vào tháng mười ngày Canh Dần, có lẽ dựa vào tấu báo đến, nay chuyển vào tháng chín.
‘Lã Hối Chính Huệ công bổ truyền’ nói: Bảo An quân tấu bắt được mẹ của Lý Kế Thiên, Thái Tông rất vui mừng. Lúc đó Khấu Chuẩn làm Xu mật phó sứ, Vua chỉ triệu Khấu Chuẩn vào bàn.
Khấu Chuẩn lui ra, đi qua chỗ ở của tể tướng mà không vào, ông sai người mời đến, hỏi: “Bệ hạ triệu ông làm gì?”
Khấu Chuẩn nói: “Bàn việc biên giới.”
Ông hỏi: “Bệ hạ có dặn ông đừng nói với tôi không?”
Khấu Chuẩn nói: “Không phải.”
Ông nói: “Nếu là việc biên giới thông thường, việc của Xu mật, tôi không cần biết. Nhưng nếu là việc quốc gia đại sự, tôi làm tể tướng, không thể không biết.” Khấu Chuẩn báo việc bắt được mẹ của Kế Thiên, ông hỏi: “Xử trí thế nào?”
Khấu Chuẩn nói: “Muốn chém ở ngoài cửa Bắc Bảo An để răn đe kẻ nghịch.”
Ông hỏi: “Bệ hạ nghĩ sao?”
Khấu Chuẩn nói: “Bệ hạ cho là phải, sai hạ quan ở Xu mật viện soạn văn thư.”
Ông nói: “Nếu làm vậy, không phải là kế hay. Xin ông hoãn lại, tôi sẽ tâu lại.” Liền gọi lại cửa, xin vào yết kiến Vua. Vua cho vào, ông gặp Vua, kể lại lời Khấu Chuẩn, và nói: “Ngày xưa Hạng Vũ bắt được Thái Công, định nấu chết, Hán Cao Tổ nói, xin chia cho ta một chén canh. Người làm việc lớn không đoái hoài đến người thân, huống chi Kế Thiên là kẻ ngoài biên cương phản nghịch! Bệ hạ hôm nay giết mẹ hắn, ngày mai có bắt được hắn không? Nếu không, chỉ thêm oán thù và khiến lòng phản nghịch kiên định hơn mà thôi.”
Vua hỏi: “Vậy thì nên làm gì?”
Ông nói: “Theo ý thần, nên đưa bà ấy đến Diên châu, nuôi dưỡng để chiêu dụ Kế Thiên, tuy chưa thể hàng ngay, nhưng có thể ràng buộc lòng hắn, và mẹ hắn sống chết nằm trong tay ta.”
Vua vỗ bàn khen hay, nói: “Không có khanh, suýt nữa ta phạm sai lầm.”
Theo kế của Công. Mẹ Kế Thiên sau đó bệnh chết ở Diên Châu, Kế Thiên không lâu cũng qua đời, con trai ông cuối cùng đã quy thuận và xin hàng.
Xét sách ‘Ký Văn’ của Tư Mã Quang có ghi chép việc này, ‘Bổ Truyền’ của Lã Hối và ‘Tổ Đoan Truyền’ cũng chép tương tự. Nhưng khi khảo cứu thì thấy không phù hợp với chính sử. Việc bắt được mẹ Kế Thiên thực chất xảy ra vào tháng 9 năm Ung Hi thứ nhất, lúc đó Đoan chưa tham gia chính sự, Chuẩn cũng chưa vào Xu phủ. Tháng 4 năm Thuần Hóa thứ hai, Chuẩn mới được làm Xu phó, tháng 9 đổi làm Đồng tri. Tháng 6 năm Thuần Hóa thứ tư, Chuẩn bị cách chức, Đoan mới tham gia chính sự. Tháng 9 năm thứ năm, Chuẩn cũng tham gia chính sự, cùng ở Trung thư. Tháng 4 năm Chí Đạo thứ nhất, Đoan được phong làm Tướng, Chuẩn vẫn giữ chức Tham chính như cũ. Tháng 7 năm Chí Đạo thứ hai, Chuẩn bị bãi chức Tham chính, Đoan vẫn ở ngôi Tướng như cũ. Tháng 10 năm Hàm Bình thứ nhất, Đoan bị bãi chức Tướng. Đoan ở Trung thư tổng cộng sáu năm, khi mới làm Tham chính, Chuẩn đã bị bãi chức Xu phó rồi. ‘Bổ Truyền’ và ‘Ký Văn’ ắt có sai sót.
