"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 219: NĂM HI NINH THỨ 4 (TÂN HỢI, 1071)

Bắt đầu từ tháng giêng năm Hi Ninh thứ 4 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng giêng, mùa xuân, ngày mùng một, Đinh Hợi, Vua không thiết triều.

[2] Ngày Mậu Tý, Chủng Ngạc dẫn quân đóng ở Phủ Ninh Bảo. Quân địch có người ra đầu hàng bên đường, tả hữu muốn thu vũ khí của họ, Chủng Ngạc nói: “Nay đã là một nhà, họ cũng là người của ta, hãy để họ tự do.”

[3] Ngày Kỷ Sửu, Đóng quân ở La Ngột Thành. Tướng địch là Đô La Mã Vĩ cùng bốn tướng khác tập hợp quân ở phía bắc La Ngột Thành, gọi là Mã Hộ Xuyên, mưu đánh úp Chủng Ngạc. Chủng Ngạc biết được, dùng 3000 quân nhẹ bí mật xuất kích đánh bại họ. Mã Vĩ trốn thoát, lại cùng ba tướng khác đóng quân ở Lập Thưởng Bình. Chủng Ngạc gửi cho họ ba bộ quần áo đàn bà.

Hôm sau, sai tướng Lã Chân dẫn 1000 quân đi do thám. Gió lớn nổi bụi, quân địch hoảng hốt nói: “Quân Hán đến rồi!” rồi tan vỡ bỏ chạy. Chủng Ngạc bèn xây thành La Ngột, tổng cộng 29 ngày thì hoàn thành. Trải qua bốn trận lớn nhỏ, chém được 1200 thủ cấp, thu hàng 1400 người. Khi xuất quân, Chủng Ngạc biết ở Hoành Sơn có nhiều lương thực tích trữ, bèn lệnh cho dân binh chở nhiều dụng cụ đắp thành, đi về mất 35 ngày. Quân bộ và kỵ tổng cộng 20.000 người, mỗi người ăn 2 đấu 2 thăng gạo quan, 6 bó cỏ, còn lại đều lấy lương từ địch.

(Theo tấu báo thắng trận của Lã Đại Phòng: Ngày mồng 5, Ất Sửu, Đô Xu Mật Đô La, Tham chính và 13 Kiềm hạt dẫn 3000 quân ở Mã Hộ Xuyên. Ngày mồng 6, Chủng Ngạc sai tướng đánh đuổi họ, chém được hơn 100 thủ cấp. Có chút khác biệt so với sách chí mộ của Phạm Dục. Nay theo sách chí mộ, muốn biết công lao của Chủng Ngạc ở La Ngột Thành, xem ở đây là đủ.Tháng hai, ngày mồng 4, Canh Thân; ngày 18, Giáp Tuất: Có thể tra cứu.Tháng ba, ngày 18, Quý Mão: Bỏ thành La Ngột.)

[4] Ngày Nhâm Thìn, Vua xuống chiếu bán ruộng của kho Quảng Huệ trong thiên hạ để làm vốn cho kho Thường Bình ở ba lộ và Kinh Đông. Nếu cần cứu tế, thì lấy thóc lúa dự trữ trong kho Quảng Huệ và Thường Bình để cấp phát. Trước đó, Vương An Thạch tâu: “Ruộng của kho Quảng Huệ có thể bán để tăng vốn cho kho Thường Bình ở ba lộ.” Tăng Công Lượng nói: “Những hộ canh tác có khi đã canh tác hàng trăm năm, coi như ruộng của mình[1], nay bán đi thì họ sẽ mất kế sinh nhai[2], không tiện.”

Vua nói: “Nếu cho những hộ canh tác mua lại thì không có gì không được.” An Thạch nói: “Công Lượng nói đó là ruộng của quan trang. Còn ruộng của kho Quảng Huệ vốn là ruộng của những hộ tuyệt tự, theo pháp luật vốn nên bán, chỉ vì gần đây lập kho Quảng Huệ nên tích trữ không nhiều, làm sao cứu đói được? Nay đã sửa đổi phép Thường Bình, thì năm mất mùa cũng không lo không có gì để cứu tế.” Công Lượng vẫn cho là không nên, nói: “Lợi không gấp trăm lần thì không thay đổi phép tắc.”

Vua nói: “Chỉ cần nghĩa lý có thể thực hiện thì thực hiện, tự nhiên sẽ có lợi.” An Thạch nói: “Lợi là sự hài hòa của nghĩa, nghĩa vốn là để tạo ra lợi.” Công Lượng nói: “Cũng có cái lợi cho nhà nước mà không lợi cho dân, không thể gọi là nghĩa.” An Thạch nói: “Nếu vậy, đó cũng không phải là lợi mà bậc quân chủ nói đến.” Cuối cùng, Vua nghe theo ý kiến của An Thạch và ban chiếu này.

[5] Ngày Ất Mùi, Công bộ Lang trung kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự Tạ Cảnh Ôn được bổ nhiệm làm Trực sử quán kiêm Thị độc. Cảnh Ôn từ chối, nên bị bãi chức Thị độc và đi nhậm chức Tri Đặng Châu. Khi Vương An Thạch nắm quyền, Cảnh Ôn ban đầu theo phụ tá ông, nên đã công kích Tô Thức và những người khác. Sau đó, ông dâng tấu rằng Tiết Hướng không có tài năng, không xứng đáng được thăng chức Đãi chế, và nói rằng việc biên sự của Vương Thiều là vu khống, dần dần làm mất lòng Vương An Thạch, nên không được giữ chức ngôn quan, mà phải ra ngoài bổ nhiệm.

