"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 43: NĂM HÀM BÌNH THỨ NHẤT (MẬU TUẤT, 998)

Từ tháng giêng năm Hàm Bình thứ nhất đời Chân Tông đến tháng chạp cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Tân Dậu mùng một, đổi niên hiệu.

[2] Ngày Quý Hợi, ban tiệc đầu năm cho các cận thần tại nhà Tể tướng Lã Đoan. Từ đó trở thành lệ.

[3] Ngày Bính Dần, các quan dâng tôn hiệu cho Hoàng thái hậu họ Lý là Nguyên Đức.

[4] Hàn lâm học sĩ Dương Lệ và các quan nhận chiếu coi việc thi cử, xin được yết kiến. Vua triệu đến ngồi, bảo rằng: “Việc thi cử là trách nhiệm nặng, phải chú trọng chọn người tài nghèo khó, tìm kiếm người thực tài để thoả lòng Trẫm.” Dương Lệ đỗ đầu khoa thi năm Kiến Long đầu tiên. Khi còn ở Khai Phong, Vua thường hỏi Lệ đỗ khoa nào, Lệ chỉ im lặng, không đáp. Sau Vua biết, cho rằng Lệ không khoe khoang danh vị, càng quý trọng hơn. Lệ tính tình cứng cỏi, kiêu ngạo, làm văn nhiều, không theo khuôn phép, mỗi khi làm thơ, một đề có khi viết đến mấy chục bài. Ở Hàn lâm, chế cáo của ông thường kỳ quái, bị nhiều người truyền tụng và chê cười.

[5] Ngày Nhâm Thân, Chiêu tuyên sứ Vương Diên Đức dâng sách ‘Thái Tông Hoàng đế Nam cung sự tích’ gồm ba quyển, được lệnh đưa đến Viện Thực lục.

[6] Ngày Quý Dậu, bắt đầu lệnh cho các quan như ký thất, dực thiện, thị độc ở các phủ vương kiêm nhiệm chức giáo thụ ở Nam trạch và Bắc trạch. (Nam trạch và Bắc trạch bắt đầu từ đây, cần khảo cứu thêm.) Lúc đó, Nam trạch và Bắc trạch còn có chức bạn đọc, nhưng không có số lượng cố định.

(Tháng 11 năm đó, ban áo đỏ cho bạn đọc Nam cung là Lý Văn Ích, nhưng không rõ bắt đầu từ lúc nào, nay phụ chép. ‘Bách quan chí’ ghi việc này sau năm Tường Phù thứ hai là sai.)

[7] Ngày Giáp Tuất, xuống chiếu rằng các khoản nợ công ở các trường vụ trên các lộ, nếu thủ kho phải đền bù thì các quan giám sát, nếu không cùng mưu lừa dối, không bắt đền.

[8] Ban đầu, Lý Chí làm quan phán quốc tử giám, tâu rằng: “Giám này trước đã hiệu đính các kinh âm sớ, nhưng trong đó chữ nghĩa còn nhiều sai sót. Thần lo rằng chưa thỏa ý vị Vua yêu thích cổ học và dạy dỗ người đời. Nguyên nhân là các quan trước đây được cử đến phần nhiều giỏi về một kinh, hoặc thông hiểu ‘Xuân Thu’ nhưng chưa học ‘Lễ Ký’, hoặc quen thuộc ‘Chu Dịch’ nhưng không thông ‘Thượng Thư’, đến khi dẫn chứng kinh sử cũng không phải là những điều đã từng học hỏi, vì thế chưa thể hiểu rõ ràng. Thần thấy Quốc tử bác sĩ Đỗ Hạo, Trực giảng Tôn Thích và Thôi Di Chính đều chăm chỉ học tập, thông hiểu chín kinh, hỏi đáp nghi vấn đều có căn cứ. Mong được lệnh cho họ xem xét lại kỹ lưỡng và sửa chữa những sai lầm.” Thái Tông nghe theo. Ngày Đinh Sửu, học cửu ở Thái Châu là Lưu Khả Danh lại tâu rằng bản khắc của các kinh có nhiều lỗi, Vua lệnh chọn quan hiệu đính kỹ lưỡng, nhân đó hỏi ý kiến các quan thông hiểu kinh nghĩa, Lý Chí lại tiến cử Thôi Di Chính. Vua nói: “Trẫm trong cung không có việc gì, thích nghe giảng giải.” Bèn triệu Thôi Di Chính vào vườn sau giảng ‘Thượng Thư – Đại Vũ Mô’, ban cho áo mặc ngũ phẩm.

Một hôm khác, Vua bảo các phụ thần rằng: “Thôi Di Chính giảng tụng rất tinh tế, các khanh hãy chọn thêm một hai người trong hàng quan lại thông hiểu kinh học, đức hạnh để tiến cử.” Từ đó, hàng ngày sai Thôi Di Chính đến Ngự thư viện chờ đối đáp[1], giảng ‘Thượng Thư’ đến mười quyển. Thôi Di Chính là người huyện Ung Khâu.

[9] Ngày Mậu Dần, Vua ngự ở điện Sùng Chính, triệu hơn 270 viên Ngự Long trực đến, duyệt thí võ nghệ, thăng chức cho 26 người.

[10] Ngày Canh Thìn, quan Thẩm hình viện tường nghị, Giám sát ngự sử Hàn Kiến Tố dâng biểu xin nghỉ hưu, lúc đó ông mới bốn mươi tám tuổi. Vua hỏi các bề tôi: “Kiến Tố tuổi còn trẻ, tóc răng chưa già, sao đã vội xin nghỉ hưu?” Lã Đoan đáp: “Kiến Tố tính tình điềm đạm, thích tu luyện.” Vua tỏ vẻ khó xử. Lý Chí nói: “Gần đây trong triều, nhiều người tranh giành cầu tiến, ít kẻ biết dừng lại xin nghỉ. Nếu cho phép ông ấy, cũng đủ để khuyến khích kẻ xấu.” Vua im lặng, sau đó phong Kiến Tố làm Viên ngoại lang bộ Hình, cho nghỉ hưu. Kiến Tố người Phượng Tường, về ẩn cư ở Hoa Sơn, sống đến hơn tám mươi tuổi mới mất.

[11] Ngày Giáp Thân, có sao chổi xuất hiện ở phía bắc chòm sao Doanh Thất, ánh sáng dài hơn một thước.

[12] Tháng hai, ngày Nhâm Thìn, Vua ban chiếu: “Sau khi thi xong ở viện Cống bộ Lễ, ghi tên người đỗ trình lên, sẽ bàn việc ban sắc chỉ, yết bảng, ban cho đỗ. Nếu trong kỳ thi phúc có gian lận, quan chủ khảo sẽ bị xử nghiêm theo luật triều đình.”

[13] Vua nói với các bề tôi: “Từ khi lên ngôi, Trẫm chưa dám lơ là, mong bước vào đạo trị bình, đạt được thái bình. Nay sao chổi xuất hiện rất lạ, biết làm sao đây?” Lã Đoan và các quan nói: “Điềm báo ở vùng Tề, Lỗ.” Vua nói: “Trẫm lo cho cả thiên hạ, há chỉ một phương sao?” Lý Chí nói: “Câu nói của Bệ hạ có thể đẩy lùi sao yêu.”

[14] Ngày Giáp Ngọ, ban chiếu yêu cầu trăm quan thẳng thắn nói lên được mất, tránh chính điện, giảm bớt bữa ăn thường.

[15] Ngày Ất Mùi, xem xét tù nhân. Chiếu cho các quan trưởng ở các châu xử án công bằng, giải oan cho người bị hàm oan.

