"

II. TỐNG THÁI TÔNG

QUYỂN 42: NĂM CHÍ ĐẠO THỨ 3 (ĐINH DẬU, 997)

Bắt đầu từ tháng 9 năm Chí Đạo thứ 3 đời Thái Tông cho đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Tháng 9, ngày Bính Tý: Nhà Vua bàn về việc quân nổi loạn ở Tây Xuyên. Có quan phụ thần tâu: “Đất Thục không có thành trì, nên mới mất khả năng kiểm soát.” Vua nói: “Trị nước nằm ở đức chứ không phải ở hiểm yếu. Nếu quan lại được người tài, khéo léo vỗ về, khiến dân an cư lạc nghiệp, thì dù không có thành cũng không sao.”

(Sách ‘Bảo Huấn’ cho rằng việc xây thành ở Thục là lời của Triệu Dung, nhưng lúc đó Dung đã bãi chức Xu Mật rồi, nên không dùng ở đây. Truyện Lý Doãn Tắc chép rằng khi Doãn Tắc đi sứ Thục trở về, xin theo nghị của Thượng Quan Chính xây thành, đây là chuyện khác[1]. Lúc này chỉ là triều nghị bàn ngẫu nhiên, nên không thể ghi chung vào.)

[2] Lúc đầu, Vua sai Tả Tàng Khố sứ Dương Doãn Cung, Sùng Nghi phó sứ Đậu Thần Bảo gấp rút đến vùng biên giới phía Tây, vẽ địa hình sông núi. Hôm ấy, Vua ngự tại điện Tư Phúc, triệu tập các quan phụ thần, chỉ vào bản đồ và từng vùng châu huyện, pháo đài, nói: “Trẫm đã lệnh đóng quân ở vùng trong, lại giảm bớt lính hư nhàn, việc chuyển lương chắc sẽ giảm đi.” Doãn Cung bèn dâng kế: “Từ châu Hoàn vào Tích Thạch, đến Linh Vũ chỉ bảy ngày đường. Việc vận chuyển cỏ lương có ba cách: dùng người, dùng lừa, đều tốn kém mà chở được ít. Chi bằng dùng phép Mộc Ngưu của Gia Cát Lượng, dùng xe nhỏ, sai lính trạm phân vận, mỗi xe bốn người kéo, bên trên đặt binh sĩ mang vũ khí. Giặc đến thì tập trung xe vào giữa, hợp sức binh sĩ đánh lui giặc.” Nhưng sau bị các nghị quan phản đối nên không thực hiện.

(Việc sai sứ vẽ địa hình biên giới phía Tây là ý của Chân Tông, muốn bãi binh, giữ vững biên cương, không phải để mưu cầu xâm lược. Sách ‘Bảo Huấn’ nói “người giỏi dùng binh trước hết phải hiểu địa lợi”, e rằng ý Vua không phải vậy. Nên không dùng ở đây.)

[3] Ngày Mậu Dần, phong Khổng Diên Thế, huyện lệnh Trường Cát, làm huyện lệnh Khúc Phụ, kế tục phong tước Văn Tuyên công, ban tặng bộ ‘Cửu Kinh’, sách ngự bút của Thái Tông, cùng đồ tế khí, thêm bạc lụa rồi sai đi. Chiếu cho chuyển vận sứ của đạo đó và trưởng lại của châu ấy phải đối đãi bằng lễ khách. Diên Thế là cháu đời thứ 45 của Khổng Tử.

[4] Ngày Nhâm Ngọ, Tả Chánh ngôn, Trực sử quán Tôn Hà dâng biểu hiến năm điều nghị, Vua xem và khen ngợi.

– Điều thứ nhất, đề nghị dùng Nho tướng, rằng: “Tướng là người nắm mệnh lệnh, là chủ của sự an nguy quốc gia. Từ thời Tấn, Hán đến Đường, đều chọn Nho thần thống lĩnh binh mã, khi ấy võ thần chưa ai vượt qua được. Đến Ngũ đại mới phân chia trách nhiệm, đối đãi lẫn nhau. Xưa nói Nguyên nhung không gì không thống nhiếp, từ thời cận đại lại có việc cung cấp lương thảo, chuyển vận theo quân. Sứ giả đi về, mượn danh chỉ dụ của Vua, động tác đều phải báo cáo, thực tế trái với kế hoạch. Xin Bệ hạ từ hàng Nho thần, chọn người có mưu lược, thử giao nhiệm vụ biên cương, đừng để tiểu nhân cản trở quyền hành, việc chế trí ngoài biên ải đều giao phó cho họ, thuế má, lợi tức trong nước đều trao cho họ, các chức như giám trận tiên phong đều giao cho thiên tướng, chịu sự điều động của họ. Văn võ cùng dùng, ắt sẽ đạt được kỳ tích.”

– Điều thứ hai, bàn về việc xây dựng Thái học, viết: “Phong khí của sĩ tử ngày càng suy đồa, thế đạo tiêu tan[2], coi thường đạo cổ trong học đường nhà Nho[3], lại hướng theo lối khác nơi thiên phủ, những kẻ tầm thường bắt đầu vào cửa trường, còn hào kiệt thì đua nhau lên kinh đô. Thêm nữa, chiến tranh liên tiếp nổi lên, phép tắc kinh điển không còn, nghĩa lý học tập cũng mất hết, trường học ở các quận huyện đều đóng cửa. Nguyên nhân là khi ban hành luật lệ ban đầu, điều lệ quá sơ sài, sáu quán thăng giáng gộp chung hạn mức dựa vào thế lực gia đình, việc tiến cử ở hai kinh[4], không có quy định gì để cải cách, khiến cho phong tục hời hợt lan rộng, thành thói quen. Ở địa phương ngoài kinh đô không có học sinh, trong kinh đô thì đều gọi là hương cống, kể cả những người buôn bán, công nghệ cũng đến Thái học, Quảng văn, cỏ xanh chẳng về, rối bời nổi lên.

Gần đây ban hành quy chế mới[5], xử lý những tệ lậu trong khoa cử, đặt ra quy định mới về tiến cử, truyền lệnh cho quan sở tại, lấy 10 người bỏ 2. Nhưng thần cho rằng vẫn còn chỗ chưa hoàn thiện. Nếu quốc gia muốn mở đường cho người tài từ nơi hẻo lánh, mở cửa công bằng, thì không gì bằng việc ban hành lại điều lệ, nghiêm khắc về kinh thuật, khiến kẻ sĩ nghèo khó từ làng xã được tiến cử, con em quý tộc từ trường học ra làm quan. Thái học không được nhận con nhà thường dân, kinh đô không được tiến cử người từ cửa khanh sĩ[6], kẻ giàu sang đưa con đi học nếu sai phạm sẽ bị trị tội, người thảo dã mặc áo vải mà nhận lầm sẽ bị cách chức.

Ở các quận huyện ngoài kinh đô hoặc những nơi đông đúc, như chỗ giàu có, đều theo điển cũ mà lập lại trường học, chọn bậc kỳ lão, học giả làm bác sĩ, trợ giáo, tăng cường thi cử, công khai tiến cử. Cuối năm vẫn theo điều lệ mới, hạn chế số người được thi. Ắt có kẻ xuất chúng, tài năng hơn đời, dù không qua trường làng cũng được bàn công khai. Việc dùng văn chương chọn sĩ đã lầm, chọn người sai cách thì tệ lậu làm sao chữa được? Nay kẻ sĩ tuy xưng là hương cử, nhưng thực chất tự mình đến cửa quận phủ xin tiến cử, nhờ cậy nơi nhà quyền quý. Làm văn so sánh sự việc, người đạt chuẩn cũng chỉ là kẻ chẻ sợi tóc, bỏ kinh điển, kẻ trúng tuyển chưa qua chương cú. Nếu không thu nhận họ trong trường học, chọn từ châu huyện, thật lo rằng về sau phong tục càng thêm suy đồi. Việc này rất quan trọng, mong Hoàng thượng đặc cách thi hành. Lúc thần mới nhậm chức, cũng từ quận phủ mà ra, đâu dám quên gốc, vội trình bày mưu này? Chỉ vì thấy sự hời hợt, biết sự lạm dụng, nên dám mạo tội khôn lường, nói hết lời của kẻ cuồng ngôn.”

– Điều thứ ba, cải cách việc thăng chuyển, rằng: “Thần thấy quốc gia dẹp yên nhiều phương, kiêm lập nhiều chức vụ. Bên ngoài thì quận tướng, thông thủ, triều sĩ thay nhau thi hành, quan chinh giác cô, sứ giả kiêm chưởng, xuống đến các chức duyện nhỏ trong mạc phủ, đều do triều đình tuyển bổ và bổ nhiệm. Việc dùng người vừa rộng, việc chọn lựa khó tinh, số người được tiến cử có tên trong bộ chạy đến hàng nghìn, còn người nhờ môn đệ mà vào chức vụ lại chẳng kể. (Xét sử Tống chép rằng cũng đến trăm người.) Vừa lập chút công lao, lập tức được thăng chức ở kinh thành, ra ngoài thi hành mệnh lệnh, người thừa lại quá nhiều. Mỗi khi nhà Vua thân hành tế lễ ở viên khâu[7], ban bố ơn đức lớn, không phân biệt kẻ hiền người bất tiếu, đều cho phép thăng chuyển, đến nỗi người giữ chức bình sự, tự thừa, chỉ vài năm đã thông được danh trong khuê tịch[8], chức tán thiện, tẩy mã, chưa đầy mười năm đã lên đến chức đài lang. Thần trộm tính nay trong bản danh sách chức vụ, đài tỉnh, cung tự có tới tám trăm viên, ngọc đá lẫn lộn, danh khí bừa bãi, trái với phép khảo công trong sách ‘Ngu thư’, phép tính trị trong chức quan nhà Chu vậy. Thần thật rất ngu, chỗ này thần chưa hiểu.

Chế độ cũ nhà Đường, mỗi khi tế giao, ban ân xá, chỉ thăng cấp bậc và tặng huân chương mà thôi. Nay nếu trong vòng mười năm, ân xá liên tiếp, e rằng quan lại kinh thành sẽ nhiều hơn bọn tư đồ, triều thần nhiều hơn các châu huyện, chẳng những bị chê trách là xe liền nhau, đấu đầy, mà còn có lỗi buôn bán vật liệu (Xét sử Tống chép là bại tài.) và mượn danh cờ quạt. Huống chi lộc bổng cấp cho, nhất định phải từ thuế đất, thuế đất đến đâu, phải lấy sức dân, hà tất làm cạn kiệt kho tàng của nhà nước, để phụ thêm cho những người này. Những người đã được bổ nhiệm thì khó mà giảm bớt, người chưa được thăng chuyển thì nên răn đe nghiêm ngặt, đó chính là điều cổ nhân gọi là bớt chi phí vô ích, bãi bỏ chức quan không cần thiết, nằm trong việc này. Kính mong đặc cách ban chiếu chỉ, từ nay về sau, mỗi khi tế giao, các quan không được thăng chuyển đồng loạt, nếu quả có công tích nổi tiếng, tài danh lâu đời, tự nhiên có thể đãi ngộ không theo thứ tự, há chỉ thăng lên từng bậc. Còn như việc giảm bớt và sáp nhập lại viên chức, tất cả đều xin Vua quyết định.”

