IV. TỐNG NHÂN TÔNG
[BETA] QUYỂN 191: NĂM GIA HỰU THỨ 5 (CANH TÝ, 1060)
Từ tháng giêng năm Gia Hựu thứ 5 đời Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu Tuất, giáng chức Tân Tri Tín Châu, Đồn Điền Viên Ngoại Lang Thái Đĩnh làm Tri Nam Khang Quân. Trước đây, Thái Đĩnh cùng Lý Trọng Xương khai đào sông Lục Tháp, phạm tội bị cách chức, sau nhờ đại xá trong lễ Hiệp Hưởng được khởi dụng làm Tri Tín Châu. Nhưng Giám Sát Ngự Sử Lý Hành Vương Đào tâu: “Thái Đĩnh trước đây lừa dối triều đình để mong được công thưởng, khiến dân chúng ven sông bị hại, đến nay vẫn chưa dứt.” Vì thế lại giáng chức ông.
[2] Ngày Kỷ Hợi, Độ Chi Viên Ngoại Lang, Tập Hiền Hiệu Lý, Tri Đăng Châu Hồ Phủ bị cách chức; Binh Bộ Lang Trung, Bí Các Hiệu Lý, Tri Duy Châu Giải Tân Vương bị cách chức, giáng làm Tri Kiến Xương Quân.
Ban đầu, Giải Tân Vương vì lo việc tang ma xin làm Tri Đăng Châu. Khi Hồ Phủ thay thế Giải Tân Vương, liền tâu rằng người lo việc tang ma không được xin về quê nhà, lại nhân việc khác đánh đòn thân thuộc bên vợ. Giải Tân Vương oán hận, bèn kiện Hồ Phủ từng tự ý sai quân thợ đốn gỗ cây dâu ở công đường làm đồ dùng riêng. Hồ Phủ bị kết tội tự ý chiếm đoạt, và Tri Gián Viện Phạm Sư Đạo tâu: “Giải Tân Vương cùng Hồ Phủ đều làm việc ở Quán Các, việc liên quan đến quê hương, ồn ào kiện tụng, làm tổn hại phong khí sĩ phu.” Vì thế cả hai đều bị cách chức.
Hồ Phủ là người Cộng Thành.
(Hai người quê quán khác nhau, khác với lời Phạm Sư Đạo nói, cần xem xét lại. Giải Tân Vương làm Tri Duy Châu, theo sách tạp chí của họ Giang. Giải Tân Vương là người Bồng Lai, đã được nhắc đến năm Chí Hòa thứ nhất.)
[3] Ghi chép Lưu Kế Nguyên, chắt là Lưu Doãn được bổ làm Tam Ban Tá Chức[1]. Lưu Doãn tự nói nhà mình không có người được hưởng bổng lộc, nên đặc cách bổ nhiệm.
[4] Ngày Kỷ Dậu, đưa tượng thờ Tuyên Tổ Hoàng Đế và Chiêu Hiến Hoàng Hậu vào thờ tại điện Khánh Cơ ở Thiền Viện Phụng Tiên Tư Phúc. Trước đây, điện Khánh Cơ vẽ tượng Tuyên Tổ mặc áo bào đi hia, còn Chiêu Hiến Hoàng Hậu đội mũ, mặc áo. Đến nay, vẽ thêm hai tượng mặc áo long cổn và áo hoàng hậu, còn tượng cũ đưa vào cung cấm.
[5] Ngày Canh Tuất, làm lễ dâng rượu tế tại điện Khánh Cơ.
[6] Ngày Tân Hợi, đổi chức Kinh đông tây lộ Kiềm hạt Diêm Sĩ Lương trở lại làm Kinh đông tây lộ Kiềm hạt. Do Giám sát ngự sử lý hành Vương Đào tâu rằng ông ta tính xảo quyệt, hay gây chuyện, không thể để ở biên địa, nên đổi đi.
[7] Ngày Giáp Dần, phong con gái thứ chín của hoàng đế làm Phúc An Công Chúa, con gái thứ mười làm Khánh Thọ Công Chúa.
[8] Ngày Ất Mão, bãi bỏ số lượng tăng thêm ngoài định biên của các chức Đãi chiếu trở xuống thuộc Ngự thư viện và Hàn lâm đồ họa.
[9] Ngày Mậu Ngọ, thủ lĩnh nước Đại Thực là Bồ Sa Ất đến cống phương vật, được phong làm Vũ Ninh ty giai.
[10] Ngày Kỷ Mùi, Tri gián viện Đường Giới tâu rằng, các châu quân ở biên giới phía bắc Hà Bắc thường sai quân lính đi hái cỏ hoàn bồ, bắt nộp tiền mỗi ngày, gọi là “Địa lợi tiền”, để đưa vào công sứ, xin cấm chỉ việc này. Được chấp thuận.
[11] Tháng đó, có ngôi sao lớn rơi xuống phía tây nam[2], ánh sáng chiếu xuống đất, có tiếng như sấm. Người xem thiên văn nói đó là sao Thiên Cẩu. Đồng tri Gián viện Phạm Sư Đạo tâu: “Sách thiên văn đời Hán, Tấn chép: ‘Sao Thiên Cẩu xuất hiện, là điềm quân tan tướng chết, xác chết chất đống, máu chảy thành sông.’ Sách 《Cam thị đồ》 chép: ‘Sao Thiên Cẩu rơi[3], giặc lớn nổi lên.’ Hiện nay triều đình không phải là thời vô sự, nhưng việc phòng bị chống giặc cướp vẫn chưa thấy được chú trọng. Tuy có tướng soái, nhưng người thì già yếu, người thì ngu muội; quân lính tuy đông, nhưng người dũng mãnh lại ít. Ngoại diệt có thể phòng bị được, nhưng các châu quận thì sao? Châu quận có thể phòng bị được, nhưng giặc cướp thì sao[4]? Kẻ tiểu nhân muốn tạo phản, đang chờ thời cơ, ắt có kẻ mang lòng dạ hiểm độc, nhân cơ hội mà hành động. Nên chọn tướng soái, huấn luyện quân lính, ban chiếu khắp thiên hạ để phòng ngừa từ khi chưa xảy ra.”
Giám sát Ngự sử Lí hành Vương Đào tâu: “Năm ngoái có nhật thực, năm nay có sao rơi, đều xảy ra vào ngày Chính đán. Sao Thiên Cẩu chủ về binh đao, nên phòng bị trước. Xin hạ chiếu cho trong ngoài tiến cử những người có trí dũng, võ nghệ cao cường để chuẩn bị làm tướng soái. Hiện nay kỳ thi võ cử lấy người quá dễ, nên noi theo chế độ nhà Đường đặt khoa thi, ưu đãi bằng chức quan, chứ không nên như tuyển quân lính vậy.”
(Việc sao rơi ngày Chính đán, 《Thực lục》 và 《Bản sử》 đều không chép. Nay căn cứ theo những lời bàn luận trong truyện Phạm Sư Đạo và Vương Đào, phụ chép vào cuối tháng.)
[12] Tháng 2, ngày Tân Dậu, Nội điện thừa chế Lưu Ôn Lễ được bổ làm Cung bị khố phó sứ. Ôn Lễ từng tố cáo việc Lưu Khôi tư tiến nữ khẩu, bị giao xuống Nhập nội tỉnh xét hỏi, Ôn Lễ cũng bị kết tội khai báo không đúng sự thật. Ôn Lễ đã được thăng chức nhiều lần, bị giáng làm Nội điện sùng ban, Ngự sử bàn luận việc này không đúng, nên đổi làm Nội điện thừa chế. Đến nay, lại nhờ ân xá tự trình bày, nên được phục chức.
(Việc Khôi tiến nữ khẩu xảy ra vào tháng 5 năm thứ 2.)
[13] Ngày Nhâm Tuất, Vua ngự tại điện Sùng Chính, xét lại tù nhân, những người phạm tội tử hình trở xuống đều được giảm một bậc, tội đồ trở xuống được tha.
[14] Ngày Quý Hợi, Thái tử thiếu phó trí sĩ Vương Cử Chính mất. Được tặng chức Thái tử thái bảo, thụy là An Giản, ban cho trăm lạng vàng.
[15] Ngày Giáp Tý, xuống chiếu cho các lộ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, Quảng Nam Đông Tây, Kinh Hồ Nam Bắc, các ty Kinh lược, An phủ, Chuyển vận, Đề điểm hình ngục xét xem các quan võ trong bộ, nếu có người không thể huấn luyện quân đội, dẹp yên giặc cướp, thì bí mật tâu lên.
[16] Ngày Bính Dần, Lễ bộ Cống viện xin tăng số người được cử đi thi ở các châu quân Giang, Chiết, Phúc Kiến, Xuyên, Quảng, tổng cộng 135 người. Vua đồng ý.
[17] Ngày Mậu Thìn, Thái thường thừa, Giám sát ngự sử lý hành Vương Đào được bổ làm Hữu chánh ngôn, làm việc tại Gián viện.
Thân sự quan đêm vào cung Diên Phúc ăn trộm, quan hữu ty xử theo luật trộm cắp thông thường. Vương Đào tâu: “Cung cấm nghiêm ngặt, mà lại so sánh với việc dân gian được giảm tội[5], không phải là cách tôn trọng thiên tử.” Do đó, kẻ phạm tội bị đày ra hải đảo, các quan trong ty Hoàng Thành đều bị xử tội.
