VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 211: NĂM HI NINH THỨ 3 (CANH TUẤT, 1070)
Bắt đầu từ tháng 5 năm Hi Ninh thứ 3 đời Vua Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Tháng 5, ngày Canh Dần, mùng một, Tri châu Minh Châu, Vệ úy khanh Vương Hãn tâu: “Châu tiếp giáp biển lớn, bên ngoài liền với các nước phiên di, thành lũy đổ nát. Những năm gần đây, các quận lân cận mất mùa, nhiều trộm cướp, nhưng quân đồn trú chưa đầy 200 người. Xin ban sắc độ tăng để sửa chữa thành châu.” Vua xuống chiếu chỉ cho dùng binh lính sửa chữa.
Trước đó, Vua nói với các quan chấp chính: “Các nơi tâu rằng nhiều tội nhân trốn thoát bằng cách vượt thành, thành cũng không thể không sửa chữa.” Vương An Thạch đáp: “Việc sửa thành ở phương Nam e không phải là việc gấp, tốn kém quá cũng đáng tiếc, chỉ nên lệnh cho Ty chuyển vận dần dần ứng phó là được.” Vì thế có chiếu này.
[2] Ngày Tân Mão, Bí các hiệu lý, Đồng tu khởi cư chú Trần Tương kiêm chức Trực xá nhân viện, Phán Lại bộ Lưu nội tuyển kiêm Thiên chương các Thị giảng. Trước đó, Vua lo không có người làm chức Tri chế cáo, các quan chấp chính dẫn chuyện cũ thời tổ tông có chức Trực xá nhân viện, muốn lệnh cho Trần Tương đảm nhiệm. Vương An Thạch nói: “Nếu bổ nhiệm người như vậy thì không thể dễ dàng cho người ta thứ bậc, mà chức quan dễ tìm được người tài.” Vì thế Trần Tương có mệnh lệnh này.
Trần Tương từ chối chức Trực viện và Thị giảng, Vua ban chiếu dụ Trần Tương rằng: “Gần đây Trẫm bổ nhiệm khanh làm Tri chế cáo, vì việc tâu trình chưa xong, khanh khẩn khoản không nhận mệnh, lại xin bổ nhiệm ra ngoài. Trẫm vốn ngưỡng mộ kinh thuật và đạo đức của khanh, rất tiếc nếu khanh đi xa, nên đặc cách cho khanh trở lại chức cũ, mong rằng ở bên cạnh kinh tịch, dần dần rèn luyện đạo nghĩa, để thỏa mãn điều Trẫm muốn nghe. Nay xem tờ tâu của khanh, vẫn muốn kiên quyết từ chối, há chưa hiểu ý Trẫm sao? Trả lại tờ tâu của khanh, hãy mau nhận chức.” Trần Tương cuối cùng vẫn từ chối, Vua đồng ý.
(Việc Vua đồng ý cho Trần Tương từ chối chức Trực viện và Thị giảng là ngày 16, Ất Tỵ, nay ghi chung lại. Việc Trần Tương từ chối triệu thí đã ghi kèm ngày Quý Mùi tháng 4. Ngày 5 tháng 9, Vương An Thạch bàn về việc Trần Tương từ chối triệu thí, nói rằng mùa xuân năm nay, há chẳng phải việc triệu thí thực sự diễn ra vào mùa xuân sao?)
[3] Hôm đó, Vua bàn về Ngụy Trịnh Công, cho rằng ông chỉ vì Thái Tông làm nhiều việc sai lầm nên mới dám can gián thẳng thắn, chứ không thấy ông có tài kinh luân thiên hạ. Vương An Thạch nói: “Những điều Trịnh Công thấy tuy không cao xa, nhưng đối với những việc gần gũi, ông rất hiểu lợi hại. Như khi bàn việc với Ôn Ngạn Bác, tuy bị Ngạn Bác lấn át bằng biện luận mạnh mẽ, nhưng cuối cùng lợi hại vẫn như Trịnh Công tranh luận.” Vua nói: “Đây là việc xử trí với các bộ tộc phiên.”
An Thạch lại nói Ngụy Trịnh Công không muốn đối xử với ngoại phiên như khách, cho đó là lời nói chắc chắn. Vua nói: “Trịnh Công can Thái Tông về việc phong thiền, nói rằng ‘Tứ di tuy phục, nhưng không thể thỏa mãn yêu cầu của họ.’ Lời này rất đúng.”
[4] Ngày Quý Tỵ, xuống chiếu cho các châu Hùng, An Túc, Quảng Tín, Thuận An, Tín An, Càn Ninh, Bảo Định quân, đều là những nơi biên giới có đầm lầy và núi non ít thuận lợi cho canh tác, không cấp tiền thanh miêu cho dân.
[5] Sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.
[6] Ngày Ất Mùi, Vua ra chiếu cho các quan đại thần ra vườn sau xem lúa mạch.
[7] Tư phong viên ngoại lang, Trực sử quán, Đồng tu khởi cư chú Thái Diên Khánh, Binh bộ lang trung, Tập hiền hiệu lý Vương Ích Nhu được bổ nhiệm làm Trực xá nhân viện. Vương An Thạch cho rằng Ích Nhu là người cũ, lại có đạo đức và không bỏ học vấn, nên cùng với Diên Khánh được bổ nhiệm. Chức Trực xá nhân viện từ sau niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc không còn bổ nhiệm nữa, lúc đó An Thạch đề nghị cho người làm Trực xá nhân viện soạn thảo chiếu chỉ cho Lý Định xong, rồi mới bổ nhiệm làm Tri chế cáo, dựa theo lệ cũ của tổ tông. Ban đầu định giao cho Trần Tương, nhưng Tương từ chối không làm, nên bổ nhiệm cả hai người.
[8] Thiên chương các đãi chế Tôn Cố kiêm quyền quản câu Ngự sử đài, Tri thông tiến Ngân đài ty, thay thế Trần Tiến. Vương An Thạch cho rằng Tiến chắc chắn sẽ phản đối việc bổ nhiệm Lý Định, Hàn Giáng lại nghi ngờ Tiến không cho Định vào đài, nên tâu với Vua, bãi chức Tiến và dùng Cố.
[9] Ngày Đinh Dậu, sai quan Chuyển vận sứ Hoài Nam, Giang Đông đến Dương Châu, Tuyên Châu điều tra việc Lý Định, nguyên là Phán quan Quân sự Tú Châu, không chịu tang mẹ đẻ, xem thực hư thế nào rồi tâu lên. Quyền Quản câu Ngự sử đài Trần Tiến tâu rằng Lý Định không giải chức để chịu tang mẹ đẻ, nhà Lý Định ở Dương Châu, lại từng giữ chức Chủ bạ huyện Kinh, Tuyên Châu. Vì thế, tạm dừng việc bổ nhiệm Lý Định, đợi báo cáo từ hai lộ.
[10] Chiếu rằng các hộ thuộc hai châu phía bắc Hùng Châu nếu gặp thiên tai, lập tức phát lương cứu tế, sau đó chia kỳ thu nạp. Theo lời thỉnh cầu của An phủ sứ Duyên biên Hà Bắc Trương Lợi Nhất.
(《Nhật lục》 chép: Ngày 5 tháng 4, Trương Lợi Nhất tấu rằng các hộ thuộc hai châu không được nhận lương thanh miêu, rất thiếu thốn. Vua nói: “Như vậy chứng tỏ lương thanh miêu không phải là bắt buộc.” Các quan bàn rằng vùng biên giới không nên phát nữa, vì trời đã tối, không kịp bàn thêm nên lui về, đợi tấu riêng. Ngày 5 tháng 5, lại bàn về việc chỉ huy phát lương thanh miêu ở biên giới, Vua nói: “Các hộ thuộc hai châu không nên khác biệt với dân trong nội địa, chỉ huy thế nào cũng không sao.” Các quan theo ý Vua, không tranh cãi nữa.)
[11] Ty Điều lệ tâu rằng Quyền Phó sứ Chuyển vận Thiểm Tây Trần Dịch không theo điều lệ xử lý các quan lại trong bộ vi phạm pháp ép buộc thu tiền thanh miêu, lại tự ý ngừng phát tiền thanh miêu ở sáu châu Hoàn, Khánh, lại muốn giữ vật phẩm trong kho Thường bình để chuẩn bị chi dùng khi cấp bách, làm hỏng phép Thường bình đã thi hành lâu nay. Chiếu tha tội cho Trần Dịch.
[12] Ngày Mậu Tuất, Vua phê rằng: “Các điều lệ do Trung thư soạn thảo, nên làm cho đơn giản, hợp lý, có thể thi hành và tuân thủ lâu dài; trước hết phải sắp xếp theo thứ tự, rồi mới có thể cắt bỏ, định đoạt. Hiện nay Trung thư soạn thảo điều lệ, nghe nói đã hơn nghìn quyển, gặp việc làm sao xem xét hết được, dù là quan lại cũng e không thể nghiên cứu kỹ. Nên lệnh trước hết phân loại các điều lệ của mỗi cơ quan dưới Trung thư thành ba loại, rồi phân biệt rõ những điều đang thi hành, đã bãi bỏ, hoặc trùng lặp; những điều lệ rõ ràng, không khác gì điều khoản, chỉ ghi lại những điều đã thi hành; hoặc những điều có điều khoản chính thức nhưng vi phạm để làm lệ; hoặc những điều không cần ghi thành lệ mà tự có thể làm thành điều khoản; hoặc những điều khoản không thể bao quát hết, phải dùng lệ để so sánh, để mỗi điều tự xử lý, sau đó Trung thư mỗi ngày xem xét ba đến năm điều để quyết định giữ lại, bỏ đi hoặc sửa đổi. Trẫm thấy đại khái nên như vậy, các khanh nên xem xét thêm, e rằng còn có việc chưa hợp lý. Gần đây thấy Cáp môn soạn thảo nghi chế, việc lấy tài liệu rất tốn công, vì quan lại không thích điều lệ rõ ràng, cũng cần đặt ra thưởng phạt để phòng ngừa thiếu sót.”
[13] Lâm Hi, Chủ bạ huyện Kinh, Tuyên châu, kiêm Biên hiệu sách vở Chiêu Văn quán, được bổ làm Hiệu khám Quán các. Lâm Hi là người Phúc Châu. (Tháng 9 năm Trị Bình thứ 2, ông mới được bổ làm Biên hiệu quan.)