[16] Trước đó, quan Lại bộ lang trung, Trực tập hiền viện Điền Tích được bổ nhiệm làm tri châu Thái Châu, chưa nhậm chức, gặp lúc có hiện tượng sao lạ, Tích dâng sớ tâu:

“Thần từ tháng bảy năm ngoái đến sau tiết Đông, đã ba lần dâng chương, những điều nói ra đều là mưu kế bí mật của triều đình, những điều trình bày đều là đại sự quốc gia. Kiến thức tuy nông cạn, không đủ lay động Thánh thượng, nhưng lòng quả cảm trình bày, cũng đủ để bày tỏ trung tiết. Mỗi khi tấu phúc công việc, chỉ cách mặt rồng có gang tấc, cũng mong Thánh thượng hạ cố hỏi han, không ngờ Bệ hạ hoàn toàn không hỏi đến những điều thần trình, cũng chẳng thăm hỏi những lời thần cống hiến. Lui về lại lo lắng, sợ mắc tội lỗi, tiến lên thì không được lắng nghe, nên trong lòng không yên, vì thế mới vội dâng thư, xin trở về điện quán. Vừa nhận được chiếu chỉ, lệnh đi nhậm chức tại Thái châu, đã được Thánh ân cho phép nghỉ ngơi, hẹn đến đầu tháng ba mới lên đường.

Thần đã nhận chiếu, không hợp lệ đứng vào hàng, chỉ chờ ngày triều từ để lên đường nhậm chức, đến ngày tám tháng hai mới nhận được ngự trát, cho phép dâng lời thô thiển. Việc làm tôi phụng sự quân vương, kẻ ngu trực gặp thời minh thánh, có điều thấy nghe, sao dám im lặng.

Thần nghe rằng: Vua không giữ kín thì mất tôi, tôi không giữ kín thì mất thân. Chương thứ nhất thần dâng năm ngoái, đã giao xuống Trung thư, chương thứ hai và thứ ba vẫn ở trong cung chưa xuất. Thần lo người ngoài dòm ngó, xin chưa giao xuống Trung thư, hãy triệu tập Tể thần, Xu mật sứ hỏi ý kiến, nhưng vẫn chưa dám viết vào tấu chương, định đợi khi gặp mặt sẽ trình bày. Điều lo ngại không nhỏ, lo Bệ hạ mất tôi, điều lo lắng không kém, lo kẻ hèn này mất thân. Hôm nay nếu Bệ hạ cho phép thần được đối diện tâu bày, hãy triệu tập thần, thần nhất định sẽ trình bày tường tận.

Những việc làm được, lời nói dùng được, Tiên hoàng đế cũng từng nghe theo mà thi hành, cũng khoan dung mà sử dụng. Thần cúi xin Bệ hạ hạ lệnh cho Thực lục viện dâng lên, hạ cố xem qua, nếu có điều gì Tiên triều chưa làm, xin chọn mà làm, nếu có điều gì hôm nay dùng được, xin lấy mà dùng.

Ngự trát viết: “Thực do thời sự lầm lỗi, chính sách bế tắc.” Thần cho rằng Lý Kế Thiên không nên ban cho Hạ Châu, cũng không nên gọi hắn là Triệu Bảo Cát. Tuy hắn đã được ban họ tên từ triều trước, nhưng bản chất như lang sói, rốt cuộc vẫn là dị loại.

Gần đây nhân dịp Bệ hạ đăng cơ, hắn tuy có đến tiến cống, ban cho chiếu thư ân cần, khen ngợi để khuyến khích quy phụ. Nhận biết mưu đồ gian trá của hắn, phân biệt mưu kế quỷ quyệt của hắn, thì có thể; nhưng ban cho đất đai, trao cho quyền tiết mao, thì không nên. Theo sự ngu muội của thần, dự đoán hắn gian xảo, ắt không chịu lâu dài phụng mệnh triều đình, cũng không thể vĩnh viễn bảo vệ biên cương. Đã là như vậy, mà ban ân huệ, vỗ về thì hắn không đến; đem quân đánh dẹp, trừ bỏ thì chưa được, trái lại thành ra khoan dung, dường như đánh mất cơ hội.

Thần cho rằng sự phiền nhiễu ở Quan phụ bắt đầu từ đây, quốc gia hao tốn cũng từ đó mà sinh, đây chính là điều lớn lao của thời sự lầm lỗi. Việc công ở Mật viện, Tể tướng không được nghe biết; chính sự ở Trung thư, Xu mật sứ không được tham bàn. Trình tự đã duy trì lâu ngày, đột ngột thay đổi ắt khó khăn, khiến mưu lược quân sự không tinh xảo, kế sách quốc gia chưa hoàn thiện. Xét theo chứng cứ gần đây, là trận chiến Linh Châu năm ngoái, dân chúng Quan Tây chết hơn mười lăm vạn người. Dân chúng vô tội mà chết hơn mười lăm vạn, tội ở người nào mà không hỏi, lỗi do ai mà không biết, đây chính là điều lớn lao của chính sách bế tắc.

Thần nay vì Bệ hạ nói điều lớn lao, xa xôi, còn những việc vụn vặt khác, đâu đáng để Bệ hạ nghe!”

(Tích dâng sớ bàn về sao chổi, tự chú rằng ngày mồng 7 tháng 3 dâng, nay dời phụ vào đây.)

Sớ dâng lên, ngày hôm đó liền được triệu đối, kéo dài đến xế chiều. Khi sắp đi, lại dâng lên bản tấu, lại được triệu đối, Vua bảo: “Khanh cứ đi, chưa đầy nửa năm, sẽ triệu khanh về. Nếu có việc cần bàn luận trực tiếp, cho phép thừa dịp đến cung.” Lại sai trung sứ ban thưởng rất hậu.

(Bản tấu trước khi đi hiện chưa thấy, sẽ xem xét lại.)

[17] Ngày Mậu Tuất, hạ chiếu rằng do lâu nay ngừng khoa cử, khiến nhân tài bị trì trệ, lệnh Lễ bộ căn cứ người đỗ, cho phép tiến sĩ 50 người, chư khoa 150 người, sang năm không được lấy làm lệ.

[18] Đổi Thái Bình quân thành Liêm Châu.

[19] Trước đây, bộ Lại tuyển chọn quan viên, trong văn thư bổ nhiệm đều ghi rõ các lỗi lầm của họ. Đến tháng 3, ngày Quý Dậu, Vua ban chiếu từ nay không cần ghi nữa.

[20] Vào năm đầu niên hiệu Thuần Hóa, Tông chính thiếu khanh Triệu An Dịch tâu: “Trong việc tế tự ở miếu riêng, Ý Đức hoàng hậu được đặt trên Thục Đức hoàng hậu, thần không rõ lý do thăng giáng này, e rằng quan chức đã làm loạn thứ tự tông pháp, xin sửa lại.” Thái Tông không đồng ý.

Đến khi bàn việc hợp tế, các quan đều xin đưa Ý Đức hoàng hậu lên để phối hưởng. An Dịch lại tâu: “Các quan bàn luận cẩu thả, làm đảo lộn thứ bậc tôn ti. Nếu xếp theo thời gian, nên dùng Thục Đức hoàng hậu để phối tế.”

Vua ban chiếu cho Thượng thư tỉnh tập hợp các học sĩ, hai tỉnh, tri tạp ngự sử, các quan tứ phẩm trở lên ở Nam tỉnh, và các quan lễ cùng bàn luận kỹ. Bàn luận đưa ra rằng: “Thục Đức hoàng hậu khi sinh không có tước hiệu, qua đời mới được truy phong, huống chi trong thời kỳ đầu đã sớm qua đời. Ý Đức hoàng hậu được phong đất lớn, làm lễ phối hưởng với tiên đế, tuy chưa kịp lên ngôi nhưng đã sớm nổi tiếng về đức hạnh. Nếu chọn giữa hai hoàng hậu, nên đưa Ý Đức hoàng hậu lên để phối hưởng. Xin kính cẩn đưa thần chủ của Ý Đức hoàng hậu lên phối hưởng với Thái Tông. Lại theo đề xuất của Trương Chiêu và các quan, nếu đưa thần chủ của Chu Thế Tông vào tông miếu, thì nếu đưa cả Tuyên Đức và Ý Đức lên, xin thêm chữ ‘Thái’ vào thần chủ của Chính Huệ. Nếu đưa Ý Đức hoàng hậu lên, xin thêm chữ ‘Thái’ vào Thục Đức hoàng hậu, vẫn giữ nguyên việc tế tự ở miếu riêng.”