Từ khi Vua dùng thuốc, ít nói chuyện, quần thần tấu sự, Vua chỉ gật đầu mà thôi. Vương Đào tâu: “Lời nói của bậc vương giả là điều mà quần thần tiếp nhận để thi hành trong thiên hạ. Nay việc chính sự lớn nhỏ đều do Trung thư, Xu mật quyết định, bệ hạ không hề phê chuẩn hay bác bỏ, há phải là đạo làm chủ sao!” Lại tâu: “Ngôi thái tử chưa lập, nên chọn người trong tông thất cùng chiêu mục để nuôi dưỡng.”
Vì chí hướng không hợp với đồng liệt, [Vương Đào] nhiều lần xin giám sát đạo quán Linh Tiên[6], nhưng không được chấp thuận.
[18] Xuống chiếu cho ty Điện tiền Mã bộ quân, cứ ba năm một lần chuyển đổi chức vụ của tướng hiệu, những người già yếu không đảm đương được việc, trước hết phải bí mật kê tên tâu lên.
[19] Ngày Nhâm Thân, quan Tri gián viện Đường Giới tâu: “Triều đình trước đây cấp cho châu Định năm vạn tấm lụa để mua lương thực cho quân, quan Tiền tri châu Định Tống Kỳ dùng một vạn, Vương Tố dùng bốn vạn, đều đem đổi lấy hàng hóa ở Hà Đông. Vương Tố lại đem số vải đổi được bán cho hơn ba mươi chỉ huy cấm quân, tổng cộng thu lợi gần một vạn quan tiền, nhưng lại có nhiều khoản chiếm dụng và lãng phí, còn đem cả tư vật ra cầm cố. Đến khi chuyển quận, vẫn còn đòi nợ chưa xong[7], lại lấy mấy ngàn quan tiền trong kho công sứ để đi.” Khi chiếu cho ty An phủ sứ của bản lộ điều tra tình hình[8], thấy không có việc tư lợi nên thôi.
[20] Ngày Quý Dậu, xuống chiếu cho Kinh lược an phủ sứ Thiểm Tây: Nghe nói người Tây Hạ thường đưa trâu ngựa đến vùng biên giới để đổi lấy lương thực của dân, hãy lệnh cho các nơi cấm tuyệt việc này.
[21] Ngày Giáp Tuất, Lý Đoan Ý, Trấn Đồng lưu hậu, được bổ làm Ninh Viễn tiết độ sứ, tri châu Thiền. Ngự sử trung thừa Hàn Giáng tâu rằng Đoan Ý không có công lao, không đáng được cầm cờ tiết. Bèn cho lưu hậu đến Thiền Châu.
(Việc phục chức lưu hậu là vào ngày Ất Mùi tháng 3, nay ghi chung lại. Bản truyện của Đoan Ý chép: Từ Vận trở về, được bổ làm Ninh Viễn tiết độ sứ, tri châu Thiền.)
[22] Ngày Ất Hợi, Tiền Công Phụ, Hộ bộ phán quan, Thái thường bác sĩ, Tập hiền hiệu lý, được bổ làm tri châu Minh. Trước đây, pháp lệnh về nha tiền chia làm ba bậc: nặng, khó và tích lũy công lao, ai đủ tiêu chuẩn thì được chỉ định mua quán rượu. Nhưng người giàu thường đủ tiêu chuẩn, còn người nghèo vì bận việc nên ngày càng khốn khó, ít người ứng mộ, đến mức thiếu người thì bắt dân làng phải đảm nhận, có người bán hết tài sản cũng không đủ bù đắp chi phí. Công Phụ bèn thu quán rượu về quan, thu tiền, căn cứ vào mức độ nặng nhẹ của việc nha tiền mà trả tiền, miễn hết cho dân làng, mọi người đều thấy tiện lợi. Tuy nhiên, quán rượu đã thu về, không có gì để đền đáp công lao cũ của nha tiền, bèn tạm mượn 20 vạn quan tiền của tỉnh, lấy xong rồi mới tâu lên, triều đình cũng không trị tội.
(Việc này căn cứ theo bản truyện của Công Phụ trong 《Thần Tông sử》.)
[23] Ngày Đinh Sửu, Điền Huống, Quan văn điện học sĩ kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ, Thượng thư tả thừa, Đề cử Cảnh Linh cung, được phong làm Thái tử thiếu phó rồi về hưu.
[24] Ngày Canh Thìn, xuống chiếu: Các nội thần trong nội tỉnh nếu từng phạm tội tham nhũng bị cách chức, dù đã được ân xá, cũng không được phục chức vào nội tỉnh.
[25] Ngày Nhâm Ngọ, Dương Tòng Giản, Lục sự tham quân châu Nhữ, được phong làm Điện trung thừa rồi về hưu, đặc cách ban cho áo mũ ngũ phẩm. Vì Tòng Giản từ Khiết Đan trở về, làm quan 20 năm không có lỗi lầm gì.
[26] Tam Ban viện tâu: “Tuân chiếu xem xét lời thỉnh cầu của Dương Điền, đồng câu đương Tam Ban viện, rằng các lộ Tẩu mã thừa thụ tuy là sứ thần, nhưng tham dự vào việc biên cương quan trọng, nắm giữ cơ mưu của chủ tướng, chức trách không nhẹ, cần phải chọn lựa kỹ càng. Xin rằng những người xuất thân từ Trung thư chế sắc viện, Duyên đường ngũ viện, Xu mật viện, cũng như các nhân viên trong các ty, không được tham gia tuyển chọn vào chức Tẩu mã thừa thụ. Xin theo lời thỉnh cầu của Điền.” Được chấp thuận.
Theo chế độ cũ: Các chức Đông đầu cung phụng quan, nhân viên các ty, gia nhân của quan lại, và những người tiến nạp bằng kỹ thuật, đều không được chọn làm Tẩu mã thừa thụ các lộ. (Sự việc ngày 17 tháng 2 trong 《Hội yếu》, nay ghi vào cuối tháng).
[27] Tháng 3, ngày Tân Mão, xuống chiếu rằng từ nay các chức Tuần kiểm bốn mặt ngoài kinh thành[9], đều phải chọn những người từ chức Cáp môn chi hậu trở lên, đã từng trải qua nhiệm vụ ngoài triều, thân dân, và không phạm tội tham nhũng.
[28] Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu cho Lễ bộ tổ chức thi cử.
[29] Ngày Quý Tỵ, Châu Trần tâu rằng Quan văn điện đại học sĩ[10], Hình bộ thượng thư Lưu Hãng mất[11], được truy tặng Tả bộc xạ kiêm Thị trung. Tri chế cáo Trương Côi soạn văn tế chê bai Hãng, con trai ông là Hiệu khám Quán các Cấn tố cáo lên triều đình, Vua bèn đổi lệnh cho quan soạn văn tế khác. Gia đình không dám xin thụy hiệu, Vua lại làm bài vãn từ, và khắc bia mộ ông với chữ “Tư hiền”.
Hãng tính tình hào phóng, ít chú trọng lễ nghi, nhưng giỏi mưu mẹo, khéo léo nắm bắt lỗi lầm của những người quyền thế gần gũi, âm thầm giữ lấy. Vì vậy, dù xuất thân từ khoa bảng cao, việc thăng tiến của ông phần lớn nhờ vào điều này, người đương thời bàn tán rằng ông nhờ kết thân mà lên đến chức tể tướng.
[30] Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu cho Tam ty: “Việc mua lương thảo ở lộ Hà Đông, trước đây trả một phần tiền mặt, ba phần trà, từ nay đều trả bằng tiền mặt.”
(Tháng 2 năm thứ 4, ngày Kỷ Tỵ đã bãi bỏ lệnh cấm trà, không lẽ lúc này vẫn còn dùng trà để mua lương thảo, cần xem xét lại).
[31] Ngày Ất Mùi, bãi bỏ Ty Tuần kiểm đô Lam Thạch thuộc lộ Thương Châu, Ty Trú bạc Đại Châu, chức Tẩu mã thừa thụ công sự; giảm bớt một viên sứ thần của Ty Tuần kiểm đô quân Quảng Tín thuộc lộ Cao Dương Quan, Ty Tẩu mã thừa thụ thuộc các lộ Lân Phủ, Thành Đô Phủ, Lợi Châu.
(Chức Đô tuần kiểm sứ Thương Châu cần tham khảo với sự kiện tháng 11 năm thứ 2 niên hiệu Trị Bình. Lại nữa, tháng 10 năm thứ 3 niên hiệu Trị Bình[12], Quách Tự lấy chức Tổng quản Thương Châu kiêm chức Đô tuần kiểm sứ vùng duyên hải từ sông Giới Hà thuộc các châu Hùng, Bá đến cửa biển và vùng duyên hải thuộc địa giới Thương Châu[13], cần xem xét kỹ lưỡng để sửa lại.)
[32] Sao Tuế tinh hiện vào ban ngày.
[33] Ngày Bính Thân, Khách tỉnh sứ, Mi Châu phòng ngự sứ Trương Kháng được bổ nhiệm làm Bí thư giám. Kháng ban đầu được bổ nhiệm làm Hà Dương bộ thự, nhưng vì bệnh nên từ chối. Ngự sử trung thừa Hàn Giáng tâu rằng: “Kháng trước đây giữ chức thủ hai châu Hoài, Vệ, tham lam ngang ngược, không tuân theo pháp luật, nay không thể dùng lại.” Kháng cũng tự xin được phục lại chức văn, nên được chấp thuận. Hơn một tháng sau lại trở về chức cũ.
(Lại làm Khách tỉnh sứ, Mi Châu phòng ngự sứ, vào ngày Nhâm Thìn tháng 5, nay ghi chung lại.)
[34] Ngày Đinh Dậu, Quang lộc tự thừa trí sĩ Khổng Mân được bổ nhiệm làm Tri huyện Long Hưng. Tri châu Hứa Châu Giả Xương Triều tiến cử Mân có đức hạnh cao, đặc cách bổ nhiệm, nhưng Mân lại từ chối không nhận. Năm đó ông qua đời, được tặng chức Thái thường thừa.
