II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 30: NĂM ĐOAN CỦNG THỨ 2 (KỶ SỬU, 989)
Bắt đầu từ tháng giêng năm Đoan Củng thứ 2 đời Thái Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Tỵ, Vua ban chiếu cho các quan văn võ trình bày kế sách phòng thù biên cương. Hữu chánh ngôn, Trực sử quán người Hà Nam là Ôn Trọng Thư dâng tấu chương đầu tiên, Vua rất hài lòng. Ngày Ất Mùi, ban cho Trọng Thư kim tử (áo vàng, đai tía).
[2] Hộ bộ lang trung Trương Kỵ tấu nghị rằng:
(‘Kỵ truyện’ và ‘Kinh Vũ Thánh Lược’ đều chép là vào đầu năm Đoan Củng. Xem theo ‘Kỵ tập nghị biên trạng’ thì chép rằng nhận được ngự trát vào ngày 11, bảo các quan dâng tấu chương. Tra ‘Thực lục’, năm Đoan Củng thứ nhất không có việc này, đến năm nay, ngày Quý Tỵ mới có chiếu này. Quý Tỵ là ngày 11 tháng giêng, lời chiếu cũng giống với ngự trát chép trong ‘Kỵ tập’. Vì vậy, bản tấu này chắc chắn thuộc về tháng này, năm này, chứ không phải đầu năm Đoan Củng.)
“Từ khi Bắc nhung gây loạn đến nay đã nhiều năm, nguyên nhân là gì? Đó là vì Trung Quốc mất địa lợi, phân tán binh lực, tướng bị kiềm chế từ trung ương, binh sĩ không tuân mệnh. Bắc nhung gây họa cho Trung Quốc từ xưa đến nay, từ thời Hạ, Thương trở đi, càng ngày càng hung bạo. Các phương pháp phòng thù đều được ghi chép đầy đủ. Có khi vượt ải để giao chiến, có khi hòa thân kết hiếu, có khi dụ dỗ các bộ lạc để chia lực lượng chúng, có khi ép chúng thề nguyền để ổn định lòng dạ. Tuy nhiên, các kế sách này đều không phải là cách tối ưu. Tổng kết lại, chỉ có luyện binh, tích lương, phân binh đồn trú dưới biên ải, chúng đến thì phòng thủ, chúng đi thì không đuổi theo, đó mới là đúng.
Phàm những gì Trung Quốc dựa vào, chỉ là địa thế hiểm trở mà thôi. Từ biên giới phía Bắc trở xuống phía Nam, địa hình nhiều chỗ hiểm yếu, với núi sâu khe lớn kéo dài hàng vạn dặm, đó là cách trời đất phân chia Hoa Hạ và Nhung Địch, ngăn cách trong ngoài. Dù đến thời Mạo Đốn hùng mạnh, xưng bá ở phương Bắc, có thể huy động trăm vạn quân, đối đầu với Đại Hán, dẫn quân xâm lược phương Nam, nhưng cũng chỉ đến Bạch Đăng thì dừng lại[1]. Từ đó về sau, cho đến thời Tùy, Đường, Hung Nô tuy dựa vào sức mạnh, thỉnh thoảng xâm phạm biên cương, nhưng cuối cùng chưa từng dám đem quân vào Trung Nguyên, vượt qua phòng tuyến biên giới, tụ tập như chó dê, tiến thẳng đến Hà, Lạc, vì sợ quân Hán giữ nơi hiểm yếu và cắt đứt đường lui của chúng.
Xưa kia, Lý Mục đánh tan Hiểm Duẫn, lập công ở Vân Trung; Vương Khôi dụ Thiền Vu vào bẫy, phục binh tại Mã Ấp, đều là những việc như vậy. Nhưng từ đó đến nay, xâm lược vẫn không ngừng, biên giới hiếm khi được yên ổn, Trung Nguyên nhiều lúc phải lo lắng, thiên hạ náo loạn, nhiều lần đến mức kiệt quệ. Đất nước so với thời trước, sức mạnh lại càng gấp bội. Tại sao vậy? Từ Phi Hồ về phía Đông, với những cửa ải trùng điệp, núi non hiểm trở, đều thuộc về Khiết Đan. Từ Yến Kế về phía Nam, là vùng đất bằng phẳng rộng ngàn dặm, không có núi sông hiểm yếu ngăn cách, cả người Phiên và người Hán cùng sinh sống. Đó chính là lý do mất đi lợi thế địa lý, khiến Trung Quốc lâm vào cảnh khốn đốn.
Quốc gia muốn chế ngự thiên hạ, không thể dùng lẽ thường, mà phải xem xét lợi hại, đề ra kế sách vạn toàn. Nay các quận huyện ở Hà Sóc, thành lũy liền kề nhau, triều đình không kể thành ấp lớn nhỏ, đều đào hào xây lũy[2], chia quân phòng thủ. Khi giặc tiến về phía nam, đánh sâu vào nội địa, các thành đều tự thủ, không dám xuất chiến. Đó là các quận huyện nhà Hán, dựa vào thành kiên cố, giam giữ thiên binh, đợi quân địch đến. Vì thế, lũ giặc tự cao tự đại, đi lại giữa Yên, Triệu như vào chỗ không người. Khi chúng thừa cơ thuận tiện, đánh chiếm thành trì, quốc gia thường dùng quân một ấp để chống lại quân cả nước của địch. Quân ta ít, địch nhiều, nên liên tiếp thất bại, nguyên nhân không gì khác, chính là do chia quân.
Xưa Lưu Bị dựng nhiều trạm dọc sông, Ngụy đế biết ắt thất bại; Ngô Hán chia quân phó tướng, Quang Vũ biết ắt thua; Cao Đế tập hợp quân ba vương, bắt giết Bá Sở; Nhạc Nghị thống lĩnh quân bốn nước, bình định toàn Tề. Quân tập trung thì thành công, quân chia cắt thì gặp họa, đó là lẽ tự nhiên. Đạo thắng bại, lý rất rõ ràng.
Thần nay xin tập trung toàn bộ quân Hà Sóc, dọc biên giới dựng ba trấn lớn[3], mỗi trấn chỉ huy mười vạn quân, đóng giữ vững chắc. Xây thêm thành cũ, mở rộng doanh trại mới, để quân lính dễ dàng xuất kích đuổi giặc. Sau đó đặt trạm pháo hiệu, cẩn thận canh giữ sớm tối, chọn kỵ binh tinh nhuệ làm quân do thám, ngàn dặm xa xôi như trong lòng bàn tay, động tĩnh của địch, ta đều biết trước. Lại sai thân vương ra trấn thủ Ngụy phủ, khống chế yếu địa Hà Sóc, làm bình phong cho tiền quân. Các quận huyện khác thì tuyển trai tráng trong thành, trao vũ khí, để quan quân chỉ huy phòng thủ. Phương cách chế địch, hình thế đã rõ, ba trấn đóng vững như trường thành, đại quân tập trung như mây, uy hiếp Yên, Triệu, thần biết Khiết Đan dù có quân tinh nhuệ, giáp bén, cuối cùng cũng không dám đem ba mươi vạn quân xâm lược Bối, Ký. Đó chính là binh thế và địa lợi, ta nắm chắc.
Thần xem xét các sự kiện trước đây, thấy rõ điều này. Xưa Hán Cảnh tăng đất cho Lương vương, quân bảy nước Ngô Việt không dám vượt Thư Dương tấn công; nhà Đường cứu viện quân Bân Ninh, quân Thổ Phồn trăm vạn không dám từ Kinh Nguyên xâm lược, đều nhờ tập trung quân lực, chặn đứng đại địch. Nếu Khiết Đan còn theo lối cũ, xâm phạm biên cương, thì thành kiên cố chặn trước, đại quân truy kích sau, thong thả tiêu diệt, ắt thành công. Thần cho rằng phương cách chế địch, đã nêu đầy đủ ở đây. Xin Thiên tử suy xét, quyết đoán thi hành.
Việc bổ nhiệm tướng chỉ huy quân đội, các bậc vương trước đều hết sức cẩn trọng. Quân lính của quốc gia không phải không tinh nhuệ, khí giới không phải không sắc bén, dùng thuận để đánh nghịch, dùng Trung Hạ để đánh ngoại di, thế mà vẫn khiến Thánh thượng phải lo lắng, quân đội vẫn chưa phát huy được sức mạnh, thần vô cùng đau xót.
‘Quân chí’ có viết: “Phàm khi đối địch, pháp lệnh không rõ ràng, thưởng phạt không minh bạch, nghe trống không tiến, nghe chiêng không dừng, dẫu có trăm vạn quân[4], cũng chẳng ích gì.” Lại viết: “Tướng bị trói buộc từ trung ương, quân không có đội tinh nhuệ, ắt sẽ thất bại.” Thần nghe nói trận đánh ở Trác Châu, nguyên soái không biết năng lực của tướng hiệu, tướng hiệu không biết dũng khí của ba quân, mỗi người tự quản, lấy sự khiêm tốn làm trọng, chưa từng nghe việc thưởng một người có công, xử tội một kẻ phản mệnh.
‘Quân chí’ viết: “Nỏ không bắn xa, cũng như vũ khí ngắn. Bắn không trúng, cũng như không có tên. Trúng mà không xuyên thủng, cũng như không có mũi tên.” Thần lại nghe nói trận đánh ở Trác Châu, quân địch chưa đến, nỏ đã giương sẵn, quân địch rút lui, tên chất thành núi[5]. Từ đó thấy rằng giáo mác, đao kiếm, đều như vậy, đây là đẩy thiên hạ vào chỗ dùng tay không mà đối đầu với kẻ địch mạnh.
‘Quân chí’ viết: “Tai mắt của ba quân nằm ở lá cờ và tiếng trống.” Thần nghe nói trận đánh ở Trác Châu, đã bày trận xong, nhưng hoặc kêu gọi vũ khí, hoặc di chuyển quân đội, tiếng ồn ào vang khắp, đến nỗi xe loạn bụi bay, không biết phải đi đâu.
Xưa Thang, Vũ dẹp yên thiên hạ, Hoàn Diệp, Văn Công đẩy lui tứ di[6], Hạng Vũ diệt nhà Tần mạnh, Hạp Lư đánh tan Sở hùng, Tuỳ Dương Tố dẹp loạn, đều dùng sức mạnh quân sự để lập nghiệp. Thần nghe nói trận đánh ở Trác Châu, quân đội tập hợp như sương mù, tiếng tăm làm khiếp đảm quân địch, nhưng chưa giao chiến, kỷ luật đã rối loạn.
Ôi, quân chính như thế, ai cứu được sự bại vong! Nhờ vào thiên uy bao trùm, toàn quân mới thoát nạn. Bệ hạ rút kinh nghiệm từ thất bại trước[7], để tạo nên chiến công to lớn sau này, nếu không đặt ra phần thưởng lớn để khích lệ, thiết lập hình phạt nghiêm để răn đe, đặt ba quân vào chỗ chết rồi mới sử dụng, thì không thể lập được đại công và đánh bại kẻ địch mạnh.
‘Quân chí’ viết: “Phàm xuất quân ra trận, một người không tuân lệnh, chém đầu một người, một hiệu không tuân lệnh, chém đầu một hiệu, một đội không tuân lệnh, chém đầu một đội.” Xưa Nhương Tư chém Trang Cổ, lập công dẹp giặc; Ngụy Ráng giết Dương Can, biểu dương tinh thần chiến đấu; Gia Cát Lượng xử Mã Tốc, ổn định đất Thục; Lý Quang Bật chém Thôi Chúng, đánh tan quân Yên Kế: đều nhờ thi hành hình phạt nghiêm khắc mới thành đại nghiệp.
Thần xin Bệ hạ ra lệnh cho nguyên soái, từ tì tướng trở xuống, ai vi phạm mệnh lệnh, đều xử theo quân pháp. Những chiến lợi phẩm như ngựa, của cải mà tướng hiệu thu được, đều ban cho họ, lại ưu đãi thêm. Dùng hình phạt nghiêm để kiểm soát mạng sống, dùng phần thưởng lớn để khích lệ lòng người, chỉ rõ quy tắc tiến thoái, giữ vững ba lệnh năm báo hiệu, tướng không bị trói buộc, quân lính biết hướng đi, mà không thể làm rạng danh nước Đại Tống, chế ngự tộc loại Thiền Vu, thì chưa từng có. Quân không thắng bằng đông, mà thắng bằng lý lẽ, xin Bệ hạ xét đoán.
Lại nữa, các quận huyện vùng biên giới đã lâu bị giặc cướp hoành hành, dân chúng ngu muội rơi vào cảnh chết chóc. Máu đổ khắp cánh đồng, người già yếu chết chất đầy khe núi, nỗi khổ của con người không gì lớn hơn thế. Tuy nhiên, những người dân canh tác gần biên giới thường có thái độ dao động. Ngày xưa Cao đế Bắc phạt Trần Hy, còn dùng ấn thụ của các tước liệt hầu để an ủi lòng dân nước Triệu. Trước đây, triều đình tuy có an dân, nhưng chưa thực sự rộng lượng.