Vua ban chiếu: “Lễ nghi không phải từ trời rơi xuống hay từ đất mà ra, mà phải dựa vào tình người. Đô tỉnh cho rằng Ý Đức hoàng hậu tuy chưa chính thức làm Hoàng hậu nhưng vẫn hợp để phối hưởng với tiên đế. Kính theo lời thỉnh cầu, mong hợp với lẽ phải. Còn chữ ‘Thái’ là từ tôn kính nhất, dùng cho mẫu hậu, đặt trong tông miếu thì không hợp lễ. Thục Đức hoàng hậu không thêm chữ ‘Thái’, vẫn giữ nguyên việc tế tự ở miếu riêng.”

[21] Mùa hạ, tháng tư, ngày mùng một Kỷ Sửu, xuống chiếu cho các châu trưởng lại dọn dẹp lao ngục, xét xử những vụ án tồn đọng, những người bệnh tật và nghèo khó thì được chữa trị và cấp phát vật dụng.

[22] Ngày Giáp Thìn, đổi chức “Ngự đái” thành “Đái ngự khí giới”, ban cho Phó sứ kho Cung bị là Trương Mân và hai người khác. Mân, người Khai Phong, từng làm việc ở phủ phiên vương.

[23] Vua bảo Thừa tướng rằng: “Những khoản nợ đọng ở các lộ, đời trước mỗi khi đại xá đều ra lệnh xóa bỏ. Thế mà các quan không tuân theo chiếu chỉ của triều đình, vẫn đòi thu nộp, khiến dân chúng oán than. Việc này thật vô lý.” Ngày Kỷ Dậu, sai sứ đi nhanh cùng các Chuyển vận sứ và trưởng lại các châu quân xét sổ sách nợ đọng của dân để xóa bỏ tất cả. Đây là bắt đầu làm theo lời của Vương Khâm Nhược. Đã xóa bỏ khoản nợ hơn một nghìn vạn, thả hơn ba nghìn tù nhân. Vua từ đó càng yêu quý Khâm Nhược hơn.

[24] Tháng năm, ngày Nhâm Tuất, lần đầu tiên bổ nhiệm Hoạn quan làm chức Cung vi lệnh, quy định tuổi tác và thời gian thay thế, lệnh cho họ ở trong miếu, cùng các quan phụ trách miếu quản lý việc thờ cúng tổ tiên. Việc này theo lời thỉnh cầu của Lang trung đồn điền là Dương Diên Khánh.

(Sử quan bàn: “Cung vi lệnh chỉ lo việc di chuyển bài vị của Hoàng hậu, há nên ở trong miếu chuyên quản việc thờ cúng? Diên Khánh không biết điển lệ, người quân tử chê trách.”)

[25] Tháng sáu, ngày Canh Dình, quan Phát giải ở châu Mật là Cúc Phó vì tiến cử người không xứng đáng, phải chuộc tội bằng tiền, đặc biệt ra chiếu cách chức, nhưng vẫn sai đi khắp các đạo để răn dạy quan lại. Vua bảo các phụ thần rằng: “Những người được tiến cử phần nhiều không xứng, trước hết nên chọn kẻ tiến cử, rồi theo từng loại mà tìm người. Nay quan ngoại trọng yếu chỉ có Chuyển vận sứ, khanh hãy chọn người trước rồi sai họ tiến cử.”

[26] Ngày Tân Mão(Tân Mão), triều đình ban chiếu yêu cầu Tam tư sứ, Học sĩ, các quan Thượng thư Thừa lang thuộc hai tỉnh, Tri tạp Ngự sử, mỗi người trong số các quan thường tham triều cử người tài đủ sức đảm nhận chức Chuyển vận sứ, không giới hạn số lượng. Vua (Thượng) lại nói: “Các Trưởng lại châu tâu cử thuộc quan, nếu có dấu hiệu xin xỏ, đều phải ràng buộc bằng điều lệ.”

[27] Ngày Ất Mùi, triều đình ban chiếu yêu cầu các quan Tri châu quân, Thông phán ở các lộ, từ nay khi cử các quan Kinh triều, Mạc chức, Châu huyện trong phạm vi quản lý, phải nêu rõ thành tích và tình hình thực tế của họ; nếu sau khi được bổ nhiệm mà có vi phạm, người cử cũng sẽ bị liên đới chịu trách nhiệm.

[28] Trước đó, Phán Thái thường lễ viện Lý Tông Nột cùng các quan tâu rằng: “Xét thấy, Hi Tổ được xưng là Tằng Cao Tổ, Thuận Tổ được xưng là Cao Tổ, Dực Tổ được xưng là Tằng Tổ, Tuyên Tổ được xưng là Tổ, Thái Tổ được xưng là Bá, các hoàng hậu Văn Ý, Huệ Minh, Giản Mục, Chiêu Hiến đều được xưng là Tổ Tỉ, các hoàng hậu Hiếu Minh, Hiếu Huệ, Hiếu Chương đều được xưng là Bá Tỉ. Theo chú giải trong sách ‘Nhĩ Nhã’, có các tên gọi như Khảo Tỉ, Vương Phụ Mẫu, Tằng Tổ Vương Phụ Mẫu, Cao Tổ Vương Phụ Mẫu và Thế Phụ. Xem xét những điều này, chỉ cha mẹ mới được xưng là Khảo Tỉ. Nay xin Hi Tổ chỉ nên xưng bằng miếu hiệu, còn từ Thuận Tổ trở xuống, nên theo cách gọi trong ‘Nhĩ Nhã’.”

Từ đó, các quan lễ tâu: “Xin Hi Tổ thất chỉ xưng miếu hiệu, hoàng hậu được xưng là Tổ Tỉ, Thuận Tổ thất xưng là Cao Tổ, hoàng hậu được xưng là Cao Tổ Tỉ, Dực Tổ thất xưng là Tằng Tổ, hoàng hậu được xưng là Tằng Tổ Tỉ, chúc văn đều xưng là Hiếu Tằng Tôn; Tuyên Tổ thất xưng là Hoàng Tổ Khảo, hoàng hậu được xưng là Hoàng Tổ Tỉ, chúc văn xưng là Hiếu Tôn; Thái Tổ thất xưng là Hoàng Bá Khảo Tỉ, Thái Tông thất xưng là Hoàng Khảo Tỉ. Mỗi khi có đại tế, Thái Tổ và Thái Tông cùng vị trong chiêu mục, chúc văn đều xưng là Hiếu Tử. Cách xưng hô ở các miếu khác cũng xin theo như vậy.” Vua xuống chiếu bảo các quan lễ xem xét lại điển cố.

Các quan lễ tâu: “Theo như Thái Tông thờ cúng Thái Tổ suốt 22 năm, xưng là Hiếu Đệ, đây là chế độ không thể thay đổi, làm sao có thể truy lại sửa đổi? Đường Huyền Tông gọi Trung Tông là Hoàng Bá Khảo, Đức Tông gọi Trung Tông là Cao Bá Tổ. Việc xưng hô bá thị có gì là không được? Bọn thần tham nghị, từ nay vào ngày hợp tế, Thái Tổ và Thái Tông theo điển lễ đồng vị nhưng khác chỗ ngồi, vị của Thái Tổ vẫn xưng là Hiếu Tử như cũ.” Tấu được chấp thuận.

[29] Mùa thu, tháng bảy, ngày Nhâm Tuất, ban chiếu rằng các quan trong triều nếu không có việc công thì không được tùy tiện vào viện Chế sắc, nếu vi phạm sẽ xử theo pháp luật. Những nơi ở của các quan từ chức Trung thư đường hậu trở xuống đều được gọi chung là viện Chế sắc.

(Chỗ ở của lại viên Trung thư được gọi chung là viện Chế sắc, điều này dựa vào ‘Tam triều’ và ‘Lưỡng triều Chính sử Chức quan chí’ bổ sung vào.)