(Việc tặng chức diễn ra vào ngày Quý Sửu tháng 11, nay ghi chung lại.)
[35] Ngày Mậu Tuất, xuống chiếu cho Lưu nội tuyển từ nay những người quy minh từ 25 tuổi trở lên được phép bổ nhiệm làm quan. Trước đây, Tư sĩ tham quân Tứ Châu Từ Tế tự trình bày, khi quy minh mới 8 tuổi, nay đã 48 tuổi, nhưng không được bổ nhiệm làm quan. Vì thế đặt ra điều khoản này.
[36] Ngày Nhâm Dần, phong vợ của Thốc Tư La là Thái Nguyên quận quân Kiều thị làm Định An quận phu nhân.
(Bản truyện chép: Đổng Chiên năm 9 tuổi, Tư La xin triều đình phong cho làm Thứ sử châu Hội, còn Kiều thị được phong làm Thái Nguyên quận quân. Việc phong Thái Nguyên quận quân lần đầu cần xem xét lại. Xét vào tháng 4 năm thứ nhất niên hiệu Bảo Nguyên, Kiều thị đã từ chức Thái Nguyên quận quân được phong làm Vĩnh Gia quận phu nhân, không nên lúc này lại phong làm Định An quận phu nhân, cần xem xét lại.)
[37] Ngày Bính Ngọ, ban chiếu: “Các nơi nhiếp chức ở Quảng Nam Đông, Tây lộ đều là vùng hoang vu xa xôi, nhiều tai ương dịch bệnh, mà bổng lộc hàng tháng không đủ tự nuôi sống, từ nay mỗi tháng tăng thêm 1.500 đồng.”
[38] Ngày Nhâm Tý, ban chiếu rằng: “Thiên tai hoành hành, nạn châu chấu và lụt lội liên tiếp xảy ra, tuy đã mở kho phát chẩn, miễn giảm thuế má, nhưng dân chúng chết đói vẫn còn nhiều[14], có người phải bán vợ đợ con, có người chết nơi đường sá. Mùa xuân vạn vật sinh sôi nảy nở, mà để dân ta khổ sở như vậy, lòng Trẫm đau xót, lo lắng không yên[15]. Nay lệnh cho các lộ bị thiên tai, chuyển vận sứ và đề điểm hình ngục đốc thúc các châu huyện lo việc cứu tế, xét những người không xứng chức.” Trước đó, Ngự sử trung thừa Hàn Giáng tâu: “Các lộ bị thiên tai, triều đình tuy đã cứu tế, nhưng các quan giám ty, thân dân chưa hết lòng, khiến dân chúng phải lưu lạc nhiều. Nên nghiêm khắc răn dạy họ[16].” Vì thế ban chiếu này.
[39] Ngày Quý Sửu, Tri Hùng Châu Tào Giai tâu: “Người U Châu là Đỗ Thanh vốn cùng Hùng Châu thám thính việc cơ. Nay việc bại lộ, đem cả nhà đến quy thuận, xin bổ làm giáo luyện sứ một châu ngoài, cấp cho mấy khoảnh ruộng tốt, lại cấp bổng lộc hàng tháng.” Theo lời tâu.
[40] Cho con cháu Chu Thế Tông là Sài Nguyên Tín làm Tam ban tá chức.
[41] Ngày Giáp Dần, ban chiếu cho Đăng Châu đổi đày 32 tội nhân ở Sa Môn trại đến các châu lao thành. Ngày 6 tháng 12 năm thứ 3, Vương Cử Nguyên tâu, có thể tham khảo.
[42] Ngày Kỷ Tỵ, chiếu thư đã bãi bỏ lệnh cấm buôn bán trà[17], những người bàn luận vẫn cho rằng triều đình có ý thuận tiện cho dân, muốn giảm bớt hình phạt, ý định ấy rất tốt. Tuy nhiên, các hộ trồng trà bị khốn đốn vì nộp tiền, thương nhân lợi nhuận ít, người buôn bán ít đi, thuế má của các châu huyện ngày càng thu hẹp, kinh phí không đủ.
Tri chế cáo Lưu Xưởng và Hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu bàn nhiều về việc này, Lưu Xưởng dâng sớ nói:
“Người xưa có câu: ‘Lợi không gấp trăm lần, không thay đổi pháp luật.’ Đó là nói về sự khó khăn trong việc thiết lập chính sách. Triều đình thay đổi pháp luật về trà, thực sự muốn thuận tiện cho dân chúng và tăng thêm ngân sách quốc gia. Từ khi thay đổi pháp luật, những người từ phương Đông Nam đến đều nói rằng không thuận tiện. Chỉ vì chiếu chỉ ban đầu không muốn người ta phản đối, nên mọi người đều im lặng, không dám nói thẳng. Điểm chính là trước đây, dân chúng hái trà trên núi nhận tiền từ quan, nhưng nay lại bắt họ nộp tiền cho quan, giữa việc nhận và nộp, lợi hại gấp trăm lần. Trước đây, dân chúng vi phạm pháp luật buôn bán trà bị phạt, nay đều đánh thuế đều lên dân, thuế không nộp kịp thời, hình phạt cũng đến, khiến dân lành thay người vi phạm pháp chịu tội, con cháu đời đời không thấy kết thúc. Trước đây, các đại thương nhân giàu có buôn bán vì quốc gia, châu quận thu thuế, nay các đại thương nhân không hoạt động, thuế không thu được, ngân sách quốc gia thiếu hụt. Ba điều này là tác hại lớn nhất.
Có người cho rằng nếu pháp luật không thay đổi, thì gia đình trung lưu sẽ khốn đốn, gia đình nhỏ sẽ lưu lạc, nếu bị ép buộc, sẽ nổi dậy làm giặc, điều này không có lợi cho quốc gia. Thần ngu muốn xin triều đình ra lệnh cho các cơ quan, lắng nghe ý kiến dân chúng, thu hồi chiếu chỉ trước, bàn luận kỹ lưỡng về việc có nên thay đổi hay không. Nếu triều đình có thể khôi phục lại phong tục cổ xưa của ba đời, bỏ bớt các lệnh cấm về núi rừng, thì xin hãy bãi bỏ pháp luật về trà, để dân chúng tự do không bị hỏi. Nếu ngân sách quốc gia vẫn còn nhiều, nguồn lợi chưa thể bỏ hết, thì nên chọn lựa lợi hại, thay đổi và thông suốt, để cả công và tư đều được lợi. Nếu tìm lợi mà lại gây tổn hại, tìm lợi mà lại gây hại, thần e rằng dân chúng ở mấy chục châu phương Đông Nam sẽ vì thế mà khốn đốn, đó chính là câu ‘Lợi không gấp trăm lần, không thay đổi pháp luật’, không biết có nên làm hay không.
Thần ngu dốt về thời sự, không đủ khả năng bàn luận việc công lợi. Tuy nhiên, những điều tai nghe, lòng nghi ngờ, không dám không trình bày. Mong triều đình nhân lời thần, để tìm ra chính sách tiện nước lợi dân. Đến những ý tứ sâu xa uẩn khúc[18], thần cũng không thể nói hết được. Trong sớ viết rằng:
Triều đình gần đây cải cách pháp luật về trà, muốn cứu vãn những sai lầm và thiếu sót[19], nhưng những người vì nước mà tính toán sai lầm, không thể suy nghĩ sâu xa, xem xét kỹ càng, chỉ biết mưu cầu lợi ích mà không nghĩ đến tác hại. Khi một hai đại thần hăng hái thay đổi, vui vẻ vì hợp ý mình, vội vàng tin tưởng, liền quyết định thi hành. Ngày ban hành lệnh, vẫn sợ thiên hạ có người cho là sai, liền thẳng thừng chê bai những người hay nói, chỉ trích họ là kẻ lập dị, đặt ra hình phạt nghiêm khắc, cấm họ bàn luận. Việc đã thi hành, mà người biết là bất tiện thì mười phần đã chiếm tám chín. Tuy nhiên, người quân tử biết thời thế đang chán ghét lời nói nên không muốn nói, kẻ tiểu nhân sợ pháp luật, sợ tội nên không dám nói.
Nay thi hành đã hơn một năm, gây bất tiện cho cả công và tư, tác hại đã nhiều, mà một hai đại thần trước đây vì thi hành quá vội vàng, ra lệnh quá nghiêm khắc, thế đã khó đổi, không thể sửa ngay. Các sĩ đại phu biết việc này, chỉ dám bàn tán ngoài đường, mà không dám nói thẳng trước triều đình. Dân chúng ở nơi xa xôi ngày ngày chịu họa, chỉ biết than thở trong làng xóm, mà không có cách nào để lọt đến tai thiên tử. Bệ hạ thông minh nhân từ, mở rộng đường ngôn luận, từ trước đến nay đã tiếp nhận nhiều ý kiến, bổ ích rất nhiều. Nay đột nhiên hạ lệnh thay đổi việc, trước hết đặt ra pháp luật nghiêm khắc, cấm tuyệt lời nói của người dân, trong ngoài nghe tin, không ai không kinh ngạc. Có câu nói: ‘Ngăn chặn miệng lưỡi dân chúng, còn nguy hiểm hơn ngăn chặn dòng sông; sông bị chặn mà vỡ, ắt sẽ làm hại nhiều người.’ Nay đã hơn một năm ngăn chặn miệng lưỡi dân chúng, dân chúng chịu họa cũng đã nhiều, lời xưa không hư[20], nay đã thấy rõ.