Thần nghe nói vùng Ngô, Sở xa xôi, có quận lớn tới mười vạn hộ. Thần suy đoán những nơi binh lửa đi qua, dân số hao mòn, chưa chắc đã vượt quá con số này. Thần xin Hoàng thượng miễn thuế thu và hạ cho họ, đợi khi yên ổn, sẽ trở lại như cũ. Thuế má mà triều đình thu chưa đáng là bao, lại có thể phá âm mưu dụ dỗ của kẻ địch, an ủi lòng mong đợi của dân chúng. Lúc này đang dùng binh, dân không ly tán, chuyển nguy thành an, xin Hoàng thượng lưu tâm.
Sử sách trước có câu: “Bậc Thánh nhân lấy thiên hạ làm mức độ, không vì giận riêng mà làm tổn thương nghĩa công.” Nay giặc phương Bắc xâm lược, binh đao nối tiếp, họa loạn liên miên, dùng quyền biến để ứng phó, từ xưa đã có ghi chép, xin Bệ hạ hãy tạm hạ cái uy tối cao, đề ra chính sách hòa hiếu. Nhưng hiện nay, dư luận trong ngoài vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều, thần cho rằng việc Khiết Đan thuận hay nghịch đều có lợi cho xã tắc. Khi thời cực tất sẽ chuyển, vật thịnh tất suy, hoặc có thể vì dị tục mà họ mang lòng nhân, trời cao hối hận về tai họa, ngừng việc cướp bóc nơi biên ải, phụng sự lời minh ước với đại quốc, kết hảo để dân được yên, giữ vững lòng mong mỏi của quốc gia. Nếu như rợ Địch tham lam không chán, chuyên làm việc tàn bạo, nối dài độc hại mà không dừng, từ chối mệnh lệnh của đại quốc, lỗi thực sự ở họ, chúng ta có tội gì?
Thần xin lấy lợi hại, thế cuộc của thiên hạ mà nói từ đầu đến cuối. Xưa đức nhà Tấn không được chấn hưng, U Đô bị mất, Bệ hạ ứng mệnh lên ngôi, lòng thương xót dân chúng, múa cây lá chắn của Vua Thuấn, mong khôi phục đất đai của Vua Vũ, thuận trời mà trừng phạt, há chẳng phải là chuyện tốt của Bệ hạ sao! Đến khi tướng soái kém cỏi, binh đao tạm dừng, tiếc mạng sống của muôn dân, làm dịu uy thế của đại quốc, lại ra lệnh cho tướng dũng[8], giữ vững kế sách của vương triều, khuyến khích nông nghiệp, bỏ binh đao, mong đạt được hòa bình, nhưng Hung Nô vẫn ngang ngược, xâm phạm ngày càng nhiều. Thiên hạ đều biết cảm kích và ca ngợi sự sáng suốt của Bệ hạ, bắt đầu kết oán với phương Bắc. Nay Đại quân lại hạ chí, mong thông hiếu với lều cỏ, nhưng chúng ở nơi hoang vu lại cự tuyệt thiên mệnh. Thần biết rằng ngay cả phụ nữ trong thiên hạ cũng sẵn sàng vì Bệ hạ mà cầm giáo mác, hy sinh nơi chiến trường, huống chi là quân lục quân! Giận dữ mà cầm cự với kẻ thù, chính ở lúc này.
Kính mong Bệ hạ trong nước tổng hợp mọi kế sách, ngoài biên giao phó cho tướng tài, thay đổi cái cũ, tìm cái mới, làm hết sức mình để chống giặc, thì đất Hà Sóc dần dần có thể yên ổn. Tuy nhiên, giặc ngoan cố chưa bị tiêu diệt, U Kế chưa khôi phục, Trung Quốc chưa thể yên giấc được.
Kính mong Bệ hạ hãy suy nghĩ về kế sách lớn của an nguy, nhớ đến mưu lược tốt của công thủ, trong nước sửa sang chính sự, ngoài biên chăm lo binh bị, bỏ những việc không cấp thiết, ngừng các công trình xây dựng, giảm bớt quan lại thừa thãi, tiết kiệm ban thưởng quá mức, thu góp tài vật, huấn luyện binh sĩ. Sau đó, thân chinh dẫn quân, chờ thời cơ lớn, uống ngựa ở hang Vạn Lý Trường Thành, chỉnh đốn quân đội ở đài Thiền Vu, đốt long đình của Lão Thượng, tắm máu màn trướng của Ô Hoàn, tạm khó nhọc để được yên ổn lâu dài, tiêu diệt tướng giặc, thì thiên hạ có thể được ổn định. Nếu như tranh chấp ở ngoại ô Yên Kế, giao phó quân sĩ vào tay kẻ tầm thường, chỉ kéo dài thời gian, không biết tốt xấu, thần e rằng thượng đế sẽ không giáng linh, Trung Nguyên sẽ không cởi giáp, mọi việc chỉ mới bắt đầu từ đây.
Đạo lý thành bại, rõ ràng như mặt trời mặt trăng, chỉ mong bậc minh chủ lựa chọn.”
[3] Hữu thập di, kiêm chức Trực sử quán Vương Vũ Xứng dâng tấu nghị rằng:
“Thần xin nói: nỗi lo của Trung Quốc trước Hung Nô đã có từ lâu. Nay thần chỉ xin dẫn việc thời Hán Văn Đế để làm lời cảnh giới, mong Bệ hạ lưu tâm, xem xét, thì thiên hạ may lắm thay. Hơn nữa, trong mười bốn đời Vua nhà Hán, bậc thánh minh là Văn Đế, Cảnh Đế; kẻ hôn loạn là Ai Đế, Bình Đế. Thế nhưng, thời Văn Đế, Cảnh Đế, Quân Thần Thiền Vu mạnh nhất, càn rỡ xâm lược, quân do thám đến đất Ung, lửa cháy sáng cả Cam Tuyền; còn thời Ai Đế, Bình Đế, Hô Hàn Tà Thiền Vu hằng năm đều đến triều kiến, xưng thần dâng lễ, bờ cõi yên ổn, không còn cảnh báo: việc này đâu phải do mệnh trời mà không do đức độ? Thần cho rằng không phải vậy.
Hơn nữa, Hán Văn Đế đương lúc Quân Thần Thiền Vu cường thịnh, nhưng ngoài biết dùng người, trong biết tu đức, khiến nỗi lo không trở nên sâu sắc, đó là nhờ đức vậy. Ai Đế, Bình Đế đương lúc Hô Hàn Tà Thiền Vu suy yếu, dù ngoài không có tướng giỏi, trong không có bề tôi hiền, nhưng khiến hắn đến triều kiến, đó là do thời thế. Nay quốc gia ta rộng lớn không kém nhà Hán, Bệ hạ thánh minh, há kém gì Hán Văn Đế? Phương Bắc hiện nay mạnh, nhưng chưa bằng thời Quân Thần Thiền Vu, đến như việc quấy rối biên cương, xúc phạm uy trời, há có nỗi lo quân do thám đến đất Ung, lửa cháy sáng cả Cam Tuyền chăng? Ở ngoài biết dùng người, trong biết tu đức là vậy.
Theo thần tính toán, đạo lý dùng người ở ngoài, tu đức ở trong, mỗi việc có năm điểm.
Việc bên ngoài có năm điều: Một là binh thế lo ở chỗ không hợp nhất, tướng thần lo ở chỗ không có quyền. Bệ hạ vốn chưa thể giao phó chuyên quyền cho một người, xin hãy ở những nơi trọng yếu biên giới, lập ba quân để phòng bị, giống như thời Đường xây dựng các thành Thụ giáng. Nếu đất nước có ba mươi vạn quân, thì mỗi quân mười vạn người, khiến họ hỗ trợ lẫn nhau, giao trách nhiệm thành công. Người lập công thì ban thưởng, kẻ không công thì rõ ràng xử phạt. Như vậy, quân phương Bắc không thể nam tiến được.
Hai là việc do thám biên giới, nên dừng sử dụng tiểu thần. Dùng họ, thì tình hình biên cương sẽ bị che giấu mà không biết hết được. Thần thấy rằng những người đi lại ở biên giới phần nhiều là những tiểu thần hèn kém, tuy có danh yêu quân nhưng thực chất không yêu quân, biên cương đau khổ mà không tâu đầy đủ, dân biên giới đau thương mà không nói hết. Nếu thật sự dùng các quan đại thần lão thành đi lại tuyên phủ, ban cho họ nét mặt hòa ái, để họ nói hết tình hình không giấu giếm, thì việc biên giới sẽ thành công.
Ba là dùng gián điệp để chia rẽ, nhân cơ hội hở hiểm để chiếm lấy[9]. Thần nghe nói trong nước Khiết Đan, phụ nữ nắm quyền chính, hoang dâm vô pháp, nên ủy thác cho các đại thần trọng yếu ở biên giới, chiêu mộ những người dân biên cương am hiểu tình hình phiên quốc, sai họ làm gián điệp với các tù trưởng phiên quốc, dụ dỗ bằng lợi lớn, đền đáp bằng ân sâu. Người phiên tham lợi mà không có nghĩa, đợi khi họ ly tâm, thì có thể chiếm lấy được[10].
Bốn là dùng rợ đánh rợ, đó là lợi ích của Trung Quốc. Nay đất nước phía tây có Triệu Bảo Trung, Chiết Ngự Khanh là tâm phúc của quốc gia, cũng nên ra lệnh cho hai vị tướng này thống lĩnh năm châu Lân, Phủ, Ngân, Hạ, Tuy, giương thế chéo góc, công khai tuyên bố đánh thẳng vào Thắng châu, thì kẻ địch sẽ sợ hãi mà lui về phía bắc bảo toàn. Đây thực sự không cần dùng binh, chỉ cần giương thế là đủ.
Năm là ban chiếu thư đau thương để khích lệ lòng dân biên giới. Những năm gần đây điếu phạt Yên Kế, vốn là đất Hán từ xưa, từ thời nhà Tấn mới bị rơi vào tay rợ, nay thiên hạ đã thống nhất, đúng ra nên lấy lại. Nhưng dân biên giới chất phác, không hiểu ý thánh, đều cho rằng ta tham đất đai của họ, khiến rợ phương Bắc nam tiến. Bệ hạ nên ban chiếu thư đau thương, răn dạy dân biên giới, thì đứa trẻ ba thước cũng hăng hái giơ tay đánh giặc. Nhưng hạ được một tên rợ thì ban vải lụa, bắt được một con ngựa của kẻ thù thì trả lại giá tiền, bắt được tù trưởng thì ban chức tản quan[11]. Như thế, người trăm lần dũng cảm mà quân sĩ một lòng.
Trong nước có năm điều: Một là hợp nhất, giảm bớt quan lại để tiết kiệm kinh phí. Xưa thời Đường, Ngu chỉ đặt ra một trăm chức quan, đến thời Hạ, Thương tăng gấp đôi nhưng vẫn đủ để trị nước. Đời Chu đặt ra sáu chức quan, bộ máy quan liêu dần mở rộng. Tần thống nhất sáu nước, quận huyện càng nhiều, người ăn lộc ngày càng tăng, người lao động ngày càng hao mòn. Từ Hán, Ngụy đến Tùy, Đường, số lượng quan viên tăng lên mà chức vụ không giảm[12]. Người thanh liêm chỉ dừng ở việc nhận bổng lộc[13], kẻ tham ô lại càng hoành hành, vơ vét. Vì thế, ước tính số quan viên là điều cần thiết. Hiện nay trong hàng trăm quan đứng ba ban, nếu kể hết những người ăn không ngồi rồi, e rằng sẽ làm phiền Thánh thượng. Như thần từng biết, huyện Trường Châu, Tô Châu có hơn bảy nghìn hộ, từ khi nhà Tiền quy phụ, triều đình bổ nhiệm quan chức, bảy năm không có chức Huyện uý, chỉ để Chủ bạ kiêm quản, việc quan vẫn không thiếu sót; ba năm sau tăng thêm chức Huyện uý, nhưng chưa từng lập được công nào. Theo thần tính toán, cả nước cũng tương tự như vậy. Thần xin đề nghị thăng giáng quan viên, hợp nhất và giảm bớt quan lại, để người hiền tài có cơ hội cống hiến, kẻ bất tài trở về làm ruộng. Nếu thực sự giảm được ba nghìn người, tiết kiệm hàng chục vạn quan tiền bổng lộc để cung cấp cho biên phòng, giảm nhẹ gánh nặng thuế khóa cho dân, đó cũng là kế sách lớn để dẹp yên giặc cướp.