– Điều thứ tư, khôi phục chế khoa, nói rằng: “Triều đình nhà Đường tham khảo chế độ cổ kim, thu nạp anh tài trong thiên hạ, thất bại ở Lễ bộ, thành công ở chế cử. Lễ bộ thì có tiến sĩ, minh kinh, giải thích câu văn, chuộng thanh luật, đối ngẫu. Chế cử thì có các khoa hiền lương thể dụng, xây dựng chế độ, phụ trách kinh luân. Quốc gia mở mang bờ cõi, đặt nền móng thái bình, nhưng chế cử chưa được khôi phục, con đường tiến thân tốt đẹp[9], chỉ có tiến sĩ, minh kinh lần lượt thăng tiến, há chẳng nghĩ đến những người tài xuất chúng ở chốn lâm tuyền bị bỏ rơi sao? Những người được tiến cử ở đài các có kẻ tiếm quyền lạm dụng chăng?”

– Điều thứ năm, thực hiện lễ hương ẩm, nói rằng: “Lễ hương ẩm là để thể hiện thứ bậc tôn ty, trưởng ấu, chủ khách. Nhà Tần đốt sách, lễ này bị bãi bỏ, kéo dài chưa khôi phục, thực là điều đáng tiếc. Mong ban chiếu cho quan Lễ căn cứ theo cổ lễ mà thực hiện.”

[5] Giám sát Ngự sử Vương Tế[10] dâng sớ trình bày 10 việc: Một là lựa chọn người bên cạnh, hai là phân biệt hiền ngu, ba là chấn chỉnh danh phận, bốn là bãi bỏ chức vụ thừa, năm là tăng bổng lộc, sáu là thận trọng trong chính sự và giáo hóa, bảy là chọn tướng giỏi, tám là rèn luyện binh lính[11], chín là sửa sang việc dân, mười là mở rộng đường tiến thân.

Trong sớ có đoạn viết: “Hiền ngu là gốc của trị loạn. Bậc đại hiền thì có thể trị hết mọi việc, thông hiểu trăm chức, còn kẻ thứ chỉ cần có một tài một kỹ cũng đủ. Kẻ ngu không nhất định là phải vô tâm vô tư, ngờ nghệch làm dân. Kẻ giữ lễ nhỏ coi như đức, kẻ nhút nhát coi như khoan dung, kẻ dung túng gian ác coi như nhân từ, kẻ chứa đựng nịnh hót coi như cung kính, kẻ thích hãm hại coi như trí tuệ[12], kẻ thích chê bai coi như ngay thẳng, kẻ kết bè kết đảng coi như nghĩa khí, kẻ hà khắc coi như trung thành, kẻ tham lam bổng lộc coi như siêng năng, những kẻ như vậy, tuy ngu mà giống hiền, dùng họ thì sẽ là mầm mống của loạn lạc.”

Lại viết: “Chức quan không cần nhiều, chỉ cần người xứng.”

Lại viết: “Chức vụ dựa vào đức mà bổ nhiệm, không theo thứ tự mà thăng tiến. Nếu cẩn thận chọn người, mỗi người giữ đúng chức phận, thì kỷ cương ắt sẽ được chấn chỉnh.”

Lại viết: “Quan nhiều thì việc rườm rà, lại nhiều thì dân khổ. Muốn việc không rườm rà, không gì bằng giảm bớt quan chức, muốn dân đều yên ổn, không gì bằng giảm bớt lại viên. Thiên hạ chưa được thanh bình[13] là do quan lại quá nhiều. Vì thế, xin Bệ hạ nên giảm bớt quan chức ở các cục, giảm số lượng giám sát, lựa chọn lại viên trong trăm ty, tuyển thợ kỹ thuật, bỏ thợ tinh xảo, đình chỉ quân lính già yếu, loại bỏ tăng đạo, tự nhiên sẽ không còn đất bỏ hoang, không có dân lang thang, công đường nghiêm túc mà mọi việc đều được thực hiện.”

Lại viết: “Quan nhiều bổng ít, không bằng bổng nhiều mà quan ít. Nếu bỏ hết chức vụ thừa, khôi phục toàn bộ bổng lộc, thì bổng của hai người có thể đủ cho một người dùng. Y phục no đủ, liêm sỉ tự nhiên sẽ nảy sinh.”

Lại nói: “Những thiếu sót trong chính sách dân sinh hiện nay là: thuế ruộng chưa đều, việc độc quyền bán rượu chưa nới lỏng, việc xây dựng chưa dừng, thuế khóa chưa công bằng, quan lại địa phương chưa tài giỏi. Thuế ruộng không đều thì nhà giàu chiếm nhiều đất tư mà đất công ít đi, trên bóc lột dưới, cốt ở chỗ này. Việc độc quyền bán rượu chưa nới lỏng thì dân thường phạm luật mà thành trộm cướp, hơn nữa lợi từ rượu và men ở núi biển vốn là của dân, nay lấy hết, là tranh lợi với dân, trái lại hại họ; nếu nới lỏng ít nhiều, quốc dụng chưa hẳn thiếu, mà dân cũng không phạm pháp nữa. Việc xây dựng không dừng thì dân khổ vì lao dịch mà quốc dụng hao tốn. Hơn nữa, việc xây dựng chùa chiền rộng rãi vốn nhằm cầu phúc, nhưng không biết rằng cầu phúc nằm ở sửa sang chính sự, việc xây dựng ấy có ích gì!

Việc thuế khóa không công bằng thì dân bị bóc lột mà hình phạt bị lạm dụng. Bởi văn bản sai sót, khiến phải bồi thường, có khi cha ông mắc nợ, con cháu phải trả; hoặc không phải người quản lý nhưng phải liên đới gánh vác; hoặc không tự mình làm gì sai trái nhưng bị xếp vào loại thất thoát. Trải qua năm tháng, hình phạt ngày càng nặng, không có lợi gì cho quan lại, chỉ làm hại dân chúng. Quan lại địa phương không tài giỏi thì dân chịu thiệt thòi mà chính sự không thực hiện được. Bởi kẻ tham lam hối lộ công khai, kẻ tàn bạo hình phạt không tiết chế, kẻ cứng nhắc không biết biến thông, kẻ nhút nhát để cho nha lại hà hiếp dân.”

Lại nói: “Cửa tuyển chọn quan lại chỉ có cái danh, không yêu cầu thực chất. Người bị xếp hạng chót dù bị phạt nặng, người đứng đầu không được khen ngợi, hoặc gặp được ân xá đột ngột thì không kể công tội, gặp lúc không được tiến cử thì cả đời khốn khó vì công việc vô ích.” Lại nói: “Việc tiến cử không nghiêm ngặt thì người có thế lực tranh nhau lên trước, người cô thế khó lên. Muốn công bằng, chi bằng lệnh cho con cháu, cháu trai của quan văn võ tam phẩm và quan đương nhiệm đang tại triều tiến cử danh tính tại hai cơ quan, còn con em quan chưa lên triều và kẻ bình dân, tiến cử danh tính tại châu quận, sau đó đưa lên Lễ bộ, xếp loại khả năng, cũng chia làm hai. Nếu làm như vậy, thì người có thế lực đi con đường khác, người cô thế tự tiến lên.”

[6] Viên ngoại lang bộ Hình là Mã Lượng dâng sớ rằng: “Bệ hạ mới lên ngôi, việc thưởng cho quân đội nên nhanh chóng, nhưng hiện nay các nơi không kịp thời cấp phát[14], xin sai sứ giả đi các nơi để đốc thúc. Hơn nữa, các châu huyện nợ nần rất nhiều, tuy trong chiếu tha tội đã miễn trừ, nhưng quan lại vẫn thúc giục như cũ, như vậy không phải là cách truyền bá ân huệ. Theo chế độ cũ của triều đình, thường lấy Thân vương làm phán quan ở phủ Khai Phong, địa vị tôn quý, thế lực lớn, dễ nảy sinh hiềm khích, không phải là cách bảo toàn tình thân. Khiết Đan hằng năm xâm lấn, vùng Hà Sóc tiêu điều, xin kết hảo để yên dân biên giới.” Tổng cộng bốn việc.

[7] Viên ngoại lang bộ Tỷ là Điêu Kham dâng sớ rằng: “Bệ hạ vừa lên ngôi, ban bố chính sự mới mẻ. Nên trên thuận lòng trời, dưới theo ý dân, khuyên điều thiện bỏ điều ác, tránh lời chê để được tiếng khen, noi theo đạo trị của Đường, Ngu, xua đuổi loạn lạc của Tân, Quý. Phần thưởng riêng không nên dành cho tiểu nhân, hình phạt riêng không nên giáng xuống quân tử, dùng người hiền không do dự, bỏ kẻ tà không nghi ngờ, mở rộng cửa can gián, ngăn chặn miệng gièm pha, yêu thì biết cái xấu của họ, ghét thì biết cái tốt của họ, đừng vì tuổi đời đang sung sức mà sa đà vào vui chơi, đừng vì máu nóng đang hừng hực mà mê đắm thanh sắc. Hãy như Thái Tổ chăm chỉ tiết kiệm, như Đại Hành nhân từ yêu thương[15], đáp lại ân trạch của trời đất, nghĩ đến sự nghiệp gian khổ của tổ tiên, thì cái đẹp của hai Vua Chu Thành, Hán Văn có thể so sánh cùng ngày được vậy.”

[8] Ngày Canh Dần, quan Cáp môn tấu: “Vào ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng, quần thần đến điện Vạn Tuế[16] để khóc viếng. Ngày mùng một tháng 10 nhằm ngày Nhâm Thìn, xin đổi sang ngày cuối tháng 9.” Vua hỏi Lã Đoan: “Đây là lễ gì vậy?” Lã Đoan trả lời: “Các nhà âm dương cho rằng ngày Thìn là ngày kỵ việc khóc.” Vua nói: “Tình cảnh đau buồn[17], há cần phải kiêng kỵ sao?” Vua không đồng ý.

[9] Trước đây, châu Thọ dâng lên một con rùa lông xanh, có vằn vàng sáng rõ phân ranh giới[18]. Vua cho rằng loài có mai mà lại có lông, có lẽ là ý trời cảnh báo, bèn lệnh Tể tướng xem xét kỹ rồi tâu lên.

Lúc ấy, Lã Đoan và các quan tấu rằng: “Chúng thần học ít, làm sao hiểu được ý trời, nhưng từng nghe thầy dạy: ‘Ý của bậc Thánh nhân hợp với ý trời, nếu suy nghĩ sâu xa, tập trung vào một vật, tất có sự cảm ứng của thần linh, để mở ra điều gì đó.’ Nay chỗ bắt được thần quy, tên đất là Thọ Xuân, Bệ hạ trước đây lên ngôi Thái tử, thực ra khởi từ phủ Thọ, theo đó mà nói, con rùa này chính là vì Bệ hạ mà sinh ra, mong Bệ hạ sống lâu, vừa thọ vừa thịnh vậy! Hơn nữa, rùa thuộc loài thủy tộc, ý nghĩa thuộc về âm, có mai là vật cứng, có lông là vật mềm, các loại rợ Địch đều mang khí âm, ý trời cảnh báo rằng sẽ có những kẻ hung dữ không thần phục, rồi sẽ dịu mềm quy thuận chăng! Lại nữa, Bệ hạ từ khi lên ngôi, trước hết nghĩ đến dân Tây bị khốn khổ vì vận chuyển lương thảo, Kế Thiên hung ác ngoan cố, cũng đã sai sứ ban ơn, không hỏi tội trước. Vả lại, Kế Thiên lưu vong đã lâu, cũng chán chiến tranh, những kẻ bị ép theo cũng chán loạn lạc, sửa lòng đổi mặt, không phải một sớm một chiều. Rợ phương Bắc cường ngạnh, gây họa ngày càng sâu, bộ tộc chia lìa, lại gặp đói kém, hẳn sẽ cùng nhau quy thuận, mong được thần phục. Mong Bệ hạ kính theo ý trời, mở rộng đạo trị nước, dù có hòa bình cũng đừng ngơi nghỉ, mỗi ngày thêm thận trọng, thì việc linh vật xuất hiện, há phải vô cớ sao?”