Thần cũng nghe rằng khi mới cải cách pháp luật, đã bàn bạc quyết định, còn chọn cử một số quan lại, phân phái đi các lộ, tìm hiểu lợi hại. Nhưng hai ba vị đại thần không chỉ ban đầu không có ý hại dân, mà thực ra cũng chưa có lòng tự tin. Chỉ là những người được cử đi, thấy triều đình nhất định muốn thay đổi, không dám ngăn cản, lại muốn xu nịnh để cầu công thưởng, nghe đồn đến các châu huyện, không cho phép quan lại và dân chúng trình bày ý kiến, chỉ nói thẳng: ‘Triều đình quyết tâm thực hiện, chỉ cần một tờ khai xét duyệt mà thôi.’ Nếu quả như lời đồn, thì những người gây ra sai lầm chính là những người này. Ban đầu vì quá tin người, thi hành quá vội vàng, nay nếu thấy rõ tác hại, thì cứu chữa còn chậm gì? Mối họa lớn nhất là cứ tiếp tục sai lầm, lỗi lầm sâu sắc nhất là không chịu sửa đổi. Thần đối với pháp luật về trà vốn không hiểu rõ, nhưng dư luận bên ngoài đã ồn ào, nghe nhiều cũng dần quen. Người xưa trị nước, cho phép dân thường được trình bày ý kiến lên triều đình, chính là vì lẽ đó.
Thần nghe những người bàn luận nói rằng pháp luật mới về trà đã thi hành, dân không còn tội buôn lậu, mỗi năm giảm được nhiều người bị xử phạt, đó là một lợi ích. Nhưng có năm điều hại: dân trước đây nộp thuế trà, nay đổi thành tiền thuê, đó là điều hại thứ nhất; tiểu thương buôn bán ít, đại thương hoàn toàn không lưu thông, đó là điều hại thứ hai; thuế trà không thu được, lập tức thiếu hụt ngân sách quốc gia, đó là điều hại thứ ba; trước đây trà của quan, cho phép dân pha trộn, nên trà nhiều mà rẻ, nay dân tự mua bán, cần trà thật, trà thật không nhiều, giá cả đắt đỏ, đó là điều hại thứ tư; Hà Bắc mua lương thực, thực sự cần tiền mặt, không chỉ thương nhân khó kiếm tiền để sử dụng, mà từ kinh sư hàng năm phải chở tiền đến Hà Bắc, lý lẽ tất không thể, đó là điều hại thứ năm. Một lợi ích không đủ bù năm điều hại, nay dù muốn giảm bớt tiền thuê để cứu chữa tệ nạn, đó chỉ là một biện pháp khoan hồng cho dân, nhưng chưa giải quyết hết lợi hại của công và tư.
Mong rằng các bậc chủ trì nghị luận trong triều đình không bảo vệ những sai lầm trước đây, suy nghĩ sâu xa về những tai hại hiện tại, loại bỏ tâm lý cố chấp sai lầm, không theo đuổi những dấu vết che đậy lời chỉ trích, bãi bỏ mệnh lệnh trước, cho phép người dân dâng lời tâu bày, nhanh chóng xem xét và quyết định kỹ lưỡng, tìm kiếm sự thích đáng, mong rằng không làm mất đi chế độ cũ của tổ tiên.”
Lúc đó, triều đình đang gạt bỏ các ý kiến của đám đông để thực hiện, dù Lưu Xưởng và những người khác có tâu trình, nhưng không được nghe theo. Đến niên hiệu Trị Bình, mỗi năm thu được 489.000 cân trà lạp, 255.000 cân trà tán, tiền thuê ruộng của các hộ trồng trà là 329.855 quan[21], lại dự trữ tiền vốn 474.321 quan, tổng thu thuế trà trong và ngoài là 498.600 quan.
(Sử thần nói: Suy ra có thể thấy được sự được mất của pháp chế về trà. Từ “Đến niên hiệu Trị Bình” đến “được mất” đều dựa vào bản chí sửa chép vào, tổng ba khoản tiền là 1.302.786 quan.
《Đông Nguyên Lục》 của Cung Đỉnh Thần chép: Âu Dương Vĩnh Thúc (Âu Dương Tu) cùng Lưu Nguyên Phủ (Lưu Xưởng) bàn rằng pháp chế mới về trà không tiện, xin lập pháp khác. Phú Trịnh Công (Phú Bật) trước đó tâu rằng: “Gần đây bãi bỏ chế độ độc quyền trà, sửa đổi tệ pháp hơn trăm năm, không thể không có chút bất tiện, cần phải chỉnh đốn lại một chút là được. Ví như người vừa khỏi bệnh nặng, cần dùng cháo và thuốc bổ để điều dưỡng, rồi sẽ dần bình phục.” Vua gật đầu đồng ý.
Âu Dương Tu và Lưu Xưởng bàn việc sửa đổi pháp chế là không tiện, các sách khác đều không chép, chỉ có Cung Đỉnh Thần ghi lại việc này, nay phụ chú thêm.)
[43] Mùa hạ, tháng tư, ngày Canh Thân, quyền đồng phán Thượng thư Hình bộ Lý Diên tâu: “Trong một năm, thiên hạ tâu lên Hình bộ về án tử hình, ước chừng hai nghìn năm trăm sáu mươi vụ. Trong đó, giết cha mẹ, chú bác, anh em, vợ, giết chồng, giết vợ, giết cha mẹ vợ, tổng cộng một trăm bốn mươi vụ; giết người có chủ ý, mưu mô, đánh nhau giết người một nghìn ba trăm vụ; cướp của chín trăm bảy mươi vụ; gian dâm, trốn tránh pháp luật một trăm mười vụ. Phong tục suy đồi, không gì tệ hơn việc người thân tàn sát lẫn nhau; cùng khốn về cơm áo, không gì cấp bách hơn việc trộm cướp. Nay kẻ phạm pháp nhiều, há chẳng phải hình phạt không đủ để ngăn chặn gian tà, mà giáo hóa chưa thể dẫn dắt họ làm điều thiện sao[22]? Xin cho Hình bộ căn cứ vào tội danh, phân loại các án tử hình trong thiên hạ, hàng năm tâu lên triều đình, để giúp xem xét.” Được chấp thuận.
[44] Ngày Quý Hợi, Vua ngự ở điện Sùng Chính duyệt việc chuyển bổ các quân, tổng cộng ba trăm người.
[45] Ngày Kỷ Tỵ, quốc mẫu nước Khiết Đan sai Lâm nha Tả Kiêu vệ Thượng tướng quân Gia Luật Cách, Sùng Lộc khanh Lữ Sĩ Lâm; nước Khiết Đan sai Thụy Thánh tiết độ sứ Gia Luật Tố, Đông thượng các môn sứ Trương Tiển đến chúc mừng tiết Càn Nguyên.
[46] Ngày Canh Ngọ, ban thưởng lương thực và vải lụa cho giáo thụ châu học Lãng Châu là Trình Nhượng, vì chuyển vận ty tâu rằng ông có đức hạnh cao thượng.
[47] Ngày Kỷ Mão, Độ chi phán quan, Từ bộ Viên ngoại lang, Trực Tập hiền viện Vương An Thạch được cử làm Đồng tu khởi cư chú. An Thạch cho rằng mình mới vào viện được vài tháng, trong viện có nhiều người tiến bộ hơn, không nên vượt lên trên họ[23], nên cố từ chối.
[48] Ngày Quý Mùi, Xu mật phó sứ, Lại bộ Thị lang Trình Kham bị cách chức, giáng làm Quan văn điện học sĩ kiêm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Đồng Quần mục chế trí sứ. Kham cùng Xu mật sứ Tống Tường cùng làm việc trong phủ, lời nói của Kham thường tục tĩu, Tường khinh bỉ, từ đó hai người không hòa hợp, tranh luận nhiều lần đến mất giọng. Các quan Gián, Ngự sử đều dâng tấu bàn luận việc này, Kham cũng tự xin từ chức. Theo tấu nghị của Lã Hối, việc tranh chấp là do Kham quản lý quân sự của Mã Hoài Đức, cần xem xét lại. Tháng 11 năm ngoái, ngày Giáp Dần, Tứ phương quán sứ, Anh Châu Thứ sử Mã Hoài Đức được bổ làm Tượng Châu Phòng ngự phán quan kiêm Đô ngu hậu, Phu Diên lộ Phó bộ thự.
[49] Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ kiêm Thị độc học sĩ[24], Lễ bộ Thị lang, Tri chế cáo Tôn Biện được bổ làm Xu mật phó sứ. Biện từ lâu ở chức thị tòng, sống giản dị, được mọi người khen là người nhân hậu. Khi Trình Kham bị cách chức, các tể thần tiến cử, thường lấy một người trong Tam ty sứ, Ngự sử trung thừa, Tri Khai Phong phủ để bổ nhiệm. Hoàng đế nói: “Trẫm muốn dùng người cũ.” Liền lệnh cho Biện nhận chức.
(Biện được vào Lưỡng phủ, theo 《Tương Sơn Dã Lục》 là do soạn chiếu thăng phụ cho Chương Ý, cần xem xét lại.)
[50] Ngày Giáp Thân, giáng Hữu ty Gián, Bí các Hiệu lý Ngô Cập làm Công bộ Viên ngoại lang, Tri Lư Châu, Thái thường Bác sĩ, Giám sát Ngự sử Lý hành Trầm Khởi bị cách chức Lý hành, điều làm Thông phán Việt Châu.