(《Triết Tông cựu lục》 chép: Thần Tông chăm chỉ chính trị, trọng dụng nhân tài. Cảnh Ôn không thông hiểu chính thể, lời nói nhiều phần khinh suất, nên Vua dần xa lánh, do đó bị điều ra ngoài. Nay theo 《Tân lục》. 《Lâm Hi dã sử》 có ghi chép, phụ chú vào ngày mùng 1 tháng 2 năm thứ 5 khi bãi chức Thiểm Tào, vì việc làm Thiểm Tào là vào ngày 26 tháng 3 năm thứ 4.)

[6] Chức phương Viên ngoại lang[3], Tập hiền Hiệu lý Đặng Uyển được bổ nhiệm làm Binh bộ Viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự.

(《Cựu lục》 trong phần truyện của Uyển chép: Thần Tông đề ra pháp lệnh tốt, cải cách tệ nạn cũ, kiềm chế sự may mắn bất chính, nhưng trong ngoài đều xôn xao, kết bè kết phái. Các quan ngôn luận chỉ lo tính toán riêng, ngả nghiêng quan sát, nghị luận không có chỗ dựa. Vua lo lắng, nên dùng Uyển làm Tri tạp Ngự sử. 《Tân lục》 đã xóa bỏ, nay cũng không lấy[4].)

[7] Độ chi Viên ngoại lang, Tập hiền Hiệu lý Trần Dịch được bổ nhiệm làm Trực xá nhân viện, Tri thẩm quan Đông viện, Phán Hộ bộ Câu viện.

(Việc Dịch nhậm chức Trực viện, có thể tra cứu vào ngày mùng 4 tháng 3.)

[8] Thiên Chương các Đãi chế, Tri thẩm quan Đông viện Tôn Vĩnh được bổ nhiệm làm Tri Doanh Châu.

[9] Tuần kiểm huyện Nam Xuyên, châu Du, Cung phụng quan Lý Tông Mẫn, cùng Chỉ sử Đô giám ty, Tán trực Lý Khánh và những người khác, dẫn quân gặp giặc Di là Lý Quang Cát và đồng bọn ở khu vực giới hạn giữa trại Mộc Lam và sông Sa Khê, đều tử trận. Chiếu cho Tôn Cấu và những người khác xử lý ổn thỏa, không để xảy ra sự việc lớn, dần dần trở thành mối lo biên giới.

Lại sai Thái thường Thiếu khanh Giang Trung Hành đến lộ Quỳ Châu để điều tra, sau đó bổ nhiệm Trung Hành làm Đề điểm hình ngục.

Trước đó, người Di quen thuộc ở Nam Xuyên, Ba huyện là Lý Quang Cát, Vương Cổn[5], Lương Thừa Tú, ba họ này, mỗi họ có vài nghìn hộ địa khách, thường dùng uy thế dụ dỗ và uy hiếp người Hán, ai không nghe theo thì giết chết, tịch thu ruộng đất, thường xuyên bắt họ làm khách hộ, gọi là “nạp thân”, thuế má đều do lý tư đóng thay, không ai dám kiểm soát. Chúng còn chứa chấp kẻ trốn tránh, người ta không dám hỏi đến. Chúng nhiều lần sai đồ đảng giả làm người Lão, cướp bóc hàng trăm hộ dân biên giới, khi quan quân truy bắt thì nói là người Lão đã bỏ trốn, việc này đã thành thói quen, dân biên giới sợ hãi không dám báo cáo sự thật. Chúng lại hối lộ nhiều cho dân châu huyện để dò xét động tĩnh của quan lại. Quang Cát bắt đầu xây dựng thành trì để tự củng cố, sửa chữa vũ khí, người gần xa đều lo sợ.

Chuyển vận phán quan Trương Sân đề nghị xin giết chúng, triều đình sai quyền Độ chi phán quan Tôn Cấu làm Chuyển vận sứ cùng với Sân bàn bạc. Lúc đó là tháng 2 năm Hi Ninh thứ 3. Cấu và Sân bí mật giao phương lược cho Binh mã sứ Phùng Nghi, Mâu Giản, Đỗ An Hành để mưu tính bắt Quang Cát, đồng thời tích trữ quân nhu ở các châu huyện biên giới để chờ đợi, việc này được báo lên và được chấp thuận. Ban đầu, Cấu ra lệnh cho Nghi dùng họa phúc để khuyên bảo địa khách của Quang Cát và Thừa Tú, nộp con tin và nghe theo mệnh lệnh, để họ yên ổn làm ăn, sau đó tiến quân truy đuổi tận gốc, nhưng lâu ngày vẫn chưa giết được. Khi Tông Mẫn thất bại, triều đình hạ chiếu cho Cấu hậu thưởng để mở đường cho chúng tự cải tạo.

Lại hạ chiếu: “Sân là người đầu tiên đề nghị đánh dẹp Quang Cát, nay giết Tuần kiểm sứ thần, làm tổn thất nhiều quân sĩ mà vẫn chưa bắt được giặc. Sân đã mãn nhiệm kỳ, có thể cho tái nhiệm, bắt phải tự thân đi đánh giặc.” Do đó, Sân được lệnh tái nhiệm.

(Đoạn này dùng truyện Tôn Cấu, Trương Sân về người Di quen thuộc ở Du Châu, cùng với 《Tân lục》, 《Cựu lục》 sửa đổi. Truyện phụ của Cấu chép: làm Chuyển vận sứ cùng thời với Chương Đôn kinh chế Nam, Bắc Giang. Đây là lỗi của sử quan thời Nguyên Hựu, sử quan thời Thiệu Thánh đã sửa lại trong bản truyện. Truyện phụ của Sân chép: làm Chuyển vận sứ chưa đầy mười ngày, đã bắt hết kẻ cầm đầu. Cũng là sai. 《Tân lục》 lại tiếp tục sai lầm này, nay không dùng. Lệnh cho Sân tái nhiệm vào tháng 12 năm Mậu Tuất, nay ghi chung. Ngày 18 tháng Giáp Thìn, khôi phục huyện Tân Hóa.)