Vua nói: “Những điều các khanh trình bày rất đầy đủ. Nhưng Trẫm cho rằng rùa có lông là tượng văn lý; bát quái chính là cái thực của văn lý, phụ vào quẻ sinh lông là cái hoa của văn lý. Há phải ý trời chỉ vào điều gì sao? Các khanh hãy cố gắng giúp rập, làm yên lòng Trẫm.”

[10] Mùa đông, tháng 10, các châu Trần và Tống đều tâu rằng trước đây đã cho dân vay mười triệu tiền để mua trâu, ngoài giá tiền đã nộp còn nợ nhiều, xin cho tùy theo thuế hạ và thu năm sau mà nộp. Vua xuống chiếu miễn hết.

[11] Tri châu Ích Châu là Trương Vịnh tâu xin về số tiền mà binh sĩ đồn trú đòi, xin theo chiếu chỉ trước, một đồng tiền đồng đổi thành năm đồng tiền sắt. Lúc đó, chuyển vận sứ lộ Hiệp là Hàn Quốc Hoa đến triều, lại nói rằng các quan chức huyện châu Xuyên và Hiệp được lĩnh lương tháng, một đồng tiền đồng chỉ đổi được hai đồng tiền sắt, xin tăng số lượng tiền sắt. Vua ra lệnh đổi một đồng tiền đồng thành năm đồng tiền sắt.

(Xem thêm sự kiện tháng 10 năm Chí Đạo thứ 3 trong sách ‘Hội yếu’; tháng 5 năm Hàm Bình thứ 3 và tháng 7 năm thứ 5 cũng có ghi lại.)

[12] Ngày Kỷ Dậu, chôn cất Thái Tông Thần Công Thánh Đức Văn Vũ Hoàng Đế tại lăng Vĩnh Hi.

[13] Tháng 11, ngày Giáp Tý, đưa thần chủ vào thờ tại Thái Miếu, (miếu thờ Thái Tông chưa thấy, tên nhạc vũ còn phải tra cứu.) dùng Hoàng hậu Ý Đức để phối thờ, lại đưa Hoàng hậu Trang Hoài vào thờ tại Biệt Miếu.

Khi Vua mới lên ngôi, cáo tế trời đất và tông miếu[19], quan hữu ty xin ký vào bản chúc, Vua khóc lóc không ngừng, lâu lắm mới ký được. Khi linh cữu bắt đầu di chuyển, Vua cùng các vương đi bộ khóc than, theo đến cửa Càn Nguyên. Lễ quan chuẩn bị nghi thức[20], sau khi làm lễ tống biệt thì đổi sang quần áo lễ, nhưng Vua không muốn, khóc lóc thảm thiết, mặc áo tang về cung. Khi thần chủ đến kinh đô, Vua ra đón lạy khóc nghẹn ngào, người xem không ai không thương cảm. Trước khi đưa thần chủ vào miếu, trời mưa dai dẳng, đến ngày đó bỗng dừng, mọi người đều cho là do đức hiếu cảm động. Trước đó, Vua nói với Tham tri chính sự Lý Chí rằng: “Thần chủ đến kinh đô, Trẫm muốn thân hành dẫn dắt và bái từ, theo lễ có được không?” Lý Chí đáp: “Lễ này các đời trước đều thiếu, bệ hạ làm như vậy, đủ để làm khuôn phép cho muôn đời.” Liền chuẩn bị nghi thức tâu lên.

Lúc ấy có người dâng lời kiến nghị xin thêm bớt các chính sách cũ, Vua nói: “Ngày xưa Tiên đế ban cho Trẫm cái tên này, vỗ lưng Trẫm mà bảo rằng: ‘Đặt tên này là muốn con ta giữ đức hạnh bền lâu, kiên trì với đạo lý.’ Lời dạy sâu xa ấy, Trẫm sao dám quên!” Nói rồi khóc lóc, nước mắt thấm ướt áo, tả hữu ai nấy đều cảm động nghẹn ngào.

(Việc này xuất xứ từ ‘Bảo huấn hiếu đức môn’, nói rằng vào đầu niên hiệu Hàm Bình, nhân dịp dẫn chuyện sau việc nghênh rước thần chủ. ‘Bản kỷ’ chép việc xin đổi tên hiệu, khác với ‘Bảo huấn’.)

[14] Ngày Bính Dần, ban đức âm giảm tội cho tù nhân từ tử tội trở xuống ở hai kinh, vì việc xây lăng mà khiến dân chúng vất vả, nên ban thưởng thuế má có mức độ khác nhau.

[15] Lại chia Tam ty Câu viện thành ba, sai quan viên mỗi người phụ trách một viện. Lấy Thái thường thừa Vương Khâm Nhược làm quan phụ trách Tam ty Đô thôi khiếm bằng do ty.

[16] Khâm Nhược, người Tân Dụ. Ban đầu làm Phán quan ở châu Bạc, giám sát kho lương, trời mưa lâu ngày, quan kho lấy cớ lúa ướt không nhận, dân từ xa đến nộp thuế, lương ăn sắp hết mà không thể nộp được. Khâm Nhược bèn ra lệnh nhận hết vào kho, lại tâu xin không câu nệ thứ tự năm tháng, chiếu cố ưu tiên phát lúa ướt trước, nhờ đó không bị hư hỏng. Thái Tông rất vui, viết chiếu khen ngợi, từ đó biết tiếng ông.

Khai Phong phủ vì năm hạn hán nên miễn thuế cho dân ở mười bảy huyện. Lúc đó có lời đồn thổi đến tai Vua, nói rằng các quan phụ trách việc ruộng đất muốn thu phục lòng dân, nên việc miễn thuế đều không chính xác. Thái Tông không hài lòng, Ngự sử đài dò ý Vua, xin cử sứ giả đi xác minh lại, bèn hạ chiếu cho các châu phía đông và tây chọn quan đi kiểm tra. Bạc châu phải kiểm tra hai huyện Thái Khang và Hàm Bình, châu cử Khâm Nhược đi[21].

Khâm Nhược kiểm tra rất kỹ lưỡng, dâng sớ khẳng định ruộng thực sự bị hạn, Khai Phong chỉ miễn bảy phần, nay xin miễn toàn bộ. Sau đó, các quan được cử từ các châu khác đều nói rằng các huyện miễn thuế quá nhiều, nên thu hồi lại số thuế đã miễn. Mọi người đều lo ngại cho Khâm Nhược. Hơn một năm sau, Vua lên ngôi, bèn trọng dụng Khâm Nhược, nhân đó nói với các đại thần rằng: “Lúc đó, Trẫm cũng tự lo sợ. Khâm Nhược chỉ là một tiểu quan, nhưng dám đứng ra vì dân mà biện minh, đó là khí tiết của bậc đại thần vậy.”

Khâm Nhược vốn là thuộc hạ của Tam ty, Viên ngoại lang bộ Ngu là Quán Tân Cổ[22] nói với Khâm Nhược rằng: “Nợ đọng trong thiên hạ từ thời Ngũ đại đến nay, việc đòi hỏi vẫn chưa dứt, dân chúng khổ sở không chịu nổi, tôi định tâu xin miễn trừ.” Khâm Nhược ngay đêm đó sai lại thuật tính toán số liệu, hôm sau dâng lên. Vua rất kinh ngạc nói: “Tiên đế chẳng lẽ không biết sao?” Khâm Nhược từ tốn đáp: “Tiên đế vốn biết rõ, chỉ là cố ý để lại cho Bệ hạ thu phục lòng dân mà thôi.” Vua cảm ngộ, cuối cùng nghe theo lời ông.

(Quán Tân Cổ, chưa rõ quê quán. Xét về thuế của hai huyện, điều này căn cứ vào sách ‘Thẩm Quát bút đàm’. Việc của Quán Tân Cổ được ghi trong ‘Âu Tĩnh Thánh Tống xuyết di’ và ‘Quốc lão nhàn đàm’, đồng thời cũng được đưa vào ‘Tân truyện’. Bản truyện gọi ông là Độ chi phán quan Quán Tân Cổ. Theo ghi chép ngày Tân Hợi tháng 4 năm Hàm Bình nguyên niên, Tân Cổ ban đầu giữ chức Ngu bộ viên ngoại lang, sau làm Độ chi phán quan. Đến ngày Kỷ Dậu, đã sai sứ đi khắp nơi để miễn trừ nợ, đây là việc làm theo lời của Khâm Nhược. Khâm Nhược tuy nhờ Tân Cổ mà dâng lời tâu, nhưng không nhất thiết Tân Cổ phải ở bộ Độ chi, hơn nữa Tân Cổ vốn đã có ý kiến này, không cần phải ở bộ Độ chi mới đề xuất. Nay chỉ ghi chức vụ của ông để tránh mâu thuẫn. Theo ‘Ký văn’, Khâm Nhược sau khi mãn nhiệm ở Bạc Châu, được Thái Tông thăng làm quan kinh đô.

Theo bản truyện của Khâm Nhược, ông từ chức Bạc Châu suy quan được thăng làm Bí thư lang, giám sát thuế ở Lư Châu. Phụ truyện lại ghi Khâm Nhược làm Bạc Châu suy quan, được giám tiến cử tài năng, nên được bổ làm Bạc Châu phán quan, rồi đổi làm Bí thư lang, giám sát thuế ở Lư Châu, dường như không phải do giám sát kho mà được biết đến, nên nghi ngờ không dám ghi chép, nay chỉ ghi là “biết tên tuổi”. Sách ‘Thẩm Quát bút đàm’ nói rằng Khâm Nhược được thăng làm Hữu chánh ngôn, nhưng việc này xảy ra vào tháng 2 năm thứ 2, lúc đầu ông chỉ là Thái thường thừa, phụ trách việc thúc đẩy thanh toán nợ tại Bằng do ty, Thẩm Quát đã nhầm. Hạ Tủng trong ‘Khâm Nhược hành trạng’ viết rằng Khâm Nhược làm Bạc Châu phòng ngự suy quan, khi triều đình cử Trứ tác tá lang trực sử quán Tăng Hội và trung sứ Lý Như Tín đi khảo sát phong tục các quận gần đó, quan lại và dân chúng khen ngợi chính tích của ông, Tăng Hội dâng tấu, được chiếu khen ngợi và thăng làm phán quan. Xét điều này, Tăng Hội không phải là thủ thần.