[51] Trước đây, Gián quan Trần Húc kiến nghị cắt giảm quy định bổ nhiệm các chức vụ trong ban hàng, xuống lệnh cho Lưỡng chế, Đài gián quan tập hợp bàn luận đã định xong, nhưng Cập và Khởi tự ý sửa đổi bản nghị thảo[25], cho phép mua bán mỏ sắt Từ Hồ ở Hưng Quốc quân, vẫn giữ nguyên chế độ ban hàng. Người chủ mỏ sắt Từ Hồ là họ lớn Trình Thúc Lương. Hàn lâm học sĩ Hồ Túc và các quan khác hặc tội Cập và Khởi, vốn là chức vụ trong Đài gián, lại vì họ Trình mà kinh doanh, chiếm đoạt ân trạch, xin chiếu hỏi tội trạng. Cập và Khởi nhận tội, nên đều bị cách chức.
[52] Ngày Bính Tuất, sai quyền Tam ty sứ Bao Chửng, Hữu Gián nghị đại phu Lữ Cư Giản, Hộ bộ phó sứ Ngô Trung Phục cùng xem xét định việc thu thuế đều. Lại sai Thiên Chương các đãi chế Trương Diễm vào ngày Bính Dần tháng 6. Lại sai Xu mật trực học sĩ Lữ Công Bật vào ngày Bính Thân tháng 9. Lại sai Lữ Cảnh Sơ vào ngày Đinh Dậu tháng 5 năm thứ 6. Lại sai Tư Mã Quang vào tháng 7 năm thứ 6. Theo hành trạng của Tiết Hướng: Hướng làm chuyển vận sứ Thiểm Tây, tháng 4 năm thứ 6 thăng làm Tư huân viên ngoại lang, chuyên trách việc thu thuế đều.
[53] Ngày Mậu Tý mùng một tháng 5, giáng Hộ bộ lang trung, Tri chế cáo Trương Côi làm Tri châu Hoàng Châu, Bí thư lang, Quán các hiệu khám Lưu Cẩn bị cách chức. Ban đầu, Côi soạn cáo từ tặng quan cho cha của Cẩn là Lưu Hãng, nói rằng Hãng chỉ là kẻ hào phú trong làng, nhờ phụ họa mà lên đến chức tể tướng. Cẩn dâng sớ kêu oan lên triều đình, không được trả lời, bèn mặc tang phục chặn tể tướng tự kể lể, lại còn xỉ vả Côi về sáu bảy việc riêng tư không ngừng. Giám sát ngự sử lý hành Trần Chu hặc tấu, cả hai đều bị cách chức và khiển trách.
Chu là người Kiến Dương.
Thị ngự sử Trần Kinh tâu: “Con của Lưu Hãng là Cẩn vì Trương Côi soạn cáo từ tặng quan cho cha không đúng, đã dâng năm trạng kêu oan, triều đình đã cách chức Côi làm Tri châu Hoàng Châu, tước chức hiệu khám của Cẩn. Nghe đồn rằng các trạng tấu của Cẩn đều được dâng vào cửa Nội Đông. Cẩn đang chịu tang, tên đã bị xóa khỏi sổ quan chức, không biết vì sao lại có thể đến được đó. E rằng Cẩn đã ngầm kết thân với các nội thần bên cạnh, nhờ họ thu nhận trạng tấu, xin hãy tra xét rõ tình hình và nghiêm trị.”
Trung thư sau đó lấy được trạng của Ngự dược viện, mới biết là do chỉ dụ nội giáng theo lời thỉnh cầu của Cẩn, theo lệ của Yến Thù, mọi việc xin về sau khi Lưu Hãng mất đều được dâng vào Ngự dược viện. Chiếu rằng từ nay về sau, nếu thần liệu nào xin dâng văn tự vào cửa Nội Đông của Nhập nội nội thị tỉnh Ngự dược viện[26], thì phải báo lên Trung thư, chờ chỉ dụ.
[54] Chiếu rằng: “Kinh sư đang có dịch lớn, nhiều người nghèo bị thầy thuốc dở làm chết oan. Hãy lệnh cho Hàn lâm y quan viện chọn danh y đến nơi phát thuốc để hỏi bệnh tình rồi cấp thuốc.”
[55] Ngày Kỷ Sửu, kinh đô xảy ra động đất.
[56] Tây thượng các môn sứ, Thứ sử châu Anh là Quách Tư dâng lên xe cự mã do mình chế tạo. Tư từng làm Tri châu Lộ, nói rằng hai quận Hoài, Bảo gần núi, có thể trồng lúa, từ Định Vũ, Đường Hà đến khu vực Doanh, Mạc, có thể khai khẩn ruộng nước. Lại chế tạo xe lộc giác, thương hãm mã, xin mở rộng việc sử dụng nỏ độc viên ở các đạo khác. Vua xuống chiếu cho Tư đặt 1.000 cái nỏ, phân phát cho hai châu Tịnh, Lộ.
Tư lại tâu: “Thần từ khi đội mũ võ, chưa từng một ngày nào không nghĩ đến kế sách chống giặc. Trước đây đi sứ Khiết Đan, thấy đất U Yến rộng chưa đầy 300 dặm, không đủ chi phí nuôi 10 vạn người trong một năm, lại là quân ô hợp, không có 20 vạn quân thì không dám khởi binh. Nếu dùng mưu kế khống chế, khiến chúng khởi binh không có lợi, ở lại không có lương thực cung cấp, thì không quá vài năm, chúng tất bỏ U Châu mà chạy. Những năm đầu Khánh Lịch, vạch kế hoạch dùng sông lớn nhỏ ở Hà Bắc để ngăn địch, chính là mưu kế đó. Xe nỏ do thần chế tạo có thể phá được giáp cứng, chế ngự được kỵ binh xung phong. Nếu đặt nhiều xe nỏ, lại nhờ nước lớn hỗ trợ, thì lấy đất U Kế dễ như lấy đồ trong túi vậy.”
Khi ấy, Tam ty bàn việc chia đều thuế ruộng, Vua triệu Tư về. Tư dâng 40 điều về phép chia đều thuế ruộng. Lại dâng kế sách bình định U Yến, nói rằng:
“Đất của Khiết Đan, từ Ngoã Kiều đến Cổ Bắc Khẩu, đất hẹp dân ít; từ Cổ Bắc Khẩu đến Trung Kinh, thuộc về người Hề và Khiết Đan; từ Trung Kinh đến Khánh Châu, dọc đường chỉ có hơn bảy trăm hộ. Tuy lãnh thổ Khiết Đan rộng lớn, nhưng người và ngựa rất ít, nếu họ tiến xuống phía nam, chắc chắn sẽ dẫn theo các nước Cao Ly, Bột Hải, Đạt Đát, Hắc Thủy Nữ Chân, Thất Vi cùng tham chiến, đường xa đến, lương thực sẽ thiếu thốn. Thần nghe rằng lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt, lấy no đợi đói, là kế sách hay trong dùng binh. Lại nghe rằng đánh bại kẻ địch tự đến là thắng, chiếm cứ đất thuận lợi trước là nhàn.
Theo ý thần, xin áp dụng sách lược năm Khánh Lịch, hợp các sông ở phía bắc giới hạn Đường Bạc để ngăn chặn ngựa của giặc, sau đó theo chuyện cũ năm Cảnh Đức, đóng quân phòng thủ. Bộ binh mười hai vạn[27], kỵ binh ba vạn, tráng binh ba vạn, mỗi năm tính lương hướng một trăm tám mươi ba vạn sáu nghìn hộc. Lại có các quận ấp ven sông, có thể vận chuyển bằng đường thủy để cung cấp cho Bảo Châu. Sau đó dùng ba nghìn xe ngựa chặn, một nghìn năm trăm giáo chống ngựa, ba mươi nghìn nỏ độc viên, chọn năm tướng, thần có thể đảm nhận một phần, địch đến thì đánh, địch rút thì không đuổi. U Châu lương thực dự trữ vốn ít, địch không thể ở lâu, chưa đầy nửa năm, ắt sẽ rút về sa mạc. Khi đó tiến quân chặn Cổ Bắc Khẩu, đóng cửa Tùng Đình Quan, truyền hịch U Kế, đất Yến Nam sẽ tự yên.
Xưa kia, Hán Cao Tổ cầm thanh kiếm ba thước dẹp yên thiên hạ, chỉ còn Hung Nô chưa diệt, đến thời Hiếu Vũ mới đuổi được chúng ra khỏi Mạc Bắc. Đường Thái Tông dựng cờ nghĩa lấy thiên hạ, chỉ còn Thổ Phồn chưa diệt, đến thời Đại Tông chúng mới vào cống xưng phiên. Thái Tổ ta vâng mệnh trời, thiên hạ đều phục, chỉ còn Khiết Đan chưa diệt, đang đợi mưu lược thánh minh, phụng mệnh trời mà đánh dẹp. Hơn nữa, chỗ dựa của chúng chỉ có ngựa mà thôi. Chỉ cần dùng nhiều cách khiến ngựa của chúng không thể phát huy tác dụng, thì kẻ địch có thể đánh bại, U Yên có thể lấy lại.”
Vua khen ngợi lời nói ấy, xuống chiếu chế tạo hai vạn cái nỏ một trục, sau đó lại sai tham gia cùng việc kiểm điểm các kho tàng trong kinh, và chọn lọc binh khí trong kho quân khí nội phủ, giao cho các xưởng Nam Bắc sửa chữa hoàn thiện, đặc biệt sai làm chức đề cử.
(Việc cùng kiểm điểm trăm quan vào tháng bảy ngày Giáp Thìn, việc đề cử sửa chữa hoàn thiện binh khí vào tháng tám ngày Kỷ Mùi, nay ghi chép chung lại.)
[57] Quý nhân họ Đổng sinh hoàng nữ thứ mười một, ngày Canh Dần, được tiến phong làm Mỹ nhân, nhưng bà cố từ chối, xin tặng cha một cấp quan[28], Vua đồng ý theo lời thỉnh cầu.