[10] Kiểm chính trung thư hình phòng công sự Lý Thừa Chi tâu: “Những vụ án tử hình trong thiên hạ, giao cho đề điểm hình ngục ty xét lại, hình bộ duyệt xét, e rằng có nhiều sơ sót, có thể có oan sai. Lại tâu đến không kịp thời xét xử, nên tù nhân bị giam lâu ngày. Xin từ nay lệnh cho hình bộ mỗi tháng trình bày các vụ án tử hình đã duyệt xét, các đạo tâu lên trung thư, giao cho kiểm chính quan xét lại, hạn lớn mười ngày, hạn nhỏ bảy ngày, nếu có việc không đúng hoặc vô cớ chậm trễ, xin chỉ trách phạt.” Được chấp thuận.

[11] Ngày Mậu Tuất, xuất 50 vạn quan tiền từ kho quỹ để mua lương thực cho quân đội Thiểm Tây, lệnh cho tam ty đổi tiền từ kho nội tàng để ứng phó, dùng 30 vạn tấm lụa và 10 vạn quan tiền từ kho phong xuân ở Kinh Đông để trả lại cho kho quỹ.

Ty đô chuyển vận Thiểm Tây định lại số lượng quân sương trong lộ. Chiếu giảm 5.000 người, lấy 3 vạn người làm mức chuẩn[6], để giảm bớt sự lãng phí lương thực ở các châu biên giới.

[12] Ngày Kỷ Hợi, ty kinh lược và chuyển vận Hà Đông tâu: “Ty tuyên phủ lệnh tính toán số lượng phu nghĩa dũng vận lương quá nhiều, nghe nói gây nhiều xáo trộn.” Chiếu ước thực chuẩn bị ứng phó, lương thảo vận chuyển vẫn cấp cho các kho gần, không làm hao tổn sức dân. Ty chuyển vận lại xin mượn 10 vạn quan tiền từ kho thường bình và quảng huệ để mua lương thực quân đội. Được chấp thuận.

Lại tâu việc ứng phó các khoản thuế do tuyên phủ sứ đánh vào dân đã quá sức chịu đựng. Vua phê: “Nếu đúng như vậy, e rằng sẽ sinh ra chuyện khác.” Lại lo rằng ty chuyển vận xử lý quá đáng, âm thầm muốn gây rối biên sự. Sai ngự sử Phạm Dục đi ngựa trạm để xem xét và tâu lên. Lúc đó Hàn Giáng sai Chủng Ngạc đem quân xây thành La Ngột, giữa tuyết xây dựng phủ Ninh Bảo, việc điều động gấp gáp, Quan Thiểm xáo trộn, Hà Đông càng nghiêm trọng. Lữ Công Bật đã tâu đầy đủ. Có người nghi ngờ Công Bật và những người khác có ý định phá hoại, nên sai Dục đi xem xét.

(Sai Phạm Dục, Ngự tập ghi ngày 18, nay theo Thực lục. Dục khởi hành ngày 21, xem tập Dục miễn chức đài.)

[13] Lã Đại Phòng trước tâu việc ở dưới cửa khuyết, Vua đã biết việc Chủng Ngạc tự mình đem quân vào vùng đất sinh để đón quân Hà Đông, rất lo lắng vì đường xa không biết sống chết ra sao. Vua viết tay chiếu giao cho Đại Phòng, lệnh nhanh chóng báo cho Hàn Giáng tạm hoãn việc xây dựng các trại mới ở vùng Lân Phủ, và thúc giục Đại Phòng trở về cơ quan.

Lại phê rằng: “Việc xử trí ở Hà Đông không đúng cách, sức dân một vùng nay đã kiệt quệ, nếu lại gây thêm việc, thì so với việc xây thành La Ngột còn nguy hơn gấp vạn lần.”

(Điều này căn cứ theo chiếu chỉ của Vua mà nhà Lã Đại Phòng cất giữ, không rõ ngày tháng, cuối chiếu có viết: “Nay nhân dịp nghỉ liên tiếp, không kịp gặp khanh, hãy nhanh chóng đi.” Việc nghỉ liên tiếp, thì có thể biết là vào dịp Thượng Nguyên. Lại trong quyển 19 của 《Ngự Tập》 có lời phê của Vua: “Lệnh Đại Phòng sớm trở về Trung thư, muốn cho ngày 17 đối đáp xong rồi lên đường.” Lại phê: “Hôm nay đã sai người đến chỗ Đại Phòng, nói rằng ngày mai sẽ đi, việc này không cần chỉ huy nữa.” Như vậy, chiếu chỉ mà Đại Phòng nhận được chính là đây. Lưu lại điều này cũng đủ thấy đức lớn của Thần Tông lo việc biên cương và thương dân.)

[14] Ngày Quý Mão, xuống chiếu cho Vương Khánh Dân vẫn như cũ chuyên quản việc quân mã ở Lộ Lân Phủ, Tiêu Chú ở phủ Thái Nguyên nghe chỉ.

Ban đầu, dùng Chú thay Khánh Dân, Chú đã lên đường, nghe tin Hà Đông dùng binh, bèn tự nói rằng mình vốn là kẻ sĩ, giỏi về việc chiêu dụ, nhưng kém về chiến đấu, e rằng không thể làm tốt việc ở Lân Phủ. Đúng lúc có người nói rằng Giao Chỉ bị Chiêm Thành đánh bại, quân số không đầy một vạn, có thể tính ngày mà lấy được. Nhân đó, lệnh cho Chú làm Tri châu Quế Châu.