[14] Cùng ngày, Vua hỏi Vương An Thạch rằng có thể hợp nhất Ty Điều lệ vào Trung thư hay không. An Thạch đáp: “Đợi khi soạn thảo điều lệ Trung thư có đầu mối và đã đặt thuộc quan, thì tự nhiên có thể hợp nhất, hiện nay còn có việc cần bàn với Hàn Giáng, e rằng chưa thể.” Vua nói: “Có phải vì sợ Tăng Công Lượng có ý kiến khác không?” Lại hỏi về Trần Thăng Chi thế nào, An Thạch đáp: “Thăng Chi vẫn có thể cùng làm việc, còn Công Lượng hay dùng mưu mẹo, lại chỉ muốn giữ thói cũ, từ khi Lữ Công Trở gây khó dễ, lại được Thăng Chi hỗ trợ, càng khó bàn việc.” Vua nói: “Công Lượng già rồi, cũng sắp về hưu.”
(Việc này theo《Nhật lục》, xảy ra ngày 6 tháng 5, nay ghi chép thêm.)
[15] Chiếu cho Tập Hiền hiệu lý Tôn Chu và Quán các hiệu khám Bồ Tông Mạnh cùng xem xét các bản tấu chương chuyển đối. Vì các tấu chương đề cập nhiều việc, nên muốn chọn dùng. Tháng này, ngày Nhâm Dần sẽ cùng khảo xét, đến ngày Đinh Tỵ tháng 6 năm thứ 4 thì bãi bỏ.
[16] Ngày Canh Tý, Trứ tác tá lang Du Sung và Đại Lý tự thừa Lý Thừa Chi biên tu các điều lệ của Trung thư. Du Sung là người huyện Ngân.
[17] Chiếu rằng: “Tổ tông đối với thân thuộc đã miễn tang, nếu là nam đã đến triều, thì được tặng tiền và lụa mỗi thứ 40 quan, 40 tấm; chưa đến triều mà trên 11 tuổi, thì tiền và lụa mỗi thứ 20 quan, 20 tấm. Nữ chưa lấy chồng, trên 11 tuổi, thì tiền và lụa mỗi thứ 15 quan, 15 tấm; đã lấy chồng, thì tiền và lụa mỗi thứ 30 quan, 30 tấm. Mẹ đẻ và vợ được tiền và lụa mỗi thứ 20 quan, 20 tấm. Chưa đến triều[1], trên 11 tuổi, thì tiền và lụa mỗi thứ 10 quan, 10 tấm. Nữ chưa lấy chồng, trên 11 tuổi, thì tiền 10 quan, lụa 5 tấm; đã lấy chồng, thì tiền và lụa mỗi thứ 15 quan, 15 tấm. Mẹ đẻ và vợ được tiền 10 quan, lụa 5 tấm. Nữ xuất gia tu đạo, đều theo lệ đã lấy chồng.” Trước đây, thân thuộc đã miễn tang là Hữu Vũ vệ đại tướng quân, Thứ sử Hoành châu Thúc Xán qua đời, Nội thị tỉnh tâu rằng, theo pháp chỉ được cấp tiền tống táng, còn tặng phẩm hiếu thì không cấp. Có lẽ do luật mới bỏ sót điều này, nên Vua ra lệnh sửa lại, và ban chiếu này. Thúc Xán mất vào tháng 4, là con của Khắc Giá.
[18] Ngày Tân Sửu, chiếu cho Thiếu phủ giám, tân Tri Trì châu Quách Vĩnh được về hưu. Vì khi Quách Vĩnh làm Tri châu Chương châu, thành tích không xuất sắc, lại già yếu.
[19] Thủ chiếu rằng: “Nghe nói các thủ lĩnh bộ lạc Thiểm Tây thường bắt người Phiên quy thuận rồi giết đi, khai man là bắt được trong khi tuần tra, chặn đánh, không chỉ để cầu may được thưởng, mà còn giết oan người vô tội. Lệnh cho các Kinh lược ty từ nay phải xác minh rõ tung tích giặc, bảo đảm rồi mới tâu lên, không được chỉ dựa vào báo cáo của thành trại.”
[20] Ngày Nhâm Dần, ban chiếu rằng: Các chương tấu của bách quan chuyển đối, giao cho các quan chức trong quán xem xét kỹ lưỡng, những điều trình bày đúng hay sai, gửi cho Tư Mã Quang xác định rõ, lệnh Trung thư lấy chỉ dụ. Trước đó, Vua đã sai Tôn Chu và Bồ Tông Mạnh xem xét, đến nay lại giao cho Tam quán, lệnh rằng những điều đã có pháp lệnh thì phải nêu rõ điều khoản, muốn thấy tài năng của các quan chức trong quán, từ đó xem xét các quan chuyển đối có hiểu pháp lý hay không. Từ chỗ lại giao cho Tam quán trở xuống, bản mới đều bỏ đi, vì bản Chu theo ý Vương An Thạch thêm vào. Vương An Thạch bàn việc lập chức Chi hậu trong Tam quán, xem ngày Bính Dần tháng 12 năm thứ 2, đến tháng 6 năm thứ 4 thì bãi bỏ.
(Bản kỷ mới chép chiếu lệnh bách quan chuyển đối phong sự, Tam quán nêu rõ đúng sai, lệnh Tư Mã Quang xác định rõ, bản kỷ cũ không chép.)
[21] Trước đó, sách xá ngày Bính Tuất lệnh các lộ tìm kiếm những người có đức hạnh được dân làng kính trọng, đưa tên lên, tổng cộng được 29 người. Do đó, ban chiếu lệnh tháng 9 đưa họ về kinh, cấp lộ phí, đến thì ở tại Thái học, gửi đến Xá nhân viện thi sách và luận mỗi loại một bài. Bản kỷ cũ chép: Chiếu Xá nhân viện thi các sĩ được đưa về từ các lộ, tổng cộng 29 người, bản kỷ mới không chép.
[22] Ngày Quý Mão, Vua phê rằng: “Gần đây lấy Lý Định, quân sự phán quan ở Tú Châu, làm Thái tử Trung doãn, quyền Giám sát ngự sử lí hành. Tri chế cáo Lý Đại Lâm và Tô Tụng nhiều lần cản trở chiếu mệnh không thi hành, lại dẫn điều tiến cử của Trung thừa trong chiếu, hoàn toàn vô lý. Tụng ở Trung thư xin được chỉ dụ đặc biệt mới dám nhận mệnh, đến khi triều đình ban xuống, lại phong hoàn, khinh nhờn chiếu mệnh, lộn xộn như vậy, quốc pháp sao dung được! Đại Lâm và Tụng đều bị giáng về nguyên chức.” Lúc đó, Đại Lâm và Tụng đều làm Công bộ lang trung.
Trước đó, Tống Mẫn Cầu đã từ chối phê chuẩn bản thảo chiếu chỉ, nên chiếu chỉ được chuyển cho quan khác, và lúc này đến lượt Tô Tụng phụ trách soạn thảo.
Tô Tụng tâu: “Theo chế độ cũ của triều đình, việc bổ nhiệm quan chức Đài quan đều do chiếu chỉ của Trung thừa, Tri tạp cùng Hàn lâm học sĩ, từ Thái thường bác sĩ trở lên, Trung hành viên ngoại lang trở xuống, cùng nhau tiến cử những người từng giữ chức Thông phán. Nếu chưa từng giữ chức Thông phán, thì phải có chỉ đặc biệt mới được tiến cử làm Lí hành[2]. Nếu tiến cử không đúng người, có thể bị liên đới trách nhiệm, điều này nhằm đề cao sự nghiêm ngặt trong việc tuyển chọn quan chức Đài các.
Năm ngoái, chiếu chỉ đã quy định riêng cho Trung thừa tiến cử quan chức, tuy không hạn chế về tư cách và phẩm cấp, nhưng vẫn phải là người có chức vụ ở kinh đô mới được tiến cử. Vì đã có chiếu chỉ trước đó, nên không ai có ý kiến. Nay Lý Định từ chức vụ Mạc liêu ở quận lên thẳng giữ chức vụ giám sát trong triều đình, vượt qua thứ bậc thông thường, đây là điều chưa từng có trong những năm gần đây.
Có người bàn rằng, thời Đường, nhiều người từ Mạc phủ các chư hầu được bổ nhiệm vào Đài tỉnh. Thần cho rằng không phải vậy, thời Đường, khi phương trấn còn hùng mạnh, có việc tâu xin bổ nhiệm Lang quan, Ngự sử vào Mạc phủ, từ đó Mạc phủ được coi trọng hơn. Tổ tông ta thấu hiểu tệ nạn này, nên đã sửa đổi hoàn toàn, các chức vụ liêu tá ở châu quận đều do triều đình bổ nhiệm. Khi đại thần ra trấn nhậm, có thể được phép bổ nhiệm quan chức, nhưng cũng phải theo thứ bậc mà bổ nhiệm, hết nhiệm kỳ thì thăng chức, đều tuân theo quy tắc của Bộ Lại, không còn như thời Đường nữa.
Huống chi, ba viện ngày nay, trách nhiệm còn nặng nề hơn xưa. Hơn nữa, Lý Định chưa hết nhiệm kỳ, lại được triệu đối không đúng thời, không qua khảo hạch của Bộ Lại, mà được bổ nhiệm vào hàng quan chức triều đình; không qua tiến cử của Ngự sử, mà được đặt thẳng vào Hiến đài. Dù triều đình đang cấp bách cần người tài, vượt qua quy tắc thông thường, nhưng việc làm rối loạn pháp chế chắc chắn sẽ khiến người ta bàn tán. Vì thế, thần chưa dám soạn thảo chiếu chỉ bổ nhiệm.”
Chiếu chỉ lại được chuyển đến Xá nhân viện, lần này đến lượt Lý Đại Lâm, Đại Lâm cũng từ chối phê chuẩn. Triều đình bèn hạ chiếu yêu cầu Tô Tụng căn cứ theo chỉ đạo trước đó soạn thảo. Tô Tụng lại tâu: “Thời tổ tông, có người từ nơi xa xôi hẻo lánh được lên địa vị hiển hách, đó là vì thiên hạ mới định, có người tài bị bỏ rơi nơi thôn dã không được dùng[3], nên không thể không mở rộng con đường tìm kiếm nhân tài.