[58] Ngày Nhâm Thìn, ban tiền cho binh lính tham gia tu sửa bờ gỗ sông Hiệp.
[59] Ngày Quý Tỵ, ban thóc lụa cho tiến sĩ Dương Thích ở Minh Châu, vì chuyển vận sứ tâu rằng văn chương và đức hạnh của ông được khen ngợi trong làng.
[60] Chiếu rằng: “Quan lại bãi nhiệm ở Tây Xuyên, Quảng Nam có con cháu đi theo về nguyên quán mà không kịp nhận giải, người ở Tây Xuyên, Quảng Nam, Phúc Kiến bãi nhiệm, cùng những người vốn là dân Tây Xuyên, Quảng Nam, Phúc Kiến[29], hiện đang ở quê nhà chờ bổ nhiệm, đều cho phép đến Ty Chuyển vận của bản lộ để nhận giải[30]. Những người thi Minh Kinh, các khoa ở kỳ thi Hương mà ba trường đầu có chín hoặc mười bài không đạt, lệnh cho Cống viện xét lại, nơi gửi thi phải nộp lại quyển thi. Nếu lấy bài không đạt làm bài thô, lấy bài thô làm bài đạt, cùng ra đề không theo quy định, dẫn đến tiến cử sai, thì xử theo luật cũ, không được giảm nhẹ. Nếu việc chấm thi đạt, thô và ra đề đúng quy định không có sai sót, mà ở kỳ thi Hương ba trường đầu có chín hoặc mười bài không đạt, thì quan chấm thi giảm một bậc tội so với luật cũ. Luật cũ phải giáng chức thì được miễn giáng, người được bổ nhiệm phải thay thế thì thực giáng một bậc, quan triều đình bị cách chức thì phải thay thế, người thay thế thì phải giám sát, người giám sát thì phải điều đi nơi xa.”
Trước đó, Hiệu lý Bí các Trần Tương tâu rằng: “Tệ nạn của các khoa thi là việc truyền nghĩa khó cấm, mà quan chấm thi chỉ xét văn, không thể kiểm tra hết. Đến khi thi Hương có mười bài không đạt, thì quan chấm thi phần nhiều bị tội cách chức. Xét tình hình định tội, nên được giảm nhẹ.” Bèn hạ lệnh cho hai chế và Cống viện bàn bạc rồi quyết định.
[61] Ngày Giáp Ngọ, Quan văn điện Đại học sĩ, Hộ bộ Thị lang Bàng Tịch được phong làm Thái tử Thái bảo rồi về hưu. Bàng Tịch từ Định Châu được triệu về, sau khi vào yết kiến, đến Trung thư trình bày với chấp chính xin về hưu. Chấp chính nói: “Ngài còn khỏe mạnh như vậy, lại được bệ hạ yêu mến, sao lại kiên quyết muốn từ chức?” Bàng Tịch đáp: “Nếu đợi đến khi sức lực suy kiệt, bệ hạ chán ghét rồi mới từ chức, đó là bất đắc dĩ, sao có thể gọi là biết đủ!” Rồi về nhà nằm nghỉ. Trước sau tổng cộng dâng biểu bảy lần, tờ tấu không kể xiết, mới được chấp thuận, và được chiếu cho Bàng Tịch ra vào theo nghi thức của nhị phủ.
[62] Ngày Ất Mùi, xuống chiếu: “Kinh thành đang có dịch bệnh, miễn thuế nhà cửa công tư trong mười ngày.”
[63] Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu cho Tam ty lập ra ty Khoan Tuất Dân Lực. Tháng 6, ngày Ất Hợi, sai sứ đi. Bản kỷ chỉ chép việc sai sứ, không chép việc lập ty.
[64] Ngày Kỷ Hợi, Tiến sĩ Dĩnh Châu là Thường Trật được bổ làm Thí Tướng tác giám Chủ bạ, Giáo thụ châu học bản châu. Hàn lâm học sĩ Hồ Túc tâu rằng văn chương và đạo đức của ông được người trong hương lý khen ngợi.
Thường Trật người Lâm Nhữ, từng thi Tiến sĩ không đỗ, lui về ở nơi hẻo lánh hơn hai mươi năm, học hành cầu tự thân hiểu biết, đặc biệt giỏi về 《Xuân Thu》. Học giả thường lấy điều Tôn Phục học hỏi hỏi Thường Trật, Trật nói: “Đó là pháp của Thương Quân, bước quá sáu thước hay vứt tro ra đường đều bị trừng phạt, quá phi nhân tình.” Thường Trật vào năm Hoàng Hựu thứ 6 được ban thóc lụa.
[65] Ngày Giáp Thìn, Quang lộc tự Thừa về hưu là Lương Tạo được bổ làm Thái thường tự Thái chúc, tri huyện Đơn Phụ. Kinh Đông An phủ sứ tâu rằng tiết hạnh của ông nổi tiếng trong hương lý, nên đặc cách bổ dụng.
[66] Ngày Bính Ngọ, Lâm Duy, chức Bí thư giám, xin về hưu. Trước đó, Duy làm Tri châu Nhữ Châu, phần mộ của Tần Điệu Vương nằm ở Nhữ Châu, tông thất chôn cất theo, sử dụng binh lính không dưới năm nghìn người. Duy thấy Nhữ Châu gần quê nhà, nhân dịp binh lính hoàn thành công việc, bèn sai họ đi hái củi, đốt than, rèn sắt đá, chở về nhà mình. Mọi người oán hận, âm mưu giết Duy, nhưng gặp lúc trời tối, cổng thành đóng không vào được, bèn cướp đại hiệu, cùng nhau nổi loạn bỏ trốn. Duy trốn không dám ra. Thông phán, Đại Lý bình sự Đậu Biện phá khóa mở cổng kêu gọi họ, khuyên bảo nhiều lần, mọi người đã tạm yên, bèn nói dối rằng: “Bọn này chỉ say rượu gào thét thôi[31].” Bí mật bắt giữ người cầm đầu, tâu lên triều đình, tất cả đều bị đày đi. Nhân đó, triều đình hạ chiếu cho Duy về hưu.
Biện là người Oan Câu.
(Phụ truyện và bản truyện của Duy đều không ghi lý do về hưu, nay lấy theo truyện Đậu Biện chép thêm vào đây.)
[67] Ngày Mậu Thân, Trần Húc, chức Xu mật trực học sĩ, Lại bộ lang trung, quyền Tri Khai Phong phủ, vì bệnh chân được miễn chức, giáng làm Hữu gián nghị đại phu, cùng Đề điểm tại kinh chư ty khố vụ; Thái Tương, chức Xu mật trực học sĩ, Lễ bộ lang trung, Tri Tuyền Châu, được bổ làm Hàn lâm học sĩ, quyền Tri Khai Phong phủ.
[68] Giáng chức Hữu Gián nghị đại phu, quyền Ngự sử trung thừa Hàn Giáng làm Tri châu Thái Châu. Trước đây, Giáng đã dâng tấu đàn hặc tể thần Phú Bật, và nói rằng Trương Mậu Thực bị người ta cho là con của Tiên đế, lại được dùng làm quản quân, việc này bí mật khó lường. Sau đó, Giáng ở nhà chờ tội, tự nói không dám xưng là Ngự sử trung thừa nữa. Vua sai trung sứ đến triệu, nhưng Giáng không ra. Hôm sau, các quan thuộc đài đến khuyên, Giáng mới ra, nhưng lại không cầm hốt đi qua triều đường. Các quan như Tri gián viện Đường Giới, Hữu Chánh ngôn Vương Đào, Thị ngự sử tri tạp sự Phạm Sư Đạo, Ngự sử Trần Kinh, Lã Hối, Lý hành Trần Chu đều tâu rằng: “Mậu Thực trước đây bị tên lính cuồng báng bổ, đã được triều đình minh oan; lại được dùng làm quản quân là do Trung thư, Mật viện cùng bàn, người ta cũng không có lời dị nghị. Nay Giáng chỉ muốn dùng luật pháp nguy hiểm để hãm hại bề tôi[32], mà không biết rằng việc nắm lấy lời nói vô căn cứ, làm dao động lòng người, lại gây bất tiện cho triều đình; thêm nữa, cử chỉ của Giáng điên đảo, không đủ làm gương cho trăm quan.” Vì thế, Giáng bị điều ra ngoài.
[69] Ban thưởng cho Quốc tử bác sĩ, Tân Thông phán Minh Châu Triệu Chí Trung[33] 100 lạng bạc, 100 tấm lụa, vì Chí Trung nhiều lần dâng việc cơ mật của Khiết Đan.
(《Thực lục》 chép: Chí Trung dâng 10 tập việc cơ mật về binh mã Khiết Đan và bản đồ săn bắn của Khiết Đan. Sợ trùng với ngày Tân Mùi tháng 4 năm thứ 2[34], nên hơi sửa chữa lại.)
[70] Ngày Quý Sửu, lấy Thị ngự sử Triệu Biện làm Hữu Ty gián, làm việc ở Gián viện.
[71] Ngày Giáp Dần, lấy Chu Xử Nhân, chức Phương viên ngoại lang, đang giữ chức Đề cử vận diêm công sự các lộ Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ, Phúc Kiến, làm Đồn điền lang trung. Lúc đó mới đặt ty Vận diêm, Xử Nhân hết hạn nhiệm kỳ nên được thăng chức, đã bổ làm Từ bộ lang trung, nhưng mệnh lệnh chưa ban xuống, mà Xử Nhân tự viện dẫn lệ xin đổi tên, nên bị giáng chức.