Sách ‘Thẩm Quát bút đàm’ nói rằng Bạc thủ Tăng Hội vốn kỳ vọng Khâm Nhược sẽ trở thành trợ thủ, nên cử ông đi kiểm tra thuế hai huyện, trước khi đi còn căn dặn, khác với ghi chép trong hành trạng của Hạ Tủng, nên không lấy. Lại nói rằng Đồn điền viên ngoại lang Thư Nhã tiến cử Khâm Nhược vì tài văn chương, tính tình ôn hoà, nên được đổi làm Bí thư lang, phụ trách việc thu thuế ở Phì Thượng. Khi Chân Tông lên ngôi, ông được thăng làm Thái thường thừa. Có chiếu cử phán quan tam ty, Cấp sự trung Kiều Duy Nhạc tiến cử ông, được triệu về làm phán quan Bằng do lí khiếm ty. ‘Vương Mãnh bách nhất thiên’ viết: Theo lệ cũ của Kế tỉnh, mọi chi tiêu trong cung đều phải được xem xét kỹ, khi cần dùng thì cấp văn bằng để chi. Khi Vương Khâm Nhược làm phán quan Bằng do ty, ông nói: “Chi tiêu của Chí tôn, há do bề tôi can dự?” rồi dâng lời tâu xin lập Ngự bảo bằng do ty. Từ đó, việc chi tiêu bên ngoài không còn bị kiểm soát. Chân Tông ban đầu chủ trương minh sát, khiến quần thần không dám lừa dối, nhưng về sau không chú ý, chi tiêu ngày càng lớn, đến nay thành tệ. Các cơ quan thu chi trở nên hà tiện, không thể thực hiện được. Ký công nhờ đó được trọng dụng, ân sủng vô song. ‘Vương Mãnh’ ghi việc Khâm Nhược được biết đến, khác hẳn các sách khác, ghi thêm để tham khảo. Tháng 3 năm Tường Phù nguyên niên, có chiếu Ngự bảo bằng do không phải qua tam ty, liên quan đến việc này.)

[17] Ngày Kỷ Tỵ, Vua ban chiếu chỉ cho Công bộ thị lang, Tập hiền viện học sĩ Tiền Nhược Thủy biên soạn sách ‘Thái Tông Thực lục’. Nhược Thủy tiến cử các quan cùng biên soạn, trong đó có Khởi cư xá nhân Lý Tông Ngạc. Vua nói: “Từ năm Thái Bình Hưng Quốc thứ tám trở về sau, đều là những sự việc xảy ra trong thời gian Lý Phưởng ở chức Trung thư. Sử sách vốn dựa vào lời ghi chép thẳng thắn, nếu con vì cha mà giấu diếm, thì làm sao truyền lại sự thật cho đời sau?” Ngoại trừ Tông Ngạc không được tham gia, các quan khác đều được cho phép.

[18] Cùng ngày, quan đồng cán đương Thẩm quan viện, Thông tiến ngân đài ty phong bác sự Điền Tích lại dâng sớ tâu:

“Thần trước đây vào ngày 25 tháng 7 có dâng lên bản tấu, trình bày về tai họa động đất, đó là điềm báo của sự rung chuyển bên dưới. Thần suy nghĩ thâu đêm, thấy rằng việc này không phải người ngoài có thể biết được, cũng không phải việc có thể bàn luận với đại thần. Thần lo sợ đến sáng, nên đã xin Bệ hạ hãy giữ lại bản tấu trong cung, không công bố, và mong Bệ hạ cùng đại thần bàn bạc sơ qua. Đến ngày 26, thần lại dâng thêm một bản tấu nữa, mong được giữ kín, không biết Bệ hạ đã bàn luận việc này với đại thần chưa? Cũng không rõ đại thần đã nghe việc này và cùng Bệ hạ thương nghị hay chưa? Nay tai họa động đất đã dần xuất hiện, điềm báo của sự rung chuyển bên dưới đã manh nha. Thần xem các tấu báo từ chư đạo gửi về Ngân đài ty, từ đầu tháng 9 đến trước tiết Đông, có nhiều vụ trộm cướp được trình lên. Nay không trình hết từng chi tiết, vì sợ làm phiền Thánh thượng, chỉ kể một hai việc có thể nói như sau:

Tháng chín, ngày mùng 4, châu Thi tấu rằng: bọn giặc hơn bốn trăm người cướp bóc dân chúng. Tháng mười, ngày mùng 7, châu Hoạt tấu rằng: có hơn bốn mươi tên giặc vượt qua phía bắc sông Hoàng Hà; ngày 15, châu Vệ tấu rằng: có hơn bảy mươi tên giặc vượt qua phía bắc sông Hoàng Hà; ngày 19, châu Nhượng tấu rằng: hơn tám mươi tên giặc ở huyện Viên Khúc giết huyện úy Thành Bính. Tây Kinh tấu rằng: ngày 23 tháng mười, hơn một trăm năm mươi ba tên giặc đột nhập vào nha môn Đô giám binh mã Bạch Ba, cướp bóc mười bốn nhà, đến giờ Ngọ, cướp thuyền của châu đi về hướng Viên Khúc, đến địa giới huyện Hà Dương, Củng. Châu Bộc tấu rằng: bọn giặc đột nhập vào huyện Quyên Thành. Châu Đơn tấu rằng: bọn giặc đột nhập vào doanh trấn Quy Ân chỉ huy. Châu Tế tấu rằng: bọn giặc cướp bóc mười chín nhà ở huyện Kim Hương, Cự Dã. Quân Vĩnh Hưng tấu rằng: hơn bốn mươi tên giặc thuộc quân Hổ Dực cướp bóc trang Nam Vĩnh Hưng.

Ngày mùng 2 tháng này, Tây Kinh tấu rằng: hơn một trăm tên giặc ở huyện Vương Ốc, hơn sáu mươi tên giặc quân tan rã ở bến Bạch Cao; ngày mùng 7, phủ Thiểm tấu rằng: hơn sáu mươi tên giặc ở trấn Tập Tân cướp bóc dân chúng, đến giờ Ngọ, xuống thuyền đi về hướng huyện Hiệp Thạch, bọn giặc từ phía bắc sông Hoàng Hà vượt qua phía nam; ngày mùng 8, Tây Kinh tấu rằng: bọn giặc cỏ đang chặn giữ trấn Thổ Hào, quan lại và dân chúng không thể qua lại. Há lại có chuyện gần kề kinh sư mà bọn giặc hoành hành như thế, biên phòng yên ổn mà bọn phản tặc lại như vậy. Thần cho rằng tai họa động đất đã dần hiện ra, điềm báo dưới đất đã manh nha, thần vì Bệ hạ mà lo lắng.

Thần mỗi khi thấy lệnh chỉ huy của triều đình, đối với các nơi tấu báo, chỉ sai sứ thần Tuần kiểm đi bắt giữ, chỉ sai khu vực Tuần kiểm truy đuổi. Nhưng việc yên định, đánh dẹp, chưa thấy có mưu kế tốt đẹp; việc phòng bị, ngăn chặn, chưa thấy có lo xa. Nếu thế lực ấy dần lớn mạnh, mà có kẻ mưu đồ hợp tác với chúng, sức mạnh ấy khó kiểm soát, mà kẻ muốn tạo loạn lại tiếp tay làm loạn, đó là quốc gia đã bỏ lỡ cơ hội sớm lo liệu, đó là triều đình đã xem nhẹ việc lớn. Nay tai họa động đất đã dần xuất hiện, Bệ hạ sao không sớm mưu tính để ngăn chặn từ khi còn manh nha, dấu hiệu biến động ở dưới đã bắt đầu, Bệ hạ sao không suy nghĩ kỹ để đề phòng từ lúc mới nhen nhóm? Thần đã tấu trình vào tháng bảy, mong được xem xét lại, nay lại tấu, mong được nghe và tin tưởng. Ngăn chặn từ lúc manh nha chính là hôm nay, không để lỡ thời cơ ngăn chặn từ sớm.

Gần kinh đô, giặc cướp nổi lên đã như thế, hướng về phía tây, dân chúng lại lâm vào cảnh khốn cùng như vậy. Trước đây, Dương Doãn Cung xin chuẩn bị 3.000 xe chở lương thảo, cần 1.000 binh sĩ đẩy xe; Lư Chi Hán hai lần dâng sớ xin từ kho bạc kinh đô cấp 45 vạn quan tiền; bộ Độ chi tâu rằng vào hạ tuần tháng 5, tại Linh Châu, giá gạo mỗi thăng lên đến một quan tiền. Việc yêu cầu xe chở lương chứng tỏ kho lương ở biên giới vốn không có dự trữ; việc xin cấp tiền từ kinh đô chứng tỏ kho bạc ở Quan Hữu vốn không có tích lũy; tâu rằng giá gạo mỗi đấu lên đến mười quan tiền, tức là quân dân Linh Châu nay đã chết đói. Không rõ triều đình tiếc Linh Châu được gì? Bỏ Linh Châu mất gì?

Nếu vì sức dân chưa nghỉ ngơi mà khó khởi sự ở trung nguyên, chế ngự không đúng cách khiến phương xa sinh biến loạn, thật là được không bằng mất. Nay Bệ hạ nên tinh tế trong suy xét, quyết đoán không do dự.

Nếu tiếc Linh Châu tất có lợi cho quốc gia, xin ban chiếu thư rõ ràng, cáo tri thiên hạ, để thiên hạ biết; bỏ Linh Châu tất gây hại cho quốc gia, cũng xin ban bảng cáo tri rõ ràng, để thiên hạ biết. Ý của cáo tri là để dân chúng được nghỉ ngơi, mưu lựa lấy bỏ là vì lo lắng cho dân chúng. Khiến kẻ thù biết mưu lựa lấy bỏ, khiến trong ngoài hiểu lý lẽ được mất, thể hiện đại thể của triều đình, bày tỏ sự công bằng tối cao của vương đạo, đó gọi là Bệ hạ tu đức để trừ tai họa động đất, đó chính là Bệ hạ sớm mưu tính để phòng ngừa điềm loạn dưới. Nếu thế giặc ngày càng mạnh, nỗi khổ của dân chưa trừ, mà mưu lự không sâu, tiêu diệt chưa được, bị giặc liền chiếm cứ châu quận, xưng bừa làm công hầu, kho lương Hà Bắc bị chiếm trước, bộ lạc Hà Tây đến kết liên, sức dân chưa nghỉ, bốn phương nhìn nhau noi theo, việc này không nhỏ, liên quan đến an nguy của xã tắc, kế sách này không nhẹ, liên quan đến trị loạn của triều đình.

Ngày nay, trên chốn miếu đường, ắt có những mưu kế hay; trong vòng cơ mật, ắt có những kế sách tốt. Nếu nói rằng giặc cướp nhỏ nhặt, chẳng đáng để bệ hạ lo nghĩ, nếu chỉ thường xuyên sai khiến, khiến quan lại đi bắt giặc, như thế thì bọn giặc ắt khó mà tiêu diệt hết, như thế thì các nơi ắt chưa thể yên ổn. Nếu bọn giặc tụ tập được hai ba nghìn người, thẳng qua Hoài Nam, tiến vào bảo vệ Ngô, Việt, thì thuyền chở lương sẽ không đến được kinh đô. Nếu bọn giặc chiếm được một hai châu quận, khéo giữ chỗ hiểm yếu, thì tiền bạc phụng cung sẽ không đủ dùng cho quốc gia. Do đó, lòng người ắt có kẻ theo người bỏ, lòng người đã có kẻ theo người bỏ, thì lòng quân há chẳng dao động. Lúc ấy, giặc phương Bắc sẽ thừa cơ quấy nhiễu biên thùy, bệ hạ không thể không lo, rợ bốn phương sẽ thừa cơ xâm phạm biên ải, đại thần không thể không sợ. Thần nay nói ra những lời gay gắt, không vì mưu lợi riêng, mà lo lắng an nguy, thực là vì kế sách quốc gia.”

[19] Trước đó, việc vận lương từ phương Tây, chiếu cho các quân thay dân kéo xe chở lương. Ngày Kỷ Mão, binh sĩ cũng được lệnh cho về, lại ban tiền, vì thời tiết giá rét.