Hai là việc tuyển chọn khó khăn, hạn chế nho thần mà khích lệ võ thần. Từ khi Bệ hạ lên ngôi, hết lòng đề cao Nho học, thân chủ trì việc thi cử, chí hướng ở việc thu phục nhân tài, không cầu toàn vẹn. Người tài lớn thì vài năm đã được hưởng phú quý, người tài nhỏ thì vài tháng đã được bổ nhiệm chức vụ. Hoặc một hành động đáng khen, một lời nói đáng nghe, ân sủng ban thưởng cũng lên đến hàng ngàn vạn, không chỉ làm hao tổn tài sản của mười nhà, mà còn gieo mầm bất mãn trong tâm ba quân. Thần cũng là một trong số đó, nên mạnh dạn trình bày. Chỉ sợ những người lính nơi chiến trường sẽ có lời oán trách, mong giảm bớt ân ban cho nho quan để chia đều ân điển cho các chiến sĩ.
Thứ ba là tín nhiệm đại thần, tham gia quyết định việc cơ mật. Việc phân chia việc ngoài biên ải là do tướng soái, còn sử dụng quân lính trong triều là do tể tướng. Nên dựa vào mưu lược trong màn trướng để quyết định kế sách an nguy. Hiện nay, Vua tôi thân ái, quan chức hiền minh, từ xưa đến nay chưa từng có được như vậy. Tuy nhiên, bị hạn chế bởi lễ nghi thường ngày, ngăn cách bởi nghi thức triều đình, tình cảm e chưa thông suốt, lời nói e chưa hết ý. Thần thường thấy trăm quan đứng hàng, Vua ngự triều, Trung thư, Xu mật, Tam ty theo thứ tự bước lên điện, lễ xong thì lui về, đó là quy định cố định. Mong Bệ hạ lúc rảnh rỗi sau khi thiết triều, thường xuyên triệu tập đại thần, cùng bàn việc biên cương, quyết định rồi mới thi hành, không để tiểu thần xen vào làm sai lệch ý kiến.
Thứ tư là không coi trọng hư danh, đề phòng việc vô ích. Thánh nhân không cầu danh, thần nhân không cầu công, hành động không phô trương, vạn vật tự nhiên hóa, đạo đức đã mất, công danh mới sinh. Ngũ đế còn có thể không khoe khoang, còn tam đại nhiều người tự cao, đánh dẹp man di thì làm khốn khổ dân chúng, chiếm được đất đai thì chỉ để ghi vào sử sách, gốc rễ của họa loạn, không gì không từ đó mà ra. Nay muôn nước chạy đến, bốn dân yên vui, chỉ có Bắc địch chưa quy phục trung nguyên. Thần nghĩ, e rằng linh thiêng của tông miếu, ý trời đất, lo rằng Bệ hạ kiêu căng vì ngôi báu, lơ là việc chính sự, nên dùng lời răn của bậc thánh để cảnh tỉnh. Thật nên lập kế sách phòng thủ biên cương, bày tỏ lòng lo lắng cho dân, không cần nhẹ dạ dùng tướng mạnh, xâm nhập sâu vào địch cảnh, khiến lực lượng dân chúng kiệt quệ, chỉ để cầu hư danh trong sử xanh. Như thế thì trời thuận lòng người, trong vài năm, có thể từ từ mưu tính.
Thứ năm là cấm chỉ du đãng, tăng cường sức dân. Trị dân là việc của Vua, tụ họp dân là nhờ của cải, sản xuất của cải là nhờ đất đai, khai phá đất đai là nhờ dân chúng. Dân chúng đông thì đất đai khai phá nhiều, của cải đủ thì nước nhà yên ổn. Nay tuy chú trọng nông tang, nhưng phần nhiều hời hợt, người cày dệt ít, người ăn mặc nhiều, như việc vận chuyển lương thực, làm tốn công đào giếng cày ruộng, nếu không có quy định cấm đoán, sao ngăn được nạn đói kém. Thần xin hỏi các quan phụ trách, thì hộ đóng thuế có thể thấy rõ, người hưởng lộc có thể biết, quân nhân nhận lương có thể đếm, tăng đạo làm hại dân có thể minh xác. Lại có tiểu lại đài tự, tạp công phủ giám, tổng hợp số lượng mà tính, tập hợp người mà kiểm, thần e rằng ba phần người cần cù cày dệt, nuôi bảy phần kẻ ăn không ngồi rồi, muốn cầu dân yên, há chẳng khó sao! Nay quận huyện tuy nhiều, nhưng vùng xa xôi, ngoài việc phòng thủ biên giới Hà Bắc, sức dân có thể dùng chỉ từ đông đến Đăng, Lai, tây đến Tần, Phượng, nam đến Hoài, Tứ mà thôi. Vài chục châu này là gốc rễ của trung nguyên, không thể không tiếc. Mong Bệ hạ bớt cho tăng ni, bớt xây chùa chiền, khuyên dân theo phong tục tốt, chú trọng nông nghiệp, thì sức dân mạnh, mà quốc phòng vững. Nếu quân đội lao dịch ngoài biên, du đãng hao tổn trong nước, sức dân ngày càng suy yếu, quốc phòng ngày càng tốn kém, nếu không may gặp hạn hán, thì giặc không ở ngoài mà ở trong vậy. Mong Bệ hạ suy nghĩ kỹ.”
Vua xem tấu chương, khen ngợi hết lời. Tể tướng Triệu Phổ càng quý trọng ông.
(Vũ Xứng dâng sớ cũng nhân chiếu thư năm Quý Tỵ, bản truyện chép là vào năm Đoan Củng đầu, sai vậy. Sớ nhắc đến Chiết Ngự Khanh, Triệu Bảo Trung, đến tháng 5 mới bổ nhiệm làm tiết độ sứ Hạ châu, không thể nói sớm như vậy.)
[4] Tri chế cáo Điền Tích dâng sớ tâu rằng:
“Việc chống giặc ngày nay, trước hết là phải chọn tướng soái. Đã có được tướng soái, xin giao phó trọng trách, không cần ban bố trận đồ, cũng không cần truyền thụ phương lược, tự nhiên sẽ tùy cơ ứng biến, nhìn thời cơ mà xử lý, không việc gì không thành công, không kẻ địch nào không bị đánh bại.
Xưa thời Hán, quân Khương phương Tây xâm phạm biên ải, Triệu Sung Quốc đã bảy mươi tuổi, Vua sai Bính Cát hỏi: “Ai có thể làm tướng?” Sung Quốc đáp rằng: “Không ai hơn lão thần.” Từ đó mà nói, thì hãy lệnh cho các tể thần trở xuống, ai cũng tiến cử người có thể làm tướng soái, những võ tướng lão thành vốn có tiếng tăm cũng cho phép tự tiến cử, sau đó Bệ hạ cẩn thận lựa chọn mà dùng. Triệu Sung Quốc là tướng lão luyện, còn nói “Trăm nghe không bằng một thấy.” Huống chi nay giao trọng trách cho tướng soái, mà mỗi việc đều muốn từ trung ương ban chiếu, truyền thụ phương lược, hoặc ban cho trận đồ, nếu tuân theo thì có lúc không hợp, mà tự quyết thì lại vi phạm ý chỉ của trên, lấy cách này mà thắng địch, chưa thấy có ưu điểm gì. Kính xin gấp rút sai các tể thần tiến cử tướng giỏi, và cho phép những võ tướng lão thành có tiếng tăm được tự tiến cử khả năng của mình và tiến cử người mà họ biết.
Lại nữa, tướng soái thi hành ân tín, thương yêu sĩ tốt, tất phải giàu có tiền của, mới đoạt được lòng quân. Xưa Triệu Xa làm tướng, được ban thưởng đều chia hết cho tướng sĩ; Lý Mục làm tướng, thuế chợ quân đều dùng để nuôi quân. Nay tướng soái có thể bắt chước Xa, Mục, được mấy người đây! Nếu cứ năm nào cũng cung ứng vận tải, quân mỏi mệt, tiêu hao tài lực, sao bằng ban thưởng hậu hĩ cho tướng soái, để họ thưởng cho quân sĩ. Gần đây các hầu bá, mỗi người đều có ba mươi đến năm mươi người thân tín trong sảnh đường, tập cưỡi ngựa bắn tên, khi xuất nhập trận địa có thể mang theo. Về sau không dám nuôi dưỡng, nghe nói hôm qua Dương Nghiệp sa vào trận địa, cũng là do không có thân tín, nên bị địch bắt. Nay tuy thời thế khác đi, việc có khác, nhưng chuyện bỏ hay dùng lợi hại thế nào, cũng nên hỏi thăm mà làm.
Lại có thể ở các quận biên giới chọn người có dũng có mưu, phong làm thứ sử, giao phó cho họ tự dùng phương lược, gặp việc khẩn cấp thuận tiện thì cứ làm xong rồi mới tâu lên, khiến ai nấy đều phát huy hết tài năng. Nhất định sẽ vì Bệ hạ lập nên công lớn, khống chế sự xâm lấn, như Quách Cấp[14], Trương Kham giữ Ngư Dương thời Hậu Hán vậy. Thần chưa biết số tiền lụa trong kho phủ triều đình nhiều ít ra sao, cũng chưa biết chi phí quốc gia lớn nhỏ thế nào. Nếu Bệ hạ giảm bớt việc tiêu phí xây tháp miếu, chuyển sang thưởng cấp cho quân đội, thì ai mà không bỏ lòng oán, ai mà không dốc hết sức.
Thần nghe rằng năm ngoái xuất binh hướng về phía bắc, mệnh Tào Bân cùng các tướng lĩnh nhằm chiếm lấy U châu, đấy là do Hầu Lợi Dụng, Hạ Lệnh Đồ cùng những người khác làm mê hoặc thánh ý, đưa ra mưu kế, mà Thừa tướng Phưởng cùng các vị đại thần đều không hay biết. Lại năm ngoái chiêu mộ nghĩa quân, phân phối quân đội, Thừa tướng Phổ cùng các vị cũng không hay biết. Há có chuyện bàn việc biên cương, phát động quân đội mà Thừa tướng lại không được tham dự! Nếu Thừa tướng kém cỏi, sao không cách chức? Nếu Thừa tướng tài giỏi, sao không tham khảo ý kiến? Nay Thừa tướng Phổ ba lần vào Trung thư, hai lần ra trấn thủ, danh vọng lớn, đức cao trọng, là đại thần nguyên lão, được mọi người kính trọng, không việc gì không trải qua, xin Bệ hạ lấy việc quân sự, mưu kế cơ mật, cùng bàn bạc, thảo luận kỹ lưỡng. Đây là việc lớn của quốc gia, là điều chí công của bậc quân phụ. Thần nghe rằng tin tưởng thiên lệch sinh ra gian tà, độc đoán gây nên loạn lạc. Hầu Lợi Dụng, Hạ Lệnh Đồ đã làm lỡ cơ hội của Bệ hạ trước kia, xin đừng để những kẻ như Hầu Lợi Dụng, Hạ Lệnh Đồ lại làm lỡ cơ hội của Bệ hạ sau này.
Kính xin Bệ hạ từng việc đều bàn bạc với Thừa tướng, từng sự đều thảo luận với Thừa tướng, hối hận về sự độc đoán trước đây, thực hiện lẽ công bằng từ nay về sau, như vậy thì việc gì cũng được chu toàn, kẻ dưới không ai là không hết lòng trung thành. Lại nên phân biệt hư thực trong các tấu báo biên cương, xem xét việc bọn tả hữu che giấu sai trái. Tấu báo thất bại chưa chắc đã nói hết sự thật, tấu báo đại thắng cũng chưa đủ để tin cậy, Bệ hạ không nên tin ngay khi chưa xác minh, Bệ hạ vốn muốn biết mà chưa rõ. Như vậy, làm sao đoán định được an nguy[15]? Như vậy, làm sao mưu tính được thành bại? Lẽ an nguy thành bại, xin Bệ hạ xem xét kỹ lưỡng.
Binh thư viết: “Việc không gì bí mật bằng dùng gián điệp, thưởng không gì nặng bằng thưởng gián điệp.” Trong các nước Địch tự có nhiều nước, không biết Bệ hạ đã thăm dò xem có bao nhiêu nước chưa? Bao nhiêu nước thù địch với Hung Nô? Nếu biết rõ hết, có thể dùng hậu thưởng để sai khiến gián điệp. Gián điệp mà hành động, thì Nhung Địch tự loạn, Nhung Địch tự loạn, thì biên cương tự yên. Xưa Lý Tĩnh dùng kế gián điệp phá được Đột Quyết, những kẻ tâm phúc tự chia rẽ. Chiêu mộ người có thể đến vùng tuyệt địch ám sát danh vương, gây rối loạn bộ lạc, khiến chúng xâm hại lẫn nhau, như người như Trần Thang, Phó Giới Tử đời Hán, thì không hao tổn quân lính, tự nhiên quy phục. Điều này có thể làm dịu nỗi lo biên cương của Bệ hạ.