Hơn nữa, khi bắt được mẹ Kế Thiên, Đoan và Chuẩn đều chưa nổi tiếng, nên nay không lấy làm căn cứ. Tháng 4 năm Thuần Hóa thứ năm, chiếu chỉ tước bỏ tên họ được ban của Kế Thiên, hoặc Chuẩn nhân việc này đề nghị chém mẹ Kế Thiên, nhưng Đoan đã cứu bà. Nhưng tháng 9 năm đó, Chuẩn mới tham gia chính sự, nên việc này nên đặt sau tháng 9, hoặc đặt vào tháng 9 năm Chí Đạo thứ nhất khi tên họ được ban bị tước lại[20]. Hai người cùng ở triều đình, những chuyện về Tể tướng và Xu mật vẫn cần phải chỉnh sửa để tránh mâu thuẫn, cần xem xét kỹ hơn.)
[48] Vua nói với Thừa tướng rằng: “Năm nay mùa màng ở phía tây thu hoạch tốt, bốn phương đều được mùa lớn, dân chúng cũng không bị dịch bệnh, tất cả đều nhờ ơn trên ban xuống. Trẫm nên cùng các khanh ra sức làm việc tốt để đáp lại ý trời.” Vua lại từng nói với Thừa tướng: “Xưa Sở Văn Vương có được con chó quý như hoàng, cây tên uyển lộ, đi săn ở đất Vân Mộng, ba tháng không về. Bảo Thân can gián, Vua trải chiếu phục xuống đất, Thân lấy năm mươi cây tên, quỳ xuống đánh vào lưng Vua hai lần, rồi nhanh chóng ra ngoài xin chịu tội chết. Vua triệu vào và tạ lỗi, giết chó, bẻ tên, chuyên tâm lo việc nước, thôn tính được ba mươi chín nước. Trẫm xem sách đến đoạn này, không khỏi nhiều lần cảm thán, từ xưa đến nay quân thần nếu không hợp đạo thì sao có thể làm được như vậy. Nếu bậc quân vương không tin dùng, dẫu có bề tôi trung trực cũng không thể thi thố được.”
Tống Kỳ nói: “Việc này, trăm năm qua các bậc Vua chúa ít ai biết đến, nếu không phải nhờ bệ hạ đọc rộng, sao có thể lấy đó làm gương? Nhưng thần nghe rằng ‘Biết thì không khó, làm mới khó,’ mong bệ hạ gắng sức.”
Vua rất tán đồng lời nói đó. Lại nói với Thừa tướng: “Trẫm đối với bách tính luôn ân cần hỏi han, mong sao họ được an cư lạc nghiệp. Khiến lòng người vui vẻ cảm phục cũng chẳng khó chi. Huống hồ tính hổ lang vốn khó thuần phục, nhưng hổ nuôi trong vườn thượng uyển, nếu cho ăn đúng giờ, nó cũng biết ơn nuôi dưỡng, thường cũng ngoan ngoãn, huống chi là con người?”
(Hai việc này không rõ xảy ra vào thời gian nào. Tra theo ‘Thực lục,’ thì tháng này ngày Ất Hợi, Vua nói đã đọc xong ‘Ngự lãm’ tám trăm quyển, có lẽ nhân đó mà nhắc đến việc giết chó bẻ tên, nay ghi chung với việc nuôi hổ. Bản khác chép việc nuôi hổ vào tháng 10 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 ngày Nhâm Thìn, việc giết chó bẻ tên vào ngày Giáp Tý, đều nói là bàn với Thừa tướng. Xét Tống Kỳ đến tháng 11 năm ấy ngày Nhâm Tý mới làm Thừa tướng, e rằng bản khác chép sai, nay không theo.)