[20] Vua ngự ở điện nhỏ, xem các vị Điện tiền chỉ huy sứ, Nội điện trực thi bắn cung giỏi, chọn hơn mười người tinh nhuệ thăng chức. Trước đó, người nào kéo nổi cung nặng hai trăm cân bắn tên dài, gọi là đại cung tiễn, chỉ có thể bắn đứng. Có người là Vương Quý, nhanh nhẹn hơn người, tự nhận có thể bắn cung trên ngựa, bèn cầm dây cương kéo đầy cung, rất dũng mãnh, mọi người đều khen phục, ban thêm tiền.

[21] Ngày Ất Dậu, bãi bỏ viện Lý kiểm.

[22] Tháng này, quan lại tâu xin việc tế trời ở đàn Viên Khâu vào ngày Đông chí, tế hạn vào tháng tư, tế đất ở đàn Phương Trạch vào ngày Hạ chí, xin lấy Thái Tông làm bậc phối thờ; tế cầu mùa vào ngày Thượng Tân, tế đại hưởng ở Minh Đường vào tháng chín, lấy Thái Tổ làm bậc phối thờ; tế Cảm Sinh Đế vào ngày Thượng Tân, tế Thần Châu địa kỳ vào tháng mười, lấy Tuyên Tổ làm bậc phối thờ; còn việc tế giao ở đàn Viên Khâu, thì lấy Thái Tổ, Thái Tông cùng phối thờ. Chiếu cho phép.

[23] Tháng 12, ngày Giáp Ngọ, Tiền Nhược Thủy và các quan tâu rằng: “Sách ‘Thái Tông Thực lục’ mà chúng thần biên soạn, từ năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 trở về trước, những lời bàn luận giữa Vua và bề tôi về việc dâng lời can gián, không được ghi chép rõ ràng; từ năm Thuần Hóa thứ 5 trở về trước, việc Vua tự quyết định vạn cơ, cũng không thấy ghi trong sách vở. Xin ban chiếu chỉ, cho phép chúng thần gửi văn thư đến các vị tể tướng đương nhiệm và tiền nhiệm, tham tri chính sự, xu mật viện sứ, tam ty sứ để tìm hiểu thêm, nhằm bổ sung những chỗ còn thiếu[23].” Vua đồng ý.

[24] Ngày Bính Thân, truy tôn Hiền phi Lý thị làm Hoàng thái hậu. Trước đây tang lễ của Hoàng hậu, thi hài tạm quàn tại Phổ An viện, đến nay bàn việc cải táng lăng viên, lập nơi thờ cúng và xây miếu thờ[24]. Cơ quan hữu trách tâu: “Xét theo chức trách của Đại ty lạc thuộc Xuân quan trong ‘Chu lễ’, ‘tấu khúc Di Tắc, hát khúc Trọng Lã, để tế lễ tiên tỉ’. Tiên tỉ là Khương Nguyên, vợ của Đế Khốc, mẹ của Hậu Tắc, đặc biệt lập miếu thờ gọi là Bí cung. Thời Tấn, Tuyên hậu của Giản Văn Đế, vì không được phối thờ[25], nên xây cung riêng bên ngoài, hằng năm tế lễ. Năm Tiên Thiên nguyên niên triều Đường, bắt đầu phối thờ Chiêu Thành hoàng hậu và Túc Minh hoàng hậu ở Nghi Khôn miếu, và Nguyên Hiến Dương hoàng hậu của Huyền Tông, lập miếu thờ ở phía tây Thái miếu. Xét các văn bản trước đây, đều có căn cứ rõ ràng. Xin lệnh cho Tông chính sử tu sửa phòng thờ trong miếu, xây dựng điện ba gian, thiết lập thần môn, trai phòng, nhà bếp để sẵn sàng cho việc tế lễ.” Vua đồng ý. Lại tâu: “Ngày tốt để tiến hành việc chôn cất còn xa, thi hài vẫn còn ở nơi quàn tạm, chưa thể di chuyển[26]. Việc tế lễ các ngày, lo rằng có thiếu sót, tìm hiểu kỹ các kinh điển về lễ, chưa thấy tiền lệ nào trước đây, nên xin từ nay các ngày sóc, vọng cùng các tiết lễ trong năm, tạm bố trí lều vải ở nơi quàn, cử nội thần lo việc tế lễ.” Vua lại đồng ý.

[25] Ngày Tân Sửu, xuống chiếu cho các lộ chuyển vận sứ khuyên bảo các quan lại trong bộ hạ chăm lo nông tang.

[26] Trước đó, Vua hỏi ý các tể phụ về việc Linh Vũ[27], tham tri chính sự Lý Chí dâng sớ tâu rằng:

“Phục dĩ Hà Hoàng là vùng đất người Di và người Hạ ở lẫn lộn. Trước đây, thời nhà Đường, kinh đô Trường An gần kề với khu vực kinh thành, nhiều lần bị xâm chiếm rồi lại liên minh phản bội, việc này không có gì là bất thường. Các bậc thánh vương thời cổ đều coi việc này nằm ngoài tầm quan tâm[28], chỉ cần đuổi đi là được, cũng chẳng cần khiến vùng đất lễ nghĩa phải hao tổn máu mỡ để phụng dưỡng tục lệ vô tri, so đo thắng thua. Huống chi, giặc Kế Thiên là loài giặc ngu muội, quấy nhiễu biên giới, dù xẻo rốn cũng chưa đủ làm nguôi cơn giận, nhổ tóc cũng chẳng đủ để kể hết tội. Nhưng đạo của bậc thánh nhân là cố gắng khuất mình chịu nhục để làm yên lòng muôn dân, vì cái tổn thất nhỏ mà lợi ích lớn. Thần không dám dẫn dài sử cũ làm phiền Thánh thượng, chỉ xin dẫn một việc thời Đường Hiến Tông để làm rõ. Vương Thừa Tông chiếm cứ Trấn Dương làm phản, đòi tiết việt chưa được, bí mật sai người ám sát Vũ Nguyên Hoành, làm bị thương Bùi Độ, tội ác lớn như vậy, nhưng Hiến Tông vì lòng dân mà hạ chiếu xá tội.

Từ khi Tiên đế băng hà, Bệ hạ lên ngôi, đã tha tội cho Kế Thiên, ban ân huệ hậu hĩnh; hạ chiếu thư an ủi, vỗ về lòng phản trắc của hắn; sai sứ giả đến dụ dỗ, khiến hắn quay về thuận phục. Lúc ấy, người trong ngoài đều cho rằng Bệ hạ vì dân chúng mà suy nghĩ, không để ý đến kẻ đại ác, thực là bậc minh quân nhân từ, không ai sánh kịp. Thần nghĩ rằng những kẻ bị hắn ép buộc theo cũng đã chán ghét chiến tranh lâu ngày, nếu triều đình bỏ qua không hỏi tội, đối đãi như cũ, dùng lợi lớn dụ dỗ, dùng chức tước cao làm hài lòng, thì họ đâu dám mê muội không quay về, để rồi cùng hắn chìm đắm trong tội lỗi.

Còn như Linh Châu, từ khi Trịnh Văn Bảo gây chuyện cho quốc gia, khiến triều đình phải lo lắng, lo nghĩ miền Tây, dân chúng vùng quan phụ khổ cực vì việc chuyển lương, xương trắng đầy đồng, mười nhà chín nhà trống, xác chết đói đầy thành, dân biên giới chết hết; thành trì trơ trọi, quân sĩ già yếu, mà kẻ há miệng chờ ăn không dưới năm nghìn người, vận chuyển bốn mươi vạn hộc lương nhưng chỉ nhận được sáu vạn, như vậy thì muốn giữ vững cũng không thể được. Thần nghĩ rằng nếu Kế Thiên gấp rút tấn công không ngừng, thì thành nguy hiểm là điều có thể biết trước, nay hắn chậm rãi đến, ý định là làm cạn kiệt tài lực của ta, vắt kiệt sức dân, thực là mưu kế của hắn. Lúc này, nếu không thay đổi cách làm, thì tai họa trước đây vẫn chưa dứt.

Vậy xin nói sơ qua: trước đây Trịnh Văn Bảo cấm muối xanh của họ, không cho vào đất Hán, cấm lương thực, không cho đến các bộ tộc, khiến họ có cớ mà ta không có lý, đó là kế sách sai lầm, dù hối hận cũng không kịp. Từ đó, người ở các hộ quen thuộc cũng theo mà nổi loạn. Nay nếu lại ra lệnh cấm, không cho thông lương, e rằng không phải là ý chế ngự địch, vỗ về từ xa, không đánh mà khuất phục quân địch. Hơn nữa, thú cùng thì cắn, chim cùng thì mổ, nếu nhân mùa thu xâm phạm, nhìn chừng kẽ hở ở biên giới, thì triều đình sao có thể không phát binh để phòng ngự? Binh lính khởi sự, ắt hao tổn lương thảo, dân chúng vùng quan phụ lại không chịu nổi mệnh lệnh, dồn dập đến Đông Hạ, thì Hoài, Mạnh, Tây Lạc cũng không còn đường sống, Bệ hạ sao không suy nghĩ sâu xa, phòng ngừa tai họa khi chưa manh nha?

Thần từng thấy Đường Điền Thừa Tự lâu ngày chống mệnh Vua, Đại Tông nghĩ đến dân chúng vô tội chịu khổ, thường nhẫn nhịn. Lúc đầu khởi binh thảo phạt, Nguyên Tải, Vương Tấn nghe báo giá muối ở Ngụy Châu cao, xin tăng quân đóng giữ nơi cửa ải, cấm muối vào đó, để làm suy yếu người dân. Đại Tông nói: “Ý Trẫm với khanh hoàn toàn khác, khanh muốn cấm muối, Trẫm muốn mở đường thông cho muối vào, Điền Thừa Tự một mình phụ Trẫm, dân chúng Ngụy Châu có tội gì? Trẫm làm chủ, không thể chăm lo nuôi dưỡng, khiến họ phải chịu cảnh binh đao khổ cực, lòng thẹn vô cùng, sao có thể lại bóp cổ giết họ, khiến tai họa thêm nặng!” Chẳng bao lâu sau, Điền Thừa Tự dâng biểu chịu tội, quay về triều.

Thần cho rằng Bệ hạ nên làm việc này, để yên ổn biên cảnh, khiến các bộ tộc của họ, có thể buôn bán, bán muối để có lợi, thông lương để cứu mạng. Họ tuy là bộ tộc, nhưng ắt sẽ quay về hướng hoá, truyền bảo lẫn nhau, đều cảm ân phục đức, bỏ nghịch theo thuận, thì Kế Thiên tiểu tử, cô lập không người giúp, lại sao có thể làm ngòi châm cho ta được?

Linh châu hiện không thể cố thủ, muôn người đều cùng bàn luận, không phải chỉ có thần đơn phương cho rằng nên dời quân lệ sóc phương đến Hoàn châu, đó cũng là biện pháp tạm thời. Hơn nữa, dân số nơi ấy trước đây có hơn bốn nghìn hộ, nay chỉ còn chưa đầy vài trăm; thuế khóa trước đây là bốn mươi lăm vạn hai nghìn, nay đã không còn chút gì. Làm sao có thể tiếp tục giữ được? Đợi đến khi dân chúng ta khôi phục ổn định, thánh đức bao trùm rộng khắp, thì sa mạc Lưu Sa, núi Ôi Lĩnh cũng sẽ trở thành đất trong, huống chi chỉ là một quận Sóc Phương.