(《Phan Túc Truyện》 chép rằng Túc tâu rằng Giao Chỉ có thể lấy được, ở đây nói “quân số không đầy một vạn”, có lẽ là lời tâu của Túc, cần xem xét thêm.)

Tháng giêng năm thứ 6, Chú bị cách chức Tri châu Quế Châu. Vua hỏi Chú về kế sách đánh dẹp, Chú từ chối rằng: “Thần trước đây từng có ý định này. Lúc bấy giờ, quân các động một người có thể địch nổi mười người, khí giới sắc bén, những người thân tín đều có thể sai khiến được. Nay binh giáp không được như trước, những người thân tín đã chết quá nửa, mà người Giao Chỉ đã sinh sôi dạy dỗ thêm mười lăm năm rồi. Nói rằng quân số của họ không đầy một vạn, e rằng người truyền tin đã nói sai.”

[15] Hàn Giáng và các quan tâu rằng Chủng Ngạc dẫn quân đến thành La Ngột, chiêu nạp người và gia súc, đồng thời thu được thủ cấp. Triều đình xuống chiếu sai nội thị ra quân tiền để phủ dụ, Vương Diên Khánh đến Diên Châu; Tiêu Nhữ Hiền đến Lân Châu, Phủ Châu.

[16] Ngày Giáp Thìn, triều đình xuống chiếu cho Tam ty xuất 10 vạn lạng bạc giao cho Hà Đông chuyển vận ty, đồng thời cho phép thương nhân nộp tiền mặt 10 vạn quan ở địa phương này để giúp quân phí.

[17] Chuyển vận sứ Khuê Châu tâu rằng, Binh mã sứ huyện Ba, châu Du là Đỗ An Hành cùng các tướng, dẫn dân binh đánh bại Lý Quang Cát và đồng đảng, khôi phục được huyện Tân Hóa.

Truy tặng Lý Tông Mẫn chức Văn Tư sứ, cho hai con trai của ông làm chức Tam ban phụng chức.

(Sách 《Tôn Cấu truyền》 chép: Lệnh cho Đỗ An Hành chiêu mộ hơn nghìn người tập kích, quân triều đình tiếp ứng, chém được Thủ Tú, rồi đốt phá nơi ở của hai tộc. Bọn chúng giữ ở núi Hắc Nhai[7], Tôn Cấu điều 300 quân Kiềm Châu Kiều Tiệp đến tiếp ứng. Nhân đêm tối, sai quân đi đường tắt, vừa tiến vừa hò reo, Lý Quang Cát rơi xuống vực chết, Cổn tự trói đầu hàng. Lấy đất đó lập ra Nam Bình quân, khôi phục hai trại Phù Hoan và Vinh Ý. 《Cựu kỷ》 tháng giêng ngày Quý Mão chép: Tôn Cấu dẹp loạn người Di ở Du Châu, khôi phục huyện Tân Hóa. 《Tân kỷ》 chép ngày Giáp Thìn.)

[18] Ngày Ất Tỵ, bổ nhiệm Trứ tác tá lang, Tập hiền hiệu lý, Biên tu trung thư điều lệ Trương Hổ làm Thái tử trung doãn, Đồng tri gián viện kiêm quản Quốc tử giám.

[19] Đặt hai chức Đề cử giáo duyệt quan ở Kinh Tây: Cung bị khố sứ Tống Hanh phụ trách 11 châu quân Tây Kinh, Hà Dương, Đặng, Nhữ, Quân, Tương, Dĩnh, Kim, Phòng, Quang Hóa[8]; Tả tàng khố phó sứ Quách Hoài phụ trách 7 châu quân Hứa, Trịnh, Trần, Tùy, Hoạt, Dĩnh, Tín Dương.

[20] Xu mật viện tâu: “Các lộ khảo sát đất chăn nuôi gây phiền nhiễu, xin tạm ngừng, đợi lúc nông nhàn.” Triều đình đồng ý.

[21] Ngày Đinh Mùi, giáng Thái tử Trung doãn, quyền Giám sát ngự sử Lý hành Lâm Đán làm Trứ tác tá lang, tri huyện Hoàng; Tiết Xương Triều làm Đại Lý tự thừa, tri huyện Túc Thiên.

Trước đó, Đán và Xương Triều đã tâu rằng Lý Định nên để tang mẹ đẻ, nhưng không được trả lời. Đán hặc tội Định: “Ban đầu lấy cớ phụng dưỡng để làm năm để tang, đến khi nghe triều đình bàn việc truy phục, lại nói rằng Cừu thị không phải mẹ đẻ, đầu đuôi trái ngược, thực chất là trốn tránh việc truy phục. Kính nghĩ rằng lễ pháp là điều lớn của triều đình, Định đã làm bại hoại luân thường, không thể tự xin, còn mong triều đình minh xét để chấn chỉnh phong tục suy đồi, sao có thể chiều theo ý riêng của Định mà bỏ qua đại nghĩa, lại cất nhắc sử dụng!”

Lại tấu: “Xét lời nói ban đầu của Định, rõ biết Cừu thị là mẹ, tuy chưa để tang, nhưng từng xin từ chức để phụng dưỡng, tình cảm đó còn có thể tha thứ. Nhưng vì triều đình tra hỏi thêm, vừa trốn tránh truy phục lại sợ bị tội, bèn đưa ra lời nói mơ hồ không thể xác minh, mong tạo nghi ngờ suốt đời, trong lừa dối lòng mình, trên mê hoặc triều đình, đây là điều thiên hạ đều ghét. Dù Định tự xin truy phục, cũng chưa thoát khỏi trách nhiệm của danh giáo, huống chi triều đình hỏi lại, người bàn tán nhiều, trải qua thời gian, chưa từng nói một lời xin lỗi, an nhiên tự đắc, không chút hổ thẹn, chỉ biết lợi mình, phản bội cha mẹ, hại đạo trung hiếu, không gì tệ hơn. Triều đình lại còn thăng chức, đặt vào chức khuyến giảng, thần thực không hiểu vì sao.”