Phàm việc chiêu mộ binh lính, hoặc dự trữ lương thảo, cũng nên thận trọng yên tĩnh, đừng để ồn ào. Thần trộm nghe năm ngoái trong việc thuế hộ, có khoản chiết thu về cỏ ngựa, và việc mua bán trung gian của quan phủ, khi việc mua nạp chưa đủ, đã có sứ thần thúc giục, phụ nữ hộ nghèo có người bị tra khảo. Lại nghe sông Biện cạn khô, bèn chia nước sông Nam đổ vào sông Biện để thông tàu bè[16]. Kế hoạch của quốc gia ở đâu, mà tạm thời đến nỗi này? Thần không biết quốc gia hiện có quân lương dùng được mấy năm, nếu không có lương thực đủ chín năm, thật là không có phòng bị, nếu không có lương thực đủ ba năm, thật là khốn đốn. Nếu không khốn đốn, thì sao lại tra khảo phụ nữ để thu cỏ, đổ nước sông mà vận chuyển gạo?
Xưa Ngô Khởi làm tướng, hút mủ cho quân lính. Hoắc Khứ Bệnh làm tướng, Hán Đế muốn xây nhà cho ông, ông nói: “Hung Nô chưa diệt, sao lo nhà cửa!” Không biết Bệ hạ thấy tướng súy ngày nay có người như Ngô Khởi, Hoắc Khứ Bệnh không? Nếu theo ý thần, thì tướng súy ắt không có người như vậy. Biết thế nào, tướng súy có chịu hút mủ cho quân lính không? Nếu ban nhà cửa, họ có từ chối không? Tướng súy không có tài, thì không có uy danh, sao khiến Hung Nô nghe tiếng mà sợ!
Theo như thần thấy, những việc công nhỏ nhặt, không cần Bệ hạ phải bận tâm từng chút. Nếu là việc đại kế xã tắc, mưu đồ lâu dài cho con cháu, thì cần chú trọng nắm đại lược, tìm người tướng giỏi, lo việc thể chế lớn của bậc đế vương. Cũng như người muốn tu thân, trước hết phải tu tâm, tâm không tà thì thân tự nhiên chính; muốn trị ngoại, trước phải trị nội, nội đã ổn thì ngoại tự nhiên yên. Thần cho rằng việc biên cương động, là do triều đình khiến nó động; biên cương yên, là do triều đình khiến nó yên. Bổ nhiệm hiền tướng trong triều, thì trăm chức quan đều được cử lên, kỷ cương chính đáng. Giao phó tướng giỏi ra ngoài, thì bốn phương yên ổn, biên giới bình an.
Ý kiến nông cạn của thần, xin nói hết ở đây. Những mối lo đã xảy ra, Bệ hạ đã từng thăm hỏi lời nói thẳng; những mối lo chưa xảy ra, xin Bệ hạ luôn lưu tâm.”
[5] Đổi Quân đầu ty thành Ngự tiền Trung tá Quân đầu ty, Dẫn kiến ty thành Ngự tiền Trung tá Dẫn kiến ty.
(Quân đầu ty, theo ‘Tam triều chí’ được phụ vào sau Điện tiền ty và Thị vệ ty, vì dựa theo ‘Hội yếu’, còn ‘Lưỡng triều chí’ dời phụ vào sau Hoàng thành ty và trước Ngự dược viện, ‘Lưỡng triều chí’ như vậy là hợp lý.)
[6] Tháng 2, đổi Quốc tử giám thành Quốc tử học.
[7] Tháng ba, trước đó, Hàn lâm học sĩ, Tri cống cử Tô Dịch Giản cùng các quan kiên quyết thỉnh cầu thi trực tiếp do Hoàng đế chủ trì. Ngày Nhâm Dần, Hoàng đế ngự tại điện Sùng Chính, thi các cử nhân hợp cách, chọn được tiến sĩ người Lãng Trung là Trần Nghiêu Tẩu, người Tấn Giang là Tăng Hội cùng 186 người, đều ban cho đỗ đệ; các môn khác người Bác Bình là Tôn Thích cùng 450 người, cũng ban cho đỗ đệ; 73 người được ban cho đồng xuất thân. Ban yến tiệc, lần đầu cho phép các quan văn Lưỡng chế, Tam quán đều tham dự. Ban cho Nghiêu Tẩu và các người khác một bài châm, khuyên răn về tu thân cẩn trọng, tôn cổ làm quan. [17] Nghiêu Tẩu và Tăng Hội cùng được bổ làm Quang lộc tự thừa, trực sử quán; người thứ ba trở xuống được chia bổ các chức vụ và làm quan tại các châu, huyện.
Tiến sĩ người Việt Châu là Lưu Thiếu Dật, mới 13 tuổi đã đỗ kỳ thi, sau khi phúc thí, lại được thi riêng với đề do Hoàng đế ra, làm mấy bài thơ phú, đều có ý thú sâu xa [18], được bổ làm Hiệu thư lang, lệnh cho đọc sách tại tam liễu. Khi đó, Trung thư lệnh sử, Thủ đương quan Trần Di Khánh thi đỗ Chu Dịch học cứu, sau khi Hoàng đế biết việc, lệnh thu hồi sắc điệp đã ban, tha tội, đuổi về chỗ cũ.
[8] Mùa hạ, tháng tư, Quốc tử bác sĩ Lý Giác dâng sớ nói:
“Xưa Lý Khôi từng nói: ‘Mua lúa quá đắt thì hại dân, quá rẻ thì hại nông dân. Dân bị hại sẽ ly tán, nông dân bị hại thì đất nước nghèo đói. Vì thế, lúa quá đắt hay quá rẻ, tác hại đều như nhau. Người giỏi trị nước là khiến dân không bị hại mà nông dân càng chăm chỉ.’ Chữ ‘dân’ ở đây chỉ những người làm nghề thủ công, buôn bán. Triều Thác cũng nói: ‘Muốn dân chăm lo nông nghiệp thì phải coi trọng lương thực, vì không thể để giá quá rẻ, cũng không thể quá đắt.’
Nay kinh đô của Vua là nơi quần tụ của vạn dân, mở sông ngòi thông ra Hoài Hải, xuyên qua sông hồ, mỗi năm vận chuyển năm trăm vạn hộc lúa để chi dùng quốc gia. Đó là sự thịnh trị của triều đình, là phúc lành của bề tôi. Những năm gần đây, lúa mạch ở kinh đô giá rẻ, kho tàng đầy ắp, bị mục nát ngoài trời, chồng chất lên nhau, có khi dùng để ban thưởng, giá một đấu chỉ mười đồng, đó là lợi cho thương nhân mà bất lợi cho quân và nông. Vợ con của quân sĩ chỉ vài miệng ăn, mỗi tháng cấp mấy hộc lương, thì chi phí còn dư. Trăm vạn quân, phần dư đã nhiều, dân du thủ nhờ đó mà có lương thực, lúa của nông dân bán cho ai?
Huống chi từ phía tây đến Tam Hiệp, nam đến Kinh Hồ, bao trùm Giang Ngô, thông ra Chiết Hữu, trải qua hiểm nguy sóng gió, vượt tháng năm mới đến Kiến An quân, qua Sở, Tứ, ngược dòng Biện[19] để tới kinh sư, hao tổn, chìm đắm cũng đã nhiều. Vận chuyển một hộc gạo, tính ra chi phí không dưới ba trăm đồng, chưa kể hao tổn, sứt mẻ. Còn những phu kéo thuyền, suốt đông hạ rời quê nhà, già nua trên sông hồ cũng đáng thương. Lương thực đến thì nặng nề, gian khổ, còn cấp phát của quan lại quá nhẹ nhàng, dễ dàng. Mùa màng tốt xấu không thể lường trước, nếu không may gặp hạn hán, đột nhiên có biên cương ngoại xâm, thì lấy gì cứu vãn? Xưa có câu ‘Có dự trữ chín năm thì gọi là thái bình, khi hạn hán không ai phải ăn rau cỏ’, ý nói dân thiên hạ đều có dự trữ chín năm, không chỉ riêng lương thực quân đội. Trước kia, các quân cấp cho mỗi người hai thăng gạo mỗi ngày, nay nếu mỗi tháng cấp ba trăm đồng, lòng người sẽ vui vẻ. Như vậy, một đấu giá năm mươi đồng, tính toán chi phí vận chuyển gạo từ Giang, Hoài cũng không thấp hơn.
Mong Vua ban lệnh rõ ràng cho quân đội, tuỳ theo ý nguyện, ai muốn nhận tiền thì nếu giá gạo quan định là hai mươi đồng một đấu thì tăng thêm mười đồng, vừa đủ bù chi phí vận chuyển, trong khi quan và tư đều có lợi, vài tháng sau, giá gạo sẽ tăng, nông dân được hưởng lợi. Nếu giá gạo tăng vọt, quan lại lại cấp phát, quân nhân bán phần dư, cũng được giá tốt, quân sĩ lại được lợi. Chẳng đầy mười năm, quan lại sẽ có lương thực dư, việc vận chuyển từ ngoài sông cũng dần có thể giảm bớt.”
Vua xem tấu, khen ngợi.
[9] Từ tháng ba không mưa, kéo dài đến tháng năm. Ngày Mậu Tuất, Vua thân hành xét duyệt các tù nhân bị giam giữ trong ngục ở kinh thành, phần lớn được tha giảm án. Ngay lập tức sai Khởi cư xá nhân Tùy Thành Tống Duy Cán cùng bốn mươi hai người khác phân đi các đạo, xét xử các vụ án hình sự.
Tối hôm đó, trời mưa lớn. Vua bèn nói với các cận thần: “Làm Vua nên siêng năng chính sự như thế này mới có thể cảm động đến hòa khí. Như Hậu Đường Trang Tông không quan tâm việc nước, chỉ chăm chăm săn bắn du ngoạn, thường kéo dài cả chục ngày, làm tổn hại mùa màng, đến khi trở về mới hạ chiếu miễn giảm thuế má, như thế thật không xứng đáng là bậc quân vương.” Xu mật phó sứ Trương Hoàng tâu rằng: “Trang Tông không chỉ như vậy, còn đặc biệt mê muối bởi âm nhạc, buông thả rượu chè, trong số những người thuộc nhạc tịch có mấy người được giữ chức quận.” Vua nói: “Phàm làm Vua thì lấy tiết kiệm làm gốc, lấy nhân từ khoan dung làm niệm. Trẫm khi ở Nam phủ, cũng từng dành chút tâm lực nghiên cứu âm luật, nhưng nay không phải triều hội thì chưa từng tấu nhạc. Sáng chiều dùng thuốc, thường dùng nước muối thay rượu, thường mặc quần áo giặt giũ. Còn thú vui săn bắn với chim ưng, chó săn, vốn Trẫm chẳng thích, lại hay thân cận với chim thú bay nhảy, điều mà ‘Chân cáo’ cấm, Trẫm thường lấy đó làm răn.”
[10] Vua từng nói với Trực sử quán Cú Trung Chánh: “Khanh giỏi về chữ học, những chữ có âm mà không có chữ viết có được bao nhiêu?” Trung Chánh lui về, liệt kê thành một quyển dâng lên. Vua nói: “Trẫm cũng tìm được hơn hai mươi chữ, có thể ghi chép lại cùng.” Bèn sai Trung Chánh cùng với Biên tu sử quán Ngô Huyền soạn định thành ‘Ung Hi Quảng Vận’. Tháng sáu, ngày Đinh Sửu, ‘Quảng Vận’ hoàn thành, tổng cộng một trăm quyển, chiếu thư khen thưởng.
[11] Ban đầu, Tả chánh ngôn, trực sử quán Khấu Chuẩn người Hạ Khuê vâng chiếu thẳng thắn nói về lợi hại của phương Bắc, Vua quý trọng ông, bảo tể tướng rằng: “Trẫm muốn thăng chức cho Chuẩn, nên trao chức gì?” Tể tướng xin cho làm chức Khai phong suy quan. Vua nói: “Chức đó há phải để đãi Chuẩn sao?” Tể tướng lại xin cho làm Xu mật trực học sĩ. Vua trầm tư hồi lâu rồi nói: “Cứ để ông ấy giữ chức này cũng được.” Mùa thu, tháng bảy, ngày Kỷ Mão, được bổ làm Ngu bộ lang trung, Xu mật trực học sĩ. Chuẩn từng làm tri huyện hai huyện Ba Đông, Thành An, trị dân bằng ân tín, mỗi khi họp bàn về thuế má và việc dịch [20], chưa từng ban hành văn bệnh, chỉ ghi họ tên người trong làng dán lên cửa huyện, dân chúng tranh nhau đến, không ai trễ nải.
[12] Trước đó, Vua xuống chiếu cho các quan trong phủ các Vương dâng lên những bài văn mình viết. Vua xem xét nhiều ngày, hỏi các cận thần: “Tài năng đã thấy rồi, còn đạo đức ai hơn?” Có người tiến cử Ký thất tham quân, Khảo công viên ngoại lang Tất Sĩ An trong phủ Việt Vương. Vua nói: “Hợp ý Trẫm.” Bèn lệnh cho ông giữ chức vụ hiện tại kiêm Tri chế cáo. Việt Vương Nguyên Phần xin được đối đáp, mong giữ lại trong phủ, nhưng Vua không cho phép.