[30] Trước đó, có chiếu chỉ các lộ khuyến khích dân trồng dâu và táo, Quảng Tây chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tẩu tâu rằng:

“Các châu thuộc bộ hạ thần, phong thổ vốn khác biệt, ruộng nhiều đá núi, đất ít dâu tằm, xưa có câu ‘tơ lụa tám lứa tằm’, chắc không phải là tục lệ của vùng Ngũ Lĩnh, đoán rằng sản vật đó có lẽ ở An Nam. Nay dân chúng ngoài việc cấy lúa nước, nguồn lợi lớn nhất chỉ có cây gai và đay mà thôi. Cây gai và đay trồng không khác gì dâu và dâu dại, đã thành rễ lâu năm, lại mọc thêm cành mới, đợi khi cành lá xum xuê[2], thì thu hoạch, trong một năm có thể thu hoạch đay ba lần, lại nhờ vào gốc cũ[3], mười năm không suy yếu. Vừa rời khỏi ruộng đồng, đã có thể kéo sợi dệt vải.

Tuy nhiên, vải bán ra chợ, mỗi tấm chỉ bán được trăm đồng, vì người dệt nhiều mà người mua ít, nên đất có lợi thừa mà dân lại thiếu vốn[4]. Thần cho rằng nhu cầu quân dụng của quốc gia, vải lụa là ưu tiên hàng đầu, nên khuyên bảo dân chúng trồng nhiều gai đay, dùng tiền và muối đổi lấy để thu mua, chưa đầy hai năm, đã thu được hơn ba mươi bảy vạn tấm. Từ khi triều đình bình định Giao Châu và Quảng Châu, lượng vải lụa cung cấp mỗi năm chỉ đạt một vạn, so với hiện nay, chẳng gấp mười lần. Nay dân trồng trọt đua nhau khuyến khích, công việc dệt vải ngày càng phát triển.

Mong rằng từ nay cho phép lấy số mẫu trồng gai đay để thay thế số lượng dâu táo, các huyện lệnh và tá quan theo lệ ghi vào sổ để làm tiêu chuẩn[5], dân đem vải đến quan bán thì được miễn thuế. Như vậy, vải lụa cung cấp cho triều đình, tiền tệ lưu thông, công tư đều được lợi, ích lợi rất lớn.”

Chiếu chỉ theo lời tâu.

[31] Trước đây, Lê Hoàn được ban ơn, làm sứ giả quốc tín của Giao Châu, tất được tặng vàng bạc hàng ngàn quan. Hoàn bắt dân phải nộp thuế nặng, thường chặt tay chân của dân. Nghiêu Tẩu biết việc đó, bèn tâu xin triệu con của Hoàn, ban cho chức vụ triều đình, nhưng từ chối việc gặp gỡ riêng[6]. Lại nói[7]: “Vùng Lĩnh Biểu nóng nực, lại nhiều bệnh dịch, xin cấp giấy mực cho quan viên, chép các phương thuốc bảo vệ sức khỏe, phân phát cho các châu.” Vua nghe theo.

[32] Tháng 8, ngày Đinh Hợi mùng một, ban chiếu cho Tam ty xem xét việc thu thuế trà, muối, rượu để đủ chi dùng trong năm, không được tăng thêm thuế, làm khổ dân, các khoản chi phí đều phải tiết kiệm, đồng thời liệt kê các việc chưa giải quyết để tâu lên.

[33] Ngày Tân Mão, Chuyển vận sứ Kinh Tây Diêu Huyền tâu: “Các quan lại ở các lộ, nếu có người mạnh mẽ xử lý công việc, yêu thương dân chúng, thì đều lập ra các quy định, loại bỏ những phiền nhiễu. Tuy nhiên, những việc cải cách thường bất lợi cho bọn lại nhỏ, đợi khi họ bãi chức[8], giấu kín sổ sách, hại việc công, hủy chính sự, không gì nghiêm trọng hơn. Mong rằng nơi nào Tri châu, Phủ, Quân, Giám[9], Thông phán, Mạc chức, Châu huyện quan, nơi đang làm việc có kế hoạch lợi ích lâu dài, cuối năm ghi vào sổ, ngày thay người chép lại giao cho quan mới, để họ tuân theo, không được tùy tiện tin bọn lại nhỏ mà sửa đổi. Nếu rõ ràng là bất lợi, Châu trở lên tâu lên, Mạc chức trở xuống báo với trưởng lại, đợi chỉ thị sửa đổi. Lễ nói: ‘Người còn thì chính sách thực hiện, người mất thì chính sách ngừng.’ Người xưa nói: ‘Chính sách của Lệnh doãn cũ, tất phải báo cho Lệnh doãn mới.’ Đó thực là lời nói của bậc thánh nhân, việc cấp bách của quốc gia.” Vua nghe theo.

[34] Ngày Ất Tỵ, Thị lang Công bộ, Học sĩ Tập Hiền viện Tiền Nhược Thủy cùng các quan dâng lên ‘Thái Tông Thực lục’ gồm 80 quyển. Vua xem sách, chảy nước mắt, ban chiếu khen ngợi, thưởng bạc lụa có phân biệt. Lúc đó, Nhược Thủy làm quan ở Tập Hiền viện, nên dùng ấn của viện này, Sử quán không dính dáng gì, chỉ trong chín tháng đã hoàn thành.

[35] Trước đây, Thái Tông có nuôi một con chó rất thuần, thường theo bên cạnh xe ngựa. Khi Thái Tông băng hà, con chó liền kêu gào không ăn, nên được đưa đến cung Vĩnh Hi. Lý Chí từng làm thơ ghi chép việc này và gửi cho Nhược Thủy. Đoạn kết có câu: “Bạch lân, Chu nhạn chớ vội ghi, khuyên ngài ghi chuyện này để răn thói phù hoa.” Nhưng Nhược Thủy không chép vào sách. Lã Đoan tuy làm Giám tu, nhưng chưa từng đến cục, sách thành không đề tên ông, Lý Chí bèn bóc tách việc này để khen ngợi Nhược Thủy. Nhược Thủy nói rằng vâng chiếu chỉ chuyên tu, không thuộc Sử quán, lại dẫn nhiều chuyện thời Đường làm ví dụ, nên bàn luận đương thời không thể phản bác được.

[36] Ngày Kỷ Dậu, Vua bảo các quan phụ chính: “Trẫm thấy trong hàng sĩ đại phu, nhiều người có danh mà không thực, sao lời nói và việc làm trái ngược nhau vậy!” Các quan đáp: “Đạo quân tử âm thầm mà ngày càng rõ, thử thách lâu ngày, tự sẽ thấy.” Vua cho là phải.

[37] Ngày Quý Sửu, ban chiếu cho các quan Giám thương triều đình, không được lấy phần thừa để làm thành tích.

[38] Tháng chín, ngày Kỷ Mùi, Phu nhân Bảo Thánh Diên Thọ của nước Tần là Lưu thị qua đời. Vua lập tức đến viếng, bãi triều ba ngày, tự đến dâng lễ khóc thương, sai các quan cũ của Đông cung mặc đồ trắng bày tỏ lòng thương xót, đổi hiệu là Thành Thánh Kế Minh. Vua vì ơn dưỡng dục, đối đãi bà như mẹ, từ khi bà bệnh, tự tay điều chế thuốc thang hơn một tháng. Khi bà mất, định cử tang, nhưng vì tang Thái Tông vừa mới bắt đầu, nên nghi ngại việc này, bèn sai quan Lễ định nghị, rồi cử tang trong vườn, quần thần đến an ủi. Ngày an táng, cấp lộ bộ, ngày hôm trước, Vua lại đến dâng lễ.

[39] Tiền Nhược Thủy nhận chiếu tu sửa ‘Thái Tông Thực lục’, dẫn Tả chánh ngôn, Trực tập hiền viện Dương Ức tham gia việc này. Dương Ức tự mình soạn được 56 quyển, nên dâng sớm nhất. Ức xin vì mẹ già, cầu được ra ngoài làm quan để phụng dưỡng, được lệnh làm Tri phủ Xứ châu. Nhưng Vua thấy Ức có tài sử học, nên lưu lại không cho đi. Ức cố xin, ngày Giáp Tý, được triệu đối, ban thưởng rồi cho đi.