Lại nói: “Cha con che giấu cho nhau, thánh nhân cho là ngay thẳng. Nay Lý Định hỏi chuyện riêng trong nhà, Cáo thị, Cừu thị vốn là vợ lẽ không chính đáng, vì Định mà phơi bày chuyện xấu cũ, ồn ào khắp triều đình, làm rõ việc cha bất nghĩa, quên ơn sinh thành của mẹ.”

Lại nói: “Tể tướng Vương An Thạch vì Định vốn xuất thân từ cửa nhà mình, ra sức tiến cử, dù tội cũ lộ rõ, vẫn cố che chở, người bàn việc trình bày đạo lý, một mực không xem xét. Chuyển vận sứ Hoài Nam Lưu Cẩn, Định ngầm kết giao, a dua phụ họa, cố ý đưa ra lời nghi ngờ, phụ họa dưới lừa dối trên, trong ngoài lừa dối, khiến kẻ bất hiếu được cất nhắc bên cạnh Vua. Thần đến Trung thư, An Thạch nói với thần: ‘Việc này xuất phát từ ý Vua.’ Thần nghe xưa phụng sự Vua, điều tốt thì quy về Vua. Nay mọi người biết Cừu thị là mẹ Định, An Thạch lại cho là không; mọi người biết Định bất hiếu, An Thạch lại cho là được.”

Xương Triều cũng nói: “Cừu thị chết ở nhà Định, Định đã 37 tuổi, không thể không biết. Mọi người đều cho Định là bất hiếu, An Thạch lại cho là hiền; Định mang tội lớn, An Thạch lại đặt vào chức khuyến giảng. Vì Định vốn quen biết cửa nhà An Thạch, An Thạch không kể đúng sai, chỉ muốn thắng người bàn tán, nên việc Định nên truy phục dù rõ ràng, vẫn sai Hoài Nam tra hỏi lại, Chuyển vận ty Hoài Nam vừa sợ thế An Thạch, lại thấy lệnh phong Trung Doãn đã ban, bèn không xét thực, đưa ra lời nghi ngờ. An Thạch không xét lại sự việc, liền mê hoặc thánh thượng, khiến triều đình, kinh diên, đặt một kẻ bất hiếu, lấy gì làm gương cho thiên hạ?”

Đán dâng sáu tấu, Xương Triều dâng bảy tấu, nên có mệnh lệnh này.

[22] Chiếu cho các huyện Đông Minh, Khảo Thành, Trường Viên thuộc phủ Khai Phong, châu Hoạt thuộc Kinh Tây, châu Túc thuộc Hoài Nam, châu Thiền thuộc Hà Bắc, phủ Ứng Thiên thuộc Kinh Đông, các châu Bộc, Tề, Từ, Tế, Đơn, Duyễn[9], Vận, Nghi, cùng quân Hoài Dương lập riêng pháp nặng về trộm cướp. Theo lời thỉnh cầu của Kiểm chính Trung thư hình phòng công sự Lý Thừa Chi.

[23] Ngày Mậu Thân, chiếu cho Tuyên Huy Nam viện sứ Quách Quỳ về viện nhận chức.

[24] Đại Lý tự thừa, Quán các hiệu khám Cố Lâm được làm Thái tử Trung Doãn, Chuyển vận phán quan Kinh Hồ Nam lộ, kiêm chức Đề cử thường bình đẳng sự.

Cố Lâm thích bàn việc binh, từng được triệu đối, hỏi về binh học, Cố Lâm đáp: “Binh lấy nhân nghĩa làm gốc, người nhân thì yêu người, người nghĩa thì theo lý, cơ động tĩnh là chỗ hệ trọng của an nguy.” Nhân đó dâng lên mười điều. Khi đi sứ Hồ Nam, bàn luận trái với chấp chính, bèn xin giải chức về phụng dưỡng. Chiếu cho về Quán các nhận chức, hơn một năm sau mới khởi dụng.

[25] Binh bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Đặng Uyển được làm Phán Ty Nông tự.

(《Cựu lục》 truyện Đặng Uyển chép: Làm Phán Ty Nông tự, từ đó các chính sách thường bình, miễn dịch, thủy lợi, bảo giáp đều do Ty Nông ban hành. Lúc ấy dân khốn khổ vì sai dịch, mà nha tiền phá sản là nặng nhất. Đặng Uyển xin thi hành trước ở phủ giới, trong một ngày miễn cho 830 người nha tiền về làm ruộng, các lộ đều bắt chước. 《Tân lục》 biện rằng: Đã thi hành miễn dịch, thì những người bị sai nha tiền tự nhiên được miễn, các lộ đều như vậy, sao có thể coi là công của Đặng Oản! Nay từ chữ “dân khốn” đến “bắt chước”, 38 chữ đều xóa bỏ. Lữ Huệ Khanh ngày 17 tháng 5 năm thứ 3, Tăng Bố ngày 8 tháng 9 năm thứ 3 đã làm Phán Ty Nông. Truyện Đặng Uyển chép rằng các chính sách thường bình đều từ đây ban hành, e rằng Đặng Uyển không phải là người khởi đầu, nay xóa bỏ. Lại xem ngày 29 tháng 8 và ngày 9 tháng 12 năm thứ 3. Lời của Phạm Bách Lộc có thể tham khảo.)