[13] Trước đó, Thừa tướng Triệu Phổ dâng tấu sớ nói: “Thần từ lâu đã gắn bó với công việc, gần đây mới được tham dự triều chính, thầm nghĩ đại hạn không còn xa, mà ân sâu chưa báo đáp, việc cần phải trình bày, dám không hết lòng. Quốc gia sông núi rộng lớn, quận huyện lại nhiều, văn hoá trong nước tuy đã thống nhất, nhưng binh đao nơi biên ải vẫn chưa dừng. Phòng ngừa từ xa, ắt cần người tài biết thích ứng, dẹp nạn cứu nguy, nên loại bỏ kẻ xu nịnh. Việc cơ mật lúc này, cần dựa vào người chính trực. Năm ngoái, giặc xâm lấn biên cương, dân chúng chịu khổ. Vua lo lắng trăm bề, mà trăm quan không ai giúp sức. Thần dẫu hèn mọn, cũng lo lắng xấu hổ. Cùng đồng liêu xử lý công việc, đều nghiêm cẩn giữ thanh liêm, nhưng khi bàn luận việc nước, đều giữ lễ khiêm cung. Nếu cứ im lặng, sao đối phó được khi cấp bách! Nên tìm người có nghĩa khí, ắt có kẻ biết chia sẻ ưu lo.
Thần xin kể đến Thị lang Công bộ Trương Tề Hiền, vài năm trước được Vua biết đến, thăng chức vào nơi cơ mật. Người trong triều ngoài nội, đều cho là xứng đáng, không ngờ thời gian chưa lâu, lại bị điều ra ngoài làm việc. Khi thần ở Đặng Châu, tuy nghe tin tức, nhưng không rõ nguyên do, gần đây có lời đồn, nói rằng vì tâu trình quá thẳng thắn. Phàm bàn việc lớn, ắt có lỗi lầm, nhưng người trung nghĩa, không nghĩ đến lợi hại bản thân, kẻ gian tà hay người chính trực, lâu ngày mới biết. Tề Hiền vốn có mưu lược, vừa giữ đức nghĩa, từ trước đến nay được sai khiển, nhưng chưa phát huy hết tài năng. Sợ để lãng phí tài năng kinh bang tế thế, xứng đáng đảm nhận việc cứu thời, nếu được trọng dụng, ắt sẽ lập công lớn. Thần xin đặc biệt giữ lại bản tấu này, để toàn bộ phụ thuộc vào ân Vua, tránh làm dấy lên sự phẫn nộ.”
Lại viết trong tráp tử: “Tề Hiền đức nghĩa, từ lâu được làng xóm khen ngợi, lại sâu sắc hiểu về phúc nghiệp, cẩn thận chọn bạn bè, các khanh sĩ trong ngoài, không ai vượt qua ông. Thần nghĩ, cả họ được hưởng vinh hoa, thân già nửa chôn xuống đất, chưa thể báo đáp, thường lo lỡ lầm. Kém cỏi không có tài phụ tá Vua, chỉ có chí tiến cử người hiền, thấy người đoan chính, mới dám tiến cử. Nếu triều đình trọng dụng người trung hiền, thực sự sẽ thêm trụ cột cho xã tắc. Sống chết trong môt ngày, cũng cam lòng, cũng là để thỏa một phần vạn lòng báo đáp ân nghĩa của thần.” Ngày Giáp Thân, phong Trương Tề Hiền làm Hình bộ thị lang, Xu mật phó sứ.
(Tề Hiền được vào lại Xu phủ, nhờ Triệu Phổ hết lòng tiến cử, nhưng sử nước không ghi rõ, nay căn cứ vào bản tấu của Phổ thêm vào. Bản tấu của Phổ là vào tháng năm năm đó, nhưng không rõ ngày, vì Tề Hiền được phong quan nên ghi lại. Theo ‘Đông Hiên ký’ của Ngụy Thái, Thái Tổ từng nói với Thái Tông rằng Tề Hiền có thể đảm nhận chức phụ tướng. Xem lại bản tấu này của Phổ, thì Trương Tề Hiền trước đây ở Xu phủ, thực tế là vì nói việc trái ý Vua, nên bị điều ra ngoài làm tướng. Nếu không phải nhờ Phổ hết lòng tiến cử, liệu cuối cùng có được triệu về không? Vậy thì, ghi chép của Thái chưa chắc đã đúng. Cần xem xét thêm.)[21]
[14] Ngày Mậu Tý, có sao chổi xuất hiện phía tây khu vực Đông Tỉnh, tích thủy, màu xanh trắng, ánh sáng dần dài ra, buổi sáng thấy ở hướng đông bắc, kéo dài mười ngày; buổi tối xuất hiện ở hướng tây bắc, đi qua chòm sao Hữu Nhiếp Đề, tổng cộng ba mươi ngày đến sao Cang thì biến mất. Vua tránh không ngồi ở chính điện, giảm bớt phần ăn thường ngày. Vua nói với Thừa tướng: “Sao chổi xuất hiện là điềm báo trời cảnh cáo sự sai lầm của bậc quân chủ, đáng lẽ phải lo sợ tu sửa bản thân, vậy mà Tấn Hiếu Vũ lại nâng rượu mời uống, mê muội như vậy, không mất nước sao được. Nay há chẳng phải là chính sự có thiếu sót, khiến tình hình vật loạn ngưng trệ sao! Bách tính có tội gì, trách nhiệm thuộc về Trẫm, há dám không cẩn thận sửa mình, để đáp lại lời trách trời.”
[15] Quân Uy Lỗ vì lương thảo không đủ tiếp tế, quân Khiết Đan muốn thừa cơ đánh chiếm, Vua xuống chiếu cho Lý Kế Long, Đô bố trí lộ Định Châu, điều động quân lớn ở Trấn, Định hộ tống đoàn xe chở lương thực, tổng cộng hơn nghìn xe. Tướng giặc là Vu Việt do thám biết được, dẫn mấy vạn kỵ binh tinh nhuệ đến đón đánh.
Sùng Nghi sứ, Đô tuần kiểm Bắc diện duyên biên là Doãn Kế Luân, dẫn hơn nghìn quân bộ và kỵ đi tuần tra biên giới, đúng ngay chỗ quân giặc sẽ đi qua, nhưng chúng không đánh mà bỏ qua, rồi đánh thẳng vào đại quân. Kế Luân bảo thuộc hạ: “Chúng coi ta như cá thịt, nếu đánh thắng ở phía nam, sẽ thừa thắng đuổi ta chạy về bắc; nếu không thắng, chúng cũng sẽ trút giận lên ta, ta sẽ không còn ai sống sót. Nay ta bí mật tấn công từ phía sau, chúng đang hăng hái tiến lên, khinh thường ta, không ngờ ta đến, nếu thành công dù chết cũng không mất tiết trung nghĩa, đâu thể chết làm ma biên giới!” Mọi người đều hăng hái nghe theo.
Kế Luân liền hạ lệnh cho quân sĩ cho ngựa ăn, đợi đêm tối, sai người cầm vũ khí ngắn bí mật theo sau quân giặc. Đi hơn mười dặm, đến khoảng giữa sông Đường, sông Từ, trời chưa sáng, quân giặc cách đại quân bốn mươi lăm dặm, Kế Luân bày trận phía bắc thành chờ sẵn. Quân giặc đang ăn cơm, vừa ăn xong, sắp tiến vào trận thì Kế Luân bất ngờ xông ra đánh gấp, giết một tướng giặc tên là Bì Thất, Bì Thất chính là tể tướng của chúng, quân giặc liền hoảng loạn. Vu Việt chưa ăn xong, vứt đũa thìa, bị vũ khí ngắn đâm trúng tay, bị thương nặng, liền lên ngựa bỏ chạy trước. Quân giặc trông thấy đại quân, bèn tan vỡ chạy, giẫm đạp lên nhau chết vô số. Kế Luân cùng Phó đô bố trí Trấn Châu là Phạm Đình Triệu đuổi theo qua sông Từ hơn mười dặm, bắt sống rất nhiều. Phó đô bố trí Định Châu là Khổng Thủ Chính lại đánh nhau với quân giặc ở thôn Tà, cạnh sông Tào, chém đầu tướng giặc là Đại Doanh Tướng công cùng hơn ba mươi tên.
Từ đó, quân giặc không dám đại quân xâm phạm nữa, lấy gương mặt đen của Kế Luân mà răn nhau: “Phải tránh mặt Đại Vương Mặt Đen.” Ngày Đinh Mùi, phong Kế Luân làm Lạc Uyển sứ, kiêm Thứ sử Trưởng Châu, vẫn giữ chức Tuần kiểm như cũ.
(Việc của Phạm Đình Triệu, Khổng Thủ Chính đều trích từ Bản truyền của họ để phụ vào. Sợ rằng chiến thắng ở sông Tào là vào thời gian khác, cần xem xét kỹ thêm.)
Ban đầu, Vua ra lệnh cho Kế Long cùng những người khác phát binh hộ tống lương thực đến quân Uy Lỗ. Hộ bộ lang trung Trương Kỵ lại dâng tấu trình việc binh lương rằng:
“Xưa kia, việc xây dựng thành biên cảnh, tập trung binh lính, là để khống chế những nơi trọng yếu, ngăn chặn sự xâm lấn của rợ phương Bắc. Vì thế nhà Chu xây thành đất Sóc Phương, nhà Hán chiếm vùng Hà Hoàng, nhà Đường dựng thành Thụ Giáng, Lâm Kinh [22], đều là để ngăn cách giữa người Hoa và người Di, lợi ích lâu dài. Nay nghe tin quân Uy Lỗ được đặt ở vùng đồng bằng, địa thế không hiểm trở, quân số không đầy một vạn. Có người bàn rằng quốc gia sáng lập quân này để bảo vệ thành Định Châu, nếu bỏ quân này thì giặc Bắc ngay lập tức kéo đến dưới chân thành.
Thần cho rằng người bàn luận không xét kỹ sự thực, đó là do suy nghĩ sai lầm. Nay xin bàn về thế địch, nếu địch dẫn mười vạn quân tiến sâu vào nội địa, để lại vài ngàn kỵ binh đóng trại bên cạnh thành trì của quân Uy Lỗ, thì quân Uy Lỗ chỉ lo đóng cửa thành, làm sao dám xuất thành giao chiến? Khi giặc cướp đất thì không có thời gian ngăn chặn, khi giặc tấn công thành thì tự chuốc lấy họa diệt vong. Thế mà mong rằng thành này che chắn cho hai trấn Định và Trấn, há chẳng phải là khó sao! Do đó có thể thấy rằng, bỏ quân Uy Lỗ thì chẳng có lợi cho giặc Bắc, giữ lại cũng chẳng ích gì cho quốc gia.
Trước kia, Hung Nô nhân cơ hội chăn ngựa ở Châu Đức, năm ngoái chúng xâm phạm biên giới, dừng quân ở hai châu Thâm, Triệu. Quân Uy Lỗ đóng cửa thành tự vệ, chỉ như một ấp nhỏ, chỉ khiến binh lực bị phân tán, chẳng giúp gì cho phòng thủ biên cương! Hơn nữa, kỵ binh Khiết Đan lợi ở tốc độ, muốn dụ địch ra đánh ngoài trận, đó chỉ là điều cầu mong vô vọng. Quân ta cố thủ thành trì, đợi thời cơ, đã phá được mưu đồ của chúng, nên chúng chưa thể thỏa mãn ý chí ở Trung Hạ.
Nay nghe tin giặc đánh vào biên ải, cắt đứt đường vận lương, mà quân ta vội vã xuất chiến, đó là vì mưu dụ địch của chúng đã thành công. Binh lực là ở thế, thế đã hướng về phía nào thì lợi hại hiện rõ. Nếu các quân hợp sức, nhân thời cơ nhanh chóng hành động, reo cờ gióng trống, quyết chiến ở Trung Nguyên, thì giết địch phá thế, binh sĩ biết dùng mệnh lệnh. Nay nghe tin ba trấn này, dưới cái nóng khắc nghiệt, vượt qua vùng ngoại ô, vác giáo đi nhanh, chỉ là để chở lương thực. Đã làm nhiệm vụ bảo vệ kho quân lương, thì vốn không có tâm chiến đấu, lại đem quân mệt mỏi đi tiếp viện, đương đầu với kỵ binh xảo quyệt của giặc Bắc, vừa đi vừa đánh, ắt sẽ thảm bại. Một cánh quân nhỏ thua trận, quân khác có thể theo đó mà tan rã, lúc ấy quân Uy Lỗ sẽ tự sụp đổ trước gió.