Từ thời Chân Tông, Nhân Tông trở lại đây, dù có người ẩn dật, hành vi khác thường, cũng không vượt qua thứ bậc. Đó là vì thời thái bình, mọi việc đều có kỷ cương, nên không thể không tuân theo quy tắc tuyển dụng. Nay triều đình trong sáng, người tài đều được trọng dụng, việc bổ nhiệm vào Đài các đều có quy củ rõ ràng. Nhưng Lý Định chỉ là Mạc quan ở châu xa, không có công lao tích lũy, thành tích rõ rệt, chỉ vì được triệu đối, một lời hợp ý Vua, liền được bổ nhiệm làm Ngự sử. Ngày sau nếu có người phi thường hơn thế, tâu đối hợp ý Vua, thì sẽ bổ nhiệm chức gì cho họ? Nếu cứ tiếp tục như vậy, thần e rằng chức vụ cao, bổng lộc hậu sẽ có thể đạt được bằng con đường tắt.
Theo 《Lục Điển》, chức trách của Trung thư xá nhân là căn cứ vào điển cố mà soạn thảo chiếu chỉ, chế sắc. Sau khi chế sắc ban hành, nếu có sai sót thì tâu lên để sửa chữa. Vì thế, trước sau các Xá nhân đã nhiều lần bàn luận về việc bổ nhiệm sai lầm, dùng điển cố mà được sửa chữa. Nay ba viện Ngự sử phải do Trung thừa, Học sĩ tiến cử triều thần, đó là điển cố. Nếu không đúng như vậy, sao dám không nói? Năm ngoái, việc bổ nhiệm quan chức kinh đô không ai bàn tán, là vì đã có chiếu chỉ trước đó. Nay nếu trước tiên lập định chế, cho phép từ Mạc quan được tuyển chọn vào ba viện, thì thần đây còn lời gì mà dám chống đối?
Triều đình cho rằng Lý Định thực sự có tài năng xuất chúng, thì nên đặc cách thăng chức, bổ nhiệm chức vụ khác, vượt cấp theo thứ bậc, không có gì không thể, không cần phải bỏ qua quy chế gần đây, đặt vào Hiến cương. Nếu thần vì sợ hình phạt nghiêm khắc, hổ thẹn soạn thảo, thực sự lo ngại Môn hạ sẽ phản đối. Dù Môn hạ không phản đối, thì các quan ngôn sự chắc chắn sẽ lại bàn tán sôi nổi. Hoặc Lý Định sợ bị bàn tán, cố chấp không dám nhận chức, thì thần đây một việc bỏ bê chức trách mà khiến tranh luận nổi lên, làm phiền Thánh thính, tội thần dẫu chết cũng không hết trách nhiệm.”
Vua nói: “Lí hành vốn không tính đến quan tư, nên lệnh cho làm Ngự sử lí hành, muốn lệnh chỉ dùng Phán quan để ban sắc.”
Mọi người đều cho là không thể.
An Thạch nói: “Đã lệnh cải quan, về nghĩa có gì không được, mà lại phong hoàn từ đầu? Nếu theo như vậy, tức là uy phúc của bệ hạ bị tư nghị đoạt mất, mất đạo làm Vua vậy.” Sau đó, An Thạch tiến trình điều lệ mới về việc cử Ngự sử, và chép lại lời tâu đối khi mới lập điều lệ, tâu lên Vua rằng: “Hồ Tông Dũ cho rằng đây là ý riêng của thần, là vì không biết đức âm của bệ hạ khi lập pháp này vậy.”
Vua nói: “Chiếu cáo của Lý Định phải bảo thảo đi.” An Thạch nói: “Đặc chỉ của bệ hạ, dù trái với điều lệ trước cũng nên thi hành.” Tăng Công Lượng nói: “Đặc chỉ vốn không nên bị điều lệ hạn chế, nhưng không biết Định là người thế nào, e rằng không phải người thường, nên không dùng phép thường vậy.”
Do đó, Vua phê: “Xét lại chiếu ngày 6 tháng 7 năm ngoái, từ nay về sau nếu Ngự sử có khuyết, giao cho Ngự sử Trung thừa tâu cử, không kể chức vụ cao thấp, cho kiêm quyền, nếu cử không đúng người, thì bảo quan ngôn sự giác sát tâu lên. Từ đó về sau không có điều lệ nào khác được ban hành.”
Tụng, Đại Lâm lại tâu: “Thần xem xét kỹ, trước đây Ngự sử phải được cử từ chức Thái thường bác sĩ trở lên, Trung hành viên ngoại lang trở xuống. Sau này vì khó tìm được người có thứ bậc tương xứng, nên triều đình đặc biệt mở ra chế độ này. Nói không kể chức vụ cao thấp, chỉ là không hạn chế Bác sĩ và Trung hành viên ngoại lang mà thôi, không phải là cho phép cử cả tuyển nhân. Còn nói kiêm quyền, như Tam thừa trở xuống chưa thể làm Giám sát, nên tạm cho quyền trên; Tiền hành viên ngoại lang trở lên không thể làm Thị ngự, nên cho kiêm dưới, đều không phải là văn bản dành cho tuyển nhân. Nếu không kể chức vụ cao thấp, cả tuyển nhân cũng được cử, thì Phán quan của Tú châu cũng có thể quyền Lý hành, không cần đổi thành Trung doãn.
Nói như vậy, rõ ràng là tuyển nhân không thể được siêu thụ làm Ngự sử. Như Trình Hạo, Vương Tử Thiều trước đã chuyển làm Kinh quan, nhờ Trung thừa tiến cử mới được thăng Trung doãn, chỉ quyền Giám sát. Nay Định là thứ bậc Sơ đẳng chức quan, nếu đặc cách cải làm Kinh quan, đã là ơn lớn, lại còn siêu thụ vào triều tịch, đặt vào Hiến đài, từ triều trước đến nay chưa từng có việc này.
Thần cứ lặp đi lặp lại, không sợ bị chém, không phải vì gì khác, chỉ vì tiếc pháp chế của triều đình, tuân thủ chức nghiệp của hữu ty mà thôi. Đại để điều lệ cần tránh mở ra bừa bãi, hôm nay thi hành, ngày sau sẽ thành lệ cũ, nếu hữu ty cứ theo đó, dần dần sẽ đổ nát, e rằng một khi cửa may mở ra, thì những kẻ bon chen trên con đường làm quan sẽ hy vọng được thăng tiến bất thường, danh khí của triều đình có hạn, làm sao có thể làm vừa lòng mọi người được! Đời trước quý trọng tước thưởng, không tùy tiện ban cho người khác, dù có tài năng xuất chúng, cũng phải thử qua chức vụ, đợi có công hiệu rồi mới siêu thăng, là vì thế.”
Lại chiếu cho Tụng theo chỉ huy trước mà soạn chiếu, Tụng vẫn cố tâu như cũ, lại đến Trung thư bạch với chấp chính rằng: “Tuy nói là đặc chỉ, nhưng Tụng không có căn cứ, nếu thảo chế tất sẽ bị người ta bàn tán. Xin phê giáng rằng ‘Đặc chỉ bổ nhiệm, không trái điều lệ.’ thì mới dám thảo chế.”
Lại có chiếu rằng việc bổ nhiệm Lý Định là đặc chỉ, không trái với chế độ gần đây, sai Tụng nhanh chóng soạn lời từ chối.
Tụng lại tâu: “Nếu quả thực xuất phát từ ý thánh mà bạt trạc, thì phải là người phi thường, danh tiếng lừng lẫy đương thời, sau đó mới có thể làm yên lòng dư luận, trở thành việc tốt đẹp cho triều đình. Xưa Mã Chu vì Thường Hà viết tấu, trình bày hơn hai mươi việc được mất, đều là những việc cấp thiết đương thời, Đường Thái Tông bạt dụng từ thứ dân.
Gần đây Trương Tri Bạch dâng thư tâu việc, luận bàn xuất chúng[4], Chân Tông bạt dụng từ chức quan Hà Dương. Hai bề tôi này, có thể nói là có thành tích rõ ràng, gặp thời gặp chủ, có thể nói là phi thường. Nhưng Mã Chu vẫn phải triệu vào Môn hạ tỉnh, năm sau mới được dùng làm Ngự sử lý hành. Trương Tri Bạch được triệu về tâu đối hợp ý, cũng phải thí nghiệm ở Xá nhân viện, sau đó mới được trao chức Chánh ngôn.
Không như Lý Định là chức quan xa xôi, vốn không có tiếng tăm, chỉ nhờ quan gián nghị luận tiến cử, được triệu đối một lần, liền được bạt dụng, thực sự e rằng những người tài biện trong thiên hạ nghe tin, đều sẽ nghĩ cách chạy theo quyền thế, mong được tiến cử, cửa này một khi mở ra, chưa chắc đã là phúc cho quốc gia. Mong bệ hạ lắng nghe dư luận, hoặc hỏi ý các cận thần, nếu cho rằng tài năng của Lý Định thực sự xứng đáng với sự bạt dụng đặc biệt của bệ hạ, thì thần xin nhận tội nói càn; nếu lời thần không sai, xin hãy trao cho một chức quan khác, đặt ở kinh sư, đợi đến lúc thấy rõ thực tài, rồi tiến dụng cũng chưa muộn. Như vậy, không chỉ việc chức sự của thần được hoàn thành, mà còn có thể bồi dưỡng tài năng của Lý Định, tránh được những lời bàn tán sau này.”
Vua liền muốn cách chức Tụng, bổ nhiệm người khác làm Tri chế cáo để soạn chiếu. An Thạch xin tạm hạ chỉ sai soạn, nếu còn cố tấu thì mới thi hành. Bấy giờ Tăng Công Lượng xin giao cho Đại Lâm cùng soạn. Hàn Giáng nói: “Chỉ là Tụng kiến nghị, khó giao cho Đại Lâm.” Công Lượng nói: “Tụng muốn như vậy.” An Thạch nói: “E rằng Đại Lâm không chịu soạn, sẽ làm chậm trễ thánh chỉ.” Bèn giao thẳng cho Tụng. Tụng lại từ chối vì không hợp lý, nên lại giao cho Đại Lâm, Đại Lâm cũng trả lại, do đó mới có lời trách.