Trước đó, Thái Tông ra lệnh cho Trương Kỵ tu sửa lại ‘Thái Tổ Thực lục’, sách chưa xong thì Kỵ mất. Ngày Kỷ Tỵ, Vua ra chiếu cho Tể tướng Lã Đoan và Tập hiền viện học sĩ Tiền Nhược Thủy cùng phụ trách việc này. Nhược Thủy từ chối, Vua nói: “Khanh vừa soạn ‘Thái Tông Thực lục’, rất chu đáo. Việc Thái Tổ nhiều chỗ thiếu sót, nên lại giao cho khanh, đừng từ chối nữa.”

[40] Ẩn sĩ ở Báo Lâm Cốc là Chủng Phóng có mẹ mất, nhà nghèo không đủ táng, sai gia nhân đến báo với Hàn lâm học sĩ Tống Thục. Thục cùng Tiền Nhược Thủy, Vương Vũ Xứng dâng tâu: “Phóng trước đây từng được Tiên đế triệu mệnh[10], nay không có tiền táng mẹ, muốn xin tư kiến, đó là làm mất vẻ đẹp của triều đình.” Ngày Nhâm Thân, ban chiếu ưu đãi, cấp cho Chủng Phóng thóc, lụa và tiền.

[41] Ngày Đinh Sửu, Vua nói với Tể tướng: “Chuyển vận sứ xét xử quan lại, quyền lực rất lớn, nếu dùng người không xứng thì châu huyện sẽ chịu hại. Gần thì còn dễ nghe xét, xa thì khó biết ngay. Khoan quá thì lơ là, nghiêm quá thì độc đoán, cần phải chọn người liêm chính, khoan nghiêm hợp lý. Các khanh hãy cẩn thận lựa chọn.”

[42] Viện Lăng Cẩm có hơn 400 khung dệt gấm, Vua bảo tả hữu: “Gấm vóc không phải là thứ thường cần cho quân quốc, nên đổi hết sang dệt lụa.” Ngày Giáp Thân, bắt đầu dâng lụa mới dệt.

[43] Theo chế độ cũ, những người thi cử nhân ở Quốc tử giám và Khai Phong phủ có thân thích làm quan phát giải thì chỉ đổi nhau giữa hai ty để khảo thí. Vua lo ngại có thiên vị, nên mùa thu này, đặc cách chọn quan khác để khảo thí.

[44] Mùa đông, tháng mười, Thừa tướng Lã Đoan đã lâu ngày bị bệnh, được chiếu miễn việc triều yết, chỉ làm việc tại Trung thư, nhiều lần dâng sớ xin từ chức. Ngày Mậu Tý, ông bị miễn chức và giáng làm Thái tử Thái bảo. Trước đó, Lý Duy Thanh từ chức Tri Xu mật viện bị giáng làm Ngự sử Trung thừa, cho rằng Lã Đoan đã hạ thấp mình, nên khi Lã Đoan được miễn triều yết, liền dâng tấu cáo những quan lại thường tham gia triều chính có bệnh nhưng vẫn nhận bổng lộc hơn một năm, đồng thời xúi người kiện các lại thuộc trong Trung thư về những sai sót, nhằm đổ lỗi cho Lã Đoan. Lã Đoan nói: “Ta hành xử theo đạo ngay thẳng, không có gì phải hổ thẹn, những lời gió bão không đáng lo.”

(Theo truyện ký, Lã Đoan bị bệnh từ đầu mùa hạ, được chiếu miễn triều yết, nhưng sách Thực lục lại chép Lý Duy Thanh mất vào tháng ba ngày Tân Dậu. Vậy thì lúc Lý Duy Thanh dâng tấu các quan lại thường tham gia triều chính, Lã Đoan chưa từng bệnh nặng, e rằng truyện ký có sai sót. Lại theo bản biểu của bách quan, Lý Duy Thanh mất vào tháng tám năm nay, như vậy Thực lục chắc chắn sai, còn truyện ký không sai.)

[45] Hộ bộ Thượng thư Trương Tề Hiền được thăng làm Binh bộ Thượng thư, cùng với Hộ bộ Thị lang, Tham tri chính sự Lý Hãng giữ chức Bình chương sự.

[46] Công bộ Thượng thư, Tham tri chính sự Lý Chí bị miễn chức và giáng làm Vũ Thắng Tiết độ sứ. Lý Chí vì bệnh mắt nên xin từ chức, khi được trao cờ tiết, vào triều từ chối nhiều lần. Vua nói: “Đây là việc thời Đường, đã bỏ lâu rồi, nay đặc mệnh khôi phục, để tỏ lòng ưu ái bậc hiền tài.” Lại ban thơ ngự chế để tỏ sự sủng ái.

[47] Ngày Kỷ Sửu, Lại bộ Thị lang, Tham tri chính sự Ôn Trọng Thư bị miễn chức và giáng làm Lễ bộ Thượng thư, Xu mật phó sứ, Cấp sự trung Hạ Hầu Kiều bị miễn chức và giáng làm Hộ bộ Thị lang. Xu mật phó sứ, Hộ bộ Thị lang Hướng Mẫn Trung được thăng làm Binh bộ Thị lang, Tham tri chính sự. Hàn lâm Học sĩ Dương Lịch làm Công bộ Thị lang, Tống Thực làm Cấp sự trung, cả hai cùng giữ chức Xu mật phó sứ.

[48] Trước đây, có viên quan ở gần vị trí quyền lực, ỷ thế được sủng ái mà làm càn, cưỡng bức bắt con nhà dân đã định hôn, gia đình người đó liền đến Khai phong kiện cáo. Tri phủ sự Tất Sĩ An liền xin được vào bệ kiến, tâu rõ sự việc, cuối cùng đem con nhà dân trả về cho cha mẹ, để họ thành hôn. Viên quan kia ngày đêm tố cáo Sĩ An trước mặt Vua, Sĩ An bèn xin từ chức tri phủ, Vua đồng ý, cho ông trở lại Hàn lâm làm học sĩ. Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tống Bạch từng dâng tập bảng tấu theo kiểu Lục Chí, Vua nhận thấy ý ông muốn nhận việc, bèn bổ nhiệm Bạch làm quyền Tri Khai phong phủ. Không lâu sau, Bạch tự cảm thấy mệt mỏi với việc xử án, chưa đầy nửa năm xin từ chức.

(Theo “Sự tích Văn giản công Tất Trọng Du”, Tất Sĩ An tâu lên Vua, cuối cùng đem con nhà dân trả về cho cha mẹ, để họ thành hôn. Nay theo đó. Trọng Du còn ghi: Khi Sĩ An xin bệ kiến, việc có liên quan đến Vương Vũ Xứng, nên kẻ kia ngày đêm tố cáo cả Sĩ An và Vũ Xứng trước mặt Vua. Sau đó, Sĩ An bị cách chức Tri Khai phong, trở lại Hàn lâm, xin ra ngoài, bèn được bổ làm Tri Lộ châu, Vũ Xứng cũng bị giáng làm Tri Hoàng châu. Xét rằng Sĩ An đến tháng tư năm sau mới ra làm Tri Lộ châu, việc của Vũ Xứng xảy ra vào tháng mười hai năm nay, cũng không khớp với chính sử. Nay không theo.)

[49] Ra chiếu cấm các ty ở huyện đặt nhà ngục.

[50] Ngày Canh Dần, Vua nói với các phụ thần: “Trong các quần thần có những lời gièm pha đến tai Trẫm, khi hỏi kỹ mọi người, dường như đúng sự thật. Nhưng ai mà không có lỗi, chỉ cần biết tự xét mình và sửa đổi thì đã là tốt rồi. Trẫm sẽ không vì một lỗi lầm mà phế bỏ việc dùng người suốt đời.”

[51] Ngày Ất Mùi, Tể tướng Trương Tề Hiền, Lý Hãng vào bệ kiến, Vua bảo rằng: “Trên dưới hòa thuận, cùng nhau giúp việc Vua, lòng trung hiếu phải giữ vẹn từ đầu đến cuối.” Tề Hiền tâu: “Vua là đầu, tôi là chân tay, trên dưới một lòng, há lại có thể không cùng tâm mà làm nổi việc nước?” Vua nói: “Suy xét công việc chung, nghĩ kỹ rồi mới làm, nên thận trọng xem xét, đừng để sai sót, huống chi triều trước đều có phép tắc sẵn, chỉ cần cùng các khanh tuân theo, mong đạt được thái bình mà thôi.”