Hơn nữa, các quân Uy Lỗ, triều đình đã điều đại quân cùng vận chuyển lương thực, giả sử binh lương được chuyển đến thành đó, nhưng trong khoảng thời gian vài tháng, lương thực ắt sẽ cạn kiệt. Quân địch vẫn chưa rút lui, đường vận chuyển cũng chưa thông, triều đình không thể lại dấy quân ba trấn để tiếp tục hỗ trợ. Huống chi, các thành trì mà quân Uy Lỗ phòng thủ đều nằm sát biên giới, khi quân phương Bắc xâm lược, họ không dám ra khỏi thành giao chiến, khi quân phương Bắc vào cướp bóc, họ cũng không thể nghiêm ngặt giữ gìn biên ải, chỉ tụ tập binh lính hư danh, hao tốn lương thực mà thôi.
Xưa kia, khi biên thành gặp chiến tranh, khói bụi báo động khẩn cấp, hoặc tăng thêm binh lính để bổ sung quân số, hoặc vận chuyển lương thực để cấp dưỡng binh sĩ, vì quân địch vượt xa vào đất ta, dù có quân số gấp mười lần, cuối cùng cũng không thể kéo dài ngày tháng để tranh giành với ta, đó là lý do phải bổ sung quân nhu, chờ đợi chúng rút lui. Nay quân Uy Lỗ tiếp giáp với vùng biên giới của người Phiên, bộ tộc Phiên thường xuyên qua lại, triều đình đâu thể theo tháng theo mùa để điều binh bổ sung lương thực? Tình thế an nguy hiện rõ trước mắt, nếu cứ theo lối cũ, ắt sẽ bị tiêu diệt. Đứng trước thời cơ phải biến đổi, chuyển nguy thành an, trời ban thời cơ, không nên chần chừ. Nếu lúc này đoàn vận lương đến được thành, quân Uy Lỗ nên nhân thời cơ này, dựa vào thế lực của đại quân, bảo toàn binh sĩ, rút về từ trại lũy. Như vậy, việc xuất quân của ba trấn vừa có danh nghĩa, quân Uy Lỗ cũng tránh được tai họa bị tiêu diệt.
Nay Khiết Đan làm trái mệnh, Hà Sóc chưa yên; phương lược khống chế của triều đình nên nắm lấy yếu điểm. Thần cho rằng, các đồn quân biên giới có binh lính dưới ba vạn người, nên bãi bỏ. Vừa tiết kiệm được lương thực của triều đình, vừa tránh được sự xâm lược của rợ Địch. Chỉ nên đưa số quân này thuộc về các trấn lớn dọc biên giới. Các trấn lớn dọc biên giới đã tập trung binh lực, quân mã tự nhiên hùng mạnh, có thể phòng thủ mà không lo thành Dịch Châu bị hãm, có thể giao chiến với thế lực ngang bằng giữa quân Phiên và quân Hán, so với việc chia quân đóng giữ biên ấp, ngồi trên đống củi chờ cháy[23], há có thể so sánh được! Nếu triều đình có thể xử trí theo cách này, Khiết Đan hoặc mù quáng không biết biến đổi, vẫn cố gắng xâm lược, thì thành Tương, Ngụy kiên cố sẽ chặn đứng phía trước, các trấn liên kết áp đảo phía sau, đồng ruộng không bị cướp bóc, tài vật dễ dàng cạn kiệt, quân ta đã tập trung, thế lực mở rộng, Khiết Đan dù hung tàn, thần cho rằng cuối cùng cũng không thể trở thành họa loạn cho Trung Quốc.”
[16] Tháng 8, ngày Tân Hợi, Triệu Phổ dâng sớ tâu rằng:
“Bệ hạ trước đây vì sao yếu hiện ra, đã tự mình nhận lỗi một cách sâu sắc. Thần cùng các vị đồng liệt thân nhận được tờ chiếu của ngài, ai nấy đều lo sợ, không dám nhận trách nhiệm, trong đó kẻ bề tôi già này lại mang tội nặng nhất. Thần sai lầm khi đứng ở vị trí đứng đầu Tam thai, hổ thẹn không có tài cán gì, tự biết chính sự của mình có nhiều thiếu sót, sao tránh khỏi việc sao yếu hiện ra! Làm phiền đến lòng dạ của bậc chí tôn, đều là do hành động của kẻ bề tôi. Tất cả đều là vì che lấp thông minh, giấu diếm những khổ đau, khiến người bị ngược đãi không có cách nào kêu oan, kẻ an phận lại không dám tố cáo. Dù mọi người đều biết rõ, nhưng tấm lòng của hoàng thượng vẫn khó lường, tội che giấu này, kẻ bề tôi mang nhiều nhất, xin chịu sự trừng phạt nghiêm khắc, mong được xử phạt thật nặng. Hiện nay lòng người còn uất ức, thiên tượng vẫn còn sai lệch. Dấy lên mưu đồ loạn lạc của kẻ cuồng phu, khiến kẻ địch mạnh có cơ hội xâm phạm biên cương. Thiên thời và nhân sự, không giống như bình thường, chỉ có năm nay, cần phải bảo vệ hơn gấp bội.
Thần kính xét Bệ hạ vừa biết được điềm lạ, đã tự mình ban bố đức âm, muốn ban ơn khắp nơi, gia tăng thưởng ban. Phát ra một lời lành, ắt tăng thêm trăm điều tốt lành, tất cả đều xuất phát từ tấm lòng thương người, ắt có hi vọng chuyển hóa tai ương, mới qua vài ba mươi ngày, dường như đã có sự thay đổi.
Vừa nghe trong Ty Thiên đài, có người dám bày điều tà nịnh, làm mê hoặc sự nghe biết thánh minh, lại nói những lời yêu dị, cho rằng phải diệt Khiết Đan. Thần lo nghĩ rằng đều là lời siểm nịnh, chưa rõ thật giả. Nay xin hỏi trong Ty Thiên đài, những lời tâu bày trước đây, không rõ căn cứ vào kinh điển nào, xin phân tích rõ ràng, để thần được xem xét, sự thật giả sẽ rõ ràng.
Thần nghe nói năm sao và hai mươi tám chòm sao, cùng với năm núi và bốn sông lớn, đều ở Trung Quốc, không ở nơi tứ di. Sách ‘Thượng thư’ có nói: ‘Muôn phương có tội, tội ở nơi ta.’ Há lại nói rằng đất đai Khiết Đan không thuộc trong số muôn phương? Thần nay già yếu, đâu hiểu được âm dương, chỉ dựa vào lẽ phải mà suy xét, lại dẫn chứng từ sách vở xưa, như ‘Tam phần’, ‘Ngũ điển’, đều có thể làm bằng chứng. Nay ghi chép năm sự việc từ ‘Tả truyện’, ‘Hán’, ‘Tấn’, ‘Lương’, ‘Đường’, trình lên. Mong dùng văn chương cổ xưa, để chứng minh lẽ hợp tình[24]. Kính mong tiếp nhận lời cảnh báo của Trời, để an ủi lòng dân, ban bố ân huệ rộng lớn, giữ gìn vận nước dài lâu. Bởi lẽ mọi việc đời, tốt xấu đan xen, được mất hưng suy, đâu có thể mãi ổn định. Triều đại thánh minh mở nước đã ba mươi năm, quốc phú binh cường, xưa nay chưa từng có. Vật cực tắc phản, bậc thánh xưa không muốn buông thả. Nay thiên tượng thường lệch, dân chúng chưa yên, chiến tranh lao dịch, biết đâu là hồi kết. Dù bậc minh quân tu nhân, vốn ý không thiếu sót, nhưng dân chúng tạo nghiệp, tùy duyên ắt có cảm ứng.
Thần nghe nói Bệ hạ tự xem tinh văn[25], lo lắng sâu sắc, tích đức động lòng Trời, nghĩ đến ơn huệ ban xuống muôn vật[26]. Thế mới biết nhiều khó khăn làm nên vương nghiệp, chỉ là truyền thuyết xưa, còn lo lắng giúp mở mang thánh đức[27], nay thực sự thấy ở hiện tại. Phước lành nào không sinh, tai ương nào không dứt. Thần nay còn có lời thành khẩn, cần được tâu bày trực tiếp, nhưng tiếc rằng chân bước khó khăn, lời nói ngập ngừng, lại sợ bị bệnh phong huyễn làm phiền, nên chưa thể trình bày.
Xin vào lúc nhàn rỗi, hãy gọi thần vào, để thần có thể tâu bày mọi điều nhỏ nhặt[28], đều trình lên. Nhân đó xin theo lệ cũ thời trước, miễn chức Tam công, rõ ràng trách phạt, khích lệ người trung lương.”
Vua xem tấu, khen ngợi và chấp nhận.
[17] Ngày Bính Thìn, ban đại xá.
[18] Ngày Đinh Tỵ, quan Ty thiên tâu rằng sao chổi đã không còn xuất hiện. Thừa tướng dâng lời chúc mừng, nói rằng: “Bệ hạ tự trách bản thân, giảm bớt lễ nghi, tha tội cho người, nên điềm xấu đã tiêu tan, đây là đức lớn của bệ hạ.” Vua đáp: “Trời xét đoán không xa, Trẫm sẽ cùng các khanh nỗ lực để tiêu trừ họa hoạn.”
[19] Trước đó, Vua sai sứ lấy tháp Xá lợi Phật Thích Ca từ phủ Hàng Châu về đặt dưới cửa khuyết, chọn đất ở góc tây bắc chùa Khai Bảo, xây tháp mười một tầng để cất giữ, chiều cao ba trăm sáu mươi thước, chi phí hàng vạn, việc này kéo dài hơn tám năm. Ngày Quý Hợi, công trình hoàn thành, to lớn, đẹp đẽ và tinh xảo, chưa từng có từ thời cận đại. Tri chế cáo Điền Tích từng dâng sớ can gián, trong lời lẽ có ý thẳng thắn rằng: “Mọi người cho là rực rỡ vàng ngọc, nhưng thần cho đó là nơi thấm máu và mỡ.” Vua cũng không nổi giận.
(Sớ của Điền Tích hẳn rất đáng xem, tiếc là không được chép vào sử, cũng không có trong các tấu nghị.)
[20] Ngày Bính Tý, Vua nói với Thừa tướng: “Làm Vua làm tôi, phạm một việc xấu thì sử sách ghi chép mãi, muôn đời không mất, há không nên cảnh giác ư? Từ xưa đến nay, chưa có ai không muốn tiến cử người quân tử, đuổi kẻ tiểu nhân, nhưng người quân tử thường ít, kẻ tiểu nhân thường nhiều.” Lữ Mông Chính đáp: “Điều này liên quan đến thời vận thịnh suy. Khi quốc gia hưng thịnh, đạo quân tử hưng khởi, còn những người ẩn dật nơi đồng quê là vì sợ kẻ tiểu nhân lộng quyền. Người trị quốc nên sớm phân biệt.” Vua rất tán thành lời ấy.
[21] Tháng 9, ngày Mậu Tý, lấy Giá bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Hóa Cơ làm Hữu gián nghị đại phu, quyền Ngự sử trung thừa. Vua từng triệu ông đến điện tiện, ngồi hầu lâu, gặp trời nóng, cho cầm vạt áo quạt, hỏi về việc biên cương. Hóa Cơ đáp: “Trị thiên hạ giống như trồng cây, lo là gốc chưa vững, gốc đã vững thì cành lá chẳng đáng lo. Nay triều đình yên trị, biên cương sao có thể không yên.” Vua đồng ý lời ấy.
[22] Chiếu rằng, nếu quan lại kinh triều có người am hiểu luật lệnh, thể thức, thì cho phép dâng thư tự trình bày. Khi đó sẽ gia tăng việc khảo sát, vấn hỏi để bổ nhiệm vào các chức vụ thuộc bộ Hình cùng Đại Lý tự, ba năm thăng chức một lần.
[23] Từ khi dụng binh tại Hà Bắc, việc cung cấp lương thực trở nên cấp thiết. Ban đầu, triều đình lệnh cho thương nhân vận chuyển cỏ khô, lương thực đến biên ải, căn cứ vào khoảng cách xa gần để định giá ưu đãi, cầm giấy tờ đến kinh sư nhận tiền, hoặc gửi văn thư tới Giang, Hoài xin trà, muối, gọi là “chiết trung”. Có người tâu rằng việc thương nhân vận chuyển nhiều thứ kém chất lượng, nên bãi bỏ, mỗi năm gây thiệt hại cho quốc khố gần trăm vạn. Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Dậu, lại lệnh thực hiện “chiết trung” như cũ. Lại lập kho “chiết trung”, cho phép thương nhân vận chuyển thóc đến kinh sư và xin trà, muối ở Giang, Hoài. Thiện bộ viên ngoại lang Phạm Chính Từ, Lạc uyển phó sứ Kỳ Nhân Trạch, Tác phường phó sứ Doãn Sùng Ngạc cùng quản lý việc xuất nhập kho. Mỗi một trăm vạn thạch là một mức. Gia đình quan lại hưởng bổng lộc cùng các hộ có thế lực không được tự ý đưa thóc vào, Ngự sử đài sẽ xét xử. Gặp năm hạn hán, liền bãi bỏ.