Khi Đại Lâm và Tụng chưa bị trách, có chiếu thúc Thái Diên Khánh ở Trực Xá nhân viện nhận chức, đến khi trách Đại Lâm, Diên Khánh liền soạn chiếu cho Lý Định, sau khi dâng lên, lại tâu xin bãi bỏ. Tri Thông tiến Ngân đài ty Tôn Cố hai lần phản đối, cuối cùng vẫn thi hành.
(Việc này căn cứ theo 《Nhật ký của Tư Mã Quang》 và 《Ngự tập》. 《Ngự tập》 quyển 152, Tri Ngân đài ty kiêm Môn hạ phản đối sự Tôn Cố tâu: “Thần nghe nói có chỉ cách chức Lý Đại Lâm, Tô Tụng khỏi chức Tri chế cáo, Thái Diên Khánh chưa dám soạn lời. Đại Lâm và Tụng trước đây vì bổ nhiệm tuyển nhân Lý Định làm Giám sát Ngự sử lý hành, theo lệ cũ trình bày việc bổ nhiệm không đúng, không dám tự ý thay đổi. Mong bệ hạ khoan dung trách phạt Đại Lâm và Tụng, mà đặc biệt nghe theo lời thỉnh cầu của Diên Khánh, thật là may mắn vô cùng.” Ngự phê: “Thái Diên Khánh vốn không từ chối soạn lời, và Tô Tụng cũng không bàn về Lý Định, chỉ là tội họ phản đối kháng mệnh, để khanh biết, hãy nhanh chóng ban hành.” Cố lại tâu trình, ngự phê: Trong chiếu đã nêu rõ tội trạng, không còn gì phải nghi ngại, hãy nhanh chóng ban hành.
《Ngữ lục của Hàn Quán, Lưu An Thế》 nói Chương Hoành soạn chiếu cho Lý Định, là sai. Hoành đến tháng 12 năm thứ 8 mới làm Tu chú. Án: Ba người Tống Mẫn Cầu bị cách chức, thiên hạ gọi là “Tam Xá nhân”. Nhưng Mẫn Cầu bị cách chức vào tháng 4, Tụng và Đại Lâm vào tháng 5, tuy cùng việc nhưng khác thời gian, 《Tục Cương mục》 và 《Tống sử》 đều ghi sai.)
[23] Chiếu rằng các cung quán như Động Tiêu cung ở Hàng Châu, Trượng Nhân quán ở Vĩnh Khang quân, Minh Đạo cung ở Bạc Châu, Vân Đài quán ở Hoa Châu, Vũ Di quán ở Kiến Châu, Sùng Đạo quán ở Đài Châu, Ngọc Cục quán ở Thành Đô, Tiên Đô quán ở Kiến Xương quân, Thái Bình quán ở Giang Châu, Ngọc Long quán ở Hồng Châu, các miếu Ngũ Nhạc, miếu Hưng An Vương ở Thái Nguyên phủ, từ nay trở đi đều theo quy chế của Sùng Phúc cung ở Tung Sơn và Linh Tiên quán ở Thư Châu, đặt chức Quản câu hoặc Đề cử quan. Lúc đó, vì các quan từng trải qua chức Giám ty, Tri châu, có người già yếu không đảm đương được chức vụ, nên cho giữ chức nhàn. Vương An Thạch cũng muốn dùng cách này để xử trí những người có ý kiến khác biệt, nên tăng thêm số lượng quan viên các cung quán.
(“Chu bản” chép đã bỏ đi việc Vương An Thạch muốn xử trí những người có ý kiến khác biệt, lại giải thích rằng việc này là để mọi người được thuận tiện về quê hương, đồng thời thể hiện ân điển đối với người già. Nay dùng lại bản gốc.)
[24] Chiếu lấy phép chia cấm quân thành năm bộ để kiểm soát và quản lý sương quân. (Việc này ghi trong 《Hội yếu》 ngày 14 tháng 5 năm [Thiên Hy] thứ 3, nay dựa theo 《Binh chí》 để bổ sung thêm.)
[25] Ngày Giáp Thìn, chiếu rằng gần đây đã thiết lập Chế trí tam ty Điều lệ ty, vốn để điều hòa và thông suốt lợi ích tài chính trong thiên hạ, nay đại cương đã được thực hiện, chỉ cần dốc sức ứng phó để đạt thành hiệu quả, nên bãi bỏ và trả về Trung thư. Trước đó, Văn Ngạn Bác và các quan đều xin bãi bỏ Chế trí Điều lệ ty. Vua nói với Ngạn Bác: “Đợi khi các ý kiến dị nghị lắng xuống, sẽ bãi bỏ.” Vua không muốn vội bãi bỏ vì sợ làm tổn thương ý của Vương An Thạch. Sau khi bãi bỏ, Vua lại dùng thủ trát để dụ bảo An Thạch. Các việc thi hành của hữu ty kết thúc sau một thời gian dài mới bãi bỏ. Các lại nhân thuộc Trung thư được bổ làm Đường hậu quan ngoài ngạch, thuộc Xu mật viện thì làm Phó thừa chỉ, các quan Câu phúc ở tam ty đều được thăng làm Cung phụng quan.
(“Chu bản” có ghi chú: “Xét lại chỉ huy, việc bãi bỏ cơ quan đã có từ trước, nhưng sau đó lại có việc xin thỉnh, nên bổ sung thêm câu ‘hữu ty kết tuyệt sở thi hành sự cửu chi, nãi bãi’. Bản mới đã bỏ đi, nay khôi phục lại.” Vua từ lâu muốn bãi bỏ, nhưng sợ làm tổn thương ý của Vương An Thạch và lời nói với Văn Ngạn Bác, cùng với ân điển cho lại nhân, đều dựa theo 《Nhật ký》 của Tư Mã Quang để chỉnh sửa.)
[26] Ngày Ất Tỵ, Long Đồ các trực học sĩ, Binh bộ thị lang, Tập Hiền điện tu soạn Hà Đàm được cử làm đề cử Thành Đô phủ Ngọc Cục quán, vì bệnh cũ. Đàm bèn xin về hưu, được phong làm Thượng thư hữu thừa. Trước đây, Văn Ngạn Bác bàn việc bổ nhiệm chức cung quan là không đúng, như Hà Đàm vốn là chức lưỡng chế, lại sai làm đề cử Ngọc Cục quán, Đàm tuy không biết xấu hổ, nhưng triều đình không nên làm như vậy.
Vương An Thạch nói: “Như Đàm, đã già yếu bệnh tật không thể làm việc, bèn chịu về hưu, như vậy chẳng phải là tốt sao? Nếu không chịu, mà triều đình ép buộc bãi chức, thì đối với tình cảm của mọi người, có thể xem như đối xử với quần thần là bạc bẽo. Nếu để họ cai quản châu quận, thì lại bỏ bê công việc, hại đến dân chúng, nên mới đặt nhiều chức cung quan, để họ hưởng bổng lộc mà không gây hại. Hơn nữa, đề cử cung quan ở ngoài cũng không có gì khác biệt, sao đủ để xấu hổ. Từ khi tăng thêm chức cung quan, những người già yếu, bệnh tật đã đến nhận chức rất nhiều, giảm bớt việc tuyển chọn quan lại thanh liêm ở châu quận, cũng không phải là không có ích.”
Đàm làm Ngự sử, bàn việc thẳng thắn không kiêng nể gì, được Nhân Tông biết đến, nhưng về già lại hơi nhút nhát, không được như lúc đầu. Khi ở Tử Châu, nhân có động đất, bèn nói rằng âm thịnh thần cường, chê trách Hàn Kỳ. Lại xin triệu hồi Vương Đào, để hợp ý Vua. Đến khi già bệnh, vẫn hy vọng được dùng lại, Vua nhiều lần coi thường, ban đầu chỉ định cho về hưu với chức cũ, Vương An Thạch nói, phong làm Hữu thừa đã là không hậu, bèn phong làm Hữu thừa.
(Đàm về hưu với chức Hữu thừa vào ngày 11 tháng 6, nay theo sách cũ, ghi chép lại.)
[27] Chiếu cho Hình Thứ, nguyên là Chủ bạ huyện Vĩnh An, Hiệu thư Sùng Văn Viện, được bổ nhiệm làm Tri huyện thí hàm ở địa phương gần. Trước đây, người ngoài đồn rằng sẽ lấy tân tiến sĩ làm Hiệu thư. Lục Điền từng theo học Vương An Thạch; Trương An Quốc, người Vô Vi, là khách của An Thạch; Lữ Thăng Khanh là em của Huệ Khanh, đều là những người bị người ngoài chỉ trích. Do đó, Tri gián viện Hồ Tông Dũ tâu: “Theo lệ cũ, Hiệu thư Sùng Văn Viện nếu chưa từng làm quan ngoài, hoặc chưa đủ nhiệm kỳ, thì không được tuyển cử. Trước đây, Hình Thứ được bổ nhiệm làm Hiệu thư vì là tân tiến sĩ, do triều đình chưa có quy định. Gần đây nghe nói các tân tiến sĩ nhân cơ hội này chạy chọt quyền thế, tìm cách mưu cầu lợi ích. Xin từ nay phải trải qua một nhiệm kỳ mới được bổ nhiệm.” Vua nói: “Đâu có việc này?” Rồi hạ lệnh bãi chức Hình Thứ. Thứ vốn được Lữ Công Trước tiến cử, mà An Thạch đang ghét Công Trước, nên nhân lời Tông Dũ mà có lệnh này.
(Ngày 3 tháng 11 năm Hi Ninh thứ 2, Thứ lần đầu làm Hiệu thư; đến ngày Kỷ Tỵ tháng 3 năm thứ 10, Thứ lại làm Hiệu thư, sự việc này có thể tra cứu trong bản truyện.)
[28] Tả Vệ tướng quân, Phò mã đô uý Trương Đôn Lễ được bổ nhiệm làm Thứ sử châu Quang.
[29] Ngày Bính Ngọ, chiếu chỉ cho Viện Trực xá nhân chỉ xét theo thứ tự bản chức, đợi khi chức Tri chế cáo không khuyết thì bãi. Ban đầu, Vương Ích Nhu tự cho mình là Tri chế cáo, sau Vua cho rằng văn từ của Ích Nhu không hay, nên có lệnh này. (Việc này căn cứ vào 《Nhật lục》 và 《Nhật ký》 mà sửa chữa.)