Có người nói: “Linh châu là vùng đất yết hầu, cửa ngõ trọng yếu phía tây bắc, sao có thể bỏ nó để rồi lọt vào tay địch?” Thần đáp: “Phàm gọi là yết hầu, ắt phải là nơi thành lũy kiên cố, tích trữ lương thảo, điều binh đánh chặn bằng nhiều cách. Nay chỉ biết đóng cửa giữ thành, lo tự thân chưa xong, thì đâu còn gọi là yết hầu nữa! Huống chi, việc bỏ đi một chiến trường như cắt tay để cứu thân [29], là việc bất đắc dĩ, bởi điều cần bảo vệ còn lớn hơn. Hơn nữa, quân của Kế Thiên chỉ lo dạo theo cỏ nước, không có nơi cư trú cố định, đâu giống như quân nhà Hán giữ thành. Việc này chắc chắn không thể khác đi được.”

Lại nói: “Giả sử bỏ Linh châu, ắt nó sẽ rơi vào tay Kế Thiên. Nếu nó vừa cày vừa đánh, đủ lương thực và binh lực, hoặc sẽ đòi hỏi không ngớt, làm ta khốn đốn; hoặc thế lực nó càng lớn mạnh, thì biết làm sao chống đỡ?” Thần lại đáp: “Nếu Linh châu không bỏ, thì bằng cách nào để chấm dứt các yêu cầu của nó, làm suy yếu thế lực của nó? Huống chi, trước đây ta đã ngăn chặn Sóc Phương và bắt Trương Phổ, các yêu cầu đã quá nhiều; tích trữ chiến mã và quân khí, thế lực đã lớn. Chỉ cần các nước chư hầu hòa thuận thì thế lực sẽ yếu, thế lực yếu thì yêu cầu sẽ chấm dứt. Vì thế trước đây thần đã nói rằng: Hãy giao thương với chủng tộc của nó, bán muối để có lợi, vận chuyển lương thực để cứu mạng họ. Khiến điều sai trái thuộc về chúng, còn điều đứng đắn thuộc về ta, hỏi tội và trừng phạt có danh chính ngôn thuận. Trời đất cũng không dung, quỷ thần cũng đều giận, Kế Thiên ắt sẽ tự diệt vong, nói gì đến chuyện cày cấy, chiến đấu, binh lực, lương thực nữa!” “

Từ đó, Lý Kế Thiên sai sứ đến triều cống và xin làm phiên thần. Vua tuy biết xảo trá, nhưng lúc ấy đang thời kỳ quốc tang, muốn giữ yên nên đã chấp thuận, lại ban cho họ tên, chức tước.

[27] Ngày Giáp Thìn, phong Quan sát sứ Ngân châu Triệu Bảo Cát làm Tiết độ sứ Định Nan, sai Nội thị Hữu ban đô tri Trương Sùng Quý mang chiếu đến ban.

[28] Ngày Giáp Dần, lại phong Trương Phổ làm Phòng ngự sứ Trịnh châu, cho về.

(Theo ‘Tống sử’, Thái Tông phong Trương Phổ làm Đoàn luyện sứ Trịnh châu, giữ ở kinh đô.)

[29] Ban đầu, Vua sai Hàn lâm học sĩ Tống Thục soạn chiếu phong cho Bảo Cát. Thục biết rõ ý Vua muốn quy công về Thái Tông, bèn dâng lời rằng: “Tiên Hoàng đế sớm để tâm đến phương Tây, định ban tước thật, nhưng vì gặp lúc thời cuộc biến đổi, chưa kịp dựng đàn ở Hán để phong tước. Nay di mệnh ấy, thực giao cho kẻ hèn này. Khanh nên hướng về cung kiếm mà nhận ơn, giữ vững bờ cõi để tỏ lòng trung tiết.” Vua rất hài lòng.

(Kế Thiên đến cống, chính sử, Thực lục, hội yếu đều không chép rõ tháng ngày, không rõ vì sao. Lời chiếu này, căn cứ ‘Triều dã tạp biên’, so với Thực lục có chỗ khác nhau, có lẽ sử quan đã chỉnh sửa. ‘Tạp biên’ chép là năm thứ hai Chân Tông lên ngôi, lại chép Trương Kỵ, Tô Dịch Giản soạn chiếu không hợp ý Vua, đều sai, nay gạt bỏ.)

[30] Trước đó, Hình bộ lang trung, tri Dương Châu Vương Vũ Xứng theo chiếu dâng sớ nói về năm việc:

(Vũ Xứng trong tấu nghị ghi là ngày 18 tháng 5 dâng lên.)

“- Điều thứ nhất nói rằng: Phải thận trọng phòng bị biên giới, duy trì giao hảo với ngoại bang, để dân chúng vận chuyển được nghỉ ngơi. Hiện nay phía bắc có Khiết Đan, phía tây có Lý Kế Thiên. Khiết Đan tuy không xâm phạm biên giới[30], nhưng quân đồn trú liệu có thể giảm bớt được không? Lý Kế Thiên vẫn chưa quy thuận, việc cung cấp lương thực chắc chắn không thể dừng lại. Dân chúng các vùng Quan Trung và Phụng Thiên đang lâm vào cảnh cực khổ hơn bao giờ hết.

Thần ngu muội nghĩ rằng khi Bệ hạ mới lên ngôi, nên thuận theo lòng dân, hãy ra lệnh cho quan lại biên cương viết thư gửi địch thần, để thông đạt đến Bắc đình, xin nối lại tình hảo cũ. Hạ chiếu tha tội cho Lý Kế Thiên, lại cho hắn trấn thủ Hạ châu. Thần trước đây ở Hàn Lâm, từng thấy Lý Kế Thiên dâng biểu nói: “Xin được lấy lại vùng Hạ châu tan tác, để phụng thờ tổ tiên họ Thác Bạt.” Tiên triều tuy có lời phê đáp, cho phép hắn trấn thủ Phu châu[31], nhưng Lý Kế Thiên vốn là kẻ phản trắc, làm sao có thể quy thuận triều đình?

Nay Bệ hạ kế thừa đại thống, uy vọng của hoàng gia đang lẫy lừng, cũng nên lo rằng Lý Kế Thiên sẽ sai người dâng lễ, nhân đó nhắc lại việc cũ, hắn ắt sẽ cảm ân. Đây cũng là cách không cần đánh mà khuất phục được địch. Nếu hắn không nghe theo, thì việc chuẩn bị phòng thủ, truy bắt đều đã có kế sách, đồng thời khiến thiên hạ biết rằng Bệ hạ đã tự hạ mình vì dân. Có người nói: “Làm cho nước giàu mạnh, không thể để người khác thấy sự yếu kém của mình.” Đó là chỉ lo khoe khoang hư danh mà coi thường kế sách lớn vậy.

– Thứ hai là: Giảm bớt binh lính thừa, hợp nhất quan lại dư thừa, để lợi ích từ núi rừng, sông biển có thể phần nào chảy xuống dân chúng. Thần từng chứng kiến việc nước từ thời Càn Đức, Khai Bảo đến nay. Lúc đó, phương Đông chưa lấy được Giang, Chiết, Chương, Tuyền; phương Nam chưa chiếm được Kinh Hồ, Giao, Quảng. Tài chính triều đình có thể nói là chưa dồi dào. Thế nhưng, đánh Hà Đông, phòng bị quân Bắc, quốc dụng vẫn đủ, binh uy vẫn mạnh, nguyên do là gì? Chính vì binh lính được tuyển chọn tinh nhuệ mà không đông, tướng lĩnh được dùng thì chuyên quyền mà không bị nghi ngờ. Từ sau đó, thu phục hết các nước phương Đông Nam, lại bình định Hà Đông, đất đai tài chính có thể nói là rộng lớn, nhưng binh uy không rạng rỡ, quốc dụng ngày càng khẩn cấp, nguyên do là gì? Bởi binh lính tích trữ thì thừa mà không hết tinh nhuệ, tướng lĩnh được dùng thì nhiều mà không được chuyên quyền. Nay nếu thực sự có thể chọn lựa binh sĩ tinh nhuệ, bỏ bớt lính thừa, giao quyền cho tướng soái, dùng ân uy và pháp luật để điều khiển, cung cấp tài chính thiên hạ, mà bảo rằng binh uy không mạnh, quốc dụng không dồi dào, thì chưa từng có vậy.

Thần ngu muội cho rằng nên quản lý quân đội và tài chính như thời Khai Bảo, thì có thể ngồi yên mà trị nước. Hơn nữa, thời Khai Bảo, số quan lại được bổ nhiệm rất ít. Thân phụ thần là người Lỗ, hộ khẩu ở Tế Nam, lúc chưa đỗ đạt, chỉ nhớ có một Thứ sử là Lý Khiêm Bạc, một Tư hộ là Tôn Quý, nay là Viên ngoại lang ở Tư môn. Gần một năm[32], triều đình không bổ nhiệm thêm quan lại nào, nhưng công việc vẫn không bị thiếu sót. Sau đó có thêm một Đoàn luyện suy quan là Bật Sĩ An, nay là Xu mật trực học sĩ. Thời Thái Bình Hưng Quốc, khi thần đỗ đạt trở về quê, có Thứ sử Trình Đình Sơn, Thông phán Diêm Vĩ, Phó sứ Diêm Ngạn Tiến, Phán quan Lý Diên, Suy quan Lý Tuyên, Giám khố Thẩm Kế Minh, thêm bốn chức giám thuế rượu. Ngoài các quan Tào, còn tăng thêm Tư lý.

Hỏi về thuế khoá, thấy giảm so với trước; hỏi về dân số, thấy nhiều người bỏ trốn. Một châu đã như vậy, thiên hạ thì sao? Quan lại thừa hao phí ở trên, binh lính thừa hao phí ở dưới, đây là lý do vì sao thu hết lợi từ núi rừng mà vẫn không đủ. Lợi từ núi rừng nên chia sẻ với dân, từ đời Hán đã lấy làm quốc dụng, không thể bỏ, nhưng cũng không thể thu hết. Hiện nay có thể nói là đã thu hết, làm sao biết được? Ví như pháp thuế chè, từ xưa không đánh thuế, đến thời Nguyên Hoà nhà Đường, vì dùng binh đánh Tề, Thái mới lập ra, sử Đường ghi năm đó thu được bốn mươi vạn quan, dùng cho quân đội phương Đông. Nay thì thu đến mấy trăm vạn, dân sao chịu nổi! Vì thế, thần cho rằng nên giảm bớt binh lính thừa, hợp nhất quan lại dư thừa, để lợi ích từ núi rừng, sông biển có thể phần nào chảy xuống dân chúng.

– Điều thứ ba là: Triều đình thực hiện việc tuyển chọn khó khăn, khiến cho việc bổ nhiệm quan chức không bị lạm dụng. Xưa kia, việc cử người từ làng xã, chọn người ra làm quan, các sĩ quân tử tu dưỡng đức hạnh tại nhà[33], rồi được suy tôn trong dân chúng, sau đó mới tiến cử lên triều đình, do đó chính sự hòa hợp và dân chúng an lành. Các đời tuy có thay đổi, nhưng chưa bao giờ xa rời đạo lý này. Đến thời Tùy, Đường mới bắt đầu có khoa cử, việc tuyển được người tài cũng sánh ngang với thời cổ, nhưng suốt thời Thái Tổ, khoa cử vẫn luôn khó khăn, mỗi năm chỉ có không quá ba mươi người đỗ tiến sĩ, năm mươi người đỗ kinh học. Sau thời Chu Tổ, chư hầu không được tự ý bổ nhiệm, sĩ đại phu ít có người được thừa hưởng ân huệ, vì thế có người cả đời không đỗ được một học vị, đến già không được một chức quan.