(Việc nộp cỏ khô, lương thực ở biên ải cùng việc nộp thóc ở kinh sư đều gọi là “chiết trung”, nhưng thực ra là hai việc khác nhau. Việc “chiết trung” ở biên ải bắt đầu từ năm Ung Hi, bãi bỏ rồi lại thực hiện. Việc “chiết trung” ở kinh sư mới bắt đầu thực hiện lần này, lại bãi bỏ vì hạn hán. ‘Thực lục’ cùng ‘Phạm Chính Từ truyện’ đều gộp hai việc thành một, nên chép việc thi hành và bãi bỏ thường sai lầm, lấy bản ‘Chí’ sửa chữa, để khỏi mất tính chân thực. Tháng 5 năm Thuần Hoá thứ 2, lại lập kho “chiết bác”, tức là kho “chiết trung” này[29].)
[24] Vì năm đó hạn hán, Vua giảm bớt việc ăn uống, đi khắp các nơi cầu đảo[30], nhưng đều không linh nghiệm.
Đêm đó, Vua tự tay viết chiếu ban cho Thừa tướng Triệu Phổ và các quan rằng: “Mọi tội lỗi trong thiên hạ đều do Trẫm gánh chịu. Từ khi thiên văn biến đổi đến nay, trời lâu ngày không mưa tuyết. Trẫm là cha mẹ của dân, lòng không yên ổn, nguyện lấy thân mình làm vật hiến tế, thiêu trong lửa dữ, để đáp lại sự trách phạt của trời. Trẫm sẽ cùng các khanh xem xét những thiếu sót trong chính sách hình luật, nghĩ đến nỗi vất vả của việc cày cấy, thương xót vật lực, an dân, mong được trời xét thương.” Lúc đó, Triệu Phổ bị bệnh xin nghỉ, Vua liền giao chiếu cho Lữ Mông Chính và các quan.
Ngày Nhâm Thân, Mông Chính cùng các quan đến điện Trường Xuân tạ ơn rằng: “Từ khi Bệ hạ lên ngôi đến nay, tự mình xử lý mọi việc lớn, siêng năng thương xót dân chúng, chưa từng có chút sai sót nào. Thực là do thần đẳng điều hòa không tốt, dẫn đến tai họa này. Theo chế độ nhà Hán, gặp hạn hán thì cách chức Tam công, thần đẳng xin giao lại ấn thụ[31], nhường đường cho người hiền tài.” Vua an ủi và khuyên nhủ họ.
[25] Chế cáo Vương Vũ Xứng dâng sớ nói:
“Thần từng đọc sách ‘Mặc tử’ có chương ‘Thất hoạn’, nói về việc hạn hán, mất mùa đói kém. Tuy xuất phát từ tiểu thuyết, nhưng dường như có ích cho chính sự thời nay. Đại khái, một loại lương thực không thu hoạch được gọi là ‘cận’, hai loại không thu hoạch được gọi là ‘hạn’, ba loại không thu hoạch được gọi là ‘hung’, bốn loại không thu hoạch được gọi là ‘quỹ’, năm loại không thu hoạch được gọi là ‘cơ’. Khi xảy ra ‘cận’, từ hàng đại phu trở xuống đều giảm một phần năm bổng lộc; khi ‘hạn’ xảy ra, giảm hai phần; khi ‘hung’ xảy ra, giảm ba phần; khi ‘quỹ’ xảy ra, giảm bốn phần; khi ‘cơ’ xảy ra, hết thảy đều không có bổng lộc, chỉ được hưởng lương thực từ kho lương mà thôi.
Nay mây hạn không đổ mưa, lúa mạch chưa mọc, đã không có tích trữ chín năm, có thể lo lắng cho nạn đói kém của dân chúng, mong Bệ hạ đặc biệt ban chiếu thư, nói thẳng rằng quan hệ giữa Vua tôi[32], chính giáo có thiếu sót, từ xe ngựa, đồ dùng của Vua trở xuống[33] đến bổng lộc của bách quan, trừ quân lính túc vệ, tướng soái biên cương, đều lần lượt giảm đi, trên đáp trừng phạt của trời, dưới vừa lòng dân chúng, đợi khi mưa đủ lại như cũ.
Thần ở trong triều, nhà nghèo nhất, bổng lộc ít nhất, cũng nguyện xin giảm bổng lộc đầu tiên[34] để chuộc tội hao tổn.
Các châu ngoài mua hàng năm như tía, da lông chim, góc sừng các loại[35], cũng mong tạm dừng một năm; việc làm đồ thủ công như ‘Sự tài bát tác’, ‘Văn tư tử vân’ cũng nên dừng lại. Những người đào đất gần thành xâm phạm mộ phần thì chôn cất lại, những người bị đày ra châu ngoài không phải kẻ trộm cắp thì tha về.
Sau đó, hãy dặn dò quan lại các châu huyện về chuyện hổ dữ vượt sông, châu chấu bay qua biên giới ngày xưa, các đền thờ linh thiêng trong địa hạt, đều giao phó việc cầu đảo. Những tệ nạn về quân sự, dân sự, hình phạt, chính sự mà thần không biết, xin giao cho Thừa tướng xem xét, bàn bạc và ban hành. Chỉ cần lay động lòng dân, triệu tập khí lành, biến tai họa thành phúc, chỉ có bậc Thánh nhân mới làm được.”
[26] Tri chế cáo Điền Tích tâu:
“Thần nay vâng theo chiếu chỉ, được sai đến Thái Nhất cung dùng thanh từ làm lễ tế cầu mưa. Trộm nghĩ rằng mưa đúng thời không xuống, khiến Thánh thượng lo lắng, từ mùa thu sang mùa đông, đã cúng tế khắp nơi.
Bệ hạ thân ngự giá, đích thân đến các chùa chiền, tỏ rõ tấm lòng nhân từ lo cho dân của bậc minh quân, tâm thương xót muôn vật của bậc thánh. Tuy tai họa luôn xảy ra, thời nào cũng có, nhưng kho tàng dự trữ vẫn đủ để ứng phó bất ngờ. Nhưng từ năm nay trở đi, trên trời xuất hiện điềm xấu, cuối thu có sấm chớp, tiếp đến là nạn hạn hán, có thể dẫn đến tai ương đói kém. Đây thực là do âm dương mất hòa, điều hòa sai lệch, trên lấn chức dưới mà chưa thấu suốt, dưới biết lỗi trên mà chưa sửa đổi, nên mới thành tai họa, trời giáng điềm báo, hoặc văn trời biến đổi, hoặc khí xấu sinh điềm gở.
Hôm qua, Bệ hạ vì lời cảnh cáo từ trời cao, đã ngự lầu ban ân xá, lời đức ban ra buổi sáng, sao chổi gở buổi chiều liền biến mất. Trời không nói mà ứng báo rõ ràng, thần linh kín đáo phù trợ mà đáp ứng nhanh chóng. Nay vì lúa đông chưa gieo, mưa ngọt chưa rơi, lòng dân bất an, hy vọng nông dân đã mất. Hoặc nghe tin có giặc nhỏ, tụ tán thất thường, dân chúng than khóc, lo sợ thực sâu sắc. Khí nóng trái mùa khiến lạnh giá, bệnh tật sinh ra, dân có thể bỏ xứ đi, giá gạo ắt tăng cao. Còn nhờ vào đức lớn của Bệ hạ, phúc lành từ tông miếu, giặc hung ngoài biên giới tạm yên, các nước triều cống đều tuân thủ. Nếu không, lòng dân một khi dao động, giặc sẽ lợi dụng, làm sao dẹp yên đám giặc nhỏ nổi loạn, làm sao ngăn quân thù từ phương Bắc đánh xuống? Chỉ vì mùa thu đông không có tuyết mưa, đây là ý trời muốn cảnh báo, lòng Thánh thượng hẳn cũng suy nghĩ sâu xa. Hay trong ngục tù, việc xử án chưa công bằng, pháp luật còn phiền hà khắc nghiệt. Hoặc việc bắt phu dịch chưa được miễn giảm, hoặc sự xa xỉ chưa được kiềm chế. Đường nói tuy mở, lời thẳng thắn chưa chắc được nghe theo, đạo vương tuy thực hiện, người cô khổ chưa chắc được hưởng lợi. Hoặc thưởng phạt vượt quá lẽ thường, do vui giận mà mất cân bằng. Lời hay nạp trung, bị bài bác bởi luận điệu ngang ngược, dùng hiền đãi dưới, chưa đạt đến chí thành.
Nếu vậy, dù Thánh thượng lo lắng ăn không ngon, tư lự đêm khuya, chăm chỉ xử lý muôn việc, chỉ làm hao tổn thân thể, hết lòng cẩn thận, vẫn chưa đạt đến cảnh trị bình. Nay nêu đại lược, xin mạo phạm uy nghiêm.
Sách ‘Lễ’ có viết: “Lời nói của Vua như tơ, khi ra khỏi miệng đã trở thành lụa.” Sách ‘Thư’ cũng nói: “Hãy cẩn trọng khi ban hành mệnh lệnh, mệnh lệnh ban ra thì phải thi hành.” Hiện tại, những việc triều đình đang làm, đôi khi lại khác với điều này. Kế hoạch ban đầu thiếu sự cân nhắc cẩn trọng, mệnh lệnh ban ra không ngần ngại thay đổi, có chiếu chỉ vừa ban xuống, chưa kịp thực hiện đã bãi bỏ, như việc dùng ngự trát để tế lễ ở Thanh miếu, chẳng bao lâu lại bãi bỏ. Từ đó có thể thấy, việc xử lý các công vụ gấp rút, khó tránh khỏi sai sót.
Thần kẻ ngu muội, đâu dám trốn tránh tội chết; Thần được gặp Thánh minh, lòng đâu nỡ phụ bạc. Vì vậy, nhân việc này thần xin dâng lời, mong có thể đóng góp phần nhỏ.
Kính mong Bệ hạ nhân lúc hạn hán này, hạ chiếu thư, tự nhận lỗi lầm, đáp lại lời cảnh báo của trời, ban ân huệ để an lòng dân. Giảm thuế lao dịch, giản lược các điều cấm[36], kiểm tra những việc tồn đọng, tiến cử người tài giỏi. Võ sĩ giữ phương, không để gây tranh chấp với lân bang, triều thần cai quản quận huyện, cần chọn người liêm chính và có năng lực. Cũng có thể khen thưởng những người chăm chỉ, hoặc loại bỏ những kẻ bất tài, mở kho lương cứu đói, tăng giá thu mua dự trữ để đề phòng thiếu hụt[37]. Những nơi bị quân ngoại xâm tàn phá, gia đình các sĩ phu và dân thường bị chết chóc, hãy thương xót người còn sống, chôn cất người chết, an ủi những oan hồn, miễn thuế lần thứ hai cho dân làng, cấp phát ưu ái cho người cô quả, sống tiết kiệm để hợp lễ, giữ yên dân để bình trị biên cương. Mời các bề tôi trung trực, tìm hiểu nguyên nhân thiên tai, diệt tai ương để cầu an, chính là lúc này, biến họa thành phúc, thuộc về ngày hôm nay. Nếu hạn hán không chấm dứt, mất mùa liên tiếp, giặc cướp tụ tập nơi lau sậy[38], chờ thời cơ nổi dậy, quân địch nhân lúc đói kém[39], lợi dụng thiên tai gây loạn, thì mối lo của quốc gia thực sự lớn, nỗi lo của triều đình chẳng phải nhỏ.”
Sớ tấu lên, Vua không vui, Tể tướng cũng giận vì trong sớ có câu “Đảo ngược điều hòa” v.v., không lâu sau bãi chức Tri chế cáo, cho làm Hộ bộ Lang trung ra nhận chức ở Trần châu.
[27] Trung thư môn hạ tâu: “Việc ghi chép thời chính ký, do Hoàng đế mỗi lần ngự ở tiền điện, xu mật viện trở xuống đã lên trước, tể tướng chưa lên, nên những lời tuyên dụ thánh chỉ, những lời hay được chế định, không thể nghe biết, sợ thành thiếu sót. Nay mong sai hai vị xu mật phó sứ luân phiên chép lại, gửi về trung thư.” Nhà Vua bèn hạ chiếu cho xu mật phó sứ Trương Hoành và Trương Tề Hiền cùng nhau chép lại. Từ đó, mọi việc của xu mật viện đều gửi về trung thư, cùng biên soạn thành một sách rồi trao cho sử quan, hai vị phó sứ hoặc tri viện cùng quản lý[40].
(Ghi chép thời chính của xu mật viện bắt đầu từ đây.)
[28] Tháng 11, ngày Tân Sửu, Trấn châu đô bộ thự, Tuyên Huy Nam viện sứ, tặng chức Thị trung Quách Thủ Văn qua đời. Thủ Văn là người trầm tĩnh, có mưu lược, biết chữ, giỏi văn chương, cung kính, giữ mình, không xung đột với ai, phụng sự nhiều triều đại, trước sau như một.