[30] Công bộ Lang trung, Quyền phát khiển Diêm thiết phó sứ Trầm Khởi, và Độ chi Viên ngoại lang, Quyền Hà Bắc chuyển vận phó sứ Lữ Đại Phòng đều được bổ nhiệm làm Trực xá nhân viện.
[31] Điều lệ ty tâu rằng, phép thường bình mới nên giao cho Ty Nông tự, xin chọn quan chủ trì, kiêm quản việc ruộng đất, sai dịch và thủy lợi. Bèn sai Thái tử Trung doãn, Tập hiền Hiệu lý Lữ Huệ Khanh cùng phán xử Ty Nông tự, Bí thư thừa, Tập hiền Hiệu lý, đồng phán tự Hồ Tông Dũ đổi sang kiêm phán, đợi khi có hai chế có thể sai phái, thì đổi sai một người.
(Tương Tĩnh viết 《Lữ Huệ Khanh gia truyền》 rằng: Tháng 5 năm thứ 3, kiêm phán Ty Nông tự. Trước đây, từ niên hiệu Thuần Hóa, bắt đầu đặt kho thường bình, mua rẻ bán đắt. Đến năm Tường Phù thứ 6, hợp nhất kho của hai huyện Khai Phong và Tường Phù thành kho thường bình tại kinh, lương thực qua hai năm thì dùng làm quân lương, còn loại mới tốt thì đóng dấu cất giữ. Nhưng chính sách mua bán lâu ngày bị bỏ bê, Lữ Huệ Khanh bèn xin dùng số lương thực đã đóng dấu hiện có trong Ty Nông tự, đổi lấy gạo mới của Phát vận ty, gửi vào các kho để quản lý. Khi vật giá lên xuống, thì mua bán theo phép cũ, để ổn định giá thị trường, bắt đầu thực hiện từ ngày 1 tháng 9.
Huệ Khanh tâu rằng, phép sai dịch ở các châu huyện lâu nay đã thành tệ nạn, những nhà phải chịu dịch nặng thậm chí bị phá sản, còn những kẻ may mắn thì không phải chịu dịch nào. Có các loại như nha tiền, thừa phù, tán tòng, các loại dịch vụ khác nhau, tệ nạn càng nghiêm trọng, không thể kể xiết. Do đó, triều đình đặt ra cơ quan để xem xét lợi hại, và gửi văn bản đến Điều lệ ty để xem xét kỹ, Ty Nông tự thực sự kiêm quản việc này. Lữ Huệ Khanh cho rằng, nay muốn bỏ đi những tệ nạn cũ, khiến dân chúng vui lòng theo, nhưng những người được ưu đãi là những người dân quê mộc mạc không thể lên tiếng; còn những người bị cắt giảm là những hào hộ làm quan kiêm nhiều việc dễ bị người ta nói xấu; cho đến các nha ty, quan huyện đều lo sợ không thể thi hành được những thủ đoạn gian xảo. Việc thực hiện phép mới, càng không thuận tiện. Quan lại vừa không hiểu rõ ý pháp, lại bị lung lạc bởi nhiều lời nói, như xây nhà giữa đường bàn mưu, khó mà thành công. Do đó, ông soạn tờ tâu trình bày rõ cách thức thực hiện, rất chi tiết, gửi hịch đến các lộ Giám ty, bảo họ thực hiện theo phép, cuối cùng bãi bỏ phép sai dịch.
Lệnh cho các hộ phải chịu dịch đóng góp theo thứ bậc, gọi là “tiền miễn dịch”. Còn tất cả các dịch vụ thì thuê người làm, tùy theo mức độ nặng nhẹ của dịch vụ mà trả tiền. Các hộ phường quách theo thứ bậc[5] và những người chưa thành đinh[6], đơn đinh, nữ hộ, chùa chiền, nhà quan lại, trước đây không phải chịu dịch vụ nào, đều phải đóng góp theo thứ bậc, gọi là “tiền trợ dịch”. Ngày 1 tháng 10 năm thứ 4, bèn ban hành phép mộ dịch.)
[32] Tỷ bộ lang trung, kiêm chức Đề cử Giang Nam Tây lộ Thường bình đẳng sự Vương Trực Ôn được quyền làm Đề điểm hình ngục của bản lộ, vẫn kiêm chức Đề cử Thường bình như cũ. Việc Đề điểm hình ngục kiêm Đề cử Thường bình bắt đầu từ Vương Trực Ôn. (Tháng này lại bổ nhiệm Đổng Nghi, nay bỏ đi, chỉ ghi lại sự việc bắt đầu.)
[33] Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Vương Khuê tâu rằng: “Thời Anh Tông, việc khảo xét văn thần đã kéo dài thành bốn năm, so với thời hạn của võ thần tương đương, vì thế võ thần không thể kéo dài thêm nữa. Xin từ nay, những người đang giữ chức Thứ sử, Đoàn luyện, Phòng ngự sứ trở lên, nếu chưa đủ mười năm thăng quan, mà không có công trạng rõ rệt, gặp ân điển đặc biệt, chỉ được điều chuyển đổi châu trấn. Trong vòng mười năm nếu có phạm lỗi, vẫn theo quy định của văn thần mà kéo dài thời hạn.” Được chấp thuận.
[34] Ngày Đinh Mùi, ban chiếu rằng: “Tiền Thanh miêu giao cho các lộ Chuyển vận, Khai Phong phủ giới Đề điểm, Đề cử ty, mỗi năm cân nhắc để lại tiền và thóc, phòng khi cần cứu tế hoặc bán ra[7], ngoài ra không hạn chế thời gian, chỉ làm một đợt phát ra, sau đó thu lại một đợt hoặc hai đợt, để thuận tiện cho dân; nếu ai muốn chia làm hai đợt xin[8], cũng được chấp thuận.” Tư Mã Quang nói: Vương Quảng Liêm ở Hà Bắc, dân không thể trả nợ đợt xuân, bèn phát thêm đợt thu để họ trả[9], dân nhận ở sảnh Tri huyện, liền nộp ở sảnh Chủ bạ. Việc này cần xem xét thêm.
[35] Bãi bỏ chức Quản câu ở Mục thân trạch, Quảng thân trạch và chức Đề cử ở các trạch của quận huyện chủ, giao về cho Đại tông chính ty, theo lời thỉnh cầu của Tri tông chính thừa Trương Trĩ Khuê. Trước đây, mọi hành động của tông thất đều bị các nội thần quản câu khống chế, Trĩ Khuê mới xin bãi bỏ việc này, Vua ra lệnh bãi bỏ luôn chức Đề cử ở các trạch của quận huyện chủ. (Việc nội thần quản câu khống chế, căn cứ theo 《Nhật ký》 của Tư Mã Quang.)
[36] Ngày Canh Tuất, Trứ tác tá lang Trương Hổ được cử làm Biên tu Trung thư điều lệ. Hổ là cháu của Trương Kịp. (《Mộ chí》 của Hổ do Vương Tồn soạn, 《Thực lục》 thiếu truyện.)
[37] Xuống chiếu rằng Âu Dương Tu không hợp lệ khi không tấu trình xin chỉ thị của triều đình, tự ý ngừng phát tiền Thanh miêu, đặc cách tha tội.
[Âu Dương] Tu ở Thanh Châu thường dâng sớ nói: “Thần thấy chế độ mới của triều đình, từ khi phát tiền Thanh miêu, dư luận trong ngoài đều cho là bất tiện, nhiều người xin bãi bỏ, nhưng đến nay vẫn chưa được xem xét. Thần xin trình bày ba việc:
Thứ nhất, người bàn luận nói rằng việc lấy lợi từ dân qua tiền Thanh miêu là không đúng, triều đình rất ghét ý kiến này, đến nỗi phải nhọc lòng Thánh từ sai quan thuật lại đầu đuôi, giải thích cặn kẽ cho trong ngoài biết rằng triều đình vốn có ý tốt với dân. Nhưng sau khi giải thích, các bậc sĩ phu càng bàn tán nhiều hơn. Còn dân chúng nơi thôn quê, ngu dốt vốn không biết Chu quan tuyền phủ là gì, chỉ thấy quan phát tiền vay, mỗi trăm đồng lấy hai mươi đồng lãi, nên dù giải thích nhiều cũng không thể hiểu được. Thần cũng cho rằng cùng là lấy lợi, không cho lấy ba phần mà cho lấy hai phần, đó là như Mạnh Tử nói ‘lấy năm mươi bước cười trăm bước’. Theo ý thần, nếu muốn thiên hạ hiểu rõ rằng lấy lợi không phải là ý của triều đình, thì xin bỏ lãi hai phần, chỉ thu lại số vốn ban đầu, như vậy mới là không lấy lợi. Vì lãi hai phần, nếu cho là được nhiều ư? Thì không thể lấy nhiều của dân; nếu được không nhiều ư? Thì chút lợi nhỏ có đáng gì. Cần gì phải vì việc này mà làm vướng bận đến chính sự của Thánh thượng?
Thứ hai, xét kỹ chỉ dụ ban ra trước đây, nếu thiên tai gây thiệt hại từ năm phần trở lên, thì tiền thanh miêu của vụ hạ sẽ được nộp vào vụ thu, tiền thanh miêu của vụ thu sẽ được nộp vào vụ hạ năm sau[10]. Thần trộm nghĩ rằng năm được mùa hay mất mùa vốn không thể xác định trước, trong đó năm được mùa thường ít, còn năm mất mùa thường nhiều. Chỉ dụ hiện nay chỉ nói đến trường hợp thiên tai xảy ra trong một vụ. Nếu liên tiếp gặp hai ba vụ hạn hán hoặc lũ lụt, thì tiền thanh miêu sẽ bị tồn đọng và nợ đọng nhiều; lại nếu vừa gặp năm được mùa, lại phải nộp dồn một lúc, thì dân chúng sẽ không bao giờ có năm được mùa nữa.
Đến như những năm được mùa vừa và nhỏ[11], không đủ mức thiệt hại do thiên tai, phải nộp trong vụ đó[12], hoặc do dân không có khả năng, hoặc do gian manh trì hoãn, vụ đó chưa nộp xong, nếu lại cho vay thêm số tiền của vụ sau, thì nợ đọng sẽ càng nhiều, chắc chắn khó mà thu hồi.