[72] Ngày Ất Mão, Vua ngự điện Sùng Chính, xét tù nhân, những người phạm tội chết trở xuống đều giảm một bậc, tội đồ trở xuống thì tha.
[73] Tháng 6, ngày Ất Sửu, ban chiếu răn những người dâng thư tố cáo tội người khác hoặc nói việc trước khi đại xá, cùng các quan giữ việc can gián đàn hặc những lỗi nhỏ hoặc không liên quan đến chính thể. Lúc đó Điện trung thị ngự sử Lã Hối tâu: “Theo lệ cũ, các quan đài gián được phép dựa vào lời đồn mà tâu việc, là để mở rộng sự tiếp thu, giúp bổ sung những thiếu sót của triều đình. Gần đây các quan trong ngoài nhiều người dâng chương tố cáo tội người khác, vốn không phải chức phận của họ, thực là lấn quyền. Thậm chí có kẻ chỉ trích những thiếu sót bình thường, phơi bày những việc mờ ám, thái độ khắc nghiệt dần thành thói quen, xin trừng trị cải cách.” Vì thế ban chiếu này.
(Sách 《Đông Đô Sự Lược》 của Vương Xưng chép: Chiếu viết: “Trẫm nghe các đời trước được gọi là thịnh trị, là do Vua tôi đồng lòng, trên dưới hòa thuận, người dân biết tiết độ lễ nghĩa, phong tục không có thói xấu tố cáo nhau, đức hạnh thật là lớn lao! Trẫm tuy không thông minh, nhưng cũng từng ngưỡng mộ. Từ nay các quan lại nếu có ai dâng thư tố cáo tội người khác hoặc nói việc trước khi đại xá, đều sẽ bị tra xét. Các quan giữ việc can gián tuy được phép dựa vào lời đồn, nhưng nên chú trọng đại thể, nếu việc liên quan đến triều chính, thì không ngại bàn luận tận tình, còn những việc nhỏ nhặt khác thì không cần xét đến.”)
[74] Ngày Bính Dần, sai Thiên Chương các đãi chế Trương Diễm cùng xét định việc thuế đều.
[75] Ngày Mậu Thìn, lấy Ninh Quốc tiết độ phó sứ Tôn Miễn làm Quang lộc khanh, coi việc ở Tây Kinh.
[76] Ngày Tân Mùi, Hàn lâm học sĩ Hồ Túc, Ngự sử trung thừa Triệu Khái xem xét thành tích của các chuyển vận sứ và đề điểm hình ngục.
[77] Ngày Nhâm Thân, ban chiếu cho Lễ bộ Cống viện: “Những người thi nội ngoại toả sảnh và thân thích cử nhân đều cùng dự thi, lấy một phần mười; nếu không đủ mười người, cũng cho phép lấy một người; bốn người trở xuống thì gửi đến các lộ lân cận để thi chung.”
[78] Ngày Ất Hợi, cử quan đi khắp thiên hạ, thăm hỏi việc khoan thứ sức dân. Tháng 5, ngày Đinh Dậu, lần đầu đặt ty.
(Trương Lỗi trong 《Minh đạo tạp chí》 viết: “Hàn Ngụy công khi nắm quyền, cử sứ giả đi các đạo, lấy danh nghĩa khoan thứ sức dân. Sau khi đi, Ngụy công rất hối hận, mỗi khi gặp khách từ ngoài đến, đều hỏi xem sứ giả khoan thứ có quấy nhiễu quận huyện không, lo sợ sứ giả gây phiền nhiễu, khiến dân chúng thêm bất an. Không lâu sau, đều bãi bỏ.” Việc này cần xem xét thêm. Nay ở chùa Hạ Nham thuộc quân Vân An có khắc đá ghi: “Lệnh huyện Tư Quan châu Vinh là Khổng Tự Tông phụng chiếu khoan thứ sức dân, ngày 15 tháng 10 năm Gia Hựu thứ 6 đi qua đây.” Không rõ cuối cùng bãi bỏ sứ giả khoan thứ vào thời gian nào. Như vậy, lời Trương Lỗi nói “không lâu sau” là không đúng.)
[79] Ngày Mậu Dần, Kinh lược ty Quảng Tây tâu rằng, hơn 50 tên giặc man ở Giáp Động châu Ung vào cướp phá. Chiếu cho châu Ung phát binh đánh dẹp.
[80] Ngày Tân Tỵ, ty Tường định biên chế tâu: “Trong các cung viện của hoàng thân, nếu có y phục, đồ trang sức, đồ dùng vi phạm cấm lệnh, hoặc dù là đồ được ban tặng hoặc do cha ông để lại, cho phép cải tạo trong vòng 100 ngày. Nếu vi phạm, quan sứ thần trong cung phát hiện, báo lên Đại tông chính ty thi hành.” Được chấp thuận.
[81] Ngày Giáp Thân, chiếu cho Thẩm quan viện, các quan kinh triều đáng lẽ phải nhận chức ở Tây Xuyên, Quảng Nam, Phúc Kiến lộ mà dùng tiến cử để tránh đi, giao cho viện này tâu lên.
[82] Tam ty dâng tấu về việc giảm bớt phí tổn thừa, rằng những năm gần đây, lương bổng của cung nữ tăng gấp đôi, xin dựa theo số lượng tần ngự trở xuống từ đầu niên hiệu Thiên Thánh, đặt làm định ngạch. Được chấp thuận.
[83] Điều lệ do Cáp môn biên soạn tâu:
“Thấy các bề tôi vì bệnh xin miễn các nghi thức lớn như đứng dậy, đi lại, múa hát, v.v., nghĩ rằng bề tôi gặp Vua phải hết sức cung kính, nếu có điều gì không đạt, ắt sẽ bị phạt; vì bệnh mà tự xin giảm bớt lễ bái, người ta lấy sự tiện lợi cho mình, không phải là cách để thể hiện sự cung kính và tôn trọng triều đình. Hơn nữa, có bệnh mà xin nghỉ, đã được phép trong luật lệ, giảm bớt lễ nghi khi gặp Vua, xưa nay chưa từng có. Từ nay, ai dám xin như vậy, xin bảo các quan ở cửa khuyết tâu lên, trừng phạt nặng. Chỉ có các đại thần có công lao và đức độ, cần được trọng dụng, thì theo chỉ đặc biệt.
Lại nữa, hôm qua ở điện Sùng Chính trình diễn nhạc lớn, theo lệ xem cây trúc đôi, triệu tập quan phán sự quần mục. Xét lại nghi thức, các cuộc du ngoạn yến tiệc triệu tập đều có quy định rõ ràng, nhưng quan phán sự quần mục không được tham dự. Đó là do sơ suất của quan chức thời đó, nên mới có lệ này. Xin từ nay về sau, các cuộc du ngoạn yến tiệc không theo thứ tự, không cần triệu tập nữa. Những người kiêm nhiệm chức vụ ở các quán các, thì theo lệ của quan chức quán các.
Lại nữa, các quan đô tri và áp ban nếu không kịp lên triều, thì cho làm thành một ban riêng để đứng dậy. Chúng tôi cho rằng nghi thức triều đình đều có quy định, nếu không đủ lễ, gọi là bất kính. Bất kính thì bị phạt, chưa từng nghe việc đặt sẵn một ban riêng để đối phó với những người không đủ lễ, xin bãi bỏ.
Lại nữa, ba người đỗ đạt trong nội các, chính và quyền phán sự tam ty đều được ban áo tía. Chúng tôi cho rằng theo chế độ xưa, người có chức vụ nào thì mặc áo phục tương ứng, chưa từng nghe trong một chức vụ lại lấy thứ bậc nhập sĩ để phân biệt nặng nhẹ, e rằng không phải là đạo lý bình đẳng khuyến khích của thánh triều, xin bãi bỏ.
Lại nữa, trong các buổi đại triều hội, việc ngồi trên ghế nhỏ, đội lọng mát dưới hàng Trung thư môn, hoặc nơi xuống ngựa của Trung thư, Xu mật viện, đều là những ân điển đặc biệt và lễ nghi khác thường. Những năm gần đây, các đại thần thường được hưởng những điều này. Xem xét kỹ các lễ nghi trước đây, đều là những điều triều đình dùng để tôn vinh và phân biệt các đại thần chấp chính. Người không có địa vị thì không nên được hưởng. Nếu ai cũng được hưởng, thì xe và y phục sẽ trở nên nhẹ nhàng mà không tôn quý. Xe và y phục nhẹ nhàng mà không tôn quý, thì người hiền sẽ lười biếng, còn kẻ bất tiếu sẽ có lòng khinh nhờn bề trên. Điều này không thể không thận trọng. Đã biên soạn riêng thành sách, không coi là lệ thường, chỉ để phòng khi thiên tử có chiếu chỉ đặc biệt, gia tăng lễ nghi cho các bậc lão thành, công thần có đức, hỏi lại chuyện cũ từ các cơ quan, thì có thể đối đáp. Xin lệnh cho Cáp môn, từ nay nếu không có chiếu chỉ hỏi han, thì không được tự tiện đề cử.”
Đều theo lời tâu.
(Việc này căn cứ theo《Hội yếu》là sự việc ngày 26 tháng 6, nay phụ vào cuối tháng.)
Lại tâu:
“Các vật phẩm ban tặng, phần nhiều là do từng người tự xin, mới được cấp phát. Nhưng việc ban tặng là điều mà bậc quân vương dùng để ưu đãi và sủng ái bề tôi, có lễ nhận mà không có văn tự tự xin. Nay những gì đáng ban, các cơ quan không lập tức thi hành, phải đợi đến khi tự nói, hoặc dẫn chứng tỷ lệ, đơn từ kiện tụng lộn xộn, thật là mất thể thống trên dưới. Trong đó, các văn thần và quân viên được bổ nhiệm chức vụ bên hữu, phần nhiều là dâng trạng xin ban tặng công phục, hia, hốt, đai lưng. Xin từ nay về sau, phàm ai đổi sang chức vụ bên hữu, thì lập tức cho Cáp môn dẫn lệ cấp phát.