Trước đây, các tướng đem trọng binh trấn giữ biên giới thường gây sự, dẫn đến giặc cướp để lập chiến công, các châu ở Hà Sóc chưa từng có năm nào yên ổn. Khi Tào Bân thất bại, quân địch thừa thắng tiến sâu vào, nhà Vua phái Thủ Văn đảm nhận chức vụ trong triều, thống lĩnh cấm vệ, trấn thủ Thường Sơn để kinh lược vùng đó. Sau khi Thủ Văn mất, có trung sứ vừa từ biên giới phía bắc trở về, kể rằng khi Thủ Văn qua đời, các võ tướng và binh sĩ đều khóc lóc. Vua hỏi: “Sao lại thế?” Trung sứ đáp: “Thủ Văn nhận bổng lộc, đều mua bò rượu khao quân sĩ, ngày mất chẳng còn của cải gì.” Vua nghe xong, thương tiếc hồi lâu, liền ban cho gia đình ông năm trăm vạn tiền, rồi phong cho con trai ông làm quan chính ngũ phẩm. Sau đó, Vua nhớ lại công lao cũ, lại nạp con gái thứ của Thủ Văn làm phu nhân của Tương vương.
[29] Vua chọn tướng soái, người có thể thay thế giữ trấn Thường Sơn. Các bề tôi tâu rằng việc trọng yếu ở biên phòng không nên khinh suất giao phó, Vua trầm ngâm hồi lâu, rồi nói: “Lưu Đình Hàn là người đó.” Chiều hôm đó, Vua triệu Đình Hàn vào nói chuyện, rất hài lòng, liền ra lệnh cho ông làm Điện tiền đô chỉ huy sứ kiêm Vũ Thành tiết độ sứ, đi nhậm chức Trấn Châu đô bố trí.
(Việc Đình Hàn xuất chuyển không ghi trong bản kỷ và Thực lục, không rõ là tháng này hay tháng khác. Nay chép phụ vào đây.)
[30] Tháng 12, ngày Tân Hợi, Vua hạ chiếu lập ra Tam ty đô khám ty, giao cho Tả tán thiện đại phu Lưu Thức phụ trách. Thức là người Viên Châu.
[31] Ngày Canh Thân, Vua hạ chiếu: “Các bậc hiền vương xưa, cai trị thiên hạ, luôn chú trọng đến việc trị quốc, chứ không coi trọng hư danh. Huống chi danh hiệu Đế Hoàng[41], đã là tôn quý nhất, từ thời nhà Đường mới thêm mỹ hiệu, vì sự kính yêu của bề tôi, ghi vào điển chương, dần dần thêm thắt, thành thói quen không thay đổi. Trẫm cũng xem xét kỹ sách vở, noi theo đạo cũ, đã khác với chế độ xưa của các bậc Thánh vương, e rằng danh thực không tương xứng, lòng Trẫm băn khoăn, không yên. Từ nay, các biểu tấu từ bốn phương chỉ nên xưng là Hoàng đế.”
Ngày Tân Dậu, Lã Mông Chính và các quan tâu rằng: “Công đức của Bệ hạ vô cùng lớn lao, chỉ nên tăng thêm tôn hiệu, nay đột nhiên bỏ đi, mọi người không khỏi kinh ngạc.” Vua nói: “Hai chữ Hoàng đế cũng không nên gộp lại. Bởi từ thời Tần Thủy Hoàng, hậu thế noi theo không thay đổi. Trẫm vốn định chỉ xưng Vương, nhưng vì các con đã được phong Vương, nên không tiện. Trẫm đã quyết định, các khanh không cần tấu nữa.”
Ngày Giáp Tý, Triệu Phổ dẫn đầu trăm quan dâng biểu, xin khôi phục tôn hiệu, biểu dâng đến hai lần, đều không được chấp thuận.
Ngày Mậu Thìn, lại dâng lên sáu chữ “Pháp Thiên Sùng Đạo Văn Vũ”[42], Vua hạ chiếu bỏ hai chữ “Văn Vũ”, còn lại chấp thuận.
[32] Vua bảo Thừa tướng rằng: “Quốc gia tuyển chọn nhân tài, qua từng cấp bậc mà thăng tiến, người ở chức vị thấp mà tài năng ẩn giấu thì nhiều, chớ nên lấy điều này làm hạn chế, để thỏa lòng mong muốn của Trẫm là cấp bách cầu hiền tài.” Nhân đó nói: “Làm bầy tôi, ở thời thái bình, công hiệu khó thấy. Nếu thời loạn thì chỉ dùng tài năng, không quan tâm đến đạo đức, như Trần Bình, Hàn Tín trong khoảnh khắc có thể lập nên công nghiệp, nhưng ở thời thái bình thì không có dịp thi thố mưu lược. Vì thế, Khổng Tử chia ra bốn khoa, lấy đức hạnh làm trọng.” Lại nói: “Chức vị thấp kém, không thể nói là không có người tài. Phàm người quân tử thì giữ mình theo đạo, khó tiến mà dễ lui, không cầu danh lợi[43], vì thế thường lo không biết được họ.” Lữ Mông Chính nói: “Nếu luân phiên thử thách bằng công việc, thì tài năng hay không sẽ rõ ràng.”
Vua hỏi: “Việc thiện ác của tính người, làm sao biết được?” Mông Chính đáp: “Người làm việc thiện, cuối cùng không thể che giấu, lâu ngày càng rõ, kẻ làm ác cũng vậy. Nếu chỉ nghe thoáng qua về thiện ác, hoặc bị tình cảm chi phối, sợ rằng sẽ sai lầm trong việc bổ nhiệm, cần xem xét lâu dài, thì thưởng phạt sẽ không sai.” Vua khen lời ấy.
[33] Thời đầu quốc gia, có ty Lâu điếm, đến năm Thái Bình Hưng Quốc thì đổi thành Ty Tả hữu sương điếm trạch. Năm đó, sáp nhập thành Đô điếm trạch vụ, dùng số tiền thu được để cung cấp cho nhu cầu trong cung, mỗi ngày một trăm nghìn. Năm sau lại chia thành hai sương, rồi lại hợp nhất, vẫn gọi là Ty Tả hữu sương điếm trạch.
- 'Tài cập' vốn là 'Nga cập', theo bản 'Tống Toát Yếu' sửa. ↵
- 'đào hào xây lũy,' chữ 'hào' nguyên bản là 'hoàng,' căn cứ vào Tống bản và Tống toát yếu bản mà sửa ↵
- 'dựng ba trấn lớn,' chữ 'lớn' nguyên bản là 'vương,' căn cứ vào sách trên mà sửa ↵
- dẫu có trăm vạn quân 'Quân' nguyên văn là 'Chúng', căn cứ vào sách trước và các bản khác mà sửa. ↵
- tên chất thành núi nguyên văn là 'tên tích như núi', căn cứ vào Tống bản và Tóm lược sách Tống mà sửa. ↵
- Hoàn Diệp, Văn Công đẩy lui tứ di 'Hoàn' nguyên văn sửa là 'Uy', vì kiêng húy của Tống Khâm Tông, nay sửa lại. ↵
- Bệ hạ rút kinh nghiệm từ thất bại trước 'Xa' nguyên văn là 'Quân', căn cứ vào Tống bản và Tóm lược sách Tống mà sửa. ↵
- 'Lệnh' nguyên bản viết là 'mệnh', theo bản Tống Toát Yếu và bản các bản khác sửa. ↵
- 'Nhân cơ hội hở hiểm để chiếm lấy', chữ 'hở' nguyên bản là 'chúng', dựa theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại. ↵
- 'Có thể chiếm lấy được', chữ 'có' nguyên bản là 'cố', dựa theo các bản sửa lại. ↵
- 'Bắt được tù trưởng thì ban chức tản quan', chữ 'trưởng' nguyên bản là 'suy', dựa theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa lại. ↵
- Chữ 'giảm' nguyên bản là 'tổn', căn cứ vào bản Tống và bản Tống toát yếu sửa lại ↵
- Chữ 'liệu' nguyên bản là 'khoa', căn cứ sách trên sửa lại ↵
- Quách Cấp nguyên tác là 'Quách Du', căn cứ theo Tống bản, Tống Toát yếu bản và Hàm Bình tập quyển nhất Thái Tông đáp chiếu luận biên sự mà sửa. ↵
- nguyên văn là 'lợi' , sửa theo sách trên ↵
- 'bèn' nguyên là 'nếu', theo sách 'Hàm Bình tập' mà sửa ↵
- Ý 'tôn cổ làm quan' chữ 'Hiệu' nguyên bản là 'Phục', căn cứ vào các bản khác mà sửa. ↵
- Chữ 'Chỉ' trong 'có ý thú sâu xa' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống hội yếu tuyển cử 7-5 mà bổ. ↵
- Nguyên văn chữ 'nghi' nay theo các bản Tống, Tống Toát Yếu, và các bản khác đổi thành 'tố'. ↵
- 'Kỳ' nguyên bản chép là 'triều', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và sách 'Long bình tập', quyển 4, truyện Khấu Chuẩn, sửa lại. ↵
- Chú thích: Câu 'Trương Tề Hiền trước đây ở Xu phủ' nguyên bản viết là 'Ở Xu phủ trước', căn cứ vào bản Tống và 'Tống toát yếu' sửa lại. ↵
- ‘Lâm Kinh’ bản cũ chép là ‘Lâm Lưu’, dựa theo bản Tống, bản tóm tắt của Tống, cùng sách ‘Cựu Đường thư’ quyển 152 và ‘Tân Đường thư’ quyển 170, truyện Hác Biền sửa lại. ↵
- Ngồi trên đống củi chờ cháy, 'cháy' nguyên là 'đèn', theo Tống bản, Tống toát yếu bản mà sửa. ↵
- 'Chứng minh lẽ hợp tình' chữ 'chứng' nguyên là 'chính', theo sách trên đã sửa ↵
- 'Tự xem tinh văn' chữ 'tự' nguyên là 'mục', theo sách trên đã sửa ↵
- 'Nghĩ đến ơn huệ ban xuống muôn vật' chữ 'tư' nguyên là 'ân', theo sách trên đã sửa ↵
- 'Lo lắng giúp mở mang thánh đức' chữ 'ân' nguyên là 'ẩn', vì kiêng húy Triệu Hoằng Ân, nay theo sách Tống Văn Giám sửa lại ↵
- 'Để thần có thể tâu bày mọi điều nhỏ nhặt' chữ 'quý' nguyên là 'tỵ', theo các bản đã sửa ↵
- 'Tức thử chiết trung thảng dã', chữ 'thử' nguyên bản viết 'kì', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa ↵
- 'Đi khắp các nơi cầu đảo' chữ 'Đi' nguyên bản là 'Tế', căn cứ vào các bản khác và sách 'Trị tích thống loại' quyển ba 'Thái Tông thánh chính' sửa lại. ↵
- 'Xin giao lại ấn thụ' chữ 'Giao' nguyên bản là 'Giải', căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu', các bản khác và sách 'Trị tích thống loại' sửa lại. ↵
- Nghiên cứu: 'nói thẳng' nguyên văn là 'trên dưới', căn cứ vào bản Tống và bản 'Tống toát yếu' cùng 'Tống sử' quyển 293, truyện Vương Vũ Xứng sửa lại. ↵
- Nghiên cứu: 'đồ dùng của Vua', nguyên văn là 'mệnh', căn cứ vào sách trên sửa lại. ↵
- Nghiên cứu: 'cũng', nguyên văn là 'như vậy', căn cứ vào sách trên sửa lại. ↵
- Nghiên cứu: 'góc sừng các loại', nguyên văn là 'số xương gân', căn cứ vào bản Tống và bản 'Tống toát yếu' sửa lại. ↵
- 'Khoa cấm' nguyên văn là 'Hình cấm', theo bản Tống, Tống toát yếu sửa lại ↵
- 'Gia cổ thu trữ' nguyên văn là 'Gia bội thu trữ', theo bản Tống, Tống toát yếu và các bản khác sửa lại ↵
- 'Giặc cướp tụ tập nơi lau sậy' nguyên văn là 'Giặc cướp tụ tập nơi hoàn bồ', theo các bản sửa lại ↵
- 'Quân địch nhân lúc đói kém' nguyên văn là 'Quân địch nhân lúc hàn', theo các bản sửa lại ↵
- Chữ 'hoặc' trong câu 'phó sứ hoặc tri viện nhị viên đồng chưởng chi' nguyên bản bị khuyết, nay dựa vào 'Tống hội yếu chức quan lục chi tam○' và 'Biên niên cương mục quyển tứ' để bổ sung. ↵
- Danh hiệu 'Đế Hoàng' nguyên bản là 'Đế Vương', theo bản Tống và Tống toát yếu sửa lại. ↵
- Sáu chữ 'Pháp Thiên Sùng Đạo Văn Vũ' nguyên bản là 'Hai chữ', theo bản Tống và Tống toát yếu sửa lại. ↵
- không cầu danh lợi, chữ 'văn' trên nguyên bản có thêm chữ 'vu', theo bản Tống và bản Tóm lược Tống đã sửa ↵