Thần nay xin rằng những hộ gặp thiên tai, chưa nộp xong vụ đó, và những hộ không có khả năng hoặc gian manh trì hoãn không nộp, đều không được cho vay thêm tiền của vụ sau[13]. Như vậy, dân sẽ tránh được tồn đọng và nợ đọng, châu huyện sẽ tránh được việc dùng roi vọt để thúc giục, tiền công sẽ tránh được tồn đọng và thất thoát.
Thứ ba, thần nghe các nghị viên phần nhiều cho rằng việc bắt ép dân chúng là mối lo, nên triều đình nhiều lần ban chỉ dụ, nghiêm cấm quan lại các châu huyện không được bắt ép dân chúng[14]. Tuy nhiên, các lộ đều có quan đề cử, quản câu đi lại thúc giục, nhất định phải phân phát hết tiền mới thôi. Triều đình tuy ra lệnh cho châu huyện không được bức bách dân chúng xin tiền, nhưng các quan đề cử lại thúc giục phân phát hết số tiền, nên các quan đề cử cho rằng không thúc giục được việc phân phát hết tiền là thất chức, còn quan lại châu huyện cũng cho rằng không phân phát hết tiền là lười biếng, bất tài. Trên dưới đều phải đốc thúc, trách phạt lẫn nhau, đó là do tình thế bắt buộc, ai cũng không thể làm khác. Vì vậy, nếu chỉ trách cứ riêng châu huyện về việc bắt ép dân chúng thì khó mà hợp lý.
Theo ý thần, xin trước hết bãi bỏ các chức quan đề cử, quản câu, không để họ thúc giục, sau đó mới có thể trách cứ châu huyện không được bắt ép dân chúng[15]. Số tiền phân phát, tùy theo ý nguyện của dân, giao hẳn cho châu huyện tùy số lượng nhiều ít mà phân phát, không cần phải hết, cũng không cần phải bắt mọi hộ dân trong huyện đều xin[16]. Làm như vậy, tự nhiên sẽ không còn mối lo về việc bắt ép dân chúng nữa.
Thần không thể nhìn xa trông rộng, chỉ thấy trước mắt như vậy. Tuy nhiên, việc bàn luận về chính sách Thanh Miêu đã gây xôn xao trong và ngoài triều từ lâu, các quan xin dừng bãi không thể kể xiết, những điều họ trình bày về lợi hại lâu dài hẳn đã đầy đủ và không thiếu sót. Một ngày nào đó, bệ hạ bỗng tỉnh ngộ, tiếp thu ý kiến của quần thần, thu hồi chế độ mới, bãi bỏ tất cả để thuận tiện cho công tư, đó là điều may mắn của thiên hạ. Nếu lời nói trong và ngoài tuy nhiều mà vẫn chưa lay động được thánh thính, thì trong những pháp lệnh đang thi hành bất tiện, có ba việc này đặc biệt liên quan đến lợi hại trước mắt, kính mong bệ hạ đặc biệt xem xét lựa chọn.”
Lại tấu: “Xét thấy năm nay lúa mạch vừa mới chín, chưa thu hoạch, đã đến tháng năm, lại phải phân phát tiền thuế [mùa] thu.
Vì tiền thuế [mùa] hạ đã phát tiền nhưng chưa có một hộ nào nộp[17], nếu lại phát tiền thu liệu[18], e rằng sẽ tích tụ nợ đọng, uổng phí mất tiền quan.
Thần đã chỉ huy các châu quân trong lộ, đều lệnh chưa được phát tiền thu liệu, đợi chỉ huy của triều đình. Thần suy nghĩ, ngoài việc thần vừa xin tạm không phát thứ liệu đối với những hộ bị thiên tai chưa nộp và nợ đọng, thần nay còn có ý kiến ngu muội, không dám im lặng. Thần thấy từ khi phát tiền thanh miêu, các nghị sĩ đều cho rằng việc lấy lợi là không đúng, triều đình rất ghét ý kiến đó, bèn ra lệnh cho các cơ quan trình bày giải thích, lời nói tuy nhiều nhưng không tránh khỏi việc lấy lợi. Tuy nhiên, vẫn có một ý kiến cho rằng mục đích là để làm lợi cho dân.
Theo ý thần, nếu tiền hạ liệu được phát vào mùa xuân, lúc đó còn là thời điểm giao thời giữa xanh và vàng, tuy không phải hộ nào cũng thiếu thốn, nhưng trong đó có thể có những hộ không đủ, coi đó là chính sách nhân từ, còn có thể nói được. Nếu tiền thu liệu được phát vào tháng năm, lúc tằm và lúa mạch đã chín, dân không thiếu thốn, thì sao gọi là cứu giúp? Chỉ là cho vay lấy lợi mà thôi. Nếu hai loại lúa mạch không được mùa, thì tiền hạ liệu còn thiếu, sao có thể lại phát tiền thu liệu, khiến dân tích tụ nợ đọng? Vì vậy, tiền thu liệu có thể bãi bỏ không phát. Mong sớm ban chỉ huy.”
Trung thư nói rằng Âu Dương Tu tự ý ngừng cấp tiền thanh miêu, muốn đặc biệt không hỏi tội. Vương An Thạch bàn rằng Tu hoàn toàn không hiểu thể chế phiên trấn, bèn hạ chiếu này.
Trước đó, Vua lại muốn dùng Tu làm chấp chính, hỏi Vương An Thạch rằng Tu so với Thiệu Kháng thế nào, An Thạch nói: “Tu không thể so với Kháng.” Lại hỏi so với Triệu Biện thế nào, An Thạch cho rằng Tu hơn Biện. Một hôm khác lại hỏi so với Lữ Công Bật thế nào, ý Vua muốn dùng Tu thay Công Bật. An Thạch nói Tu hơn Công Bật. Lại hỏi so với Tư Mã Quang thế nào, An Thạch cũng nói Tu hơn Quang. Vua bèn muốn dùng Tu. An Thạch nói: “Bệ hạ nên triệu đối, bàn luận việc thời sự, xem xét kỹ việc ông ấy ở triều đình có bổ ích hay không.” Bèn sai nội thị Phùng Tông Đạo, ban cáo sắc Thái Nguyên, dụ lệnh đến triều kiến rồi nhậm chức. An Thạch lại nói: “Tính hạnh của Tu tuy tốt, nhưng thấy việc thường trái lý. Bệ hạ dùng Tu, Tu vốn không hiểu hết lý lẽ, có người có thể làm mê hoặc tai mắt ông ấy, bệ hạ nên loại bỏ những kẻ này.” Vua hỏi ai thân thiết với Tu, lâu sau nói: “Tu thích người có văn chương.” An Thạch ám chỉ Tô Thức, Vua đã ngầm hiểu.
Hôm sau, An Thạch lại tâu Vua: “Bệ hạ muốn dùng Tu, nhưng Tu thấy việc thường trái lý, e rằng làm hỏng việc bệ hạ muốn làm.” Vua lo không có người dùng, An Thạch nói: “Nên dùng người bình thường không gây trở ngại.” Vua nói: “Cũng phải dùng người chịu làm việc.” An Thạch nói: “Chịu làm việc vốn tốt, nhưng nếu việc muốn làm trái lý, sẽ làm hỏng việc bệ hạ muốn làm; lại nữa, bệ hạ mỗi việc không khỏi bị lôi kéo bởi dư luận, nếu bị lôi kéo, sẽ mất thời cơ, đó là lý do thần không thể không lo trước.” Lúc đó đã bổ Tu làm Tuyên Huy Nam Viện Sứ, phán Thái Nguyên phủ (ngày 12 tháng 4). Vua nói: “Đợi Tu đến sẽ bàn tiếp.” Do đó An Thạch biết Tu quyết không theo mình, càng chê bai rằng: “Thần từng nói Tu ở triều đình chắc chắn không bổ ích gì cho thời sự, chỉ khiến những người có ý kiến khác theo ông ấy, càng thêm rối ren.”
Một hôm Vua bàn về văn chương, cho rằng từ hoa mỹ vô dụng, không bằng tài năng quan lại có ích. An Thạch nói: “Từ hoa mỹ thật vô dụng, có tài năng quan lại thì có thể trị người, người được lợi. Nếu theo đuổi từ ngữ phóng túng mà không hiểu đạo, chỉ đủ làm loạn phong tục hại lý lẽ. Như Âu Dương Tu, văn chương của ông ấy ngày nay thật xuất sắc, nhưng không hiểu kinh, không biết nghĩa lý, phỉ báng Chu Lễ, hủy báng Hệ Từ, các học sĩ bị ông ấy làm sai lạc gần đến chỗ đại hoại.” Lúc đó Tu đang cố từ chối mệnh mới, Vua chưa cho phép. Ngày Tân Mão mùng 3 tháng 7, cho phép từ chối chức Tuyên Huy, Thái Nguyên.
[38] Chiếu lấy bốn người quan triều đình từng trải qua chức thông phán, tri huyện, phân chia cai quản hai bên tả hữu sương của thành cũ và thành mới thuộc Khai Phong phủ. Phàm các vụ kiện tụng, hình phạt trượng từ 60 trở xuống, nếu tình tiết nhẹ thì được tự quyết định; cùng các việc nợ nần, hôn nhân mà hai bên chủ thể đối chất trực tiếp, cũng giao cho xử lý. Các sứ thần được sai phái trước đây đều bãi bỏ. Theo lời thỉnh cầu của quyền tri Khai Phong phủ Hàn Duy.
[39] Hoàng thành sứ, Khai Châu đoàn luyện sứ Thẩm Duy Cung bị trừ danh, đày đến Quỳnh Châu; tiến sĩ Tôn Phỉ bị xử tử. Duy Cung là em của Quý phi họ Thẩm, cháu của tể tướng cũ Thẩm Luân. Phỉ là người Khai Phong, môn khách của Duy Cung. Duy Cung vì xin ân trạch không được nên bất mãn, thường nói với Phỉ: “Hoàng tử sinh ra, ắt không sống lâu.” Lời nói có ý chú trớ; lại mượn lời người khác chỉ trích hoàng thượng để nói với Phỉ. Phỉ nịnh ý Duy Cung, mỗi lần gặp đều chê bai thời sự, cũng từng chỉ trích hoàng thượng. Sau lại giả mạo chương sớ của Tư Mã Quang trình bày năm việc, đưa cho Duy Cung xem, lời lẽ rất bất kính. Duy Cung đưa cho người khác, quan Tứ phương quán là Trương Trạch được, đưa cho Cáp môn sứ Lý Bình, Bình tâu lên, nên việc bại lộ. Phỉ đã bị xử tử, những người sao chép khác đều được tha tội.