[26] Quyền Giang, Hoài đẳng lộ Phát vận phó sứ Bì Công Bật làm Thiểm Tây lộ Chuyển vận phó sứ.

[27] Ngày Kỷ Dậu, Thái thường bác sĩ, Tập hiền hiệu lý, Quyền phát khiển Đề điểm Thiểm Tây hình ngục Triệu Tiết làm Hữu ty gián, Trực Long đồ các, Quyền phát khiển Diên châu.

[28] Tân đề cử Quảng Đông lộ Thường bình đẳng sự, Đô quan viên ngoại lang Du Liệt gửi đến Thẩm quan đông viện, vì người mới và người cũ đều muốn dời đến nơi thuận tiện. Du Liệt được bổ làm Quảng Đông Thường bình vào ngày Nhâm Tý tháng 11 nhuận năm thứ hai. Nay đã qua một năm mà vẫn chưa đến nhậm chức.

(Không rõ Du Liệt là ai, cần xem xét thêm.)

[29] Chiếu cho huyện lệnh Bí Dương, Đường châu là Vương Hữu Lượng được giữ chức quan hai sứ, lệnh tái nhiệm, nếu đủ người tiến cử thì cho phép xét duyệt. Vì Chuyển vận ty tâu rằng Vương Hữu Lượng chiêu dụ được hơn nghìn hộ lưu vong, khai khẩn được mấy nghìn khoảnh đất.

(Vương Hữu Lượng rốt cuộc thế nào?)

[30] Lại chiếu cho Tuyên phủ ty, vì việc quân mà vay tiền dân Hà Đông, Chuyển vận ty phải trả nhanh.

[31] Lại chiếu cho các châu Công sứ khố, thường dùng người làm dịch để quản lý, tốn kém gấp bội, lệnh cho thiên hạ báo cáo số tiền Công sứ và mức chi trả cho lại dịch, gửi lên Ty Nông tự xem xét lợi hại rồi tâu lên. Sau đó, Ty Nông định rằng các châu dùng tiền Công sứ, xa xỉ hay kiệm ước đều không hợp lễ, thậm chí có nơi còn bóc lột phi lý, nay nên lượng thu chi, tùy theo lớn nhỏ của châu quận mà chia cấp, mỗi năm từ 200 quan đến 5000 quan. Còn Tam Kinh, Tam Lộ súy phủ, Thành Đô, Hàng, Quảng vốn dùng nhiều thì tăng thêm. Chiếu theo đó.

[32] Lại chiếu cho Phát vận ty Lục lộ và Kinh Đông Chuyển vận ty, dùng tiền trà bản và thuế đã phong trang, đổi lấy vàng, bạc, vải, lụa đưa về kinh.

[33] Tri Đại Tông Chính thừa sự Lý Đức Sô tâu: “Gần đây theo trạng tấu của Tông Đễ, từ tháng 12 năm Gia Hựu thứ 5 đã qua khảo xét chuyển quan, đến tháng 12 năm nay đã tròn 10 năm, hợp theo chiếu chỉ được khảo xét chuyển quan. Xét trước đây theo chiếu tháng 8 năm Chí Hòa thứ 2, theo chế độ cũ của triều trước, hoàng tộc tại chức đủ 18 năm thì kê tên xin chỉ. Nay nên sai Trung thư, Xu mật viện khảo xét, hoàng tộc từ sau khi được ân điển phổ chuyển quan ở Minh Đường đủ 10 năm, đặc biệt kê tên xin chỉ, bàn bạc theo thứ tự các phòng viện do Tông Chính tự quy định tháng 2 năm Thiên Hi thứ 1 mà thăng chuyển. Những người gần đây nhờ ân điển đặc biệt mà chuyển quan thì phải đợi đủ 10 năm mới được kê tên xin chỉ. Nay Tông Đễ nói hợp chiếu chỉ được khảo xét chuyển quan, xét chiếu thư trước đây là do đặc chỉ nhất thời, không có chỉ huy về sau. Từ năm Gia Hựu thứ 5 đến nay tuy đủ 10 năm, nhưng trong khoảng thời gian đó đã hai lần được ân điển phổ chuyển quan, từ sau ân điển đến nay mới được 4 năm. Xin hạ lệnh Trung thư xét rõ, ban chỉ rõ ràng.” Chiếu rằng từ sau khi được ân điển phổ chuyển quan năm Trị Bình thứ 4 đủ 10 năm thì đặc biệt kê tên xin chỉ, những người gần đây nhờ ân điển đặc biệt mà chuyển quan thì phải đợi đủ 10 năm mới được kê tên xin chỉ.

(Việc này theo 《Hội yếu》 ngày 23 tháng 2 năm thứ 4, nay phụ vào ngày tháng này. Có người cho là việc ngày 19 tháng 12 năm thứ 3, là sai vậy. Ngày 18 tháng 2 xét lại. 《Thực lục》 chỉ chép: Chiếu rằng từ nay tông thất từng được ân điển, ân điển đặc biệt thăng quan thì 10 năm sau xin chỉ. Hoặc chỉ dùng 《Thực lục》 cũng được.)

[34] Lưu hậu Hoành Hải quân, được tặng chức Tiết độ sứ Hộ Quốc quân, tước Hà Đông quận vương, thụy Hòa Huệ là Thừa Diễn mất.

[35] Ngày Canh Tuất, xuống chiếu rằng ở Thiểm Tây đã thực hiện phép dùng giấy giao tử, nên bãi bỏ trường mua diêm sao ở Vĩnh Hưng quân. Đô tào Thiểm Tây là Trầm Khởi tấu xin thực hiện phép giao tử vào ngày 8 tháng 4, bãi bỏ vào ngày 3 tháng 3. Lời tâu của Văn Ngạn Bác có thể tham khảo. Ngày 5 tháng 12 năm thứ hai, cấp 10 vạn tiền để mua sao bản. Ngày 22 tháng 11 năm thứ ba, tăng thêm 20 vạn.