Trước đây, triều đình bàn luận cho rằng từ sau niên hiệu Thuần Hóa đến cuối niên hiệu Chí Đạo, các chiếu chỉ ban ra quá nhiều và rườm rà. Lúc đó, Trương Tề Hiền giữ chức Hộ bộ thượng thư, được Vua sai chuyên trách việc san định. Giám sát ngự sử Vương Tế cùng tham gia phụ trách. Theo quy định cũ, kẻ nào cầm vũ khí đi cướp, dù có tài sản hay không, đều bị xử tử. Trương Tề Hiền đề nghị tha tội cho kẻ không cướp được tài sản, nhưng Vương Tế nói: “Hình phạt nhằm ngăn ngừa tội ác. Kẻ đó đã không sợ chết, sao có thể giảm nhẹ hình phạt?” Hai người tranh luận nhiều lần trước triều đình. Vương Tế lời lẽ gay gắt, dâng sớ nói Trương Tề Hiền là hủ nho, không hiểu yếu lĩnh của thời đại. Trương Tề Hiền lại dâng biểu trình bày việc Vương Tế cùng tham gia bàn luận nhưng lại có ý kiến khác.

Vua hỏi các đại thần: “Nên theo ai?” Lã Đoan tâu: “Lập pháp nên khoan dung, tránh nghiêm khắc quá mức. Sách ‘Chu quan’ nói: ‘Hình phạt nước yên ổn, dùng luật trung bình’, đó là chế độ kinh điển. Nhưng lợi ích không đạt trăm phần, thì không thay đổi pháp luật. Những việc cần cải cách, nên theo ý kiến đa số.” Vua bèn hạ chiếu cho Thượng thư tỉnh triệu tập bách quan bàn bạc, đồng thời hặc tội Vương Tế.

Không lâu sau, Trương Tề Hiền được bổ làm tể tướng. Ngày Đinh Dậu, ông tấu: “Thần nay ở Trung thư, không muốn tranh cãi với các quan nhỏ, xin thu hồi chiếu chỉ trước.” Vua vui mừng khen ngợi ông rộng lượng, bèn bãi bỏ việc triệu tập bàn luận, Vương Tế được miễn tội, và hình luật cuối cùng được thực hiện theo đề nghị của Trương Tề Hiền. Từ đó, số người phạm tội trộm cắp cũng không tăng. Trước kia, các quan thuộc tam ban không được miễn phạt đánh bằng gậy, Trương Tề Hiền xin cho phép họ được chuộc tội, từ đó trở thành quy định cố định. Người đương thời đều khen ông công bằng, hợp lý.

Khi ấy, trong thân tộc nhà Vua, có người tranh chấp chia tài sản không đều, kiện tụng nhau, rồi vào cầu xin phán xét trước mặt Vua, qua hơn mười lần phán quyết vẫn không chịu. Trương Tề Hiền nói: “Việc này không phải đài phủ có thể quyết định, xin thần tự xử lý.” Vua đồng ý. Trương Tề Hiền ngồi ở tướng phủ, gọi các bên kiện tụng đến hỏi: “Các người có phải vì người kia được chia nhiều của cải, còn ngươi được chia ít không?” Họ đều đồng ý. Ông bèn sai họ ký vào bản tường trình, rồi cử hai viên lại đưa tài sản của người này sang nhà người kia, và ngược lại, tài sản vẫn như cũ, chỉ đổi bản phân chia. Người kiện tụng bèn chấp nhận. Hôm sau, ông tâu việc này với Vua, Vua rất vui và nói: “Trẫm biết chắc là không ai ngoài khanh có thể giải quyết được việc này.”

[52] Ngày Kỷ Dậu, Vua ngự tại điện Sùng Chính xem việc triều chính, đến giờ Ngọ thì thôi. Từ khi lên ngôi, mỗi buổi sáng, Vua đều ngự ở điện tiền, các quan Trung thư, Xu mật viện, Tam ty, phủ Khai Phong, viện Thẩm hình cùng các quan xin đối tấu việc theo thứ tự, đến giờ Thìn thì trở về cung dùng cơm. Một lát sau, Vua lại ra ngự ở điện hậu xem xét các việc của các ty, hoặc duyệt binh sĩ luyện tập võ nghệ, đến giữa trưa thì thôi. Buổi tối, Vua triệu tập các nhà Nho để tham vấn về được mất, có khi đến nửa đêm mới trở về cung. Sau đó, việc này trở thành thường lệ.

(Sách ‘Thánh Chính Lục’ chép rằng Vua triệu tập Thị giảng độc học sĩ. Xét rằng đến tháng 7 năm thứ hai mới đặt chức Thị giảng học sĩ[11], lúc này chức đó chưa có, nay đổi thành “Nho thần”, để không gây nhầm lẫn.)

[53] Ngày Quý Sửu, Vua sai quan tu soạn ‘Thái Tổ Thực Lục’ là Tiền Nhược Thủy cùng các quan khác xem lại các bài thi của thí sinh đỗ giải tại phủ Khai Phong.

Theo lệ cũ, phủ kinh đô chọn 10 người trở lên gọi là “đẳng giáp”, phải là người văn nghiệp xuất sắc, có danh tiếng mới được lấy. Lúc đó, lấy Cao Phụ Nghiêu đứng đầu, Tiền Dịch đứng thứ hai. Tiền Dịch được nhiều người đề cao, nên tỏ ra bất mãn, bèn dâng thư chỉ trích các đề thi của quan ra đề là bài phú “Hủ sách ngự lục mã” cùng các đề thi thơ, luận, sách[12], trong đó hàm ý châm chích. Lại có vài trăm thí sinh đến phủ kiện việc tiến cử không công bằng, Cao Phụ Nghiêu cũng dâng sớ xin nhường vị trí đứng đầu cho Tiền Dịch. Phủ Khai Phong tâu lên Vua, nên có lệnh này, lại sai các quan ở Lưỡng chế bàn luận về việc kiện tụng đề thi.

Khi ấy, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tống Bạch rất thân với Tiền Dịch, quan khảo thí là Độ chi viên ngoại lang Phùng Chửng dâng tấu tố cáo việc Dịch và Tống Bạch có mối quan hệ giao kết. Vua nổi giận lớn, sai trung sứ bắt Phùng Chửng giam vào ngục Ngự sử. Phùng Chửng kiên quyết nói Dịch không có đức hạnh, không thể đứng đầu các sĩ tử trong thiên hạ. Vua cũng cho rằng giới sĩ phu đang tranh giành nhau, không thể mở đầu cho việc này, và muốn trấn áp thói phù phiếm, nên ban chiếu tha cho Phùng Chửng, bãi bỏ việc bàn luận và phúc khảo ở Lưỡng chế, chỉ lệnh cho Nhược Thủy và những người khác chọn một người vừa có văn tài vừa có đức hạnh để đứng đầu. Vì thế, lấy Tôn Kỵ đứng thứ nhất, Phụ Nghiêu thứ hai, Dịch thứ ba, những người còn lại giữ nguyên thứ tự.

Tôn Kỵ là người Khai Phong, cháu của Tân. Phụ Nghiêu là con của Bảo Dần.

Ban đầu, Tiền Dịch vì tính khinh bạc mà bị bãi chức, sau đó Thái Tông bàn luận với Tô Dịch Giản về các nhà văn thời Đường, và than thở rằng không được cùng thời với Lý Bạch. Tô Dịch Giản nói: “Dịch có thể làm thơ ca, gần như không kém Lý Bạch.” Thái Tông kinh ngạc và vui mừng nói: “Nếu đúng như vậy, ta sẽ triệu ông vào cung làm quan.” Nhưng khi giặc nổi dậy ở Kiếm Nam, việc này đành dừng lại.