Tiên đế rèn đức tại phiên vương[34], thấy tình hình như vậy, nên sau khi lên ngôi, không yêu cầu quá mức khi tuyển người, bỏ ngắn lấy dài, chọn mười được năm, ở ngôi hơn hai kỷ, số người đỗ đạt gần vạn, không thiếu người tài giỏi, cũng có người dễ dàng đỗ đạt. Thần nghĩ rằng, vì trăm năm khó khăn, nên Tiên đế đã dùng cách tuyển rộng để cứu vãn; hai mươi năm ân trạch, Bệ hạ nên theo quy chế cũ mà sửa đổi. Xin Bệ hạ giao việc thi cử lại cho quan chức như trước.

Còn việc Lại bộ tuyển chọn quan chức, cũng không phải việc Đế vương cần tự tay làm. Gần đây, quan viên từ ngũ phẩm trở xuống, gọi là “chỉ thụ quan”, nay chỉ còn chức vụ tại mạc phủ, châu huyện; quan viên Kinh tuy có hạn định tuyển chọn, nhưng phần lớn không được thực hiện. Từ thời Thái Tổ, mới bắt đầu lệ cho dẫn kiến tại hậu điện, dần thành thông lệ, cho đến thời Tiên triều, những người được điều tuyển[35], phần lớn cầu may. Thần nghĩ rằng nên giao việc Lại bộ lại cho quan chức, theo quy chế mà định đoạt.

– Điều thứ tư rằng: Sàng lọc tăng ni, khiến dân không bị hao tổn. Xưa kia chỉ có bốn dân, người trị dân là kẻ sĩ, nên được nuôi dưỡng bởi nông dân; thợ thì làm ra công cụ, thương nhân để thông thương hàng hóa, đều không thể thiếu. Còn binh lính không nằm trong số đó, vì theo phép tỉnh điền, nông dân chính là binh lính. Từ thời Tần trở đi, dùng binh mạnh để định thiên hạ, nên chiến sĩ không còn trở lại làm ruộng, do đó ngoài bốn dân, lại sinh thêm một dân nữa, khiến nông dân càng khốn khó. Nhưng cầm vũ khí bảo vệ xã tắc, lý lẽ không thể bỏ được.

Sau thời Hán Minh, Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, độ người tu hành, xây dựng chùa chiền, qua các đời ngày càng tăng, không dệt vải mà có áo mặc, không cày cấy mà có cơm ăn, do đó ngoài năm dân, lại thêm một dân nữa thành sáu. Đường Hàn Dũ trong biểu dâng lên Hiến Tông khuyên đừng đón xá lợi Phật, đã nói rõ việc này. Giả sử trong thiên hạ có một vạn tăng sĩ, mỗi ngày ăn hết một thăng gạo, mỗi năm dùng một tấm lụa, đó là quá tiết kiệm, vẫn mỗi tháng tốn ba nghìn hộc[36], mỗi năm dùng hết vạn tấm lụa, huống chi là năm bảy vạn người nữa. Hơn nữa, kẻ giàu thì ăn uống xa xỉ, một bữa ăn chay, một bộ quần áo, trăm nhà dân nghèo không thể cung cấp nổi, không gọi là mối họa của dân thì sao được! Kẻ hèn này cho rằng quốc gia đã độ người quá nhiều, xây chùa cũng quá nhiều, tính chi phí hao tốn, đâu chỉ dừng ở triệu vạn.

Triều trước không đặt ra quy định, bố thí lại nhiều, Phật nếu có linh, há chẳng hưởng phúc, việc thờ Phật không hiệu quả, rõ ràng có thể biết[37]. Mong hãy suy xét kỹ cội nguồn trị quốc, gấp rút tiến hành sàng lọc. Nếu cho rằng lúc mới lên ngôi, chưa muốn kinh động bọn này, thì có thể trong một hai chục năm không cho độ người mới, không cho phép xây chùa, khiến họ tự tiêu tan, dần dần loại bỏ họ[38], cũng là một phương cách cứu vãn tệ nạn vậy.

– Điều thứ năm rằng: Vua nên thân cận bậc đại thần, xa lánh kẻ tiểu nhân, khiến cho những người trung lương, thẳng thắn, biết tiến lên mà không nghi ngờ, còn bọn gian trá, xảo quyệt, biết lùi bước mà lo sợ. Vua là đầu, bề tôi là tay chân, cùng một thể, gặp đúng người thì chớ nghi ngờ, không phải người đó thì chớ dùng. Khi bàn về sự hưng thịnh của các bậc đế vương, há chẳng nói đến Nghiêu, Thuấn sao?

Thời Nghiêu, Thuấn, trăm họ không hòa thuận, năm đức tính không thuận hòa, Khế làm Tư đồ, ban bố năm giáo hóa; man di quấy phá Trung Nguyên, giặc cướp nổi loạn, Cao Dao làm Sĩ, thi hành năm hình pháp; Bá Di quản lễ nhạc, Hậu Quỳ quản nhạc, Vũ trị thủy thổ, Ích quản rừng núi. Thật vĩ đại thay Nghiêu làm Vua, có thể nói là biết ủy thác và giao phó công việc mà không nghi ngờ. Có người hỏi: “Nếu thật như vậy, Nghiêu có công đức gì?” Thần đáp: “Có đức biết người, dùng người hiền.”

Dù đạo của Nghiêu đã xa xôi, khó lòng lặp lại, thần xin lấy thời gần đây mà nói, chỉ có chính sách nhà Đường là có thể tham khảo, thay đổi mà làm. Năm Nguyên Hòa, Vua Hiến Tông từng sai Bùi Kế chọn lựa, bình phẩm các quan. Kế nói: “Thiên tử chọn Tể tướng, Tể tướng chọn các quan đứng đầu các bộ, các quan đứng đầu tự chọn thuộc hạ, thì trên dưới không nghi ngờ mà việc trị vì thành công. Bệ hạ sáng suốt, chọn mấy người Tể tướng, còn có người không xứng, huống chi thần kém cỏi, chọn mấy chục quan đứng đầu các bộ, thường sợ không đạt, nếu chọn thêm các quan, e đây chẳng phải là cái gốc trị quốc.” Người đương thời nghe thế, cho là Kế biết nói.

Xin Bệ hạ noi theo xa thì Đế Nghiêu, gần thì xem nhà Đường[39]. Đã chọn được Tể tướng, dùng mà không nghi ngờ, để Tể tướng chọn các quan đứng đầu các bộ, các quan đứng đầu tự chọn thuộc hạ, thì chỉ cần khoác áo mà trị quốc là đủ. Xưa kẻ bị hình chẳng ở cạnh Vua, có câu: “Hãy bỏ nhạc nước Trịnh, xa lánh kẻ nịnh.” Lại có câu: “Lời gièm pha thấm dần, lời nói giả dối vô căn cứ, đều không thể thực hiện. Như thế có thể nói là sáng suốt.” Vì thế, xung quanh Chu Văn Vương không có kẻ chuyên nịnh hót, là vì người người đều hiền. Bọn tiểu nhân, khéo nịnh, mặt dày, đoán ý trước, nghe theo lệnh trên, việc làm ắt hại chính lẽ, trong lòng chỉ đố kỵ người hiền, nếu không phải bậc Thánh Đế, Minh Vương thì không thể thấu hiểu. Theo chế độ cũ: Quan Nam ban tam phẩm mới được vào triều.

Gần đây, chức phụng sự thuộc Tam ban, thấp kém thật rõ, thế mà có người được cử đi sứ cũng vào triều, làm rối loạn sự nghe ngóng của Thiên tử, chuyện này thực quá đáng. Xin Bệ hạ hãy chấn hưng kỷ cương, tôn nghiêm việc thị thính, đó là việc cần làm ngay lúc này.

Thần ngu muội cho rằng việc cấp bách hiện nay là trước hết nên bàn về binh chính[40], sao cho số lượng quân đội được điều chỉnh phù hợp, sắp xếp đúng quy củ; sau đó bàn về quan lại, phân biệt rõ ràng kẻ thanh liêm và kẻ tham nhũng, không để lẫn lộn phẩm hạng; tiếp theo là hạn chế việc tuyển cử để ngăn chặn nguồn tham nhũng, cấm đoán tăng ni để giảm bớt hao phí. Khi ấy, quốc khố sẽ sung túc, vương đạo được thực hiện. Nếu nay không bỏ bớt binh lính dư thừa, không cắt giảm quan lại dư thừa, không hạn chế tuyển cử, không cấm tăng ni, mà muốn giảm thuế của dân[41], nới lỏng lợi ích từ núi rừng, thì làm sao đạt được?”

Tấu chương dâng lên, Vua liền triệu Vũ Xứng về triều, dùng kế sách của ông, ban cho Triệu Bảo Cát năm châu Hạ, Tuy, Ngân, Hựu, Tĩnh. Ngày hôm sau, Vua lại phong cho Vũ Xứng giữ chức cũ, tiếp tục làm chức Tri Chế Cáo, cùng với Binh bộ Lang trung, Sử quán Tu soạn Lý Nhược Chuyết được nhận mệnh.

(Vũ Xứng trước đây từng xuất thân làm học sĩ, vào tháng 5 năm Chí Đạo nguyên niên.)

[31] Ngày Mậu Ngọ, Bí thư Thừa, kiêm chức Câu đương Kinh Triệu phủ Tam Bạch Cừ là Tôn Miện dâng sớ trình bày chín việc: Một là chọn người hiền tài, hai là tham khảo ý kiến chân thành, ba là tránh xa kẻ nịnh thần, bốn là chú trọng tiết kiệm, năm là rõ ràng thưởng phạt, sáu là cẩn thận khi ra lệnh, bảy là coi trọng sứ giả, tám là xem xét kỹ việc tiến cử, chín là mở rộng ân tín. Vua hạ chiếu khen ngợi, sau đó triệu ông về thi cử, bổ nhiệm chức Trực Sử quán.

(Chức Trực quán được bổ vào tháng 9 năm sau, nay ghi chung lại.)

[32] Đầu thời quốc gia, bãi bỏ chức tiết trấn thống lĩnh các quận, giao cho chuyển vận sứ quản lý các lộ, việc phân chia hay hợp nhất chưa có định chế cụ thể:

– Kinh Tây chia làm hai lộ; Hà Bắc vừa chia Nam Lộ, lại chia Đông Lộ và Tây Lộ;

– Thiểm Tây chia làm Thiểm Tây Hà Bắc và Tây Nam hai lộ[42], lại thêm Thiểm Phủ Tây Bắc Lộ;

– Hoài Nam chia làm Tây Lộ;

– Giang Nam chia làm Đông Lộ và Tây Lộ;

– Kinh Hồ hai lộ, có khi đặt chung một chuyển vận sứ;

– Lưỡng Chiết có khi là Đông Bắc Lộ, còn Tây Nam Lộ thực tế kiêm cả Phúc Kiến;

– Kiếm Nam ban đầu gọi là Tây Xuyên, sau chia thêm Hạp Lộ, Tây Xuyên lại chia thành Đông Lộ và Tây Lộ, rồi sớm hợp lại.

Năm đó, cuối cùng định thành 15 lộ: Một là Kinh Đông Lộ, hai là Kinh Tây Lộ, ba là Hà Bắc Lộ, bốn là Hà Đông Lộ, năm là Thiểm Tây Lộ, sáu là Hoài Nam Lộ, bảy là Giang Nam Lộ, tám là Kinh Hồ Nam Lộ, chín là Kinh Hồ Bắc Lộ, mười là Lưỡng Chiết Lộ, mười một là Phúc Kiến Lộ, mười hai là Tây Xuyên Lộ, mười ba là Hạp Lộ, mười bốn là Quảng Nam Đông Lộ, mười lăm là Quảng Nam Tây Lộ.