(《Thực hóa chí》 chép: Năm thứ tư, xuống chiếu thực hiện phép giao tử của Thục ở Thiểm Tây, và bãi bỏ việc mua bán sao. Có người bàn rằng việc này bất tiện, nên khôi phục lại chế độ cũ. Ngày 14 tháng 3, lại mua sao.)

[36] Ngày Tân Hợi, quan Tường phúc của Hình bộ, Điện trung thừa Chu Ôn Kỳ được bổ làm Quốc tử giám Bác sĩ. Ôn Kỳ đã bác bỏ và sửa chữa án tử hình, cứu sống được năm người, nên được đặc cách thăng chức.

[37] Trứ tác tá lang Chu Minh Chi được bổ làm Hiệu thư ở Sùng Văn viện. Minh Chi là em rể của An Thạch.

(Ngày Tân Dậu và Đinh Mão tháng 2, cần tham khảo.)

[38] Tri quân Thành Đức, Khởi cư xá nhân, Thiên Chương các Đãi chế Lưu Tường được bổ làm Đô chuyển vận sứ Hà Đông.

(Tường thay thế ai cần ghi chép thêm.)

Ngày 6 tháng 2, lại bổ nhiệm Hàn Đạc.

Ngày 21 tháng 3, Trương Văn và Trần Nhữ Hi bị trách phạt.

[39] Nội điện thừa chế, Cáp môn chi hậu, Đồng câu đương Biện khẩu Lý Tông Thiện được bổ làm Lễ tân phó sứ. Tông Thiện thông thạo việc thủy lợi, ở Biện khẩu 12 năm, Đô thủy giám xin tăng bậc và cho tái nhiệm.

[40] Cung uyển sứ, Đái ngự khí giới Trình Phưởng được bổ làm Đô đại đề cử Hoàng, Ngự đẳng hà, Đồng thiêm thư Ngoại đô thủy giám thừa. Nội thị thiêm thư chức sự, không phải là chuyện thường.

(Bản Chu xóa đi. Bản Mực chép: Nội thị không thiêm thư, không có xuất xứ, nên xóa. Nay theo 《Tân lục》 vẫn giữ lại.)

[41] Xuống chiếu rằng quân phí Hà Đông không đủ, cho phép Tam ty mượn 20 vạn lạng bạc từ Nội tàng khố để cấp cho bản lộ, không bắt buộc thương nhân nộp tiền mặt. Lại ban 2.000 đạo độ điệp cho Kinh lược ty Phu Diên lộ, 3.000 đạo cho Chuyển vận ty Hà Đông để giúp đỡ chi phí biên phòng.

[42] Chiếu rằng các việc tiến cử, bổ nhiệm đại tiểu sứ thần vào các chức vụ quan trọng ở biên giới, vẫn do Xu mật viện xét năng lực và tài năng. Các việc tiến cử quan chức khác và xin bổ nhiệm chức vụ, giao cho Thẩm quan Tây viện và Tam ban viện quyết định. Quân nhân già yếu, bệnh tật cần giáng cấp, giao cho Điện tiền và Mã bộ quân ty chỉ định chức danh, rồi báo lên viện để ban chiếu. Vì công việc của Xu mật viện quá nhiều, nên giảm bớt các việc thường ngày, giao cho các cơ quan hữu quan xử lý.

[43] Tuyên phủ sứ Hàn Giáng tâu: “Phu Diên lộ cần xây dựng bốn trại, đã lệnh cho Chủng Ngạc đóng quân xây thành La Ngột, sau khi hoàn thành sẽ tiến quân xây hai trại Vĩnh Lạc Xuyên và Thưởng Bô Lĩnh. Lại lệnh cho Đô giám Yến Đạt và Triệu Phác xây lại thành Phủ Ninh cũ, đồng thời lệnh cho Hoang Đôi, Tam Tuyền, Thổ Hồn Xuyên, Khai Quang Lĩnh, Gia Lô cùng với Hà Đông lộ tu sửa, thông suốt đường sá, mỗi nơi cách nhau hơn bốn mươi dặm.”

[44] Ngày Nhâm Tý, chiếu cho Trần Thăng Chi khởi phục. Thăng Chi cố xin để tang trọn vẹn, được chấp thuận.

[45] Ban cho Đề cử Thành Đô phủ lộ Thường bình ty 20 vạn quan tiền Giao tử làm vốn Thanh miêu.

[46] Thượng phê: “Giặc Di ở Du Châu là Lương Thừa Tú tuy đã bị tiêu diệt, nhưng còn Lý Quang Cát và Vương Cổn chưa dẹp xong. Nghe nói họ Lương tuy đông người, nhưng Thừa Tú thực chất yếu đuối. Chỉ có Quang Cát và Cổn là hung ác, người trong tộc sợ họ, nên bị họ sai khiến. Nếu không sớm tìm cách chia rẽ bè đảng của chúng, e rằng lâu ngày sẽ gây họa biên giới. Người nào bắt được đầu của Thừa Tú, lệnh cho Chuyển vận ty nhanh chóng ban thưởng tiền, và đặc cách cho vào hàng quan lại. Những người làm thuê của Thừa Tú đầu hàng, cũng nên đối đãi tử tế, để đủ lay động lòng người của Quang Cát. Số lượng quan lại và dân binh có công, nhanh chóng báo lên.” Ngày 5 tháng 3, chiếu lại xét lại.