[49] Mùa đông, tháng mười, lúc Vua mới lên ngôi, đã triệu ẩn sĩ Trần Đoàn ở Hoa Sơn vào triều kiến. Khi đó, Trần Đoàn lại đến, Vua càng thêm tôn trọng, nói với Thừa tướng Tống Kỳ rằng: “Trần Đoàn chỉ lo tu thân, không màng danh lợi, đó là bậc cao nhân ngoài thế tục. Ông ở Hoa Sơn đã hơn bốn mươi năm, ước chừng tuổi đã trăm, tự nhận đã trải qua cảnh loạn lạc thời Ngũ Đại, nay may mắn được thời thái bình, nên đến chầu. Trò chuyện với ông, thật đáng nghe.”
Vua sai sứ đưa ông đến Trung thư, Tống Kỳ nhân dịp hỏi ông: “Tiên sinh đã đắc đạo tu dưỡng, có thể giáo hóa người đời chăng?”
Trần Đoàn đáp: “Tôi chỉ là người núi rừng, không có ích gì cho thời đại, cũng không biết gì về đạo tiên, luyện vàng, hay thuật thổ nạp, không có gì để truyền lại. Giả sử có thể bay lên trời, thì cũng có lợi ích gì cho đời? Thánh thượng long nhan sáng láng, có tướng mạo của bậc thánh, thông suốt cổ kim, thấu hiểu trị loạn, thật là bậc minh quân nhân đức. Đây chính là lúc Vua tôi đồng lòng, cùng nhau lo việc dân, chăm chỉ tu luyện, không gì hơn thế nữa.”
Tống Kỳ dâng lời ông lên Vua, Vua càng vui mừng. Ngày Giáp Thân, Vua ban cho Trần Đoàn hiệu là Hi Di tiên sinh, sai quan lo việc tu sửa nơi ông ở. Vua thường cùng ông ngâm thơ, vài tháng sau, cho ông trở về.
[50] Vua từng nói với các quan tể tướng: “Trẫm mỗi ngày làm việc đều có quy củ, từ giờ Thìn đến Tỵ xem việc triều chính, xong liền đọc sách, đêm muộn mới ngủ, canh năm lại dậy, ngày hè nóng nực cũng không nằm nghỉ, việc ăn uống cũng không quá độ. Làm như vậy đã lâu, thấy rất có ích. Người đời ăn no thì đầu óc mê muội, nếu tay chân không hoạt động, lại nằm ngủ, huyết mạch đình trệ, bệnh tật tự sinh. Muốn tâm trí thanh thản, làm sao được? Lão Tử nói: ‘Số mệnh do ta, không do trời’, tất cả đều nhờ vào sự điều hòa. Các khanh cũng nên chú ý, đừng xem nhẹ việc dưỡng sinh.”
(Sách ‘Bảo Huấn’ chép việc này vào năm thứ chín, không rõ tháng, nay phụ lục sau phần về Trần Đoàn.)
[51] Ngày Nhâm Thìn, cấm dệt vải không đúng tiêu chuẩn, ai vi phạm sẽ bị trị tội, ai tố cáo sẽ được thưởng một phần ba số tiền phạt.
[52] Ngày Quý Tỵ, Châu Lam dâng lên một con thú cái, sừng giống sừng hươu, không có đốm, đầu sừng có thịt, tính rất thuần, không ai có thể nhận biết được. Vua ban chiếu cho quần thần xem xét, và khẳng định ý chỉ: “Việc điềm lành không phải là điều Trẫm coi trọng.”
Hữu tán kị thường thị Từ Huyền, Hữu gián nghị đại phu Đằng Trung Chánh, Trung thư xá nhân Vương Hỗ đều dẫn chứng sách vở cho rằng đó là kỳ lân, Tể tướng Tống Kỳ cùng các quan dâng biểu chúc mừng. Vua nói: “Chim quý thú lạ có ích gì cho việc nước? Trong cõi yên ổn, phong tục thuần hậu, đó mới là điềm lành lớn nhất. Những năm gần đây, các nơi dâng lên nhiều chim thú kỳ lạ, chỉ nên nuôi trong vườn thượng uyển để chúng được sống thuận tự nhiên.” Tống Kỳ cố xin tuyên bố rộng rãi, tổng cộng 63 loài điềm lành, đều vẽ hình gửi về Sử quán.