(Ngày Mậu Thìn tháng 3 năm Hàm Bình thứ 2, Kinh Hồ Nam và Bắc Lộ bắt đầu đặt hai chuyển vận sứ.)

[33] Thuế má gồm bốn loại: lương thực, vải lụa, kim loại, và vật phẩm.

Lương thực gồm bảy loại: thứ nhất là kê, thứ hai là lúa, thứ ba là lúa mạch, thứ tư là lúa nếp, thứ năm là lúa tẻ, thứ sáu là đậu, thứ bảy là các loại hạt khác.

Vải lụa gồm mười loại: thứ nhất là lụa, thứ hai là gấm, thứ ba là lụa mỏng, thứ tư là sa, thứ năm là vải thô, thứ sáu là lụa dệt, thứ bảy là vải vụn, thứ tám là tơ, thứ chín là bông, thứ mười là vải thường.

Kim loại gồm bốn loại: thứ nhất là vàng, thứ hai là bạc, thứ ba là thiếc, thứ tư là đồng và sắt.

Vật phẩm gồm sáu loại: thứ nhất là gia súc, thứ hai là ngà, da, lông chim, lông thú, thứ ba là trà và muối, thứ tư là tre, gỗ, gai, cỏ, rơm rạ, thứ năm là trái cây, thuốc, dầu, giấy, củi, than, sơn, sáp, thứ sáu là các vật phẩm khác.

Cuối niên hiệu Chí Đạo, mỗi năm thu được hơn 21.717.000 hộc lương thực, hơn 4.650.000 quan tiền, hơn 1.620.000 xúc lụa, hơn 273.000 xúc lụa thô và vải thô, hơn 1.410.000 lạng tơ, hơn 5.170.000 lạng bông, hơn 490.000 cân trà, 30 triệu bó rơm, 2.680.000 bó cỏ khô, 280.000 bó củi, 500.000 cân than, hơn 610.000 chiếc lông ngỗng và các loại lông khác, 870.000 cán tên, hơn 300.000 cân sáp vàng. Những con số này đều vượt quá 100.000, những thứ khác không ghi chép lại.


  1. 'Nhất' nguyên bản là 'thời', theo bản Tống và bản Tóm Yếu Tống sửa lại
  2. Thế đạo tiêu tan: 'Tiêu tan' nguyên văn là 'sảo ngoan', sửa theo bản Tống, Tống Toát Yếu và tấu nghị quyển 164, phần Tuyển cử
  3. Coi thường đạo cổ trong học đường nhà Nho: 'Học đường' nguyên văn là 'quan', sửa theo sách trên
  4. Việc tiến cử ở hai kinh: 'Tiến cử' nguyên văn là 'tiến luân', sửa theo các bản
  5. Gần đây ban hành quy chế mới: 'Ban hành' nguyên văn là 'long', sửa theo bản Tống Toát Yếu và tấu nghị quyển 164, phần Tuyển cử
  6. Kinh đô không được tiến cử người từ cửa khanh sĩ: 'Khanh' nguyên văn là 'hương', sửa theo bản Tống, Tống Toát Yếu và Biên niên cương mục quyển 5, Tống sử toàn văn quyển 4 hạ
  7. Chữ 'mỗi' trong 'mỗi cung tự viên khâu' nguyên văn là 'kí', theo bản Tống và bản Tóm tắt Tống sử sửa lại.
  8. Chữ 'khuê' trong 'nhi thông khuê tịch' nguyên văn là 'quan', theo các bản sửa lại.
  9. con đường tốt đẹp, chữ 'thanh' nguyên bản là 'chư', theo sách đời Tống và bản tóm tắt đời Tống sửa lại.
  10. Vương Tế các bản và 'Tống sử toàn văn' quyển 4 hạ đều chép là 'Vương Tề'.
  11. Tám là rèn luyện binh lính, chữ 'luyện' trong bản 'Tống toát yếu' và 'Tống sử toàn văn' quyển 4 hạ, 'Tục thông giám' quyển 19 đều chép là 'phân'.
  12. Kẻ thích hãm hại coi như trí tuệ, chữ 'hiểm' nguyên bản là 'hãm', căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Biên niên cương mục' quyển 5, 'Tống sử toàn văn' quyển 4 hạ mà sửa.
  13. Thiên hạ chưa được thanh bình, chữ 'cách' nguyên bản là 'cực', căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu' mà sửa.
  14. chữ 'bất' dưới nguyên có chữ 'dĩ' sai, căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 'Biên niên cương mục' quyển 5 mà bỏ.
  15. chữ 'đại hành' nguyên là 'Thái Tông', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và các bản khác mà sửa.
  16. Điện Vạn Tuế, nguyên bản viết là 'Vạn Thọ Điện', căn cứ theo bản 'Tống Toát Yếu' và đoạn ghi chép về ngày Quý Tỵ tháng 3 năm Chí Đạo thứ 3 trong quyển 41 của sách này, ghi rõ 'Băng ở điện Vạn Tuế', đã sửa lại.
  17. 'Ai cứu chi tình', chữ 'cứu' nguyên bản viết là 'thống', căn cứ theo bản 'Tống bản', 'Tống Toát Yếu', bản các sách và quyển 19 của 'Tục Thông Giám' đã sửa lại.
  18. 'sáng rõ' nguyên ở dưới chữ 'phân ranh giới', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và sách 'Trị tích thống loại' quyển 5 'Chân Tông thánh chính' sửa lại
  19. Nguyên văn là 'thượng sơ tự thiên đình tông miếu', theo bản Tống, bản 'Tống toát yếu' và 'Tục thông giám' quyển 19 sửa lại.
  20. Nguyên văn là 'Lễ', theo sách trên sửa lại.
  21. Bạc châu phải kiểm tra hai huyện Thái Khang và Hàm Bình, châu cử Khâm Nhược đi. Chữ 'huyện' và 'châu' ban đầu bị đảo ngược, căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và sách 'Mộng Khê Bút Đàm' (sau đây gọi tắt là 'Bút Đàm') của Thẩm Quát, quyển 12, phần quan chính, đã sửa lại.
  22. Quán Tân Cổ nguyên bản viết là 'Mẫu Tân Cổ', căn cứ theo các bản 'Tống sử' quyển 283 truyện Vương Khâm Nhược, 'Trị tích thống loại' quyển 5 phần Chân Tông thánh chính sửa lại. Dưới đây cũng vậy.
  23. Chữ 'văn' nguyên bản viết là 'phạm', căn cứ theo sách trên và 'Tục thông giám' quyển 19 sửa lại.
  24. Lập nơi thờ cúng và xây miếu thờ, chữ 'miếu' nguyên bản là 'nghị', căn cứ vào 'Tống hội yếu' Lễ chương 31 phần 21, 'Biên niên cương mục' quyển 5, 'Tống sử' quyển 109 Lễ chí và ý nghĩa văn bản sau mà sửa.
  25. Chữ 'vì' nguyên bản là 'tức', căn cứ vào bản Tống, bản 'Tống toát yếu' và 'Thái thường nhân cách lễ' quyển 94 mà sửa.
  26. Chữ 'di chuyển' nguyên bản là 'tiến', căn cứ vào bản Tống và bản 'Tống toát yếu' mà sửa.
  27. Chữ 'phụ' nguyên bản là 'tương', căn cứ vào sách trên và 'Biên niên cương mục' quyển 5 mà sửa.
  28. Cổ tiên thánh vương trí chi độ ngoại: Tống bản, Tống toát yếu bản ở đây đều có thêm câu 'Vì người Nhung Địch xảo trá muôn màu, mặt người dạ thú'.
  29. có chữ 'tay' nguyên viết là 'cánh tay', căn cứ theo sách trên và quyển 5 trong 'Trị Tích Thống Loại' về việc Chân Tông đối phó Tây Hạ mà sửa
  30. 'Khiết Đan' nguyên bản thiếu hai chữ này. Theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và 'Tống Văn Giám' quyển 42, Vương Vũ Xứng trong bài 'Ứng Chiếu Ngôn Sự' đều viết 'Hồ lỗ tuy không xâm phạm biên giới', còn 'Tống Sử' quyển 293, truyện Vương Vũ Xứng lại ghi 'Khiết Đan tuy không xâm phạm biên giới'. Phần trên của sách này đã có câu 'Hiện nay phía bắc có Khiết Đan', nay để ý nghĩa của phần trên dưới được thống nhất, nên căn cứ vào 'Tống Sử' bổ sung hai chữ 'Khiết Đan'.
  31. 'Cho phép Phu châu', theo 'Tống Văn Giám' thì viết 'chỉ cho làm Tiết độ sứ Phu châu'. Theo sử liệu, vào tháng 6 năm Chí Đạo nguyên niên, đã sai sứ dụ Lý Kế Thiên, phong cho hắn làm Tiết độ sứ Phu châu, nhưng hắn không tuân chiếu.
  32. 'Nhất' nguyên văn là 'Thập', theo bản Tống và ‘Văn Giám’ sửa lại.
  33. 'Tu dưỡng đức hạnh tại nhà', nguyên văn là 'Tu hành', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống và văn giám Tống đính chính.
  34. 'Phiên vương', nguyên văn là 'Phiên để', căn cứ vào sách trên và phần truyện Vương Vũ Xứng trong Tống sử sửa lại.
  35. 'Điều tuyển', nguyên văn là 'Từ', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống và văn giám Tống sửa lại.
  36. mỗi tháng tốn ba nghìn hộc: 'tháng' nguyên văn là 'ngày', căn cứ theo 'Tống văn giám', 'Tống sử' quyển 293 truyện Vương Vũ Xứng và nghĩa văn trên dưới mà sửa.
  37. rõ ràng có thể biết: 'rõ ràng' nguyên văn là 'vậy', căn cứ theo bản Tống, Tống yếu và sách trên đây mà sửa.
  38. dần dần loại bỏ họ: chữ 'dần' nguyên văn thiếu, căn cứ theo bản Tống, Tống yếu và 'Tống văn giám' mà bổ sung.
  39. 'Cận lãm đường thất' ('Thất' nguyên là 'tông'), căn cứ theo đoạn trên dẫn từ 'Tống văn giám' và 'Tống sử' quyển 293, truyện Vương Vũ Xứng.
  40. 'Nghị binh' nguyên chữ là 'Ngự binh', theo sách trên sửa lại.
  41. 'Muốn giảm' nguyên chữ là 'khiến giảm', theo bản Tống, sách Tống Toát Yếu và sách Tống Văn Giám sửa lại.
  42. Kỷ sự trong 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 21 có ghi: Thiểm Tây chia làm Thiểm Tây Hà Bắc và Tây Nam hai lộ. 'Tống hội yếu' phương vực quyển 5 phần 36 và 'Cửu vực chí' quyển 3 đều ghi: Thiểm Tây Lộ, năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 chia thành Hà Bắc và Hà Nam Lộ; trong 'Bản thư' quyển 18 thì chép: Vào ngày Quý Mùi tháng 10 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 2, có chiếu chỉ chia Thiểm Tây chuyển vận sứ thành hai ty, giao cho Thị ngự sử Trương Hoán quản lĩnh các châu Thiểm Tây Hà Bắc, Tán thiện đại phu Vi Vụ Thăng quản lĩnh các châu Thiểm Tây Hà Nam.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.