[54] Tháng này, ban chiếu rằng quân lính đồn trú ở biên giới ngày nào cũng vất vả nhận lương thực, lệnh cho tam ty bàn bạc để định chế độ lâu dài[13], không làm phiền dân, lại lệnh cho Diêm thiết sứ Trần Thứ giám sát việc bàn bạc.

(Theo “Bản chí”, “Thực lục” không ghi chép sự việc này.)

[55] Tháng mười một, ngày Bính Thìn, mùng một, Phó sứ Hữu sương quân Hà Tây, Quy Đức tướng quân Chiết Bồ Du Long Minh đến triều kiến. Quân Hà Tây tức là phủ Tây Lương. Du Long Minh bốn đời được triều đình phong làm tù trưởng, tuy thường dâng tiến sản vật địa phương, nhưng chưa từng tự mình đến, nay mới tới, dâng hơn hai nghìn con ngựa. Du Long Minh tự nói: “Quân Hà Tây phía đông đến châu Nguyên cũ một nghìn năm trăm dặm, phía nam đến núi Tuyết, đất Thổ Cốc Hồn, giới hạn châu Lan ba trăm năm mươi dặm, phía tây đến giới hạn thành Đồng châu Cam sáu trăm dặm, phía bắc đến bộ lạc ba trăm dặm. Chu vi đồng bằng hai nghìn dặm[14]. Trước đây quản lý năm huyện Cô Tang, Thần Ô, Phiên Hòa, Xương Tùng, Gia Lân, có hai mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi ba hộ, mười hai vạn tám nghìn một trăm chín mươi hai khẩu, nay chỉ còn ba trăm hộ người Hán. Chu vi thành năm mươi dặm, hình dáng như chim phượng, tương truyền là nơi trị sở cũ của Lý Quỹ.” Gia phong Du Long Minh làm An Viễn Đại tướng quân.

(Du Long Minh nghi là Du Long Ba, nhưng các sách đều không ghi chính xác, cần phải khảo cứu thêm.)

[56] Ngày Mậu Ngọ, Vua nói với các quan phụ chính rằng: “Việc quốc gia cần thận trọng, trước hết là tiết kiệm, tiết chế chi tiêu yêu thương dân chúng, phong tục dân gian sẽ tự nhiên thay đổi.” Trương Tề Hiền nói: “Sách xưa khen Đại Vũ tiết kiệm trong gia đình, trong ba báu của Lão Tử, tiết kiệm là một. Vua thích gì, dân chắc theo đó, Vua thích tiết kiệm thì quốc gia có của dư, dân không lạm dụng thì nhà có của cải, tự nhiên liêm chính nhường nhịn thịnh hành, trộm cướp ít đi, dân chúng đông đúc sẽ được giàu có trường thọ. Thần xin kính nghe lời dạy của Thánh thượng, nguyện cùng tuân theo.”

[57] Tam ty dâng lên số liệu về kinh phí, Vua nói: “Tiên đế coi tài phú là gốc lớn của quốc gia, không gì không cầu ở đạo trung chính để làm thành quy chế vĩnh viễn.” Các quan phụ chính nói: “Tiên đế không chỉ yêu dân, tiết kiệm chi tiêu, mà còn giảm bớt quần áo, tự mình mặc những bộ quần áo giặt giũ, điều mà các bậc Vua hiền đời trước không ai sánh kịp.” Ban đầu, Vua ra lệnh cho Tam ty liệt kê số lượng tiền bạc và lương thực trong và ngoài nước để báo cáo. Diêm thiết sứ Trần Thứ đã lâu không dâng lên, Vua sai các quan phụ chính chất vấn. Thứ nói: “Thiên tử còn trẻ tuổi, nếu biết kho tư đầy đủ, sợ sinh tâm xa xỉ, nên không dám dâng lên.” Vua nghe xong khen ngợi.

(Việc này không rõ thời điểm, nhân việc Tam ty dâng số liệu kinh phí nên ghi chép lại.)

[58] Nội thị Bùi Dũ[15]giám sát sách vở của Tam quán và Bí các đã lâu không được quản lý tốt, Vua sai nội phẩm Lưu Sùng Siêu thay thế, sau đó ra chiếu cho Tri chế cáo Chu Ngang[16]cùng Bí các hiệu lí Đỗ Hạo, Trang trạch sứ Lưu Thừa Khuê sắp xếp và biên soạn thành mục lục.

[59] Ngày Mậu Thìn, Tây Kinh Tả tàng khố sứ Dương Doãn Cung tâu: “Theo chiếu, ước định giá ngựa của các bộ tộc phiên và các nơi tiến cống, xin được đúc ấn.” Chiếu lấy chữ “Cổ Mã Ty Ấn” làm văn tự. Việc lập Cổ Mã Ty bắt đầu từ đây.

Những nơi mua bán ngựa là Phủ Châu, Khả Lam Quân ở Hà Đông; Tần, Vị, Kinh, Nguyên, Nghi, Hoàn, Khánh, Giai, Văn Châu và Trấn Nhung Quân ở Thiểm Tây; Ích, Lê, Nhung, Mậu, Nhã, Quỳ Châu và Vĩnh Khang Quân ở Xuyên Hạp; đều thiết lập quan vụ, cử quan đến chủ trì, mỗi năm thu được hơn năm nghìn con, dùng vải lụa, trà và các vật khác để ước định giá trị.

Những nơi chiêu mộ ngựa là Thổ Phiền, Hồi Hột ở Tần, Vị, Giai, Văn; Đảng Hạng ở Lân, Phủ; Tàng Tài tộc ở Phong Châu; Bạch Mã, Tị Gia, Bảo Gia, Danh Thị tộc ở Hoàn Châu; cùng các bộ tộc phiên ở Kinh, Nghi, Diên, Phu, Hoả Sơn, Bảo Đức, Bảo An Quân, Đường Long Trấn, Chế Thắng Quan. Mỗi năm đều được cấp sắc thư để trống, giao cho các quan chức biên giới chọn nha lại vào các bộ tộc chiêu mộ ngựa đến Kinh Sư. Khi đến, Cổ Mã Ty sẽ định giá, từ ba mươi lăm nghìn đến tám nghìn, tổng cộng hai mươi ba mức.

Các bộ tộc phiên có người trực tiếp tiến cống, từ bảy mươi lăm nghìn đến hai mươi bảy nghìn, tổng cộng ba mức; có người dâng ngựa thượng thừa, từ một trăm mười nghìn đến sáu mươi nghìn, cũng ba mức.

[60] Tháng mười hai, trước đó, triều đình đã ban chiếu cho Cấp sự trung Sài Thành Vụ cùng các quan khác xem xét lại và định rõ bộ sắc lệnh mới biên soạn.

Ngày Bính Ngọ, Sài Thành Vụ dâng tấu rằng:

“Từ thời Đường Khai Nguyên đến Chu Hiển Đức, đều có các quy tắc và sắc lệnh, được ghi chép thành sách. Đầu thời Quốc gia, đã định lại bộ ‘Hình thống’, chỉ thực thi bốn quyển biên soạn về sắc lệnh. Đến khi thiên hạ thống nhất, văn hoá đồng nhất, Thái Tông lên ngôi, uy giáo lan rộng, liền tăng thêm các sắc lệnh sau thành ‘Thái Bình biên sắc’ gồm mười lăm quyển, đến thời Thuần Hoá lại tăng thêm thành ‘Thuần Hoá biên sắc’ ba mươi quyển.