[53] Ngày Tân Sửu, ban chiếu cho các quan Cáp môn từ nay tiếp nhận các tờ trát từ Trung thư, nếu có sai sót sửa chữa mà chưa thể thi hành, phải trả lại Trung thư để xem xét.
[54] Tháng 11, ngày Bính Dần, Vua thân hành tế Thái miếu.
[55] Ngày Đinh Mão, tế trời đất ở Nam Giao, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu. Trước đây, Thái Tổ truy tôn bốn miếu, thân hành tế trời lấy Tuyên tổ phối hưởng. Khi lên ngôi, các quan lễ nghị cho rằng: “Thuấn tế Khốc, nhà Thương tế Minh, nhà Chu tế Hậu Tắc, vương nghiệp nhờ đó mà hưng thịnh. Như Hán Cao Tổ tế Thái Công, Quang Vũ Đế tế Nam Đốn, tuy có địa vị cha nhưng không có lễ phối tế trời. Vì vậy, năm thứ ba và năm thứ sáu, khi tế trời đều lấy Thái Tổ phối hưởng, hợp với lễ.”
Vua định đi tế phương Đông, ban chiếu cho Hỗ Mông định lễ nghi, Mông tấu nghị rằng: “Kinh viết ‘Nghiêm phụ mạc đại ư phối thiên[21]‘. Xin lấy Tuyên tổ phối tế trời, còn Thái Tổ phối tế Thượng đế.” Sau khi bỏ lễ phong thiền, chỉ làm lễ giao tế, bèn dùng lời nghị của Hỗ Mông, nhưng có người không tán thành. Từ khi Trương Chiêu, Đậu Nghi mất, triều đình hỏi han điển cố, soạn thảo lễ nghi, đều do Hỗ Mông đảm nhiệm.
[56] Theo chế độ nhà Đường, các quan tản nhị phẩm, quan kinh đô văn vũ từ ngũ phẩm trở lên cùng các chức Đô đốc, Thứ sử đều được đeo túi cá. Buổi đầu quốc gia, chế độ này còn nhiều thiếu sót. Trong chiếu tha tội năm Đinh Mão, bắt đầu cho phép các quan triều thần mặc áo màu đỏ hoặc xanh lá cây từ hai mươi năm trở lên, được ban tặng màu đỏ tía và túi cá từ trong cung để ban cho các cận thần[22]. Từ đó, các quan văn võ trong và ngoài triều đều được đeo túi cá, những người mặc áo màu tía thì trang trí bằng vàng, người mặc áo màu đỏ thì trang trí bằng bạc, các quan kinh đô, mạc phủ và châu huyện được ban áo đỏ tía cũng được đeo túi cá, còn Thân vương, võ quan, tướng hiệu trong cung thì không được đeo túi cá.
[57] Ngày Quý Dậu, phong tiến sĩ Dương Ức ở châu Kiến làm Chính tự ở Bí thư tỉnh, khi đó ông mới 11 tuổi.
Dương Ức là cháu của Dương Huy, lên 7 tuổi đã biết làm văn. Vua nghe danh tiếng của ông, liền hạ chiếu cho quan Chuyển vận sứ Giang Nam là Trương Khứ Hoa đến khảo hạch tài năng văn chương, rồi đưa ông về kinh. Trong ba ngày liền, ông được đối đáp, làm năm bài phú, đều dứt khoát thành văn ngay lập tức, khiến Vua vô cùng thán phục. Vua sai trung sứ đưa ông đến Trung thư, lại làm thêm một bài thơ, không cần suy nghĩ nhiều. Tể tướng kinh ngạc vì tài năng xuất chúng của ông, liền cắt ngay bài thơ để dâng lên chúc mừng. Vua nói: “Có thể cho một chức quan ở lại kinh đô,” khi đó có chiếu lệnh làm thơ trước mặt để thỏa ý. Vì thế mới có mệnh lệnh này.
[58] Tháng 12, ngày Quý Mùi, triệu tập hơn trăm người già trên trăm tuổi ở kinh thành đến điện Trường Xuân, Vua thân hành an ủi. Các cụ già đều nói: “Từ thời Ngũ đại đến nay, chưa bao giờ thịnh vượng như ngày nay.” Vua ban cho mỗi người một tấm lụa rồi cho về.