[47] Bảo Châu tâu: “Nội điện Sùng ban Triệu Vĩnh Đồ nói, vườn mộ của Thượng hoàng, trước đây đã phụng chiếu xây chùa Tư Quả. Xin cấp 10 khoảnh ruộng để nuôi tăng chúng.” Được chấp thuận.

[48] Ngày Giáp Dần, Thái tử Trung doãn, quyền Giám sát Ngự sử lý hành Phạm Dục bị bãi chức Ngự sử lý hành, điều làm Hiệu thư ở Sùng Văn viện.

Trước đây, Dục đã bảy lần dâng tấu về việc Lý Định không chịu để tang mẹ, và khi được cử đi sứ ở Hà Đông, ông lại tận mặt bàn luận việc này, đồng thời xin từ chức ở đài ngự sử. Ông nói: “Việc ác trong thiên hạ nên trị trước hết những việc lớn, mà Định bỏ tang, kiêng tên mẹ; pháp luật triều đình nên trị trước hết những việc gần, mà lại để kẻ bất hiếu ở bên cạnh thiên tử. Chức trách của thần là củ đàn, việc này không chính đáng, sao có thể lo đến việc khác. Vì thế, thần ngày đêm lo lắng, phẫn nộ, buông lời cuồng ngôn mà không biết dừng. Trước đây, thần ở đài này, đã xem xét ba bản khai của Định để tìm hiểu tình hình, biết rằng ban đầu ông ta tin tưởng, sau lại nghi ngờ; ban đầu tin tưởng là do lòng thành, sau nghi ngờ là vì muốn tránh né. Nay Vương An Thạch không tin vào lòng thành của Định, mà chỉ tin vào sự nghi ngờ vô căn cứ của ông ta; không xác minh việc mẹ ông ta, mà thẳng thừng biện minh rằng đó không phải là mẹ; không sửa chữa cái ác của ông ta, mà ngược lại cho là tốt. Trên dối lòng trời, dưới bịt miệng dân. Triều đình tuy có thể bị mê hoặc, nhưng lòng dạ Lý Định sao có thể lừa dối? Lời thần tuy có thể bị đè nén, nhưng lòng dân thiên hạ sao có thể bị bịt miệng? Kính mong bệ hạ dùng trí sáng suốt soi xét tình hình, dùng uy vũ quyết đoán các ý kiến. Hoặc trị tội Lý Định, hoặc giáng chức thần.” Dục từ chức được bảy ngày thì có lệnh này.

(Theo tập khải từ của Dục, ông khởi hành từ ngày 20.)

[49] Vua dụ bảo Xu mật viện: “Tổng quản Kinh Nguyên lộ Trương Ngọc và Tổng quản Phu Diên lộ Lưu Vĩnh Niên đều được lệnh tái nhiệm. Ngọc có thể được ban một chức quan cho con, còn Vĩnh Niên chỉ được ban thưởng.” Văn Ngạn Bác tâu: “Hai người cùng tái nhiệm, mà ân điển khác nhau, chúng thần không hiểu ý bệ hạ.”

Vua nói: “Ngọc có nhiều chiến công, còn Vĩnh Niên chỉ vì quen việc ở Phu Diên lâu ngày mà chưa có người thay thế. Nếu ban ân điển như nhau, sao có thể khích lệ được?” Vua lại lệnh từ nay về sau, phàm các chức Đô, Phó Tổng quản tái nhiệm, đều tùy thời xin chỉ để ban ân điển.

[50] Chiếu cho Tam ty: các tiền thu được từ việc mua bán rượu và các phường trường, mỗi nghìn tiền nộp thuế 50, riêng để dành làm lương cho quan lại.

[51] Hàn lâm học sĩ Hàn Duy dâng lên nghi thức triều kiến vào ngày sóc, vọng ở điện Văn Đức, dựa theo bản đồ cũ về việc vào chầu mà tăng giảm, định ra. Chiếu chuẩn y.


  1. 'Nghiệp' nguyên bản viết là 'Khí', theo 《Biên niên cương mục》 quyển 19 sửa lại.
  2. 'Nay' nguyên bản viết là 'lệnh', theo sách trên sửa lại.
  3. Chữ 'ty' dưới 'chức phương' trong nguyên bản là dư, căn cứ vào các bản khác và 《Tống sử》 quyển 329, 《Đặng Uyển truyền》 mà xóa.
  4. Chữ 'thủ' nguyên là 'cảm', căn cứ vào các bản khác và bản hoạt tự mà sửa.
  5. Vương Cổn, chữ 'Cổn' nguyên bản là 'Duyễn', căn cứ theo các bản, bản hoạt tự và 《Trị tích thống loại》 quyển 17 chương Thần Tông đặt quân Nam Bình, sách này quyển 220, 225, 228, và đoạn dưới đây sửa lại.
  6. Lấy 3 vạn người làm mức chuẩn, chữ 'làm' nguyên bản thiếu, theo bản các và bản hoạt tự bổ sung.
  7. Núi Hắc Nhai, chữ 'Hắc' nguyên bản là 'Lý', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 331 《Tôn Cấu truyền》, 《Tục thông giám》 quyển 68 và 《Dư địa kỷ thắng》 quyển 180, mục Nam Bình quân sửa lại.
  8. 11 châu quân Tây Kinh, Hà Dương, Đặng, Nhữ, Quân, Tương, Dĩnh, Kim, Phòng, Quang Hóa: Các bản gốc và bản in hoạt tự đều giống nhau. Xét số châu quân liệt kê trên là 10, nghi ngờ có sai sót.
  9. Duyễn nguyên tác là 'Cổn', các bản và bản hoạt tự đều chép là 'Duyễn'. Xét 《Tống sử》 quyển 85, 《Địa lý chí》 Kinh Đông lộ có châu Duyễn mà không có châu Cổn, nên căn cứ để sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.