(Ngày 8 tháng 4, khi Lữ Công Trước bị khiển trách, Ngụy Thái đã ghi chép sai sự việc của Phỉ, đã biện giải ở chỗ khác.
Sách 《Lâm Hi dã sử》 chép: “Ban đầu, Tư Mã Quang gửi thư cho Vương An Thạch, trong triều tranh nhau truyền tụng. An Thạch lo lắng, những ai truyền thư đó thường bị ám hại. Dân gian lại giả mạo thư của Quang, chê bai An Thạch rất nặng, lời lẽ thô tục. Hoàng thượng nghe được, nói với tả hữu: ‘Đây chắc chắn không phải do Quang làm.’ An Thạch tức giận nói: ‘Đây là do Quang thích truyền thư riêng để mua danh, nên dân gian cũng bắt chước, khiến tân pháp bị ngăn trở, dị luận nổi lên, đều do Quang xướng xuất.’ Liền giao xuống ngục tra xét nguồn gốc, thì ra là do môn khách của Hoàng thành sứ Thẩm Duy Cung là Tôn Kỉ làm. Duy Cung thường nói với Kỉ về thời sự, lời nói có liên quan đến hoàng thượng, đùa bảo Kỉ viết thư này để đùa cợt. Khi án xong, quan tòa kết tội Duy Cung chỉ trích hoàng thượng, đày ra hải đảo, Kỉ bị xử tử, để nghiêm cấm dân gian bàn tán riêng. Từ đó, thám tử phân bố khắp kinh thành. Lâm Hi nói Tôn Kỉ chính là Tôn Phỉ.
Từ đây, thám tử phân bố khắp kinh thành, cần phải ghi rõ. Ngày Đinh Mùi tháng giêng năm thứ 5, Tăng Hiếu Khoan nói…”)
[40] Ty Chế trí điều lệ tâu rằng: “Các lộ mua dê để cung cấp cho triều đình, dân chúng phải chuẩn bị gấp mấy lần. Trong khi đó, ở Hà Bắc, chợ quan mua dê của Khiết Đan mỗi năm hàng vạn con, đường xa vận chuyển đến kinh đô thì đều gầy yếu, chết hao hụt, dù nhiều lần thay đổi pháp lệnh cũng không ngăn được, hàng năm tốn kém của công và tư đến hơn bốn mươi vạn quan tiền. Gần đây, ủy thác cho Trứ tác tá lang Trình Bác Văn điều tra lợi hại, Bác Văn chiêu mộ các hộ làm nghề mổ dê, lấy tài sản làm thế chấp, mời người bảo lãnh, quan phủ cấp trước tiền, quy định thời gian, số lượng, cân nặng để cung cấp dê, nhiều người vui vẻ làm theo, nhờ đó đủ dùng cho cả năm. Ngoài việc cung cấp dê cho ngự thiện và tế tự vẫn nuôi riêng như cũ, còn nuôi thường xuyên ba nghìn con dê làm định mức, để phòng khi cần dùng bất thường.” Triều đình nghe theo. Bác Văn đã cắt giảm được bốn phần mười chi phí dư thừa, mọi người đều thấy tiện lợi.
Trước đó, khi trình bày điều lệ, Vua phê rằng: “Đoạn về việc các hộ làm nghề mổ dê tự nguyện giết mổ tại nhà cũng được nghe theo, có thể bỏ đi.” Vì sợ dùng thịt chết để thay thế. Các điều khoản về việc dê rất nhiều, nhưng Vua chỉ xem qua một lần đã thấy ngay điều này, mọi người đều khen ngợi. Bởi vì Vua đối với những tấu báo về lợi hại trong thiên hạ, thường nắm được những điểm tinh yếu như vậy.
(Bản Chu dùng nhật lục để sửa đổi bản cũ, bản mới đều theo bản Chu, nay cũng theo đó.)
[41] Quần mục phán quan Vương Hối dâng lên 12 quyển biên soạn về sắc lệnh của Ty Quần mục, được thi hành. Hối là con của Cử Chính.
[42] Chiếu rằng: Các châu chưa quy định rõ việc kiêm nhiệm chức Kiềm hạt, từ nay về sau, ngoại trừ các châu ở Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây do quan tri châu kiêm chức Kinh lược an phủ sứ và Đô tổng quản, thì các châu Hùng, Thương ở Hà Bắc và Đại, Lộ ở Hà Đông đều kiêm chức Bản châu Trú bạc binh mã Kiềm hạt, các châu quân khác kiêm chức Quản câu Bản châu Trú bạc quân mã công sự, còn các châu do chính nhiệm Phòng ngự sứ, Đoàn luyện sứ trở lên làm tri châu, vẫn theo chế độ cũ. Có thể tham khảo ngày Ất Mão tháng 12 năm Nguyên niên.
[43] Lại chiếu rằng: Các châu quân ở vùng biên giới phía tây Quảng Nam, nếu không có Thông phán hoặc quan kiêm nhiệm chức quan khác, thì chỉ lệnh cho quan tri châu chuyên quản việc Thường bình; việc kiểm điểm tiền lương các huyện, thì sai quan Tào hoặc quan huyện đảm nhiệm.
[44] Ngày Tân Hợi, Kinh Đông An phủ ty tâu: “Tiến sĩ Tô Phi ở ích Đô, Thanh Châu, năm Thiên Thánh thứ 5 từng đến Lễ bộ, sau đó từ bỏ ý định tiến thủ hơn 40 năm, nay đã 76 tuổi, xin ban cho Phi một danh hiệu xử sĩ hợp với ân trạch.” Chiếu ban cho Phi hiệu An Thoái xử sĩ.
[45] Ngày Nhâm Tý, xuống chiếu bãi bỏ nghi thức nhập các. Trước đó, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Vương Khuê tâu: “Xét kỹ, nhập các là nghi thức thường triều ở điện Tử Thần vào ngày lẻ thời Đường. Điện Tử Thần thời Đường giống với hiện nay, còn điện Tuyên Chính thời Đường tức là điện Văn Đức ngày nay. Theo chế độ thời Đường, thiên tử ngồi thiết triều, ắt phải dựng nghi trượng ở chính nha. Nếu chỉ ngự ở điện Tử Thần, thì gọi nghi trượng chính nha từ cửa các phía đông tây điện Tuyên Chính vào, nên gọi là ‘nhập các’. Từ đời Ngũ Đại trở lại đây, bỏ chế độ dựng nghi trượng ở chính nha, nay nghi thức nhập các mà các môn ghi chép, chỉ là nghi thức thường triều thời Đường, không phải là đại lễ, không thể tuân theo.” Vì thế bãi bỏ.
[46] Phát vận sứ lộ Giang, Hoài là Tiết Hướng tâu: “Số gạo thượng cung 620 vạn thạch đã chở đi, số 26 vạn thạch do thương nhân được chiêu mộ chở vào kinh đã vượt định mức, xin tính vào số kế hoạch năm sau.” Theo lời tâu. (Có thể tra cứu ngày 16 tháng 9 năm thứ 2).
[47] Công bộ Thượng thư trí sĩ Lý Đoái mất.
[48] Ngày Đinh Tỵ, Kinh Đông chuyển vận sứ, Công bộ Lang trung, Trực Long đồ các Vương Quảng Uyên được bổ làm Hà Đông chuyển vận sứ. Tăng Công Lượng ban đầu định bổ nhiệm quyền, Vương An Thạch cho rằng Quảng Uyên ở Kinh Đông có công lao, nên chính thức bổ nhiệm. Lại nói: “Quảng Uyên và Chu Mạnh Dương đều làm thị độc, Mạnh Dương đã được làm tu soạn, Quảng Uyên không nên chỉ làm quyền chuyển vận sứ.” Vua nghe theo lời An Thạch, bèn chính thức bổ nhiệm. (Quảng Uyên làm Kinh Đông tào vào ngày 8 tháng 12 năm thứ 2).
[49] Chiếu rằng: “Quốc gia lấy Tây Xu làm nội phụ, giúp đỡ việc binh, trọng trách lớn lao, nhưng theo lệ cũ, từ chức hữu thăng lên triều đình trở lên, đều phải kiêm nhiệm chọn lựa rồi bổ nhiệm. Do đó, Tam công phủ mà phải làm việc của hữu ty, không phải là cách đối đãi xứng đáng với bề tôi thân cận của Trẫm. Nay sứ thần tăng thêm nhiều, nếu không đặt quan lại để quản lý công việc, thì không thể thống nhất pháp chế văn vũ, rèn luyện nhân tài trong ngoài. Nên lấy Thẩm quan viện làm Thẩm quan Đông viện, đặt riêng Thẩm quan Tây viện, cử hai viên quan tri viện, chuyên quản việc khảo xét từ Các môn chi hậu trở lên đến các chức sứ, cùng việc bổ nhiệm thường lệ. Lệnh Hữu gián nghị đại phu, Thiên Chương các đãi chế Tề Khôi làm Tri viện, Binh bộ lang trung Hàn Chẩn làm Đồng tri, lấy nơi làm việc của Thái thường lễ viện làm Thẩm quan Tây viện, còn Lễ viện thì trả về Thái thường tự, đặt riêng cục.”
Trước đó, Vua bàn về việc khảo xét và bổ nhiệm thường lệ của đại sứ thần, muốn giao cho Tam ban. Vương An Thạch và Hàn Giáng cho rằng không bằng lập Tây viện để quản lý, Vua liền hạ lệnh thiết lập, nhưng chưa từng bàn với Xu mật viện. Đến khi Văn Ngạn Bác vào chầu, mới nói việc này không tiện, rằng: “Thường gặp đại sứ thần khi bổ nhiệm, còn lo không biết rõ người ấy, nay giao cho Thẩm quan viện quản lý, thì càng không biết, khi cấp bách khó mà chọn lựa được.” Vua nói: “Muốn biết người, không cần gặp nhiều.” Lại nói: “Như việc của Vương Khánh Dân, Xu mật viện mới cần biết, còn việc bổ nhiệm thường lệ của đại sứ thần có đáng để dự vào không?”