[59] Ngày Đinh Hợi, bãi bỏ các trường mò ngọc trai ở các châu Lĩnh Nam. Từ đó, chỉ có thương thuyền buôn bán và tiếp nhận cống phẩm từ nước ngoài.
[60] Ngày Nhâm Thìn, lập Đức phi Lý thị làm Hoàng hậu.
(Bà nhập cung vào tháng 7 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ hai, đến lúc này được lập làm Hoàng hậu. Chiếu chỉ chỉ ghi là Lý thị ở Lũng Tây, vậy chức Đức phi có lẽ chưa được phong. Xét theo bản truyện và ‘Tống hội yếu’ cũng không ghi chức Đức phi, không rõ tại sao bản kỷ lại viết như vậy, cần tra cứu thêm.)
[61] Ngày Bính Thân, mở tiệc lớn, tập hợp người chơi nhạc của Khai Phong phủ và các quân, từ trước cửa Đan Phượng đến cửa Chu Tước, kéo dài mấy dặm về phía đông tây, dời chợ tứ phương, hội họp của bốn phương nam nữ, làm xe núi, thuyền cạn, qua lại trên đường ngự, diễn trò cá rồng mạn diễn, âm nhạc tấu lên, người xem đông nghẹt.
[62] Ngày Giáp Thần, mưa tuyết lớn. Trước đó, Vua nói với Tể tướng: “Mùa đông năm nay khí hậu ấm áp, mùa xuân e có dịch bệnh. Sau lễ tế giao và tiệc lớn, nếu có được ba năm tấc tuyết thì rất tốt.” Đến lúc này, mây đen bốn phía, tuyết rơi dày đến một thước.
[63] Vua từng nói với Tể tướng: “Thống trị thiên hạ, tự có đạo lý, nếu nắm được cốt yếu thì không phải việc khó. Trước hết phải thân chính, thì ai dám không chính? Nếu buông thả tình chí, làm sao khiến người khác kính sợ. Trẫm luôn tự khuyên răn, chưa từng lười biếng. Đối với quan lại trong ngoài, đều lượng tài bổ nhiệm, ví như người thợ dựng nhà, cột kèo đều không thể thiếu.”
Tống Kỳ nói: “Gần đây thấy Bệ hạ, từ Cung phụng quan, Điện trực, Thừa chỉ, Tam ty đại tướng, đến các châu để lại, đều được chọn dùng, khen thưởng công lao, đề bạt người tài, trong ngoài không ai không khuyên nhủ.”
Vua nói: “Những người này trải qua gian nan, đều không có sai lầm, nếu từng có tì vết, người không đáng tin, thì không được chọn. Trẫm không chỉ đề bạt người bị chìm đắm, cũng muốn khích lệ họ làm việc tốt.”
Kỳ nói: “Bệ hạ không xem thường việc nhỏ, tự mình tìm kiếm, lượng tài bổ nhiệm, không bỏ ai, thật là ngay cả đầu tre mạt cưa cũng không bỏ qua.”
(Việc chọn dùng Tam ty đại tướng, sách ‘Bảo huấn’ nói là năm thứ chín, nhân lấy câu “lượng tài nhậm sứ như làm nhà” mà ghi liền. Việc chọn dùng Tam ty đại tướng, sách khác cũng ghi là tháng bảy năm này.)