Lại nữa, các quan được miễn triều từ, không được cấp phát vật phẩm[35]. Xét thấy, nếu liên tiếp gặp ngày nghỉ hoặc có việc sai phái khẩn cấp, mới được phép miễn triều từ. Nếu đáng được cấp phát vật phẩm, thường phải tự tâu trình, thậm chí cả các quan cận thị và triều thần cũng không được miễn, điều này rất mất thể thống. Xin từ nay về sau, các quan được miễn triều từ[36], nếu không phải do phạm tội bị khiển trách, thì sau khi có chỉ đặc biệt, sẽ được cấp phát vật phẩm theo quy định, lệnh cho Cáp môn chiếu lệ cấp phát.
Lại nữa, các sứ thần triều từ[37], tuy không phải là sai phái thân dân, nhưng nếu trong sắc mệnh ghi rõ là thuộc thứ bậc thân dân, thì đều chiếu theo lệ của giám áp mà cấp phát vật phẩm triều từ. Nếu trong sắc mệnh không ghi rõ chức quan thuộc thứ bậc thân dân, thì sẽ hỏi Tam ban viện để cấp phát. Như vậy, việc cấp phát vật phẩm cho sứ thần không phụ thuộc vào thứ bậc sai phái, mà dựa vào thứ bậc của bản thân họ. Xin hạ lệnh cho Tam ban viện, từ nay về sau, nếu sứ thần nhận sai phái thuộc thứ bậc thân dân, không phải do tự nguyện xin làm giám đương, thì lập tức báo cáo Cáp môn. Các chức tri châu giáng cấp làm thông phán, thông phán giáng cấp làm thiêm phán, tri huyện, nếu không phải do phạm lỗi bị giáng chức, thì đều chiếu theo thứ bậc mà cấp phát vật phẩm triều từ. Xin lệnh cho Thẩm quan viện chiếu theo thể lệ của Tam ban viện mà báo cáo.”
Đều theo lời tâu.
(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 tháng 6 năm thứ 5, nhưng không rõ ngày, nay phụ chép vào đây.)
- Ghi chép: Lưu Kế Nguyên, chắt là Lưu Doãn được bổ làm Tam Ban Tá Chức. 'Kế' nguyên bản viết 'Duy', chữ 'tằng' bị thiếu, căn cứ vào bản trong các sách và 《Tống Hội Yếu》 Sùng Nho 7-75, 《Tống Sử》 quyển 12, kỷ Nhân Tông sửa và bổ sung. ↵
- 'Sao lớn' nguyên văn là 'sao Hoả', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và 《Biên niên cương mục》 quyển 16, 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ, 《Tống sử》 quyển 302 truyện Phạm Sư Đạo sửa lại. Lại nữa, 'tây nam', 《Biên niên cương mục》 và 《Tống sử》 truyện Phạm Sư Đạo đều chép là 'đông nam'. ↵
- 'Rơi', 《Biên niên cương mục》 và 《Tống sử》 quyển 302 truyện Phạm Sư Đạo đều chép là 'di chuyển'. ↵
- 'Giặc cướp' nguyên văn là 'ngoại di', căn cứ theo 《Biên niên cương mục》 và 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ sửa lại. ↵
- mà lại so sánh với việc dân gian được giảm tội, hai chữ 'hội giáng' vốn thiếu, hai chữ 'vi tỷ' vốn đảo ngược, căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và truyện Vương Đào trong quyển 329 sách Tống sử, cùng bài minh trên bia mộ Thượng thư Vương Đào trong quyển 6 sách Thục văn tập tồn của Phó Tăng Tương để bổ chính. ↵
- nhiều lần xin giám sát đạo quán Linh Tiên, chữ 'giám' vốn là 'kiến', căn cứ vào bản Tống toát yếu và các bản khác sửa lại. ↵
- vẫn còn đòi nợ chưa xong, chữ 'túc' vốn là 'cập', căn cứ vào các bản khác sửa lại. ↵
- khi chiếu cho ty An phủ sứ của bản lộ điều tra tình hình, chữ 'cập' ở đây khó hiểu, nghi là chữ 'nãi' viết nhầm. ↵
- Chữ 'kinh' trong 'Kinh thành ngoại tứ diện tuần kiểm' vốn thiếu, theo 《Tống hội yếu》 chức quan 48-128 bổ sung ↵
- Chữ 'đại' trong 'Quan văn điện đại học sĩ' vốn thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống sử》 quyển 285, truyện Lưu Hãng bổ sung ↵
- Chữ 'tốt' trong 'Hình bộ thượng thư Lưu Hãng tốt' vốn thiếu, theo hai bản trên, bản các và cùng sách bổ sung ↵
- Chữ 'tam' trong 'tháng 10 năm thứ 3 niên hiệu Trị Bình' nguyên bản viết là 'nhị', căn cứ theo bản trong các và 《Tống hội yếu》 chức quan 48.129 sửa lại. ↵
- Chữ 'giới' trong 'duyên giới hà' nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung. ↵
- chữ 'quyên' nguyên bản là 'tổn', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa lại ↵
- chữ 'yên' nguyên bản là 'vi', căn cứ theo ba bản trên sửa lại ↵
- chữ 'sắc' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung ↵
- Chiếu thư ngày Kỷ Tỵ bãi bỏ lệnh cấm trà, 'Kỷ Tỵ' nguyên bản viết là 'Đinh Tỵ', xét chiếu thư bãi bỏ lệnh cấm trà ban hành vào tháng 2 năm Gia Hựu thứ 4, quyển 189 của bộ sách này và quyển 9 hạ của 《Tống sử toàn văn》 đều ghi là ngày Kỷ Tỵ, hai bản trên đều viết là 'Kỷ Tỵ', theo đó mà sửa. ↵
- Đến những ý tứ sâu xa uẩn khúc 'ý' nguyên tác là 'dân', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm lược đời Tống mà sửa. ↵
- Muốn cứu vãn những sai lầm và thiếu sót, 'cứu' nguyên bản là 'cầu', căn cứ theo hai bản trên, bản các và sách Âu Dương Văn Trung Công tập quyển 112, Luận trà pháp tấu trạng mà sửa ↵
- 'Cổ' nguyên bản là 'thiệt', căn cứ theo các bản và sách trên mà sửa ↵
- Tiền thuê ruộng của các hộ trồng trà là 329.855 quan, nguyên bản ghi là 'thuế tiền', căn cứ vào các bản khác và 《Biên niên cương mục》 quyển 16, 《Tống sử》 quyển 184 《Thực hóa chí》 sửa lại. ↵
- mà giáo hóa chưa thể dẫn dắt họ làm điều thiện sao 'họ' nguyên tác 'mà', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử quyển 199, Luật hình chí sửa lại. ↵
- không nên vượt lên trên họ 'vượt' nguyên tác 'xuất', căn cứ theo hai bản trên, các bản khác và Tống sử toàn văn quyển 9 hạ sửa lại. ↵
- Thị độc học sĩ, chữ 'độc' nguyên bản là 'giảng', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử quyển 292, Tôn Biện truyện sửa lại. ↵
- Cập và Khởi tự ý sửa đổi bản nghị thảo, chữ 'thảo' nguyên bản là 'cách', căn cứ theo hai bản trên, các bản khác và Tống hội yếu chức quan 65/20 sửa lại. ↵
- Nhập nội nội thị tỉnh Ngự dược viện Nội Đông môn, chữ 'Môn' nguyên là 'Viện', theo các bản khác và văn trên sửa lại. ↵
- Bộ binh mười hai vạn 'Mười hai' hai chữ nguyên đảo, theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và truyện Quách Tư trong quyển 326 《Tống sử》 sửa lại. ↵
- Xin tặng cha một cấp quan, chữ 'tặng' trong hai bản trên và bản các đều viết là 'tăng'. ↵
- Nguyên văn 'Quảng Tây' sửa thành 'Tây Xuyên, Quảng Nam' theo ba bản khác. ↵
- Nguyên văn 'Chuyển vận sứ' sửa thành 'Chuyển vận ty' theo ba bản khác. ↵
- Bọn này chỉ say rượu gào thét thôi, 《Tống sử》 quyển 33. Truyện Đậu Biện chép là 'Các ngươi chỉ say rượu gào thét thôi, đừng sợ'. Nghĩa như vậy là đúng. ↵
- chữ 'bề tôi' xét theo văn nghĩa, nghi là 'đại thần'. ↵
- Triệu Chí Trung: Theo sách này, quyển 185, điều chú tháng 4 năm Gia Hựu thứ 2, ngày Tân Mùi, dẫn 《Đông trai ký sự》 của Phạm Trấn, gọi là 'Triệu Chí Trung'. ↵
- Nguyên văn là 'Tân Dậu', sửa theo sách này, quyển 185, tháng 4 năm Gia Hựu thứ 2, ngày Tân Mùi. ↵
- 'phân' trong 'canh bất chi tứ phân vật', bản Tống và bản Tống toát yếu chép là 'tiền', các đoạn sau cũng vậy ↵
- trong câu 'khất kim hậu thần liêu phóng miễn triều từ', chữ 'liêu' dưới nguyên có chữ 'ư' thừa, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các bản đã xóa ↵
- trong câu 'hựu sứ thần triều từ', chữ 'sứ' nguyên chép là 'tứ', theo ba bản trên đã sửa ↵