Vương An Thạch nói: “Giảm bớt việc nhỏ mới có thể bàn việc lớn.” Hàn Giáng nói: “Việc này đối với lại dịch Xu mật viện là bất tiện.” Ngạn Bác nói: “Nếu quả đúng như vậy, cũng không cần bàn đến việc lại dịch tiện hay không tiện.”
Ngạn Bác lui ra, Vua bàn tiếp việc Tây viện, An Thạch nói: “Xu mật viện cũng chỉ là do Ngũ đại chia đặt.” Tăng Công Lượng nói: “Muốn chia quyền tể tướng mà thôi.”
Vua nói: “Đời trước loạn lạc, há phải vì không chia đặt Xu mật viện sao?” An Thạch nói: “Kỷ cương tu chỉnh, thị thính không bị che lấp, thì quyền của nhà Vua tự nhiên thống nhất. Nếu không, thì Xu mật viện cũng có thể chuyên quyền, như Sử Hoằng Trác đời xưa vậy. Ngũ đại dùng võ, nên chính sự đều từ Xu mật viện ra, tể tướng chỉ giữ ngôi vị mà thôi, không phải là phép trị nước.” Vì thế ban chiếu này. Người bàn luận cho rằng Hàn Giáng và Vương An Thạch cùng mưu, muốn ngăn trở Văn Ngạn Bác, đoạt quyền của ông, nên đề xuất việc này. Nhưng trước kia việc bổ nhiệm đại sứ thần đều thuộc Xu mật viện, không có thứ tự trước sau, người đương thời cũng lấy làm bất bình. (“lấy làm bất bình”, theo《Tư Mã Quang nhật ký》.)
[50] Hôm đó, Vua nói: “Hàn Chẩn tâu rằng, trong bộ của Vương Khánh Dân, tường thành không tu sửa, vũ khí không sửa chữa, cung thủ phần nhiều là hư danh yếu kém, qua nhiều nhiệm kỳ, liên tục được phủ Nguyên soái tiến cử, triều đình thăng chức không nhất quán, há có thể không xét xử sao?” Định sai quan đi xét xử. Vương An Thạch nói: “Hàn Chẩn là Chuyển vận sứ của bản lộ, tự nhiên phải xét xử, chỉ nên triệu Hàn Chẩn đến để dụ chỉ, bảo ông ấy cử người đi hặc tội.” Lữ Công Bật nói: “Thấy Hàn Chẩn nói vài nơi khí giáp, tường thành không chỉnh tề, nhưng các sứ thần lại làm việc đáng tiếc, nên khó xử tội.” An Thạch nói: “Triều đình muốn lập pháp, thì không thể tiếc nhân tài.”
Vua nói: “Gia Cát Lượng còn có thể chém Mã Tốc, không phải không tiếc tài của Tốc, mà vì không chém Tốc thì pháp không lập được.” An Thạch nói: “Đời trước có người mặc áo trắng nhận chức, nếu có tội đáng bị cách chức phạt tội, nhưng tài năng đáng dùng, vẫn có thể khích lệ, tạm thời cho quyền lĩnh chức cũ cũng không sao. Như vậy, pháp được lập mà nhân tài không bị bỏ phí.” Vua cuối cùng nghe theo lời An Thạch.
[51] Ngày Mậu Ngọ, xây mới dịch trạm Lai Viễn, tu sửa thêm công đường cũ của Mã quân Đô ngu hậu để làm nơi tiếp đón sứ giả nước ngoài. (《Cựu kỷ》 chép việc xây dịch trạm Lai Viễn, 《Tân kỷ》 không chép.)
[52] Tri châu Uất Lâm là Triệu Khuê tâu: “Châu này hàng năm bắt dân đinh chở muối, vận chuyển đến huyện Bắc Lưu, châu Dung để cung cấp cho các châu Dung, Ung… bán ra. Ban đầu quan phủ cấp tiền mua trâu, đóng xe, sau đó trâu chết xe hỏng, đều do dân đinh tự lo liệu. Đến tháng chở muối, mỗi người được cấp 200 tiền, 1 thạch gạo, nhưng lại cấm dùng xe trâu chở vật tư, dân đinh không chịu nổi khổ cực. Xin từ nay, vào tháng không cấp tiền gạo, cho phép dân đinh dùng xe trâu chở vật tư.” Vua đồng ý.
[53] Trước đó, quân sĩ Khổng Dụng thuộc ty Tu nội ban ngày vào nội các ăn trộm đồ vật bằng vàng bạc, Đề cử Tu nội Phó đô tri Trương Nhược Thủy tự nhận tội không phát giác, chiếu tha cho. Tri gián viện Hồ Tông Dũ tâu rằng Nhược Thủy nên bị giáng chức nặng để trừng phạt sự bất cẩn. Chiếu đợi Khai Phong phủ xét án xong sẽ lấy chỉ. Tông Dũ lại tâu rằng Nhược Thủy từng ở Khánh châu, Hàn Giáng vốn kết thân với ông ta, nên ngầm che chở Nhược Thủy. Tông Dũ bị cách chức, xét thấy Tông Dũ vì can gián việc chia tách Thẩm quan Tây viện là không tiện, lại nói Lý Định không có tài nên bị cách chức, không phải vì việc này. Nhược Thủy cuối cùng không bị hỏi tội.
[54] Có người dâng thư nói: “Tông thất giữ chức Thứ sử trở lên được phép sai phái Điện thị hoặc Tam ban Sai sứ, Điện thị chi ứng; còn lại các tông thất được bổ nhiệm Điện thị, xin lấy Thân sự, Liễn quan và quân đội cấp cao bổ sung, các chức Thư biểu, Trạch án, Khách ty cũng xin cắt giảm.” Chiếu giao Đại tông chính ty định đoạt rồi tâu lên.
(Chu bản thiêm thiếp nói: Việc nhỏ lại không thấy thi hành, nên bỏ đi. 《Lý Đức Thập triều cương yếu》 chép: Tháng này, người Hạ đại quân xâm phạm Khánh châu, xây dựng thành Nạp Cán, Tri Khánh châu Lý Phục Khuê sai Kiềm hạt Lý Tín đánh, bị thua trở về. Phục Khuê lại sai tướng Lương Tòng Cát đánh các trại Kim Thang, Bạch Báo của người Hạ, phá được.)
- Chưa đến triều, theo lệ trên, có lẽ thiếu chữ ↵
- Nếu chưa từng giữ chức Thông phán thì phải có chỉ đặc biệt mới được tiến cử làm Lí hành. Sáu chữ 'nếu chưa từng giữ chức Thông phán' vốn bị thiếu, căn cứ theo 《Tô Tụng Tô Ngụy Công Văn Tập》 quyển 16, tờ 《Chước Lý Định Từ Đầu Trát Tử》 bổ sung. ↵
- Bỏ rơi nơi thôn dã không được dùng. Chữ 'bỏ' nguyên bản là 'khởi', căn cứ theo bản trong các và sách trên sửa lại. ↵
- Luận bàn xuất chúng: 'Nghị' nguyên là 'Nghĩa', theo 《Tô Ngụy Công Văn Tập》 sửa lại. ↵
- chữ 'đẳng' trong 'phường quách đẳng đệ hộ' vốn thiếu, theo 《Tống sử》 quyển 177, 《Thực hóa chí》 bổ sung ↵
- chữ 'vị' trong 'vị thành đinh' vốn thiếu, theo sách trên bổ sung ↵
- chữ 'thiếu' nguyên là 'địch', theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 53-10 sửa lại. ↵
- bốn chữ 'liệu' nguyên đều là 'khoa', theo sách trên sửa lại. ↵
- hai chữ 'liệu' nguyên đều là 'khoa', tham khảo 《Tống sử》 quyển 176, Thực hóa chí sửa lại. ↵
- Bốn chữ 'liệu' trong câu 'tiền thanh miêu của vụ hạ sẽ được nộp vào vụ thu, tiền thanh miêu của vụ thu sẽ được nộp vào vụ hạ năm sau', và các chữ 'liệu' trong câu 'một vụ', 'hai ba vụ' ở phần sau, nguyên văn đều viết là 'khoa', sửa lại theo 《Âu Dương Văn Trung Công Văn Tập》 quyển 114, tờ tấu thứ nhất về tiền thanh miêu. ↵
- Chữ 'chí' trong câu 'đến như những năm được mùa vừa và nhỏ' nguyên văn bị thiếu, bổ sung theo sách đã dẫn. ↵
- Chữ 'hợp' trong câu 'phải nộp trong vụ đó' nguyên văn viết là 'lệnh'; các chữ 'liệu' trong câu 'vụ đó', 'vụ sau' nguyên văn đều viết là 'khoa', sửa lại theo sách đã dẫn. ↵
- Chữ 'canh' trong câu 'đều không được cho vay thêm tiền của vụ sau' nguyên văn bị thiếu, chữ 'liệu' nguyên văn viết là 'khoa', bổ sung và sửa lại theo sách đã dẫn. ↵
- Không được bắt ép dân chúng, chữ 'được' nguyên bản là 'phải', theo sách trên sửa lại ↵
- Sau đó mới có thể trách cứ châu huyện không được bắt ép dân chúng, chữ 'mới' nguyên bản là 'được', theo sách trên sửa lại ↵
- Mọi hộ dân đều xin, chữ 'xin' nguyên bản là 'thanh', theo sách trên sửa lại ↵
- lại hợp phát tiền thu liệu, vì tiền hạ liệu đã phát nhưng chưa có một hộ nào nộp, hai chữ 'liệu' nguyên đều viết là 'khoa', căn cứ theo sách trên cùng quyển nói về thanh miêu đệ nhị trát tử mà sửa. ↵
- nếu lại phát tiền thu liệu, chữ 'thu' nguyên bản thiếu, chữ 'liệu' và các chữ 'thu liệu', 'thứ liệu', 'hạ liệu' nguyên đều viết là 'khoa', căn cứ theo sách trên mà bổ sung sửa. ↵