- bắt ở Phòng Lăng, nguyên sách viết là 'tý', sửa theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác. ↵
- Triệu Thùy Khánh nguyên văn là 'Triệu Trọng Khánh', căn cứ vào Tống bản, Tống Toát Yếu bản và 'Thái Tông Thực lục' quyển 29, 'Tống hội yếu' phần Vận lịch 1-1 sửa đổi. ↵
- Hậu Đường đến triều đại ta, phần trên dẫn 'Thái Tông Thực lục', 'Hội yếu' và 'Lịch đại danh thần tấu nghị' (sau đây gọi tắt là 'Tấu nghị') quyển 280 phần Luật lịch đều viết là 'truyền từ Hậu Đường đến triều đại ta'. ↵
- Thay đổi màu sắc xe cộ, quần áo và cờ xí, chữ 'kỳ' nguyên văn là 'chi', căn cứ vào Tống bản, Tống Toát Yếu bản và 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 14 sửa đổi. ↵
- Vương Diên Đức từ Cao Xương trở về: 'từ' vốn thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và các bản khác bổ sung. Xem 'Huy Chủ lục' tiền lục quyển 4 của Vương Minh Thanh ghi chép về hành trình của Vương Diên Đức đi sứ Cao Xương, 'Thông khảo' quyển 336, phần tứ duệ khảo về Xa Sư tiền, hậu vương (tức Cao Xương), và quyển 490 của 'Tống sử', truyện Cao Xương, ghi rằng Diên Đức và đoàn sứ năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 6 tháng 5 xuất phát đi Cao Xương, năm thứ 7 tháng 4 đến Cao Xương, năm thứ 8 mùa xuân cùng sứ giả trở về, năm Ung Hy thứ nhất tháng 4 về đến kinh sư, phù hợp với sử liệu ghi chép. ↵
- Nguyên bản chữ 'chủ' được sửa thành 'Vương' theo Tống bản, Tống toát yếu bản, sách 'Huy chủ tiền lục', 'Thông khảo' và 'Tống sử' ↵
- Nguyên bản chữ 'hậu' được sửa thành 'phục' theo các sách trên ↵
- Nguyên bản chữ 'châu' được sửa thành 'châu' theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác, sách 'Huy chủ tiền lục', 'Thông khảo' và 'Tống sử' ↵
- Sứ giả nhà Hán đến dò xét lãnh thổ của Vương, 'sứ giả' nguyên bản là 'Lại', căn cứ theo sách trước mà sửa. ↵
- Trấn Vương Đình, bản Tống Toát Yếu và các bản khác giống nhau, bản Tống ghi là 'Ngọc Đình Trấn', nhưng sách 'Huy Chủ Tiền Lục', 'Thông Khảo', 'Tống Sử' đều ghi là 'Ngọc Đình Trấn'. ↵
- Đều dùng chiếu thư ban cho quân trưởng áo bào, đai vàng, lụa vải, chữ 'y' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trước mà bổ sung. ↵
- Trong câu 'Kinh quan nhiệm đường hậu quan', chữ 'quan' bị thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các bản khác mà bổ sung. ↵
- Chuyển vận sứ và Tri châu Thông phán, chữ 'Thông phán' nguyên bản viết là 'Vận phán', dựa theo các bản Tống, Tống Toát Yếu và 'Thái Tông Thực Lục' quyển 30 mà sửa lại. ↵
- Vua lo lắng tình hình dưới bị bưng bít nên ban chiếu này, mười chữ này nguyên bản bị thiếu, dựa theo các bản Tống, Tống Toát Yếu, các bản trong Các và 'Thái Tông Thực Lục' quyển 30 mà bổ sung để hoàn chỉnh ý nghĩa. ↵
- Theo bản Tống, bản Tóm lược Tống và bản triều đình, đều ghi: 'Ngày Ất Mão, Vua nói với Thừa tướng rằng:' Bản gốc có lẽ đã thiếu chữ. ↵
- Nếu Cấp sự trung được bổ nhiệm người xứng đáng, chữ 'nhiệm' vốn thiếu, căn cứ theo sách trên và tập 'Hàm Bình' quyển 1, phần luận về hỏa tai khi Thái Tông ứng chiếu bổ sung. ↵
- 'Kim' nguyên bản viết là 'lệnh', đã căn cứ theo sách trên sửa lại. ↵
- Chữ 'chi' vốn thiếu, đã căn cứ theo sách trên bổ sung. ↵
- Chữ 'tu' nguyên bản viết là 'bị', đã căn cứ theo sách trên sửa lại. ↵
- Chữ 'phục' nguyên là 'hậu', theo Tống bản và Tống Toát Yếu bản sửa đổi ↵
- Nghiêm phụ mạc đại ư phối thiên: Chữ 'phụ' vốn thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản bổ sung. ↵
- việc ban túi cá từ trong cung ban cho cận thần, chữ 'xuất' trong nguyên bản viết là 'Ngoại', theo sách trên và phần 'Dư phục' trong ‘Tống hội yếu’ quyển 6, trang 20 đã sửa lại ↵