Khi mới biên soạn, Tiên đế đã thân giáo các cơ quan, yêu cầu giữ thể yếu. Lúc đó, bề tôi không thể làm rõ thánh ý, bỏ bớt văn phiền. Nay vận nước thịnh vượng, lòng hiếu thuận kế thừa tốt đẹp. Từ thời Thuần Hoá về sau, sắc lệnh ban ra rất nhiều. Triều đình sai các cơ quan loại bỏ và định rõ lại, lấy các sắc lệnh của bộ Hình, Đại Lý tự, các cơ quan ở kinh sư, các chuyển vận sứ ở các lộ, cùng các sắc lệnh mới ban sau thời Thuần Hoá tổng cộng mười tám nghìn năm trăm năm mươi lăm đạo, xem xét kỹ lưỡng. Những sắc lệnh trùng lặp với bộ ‘Hình thống’, các điều lệ cũ, hoặc là những quy định tạm thời không phải là chế độ mãi mãi, đều loại bỏ; những điều lệ về cấm pháp cần tham khảo với Tam ty, thì giao cho bộ ấy tự biên soạn, tổng cộng chọn được tám trăm năm mươi sáu đạo, làm thành bộ ‘Tân san định biên sắc’. Những sắc lệnh chỉ về một việc mà ban nhiều lần, thì hợp lại làm một; một sắc lệnh chỉ về nhiều việc, thì chia ra theo từng loại. Các điều mục liên quan được sắp xếp theo mối liên quan, không theo thứ tự thời gian; những chỗ văn dài ý hẹp, thì tuỳ theo tình hình tăng giảm; những chỗ tình nhẹ mà pháp nặng, thì lấy lại các quy định về hình pháp để loại bỏ. Tất cả hoàn thành hai trăm tám mươi sáu đạo, theo luật phân thành mười hai mục, cùng mục lục thành mười một quyển.

Lại lấy mười sáu đạo về nghi chế, xe ngựa, v.v., biên thành một quyển riêng[17], phụ vào ‘nghi chế lệnh’, ai vi phạm thì xử như vi phạm lệnh, nếu điều lệ ấy đã có quy định hình pháp thì theo đó. Lại lấy chín đạo về sách xá, đức âm biên thành một quyển riêng, phụ vào ‘Thuần Hoá xá thư’ hợp thành một quyển. Những sắc lệnh liên quan đến cải cách ở một châu, một huyện, một cơ quan, một việc, đều giao về cơ quan đó giải quyết, sắc lệnh ghi là ‘theo pháp luật’ hoặc ‘theo điển chế triều đình’ để xét xử[18], nếu không có quy định hình pháp, thì theo luật, lệnh, cách, thức; nếu không có điều lệ, thì theo ‘vi chế sắc’[19], phân biệt giữa cố ý và vô ý, cũng như không tự mình nhận sắc lệnh[20].

Bề tôi chúng thần đã xem xét lại kỹ lưỡng, mọi ý kiến đều thống nhất, kính mong được khắc bản ban bố, cùng với luật, lệnh, cách, thức và ‘Hình thống’ được thực thi đồng thời.”

Vua ban chiếu khen ngợi và đáp lại.

[61] Hình bộ Lang trung, Tri chế cáo Vương Vũ Xứng tham gia biên soạn ‘Thái Tổ Thực Lục’. Có người nói ông đã dùng ý riêng để định đoạt khinh trọng trong sách, ngày Giáp Dần bị cách chức, nhậm chức Tri châu Hoàng Châu.

(Xét theo ‘Hoàng Châu Tạ Thượng Biểu’ của Vương Vũ Xứng, việc này xuất phát từ việc ông ngồi sửa sử, nhưng bản truyện lại chép rằng do Tể tướng Trương Tề Hiền, Lý Hãng không hòa hợp, Vương Vũ Xứng đứng ra làm chứng[21], nên bị bãi chức. Nay chỉ căn cứ theo ghi chép, cần xem xét thêm. Có người nói Vương Vũ Xứng soạn văn sách tăng thượng huy hiệu cho Thái Tổ, lời lẽ có ý chê trách, điều này là sai lầm lớn. Giang Hưu Phục nói: Chân Tông mới lên ngôi, Vương Vũ Xứng đến yết kiến Tể tướng họ Tất ở Khai Phong, nói việc nọ việc kia, các cựu thần nên có lời khuyên răn, nên bị điều đi làm Tri châu Hoàng Châu. Điều này cũng sai. Khi Chân Tông mới lên ngôi, Vương Vũ Xứng thực sự được triệu từ Dương Châu về kinh, lúc bị khiển trách, Tể tướng họ Tất đã rời Khai Phong rồi.)

[62] Năm đó, cử Như Kinh sứ Liễu Khai làm Tri châu Đại Châu, Liễu Khai dâng sớ nói:

“Quốc gia khai nghiệp đã gần bốn mươi năm, Bệ hạ kế thừa ngôi vị của hai vị Thánh, tinh tâm tìm kiếm phép trị nước tối thượng. Nếu chỉ giữ quy cũ thì chưa thể gọi là hoàn thiện, mà lập nên phép mới mới thể hiện được cơ sâu xa.

Thần thấy Ích Châu tạm yên, mong Bệ hạ chọn người hiền tài để trấn giữ, người ấy phải có uy danh khiến quần thần kính sợ. Phía Tây biên tuy nay đã quy phụ triều đình, nhưng ngày sau chưa chắc đã bảo đảm, nếu có biến động, cần người có tài chế ngự. Nếu so sánh với Khiết Đan[22], thì mối họa càng sâu. Vì sao? Khiết Đan đã lâu định ngôi Vua tôi, người Phiên và người Hán phân biệt rõ ràng, dù có ý nhìn về phương Nam, cũng phải tự cân nhắc. Còn phía Tây biên, lòng hận chưa nguôi, tham lam khó đổi, kẻ dưới ngang ngược, tranh nhau mưu đồ hung ác, xâm chiếm chưa chắc biết đủ, nhân nhượng chưa thể cảm ân.

Mong Bệ hạ thường xuyên dự phòng, dùng tướng giỏi giữ nơi hiểm yếu, ban thưởng hậu để thỏa lòng tham, dùng sự vỗ về để thu phục tình cảm, dùng sự khoan dung để ngăn chặn ý đồ, sai nhiều sứ giả vào Tây là Cam Châu, Lương Châu, kết thân hậu hĩnh để làm viện trợ cho ta, nếu có biến động, sai họ xâm chiếm[23], khiến họ phải lo ngại phía sau, mới có thể kiềm chế sự hành động bừa bãi của họ.

Nay binh lính tuy đông, nhưng không bằng thời Thái Tổ, mọi người đều luyện tập, mưu thần mãnh tướng cũng khác xa, nên mấy năm gần đây phương Tây Bắc liên tiếp bị xâm nhiễu, nuôi dưỡng thì chi phí hàng tháng quá lớn, đánh trận thì chưa nghe thắng lợi. Thần mong Bệ hạ luyện tập, cấm cố như xưa, binh lính phải tìm người dũng cảm, chỉ huy không nể nang người trước kẻ sau, kẻ phạm luật phải giết, kẻ lập công phải thưởng, tướng chủ không có uy nghiêm phải bãi chức, lúc rảnh rỗi, Bệ hạ hãy thân đến điện đình, triệu tập các tay võ dũng, sai họ tập luyện đánh đâm, phi ngựa, để tỏ rõ sự hùng mạnh của thần vũ.

Thần lại cho rằng, chức vụ Thừa tướng, Xu mật, là đại thần trong triều đình, được ủy nhiệm chắc chắn không nghi ngờ, sử dụng ắt hợp lý, tổng quản các thuộc hạ, bình phẩm chức quan, trong thì quản lý trăm quan, ngoài thì phân trị bốn phương. Nay quan triều đình lại đặt riêng chức Thẩm quan, Cung phụng, Điện trực thì lập riêng Tam ban, bộ Hình không được xét án, lại lập riêng Thẩm hình, ty Tuyên huy trong triều cũng giống như đất hoang. Đại thần không được thân tín, tiểu thần lại được cho là công bằng. Như ty Ngân đài, vốn thuộc Xu mật, những năm gần đây cải chế, chức trách nhiều hơn, tăng thêm nhân sự, nhưng công việc vẫn như cũ, không có lợi hại gì khác, chỉ thấy thay đổi vô ích. Thần mong đình chỉ chức Thẩm quan, Tam ban, lại giao nhiệm vụ cho Trung thư, Xu mật, Viện Tuyên huy, ty Ngân đài trở lại Xu mật viện, Viện Thẩm hình trở lại bộ Hình, bỏ bớt những điều phiền phức, giảm bớt những chức quan không cần thiết.

Lại nữa, kinh đô là đô thành lớn, là quy tắc của muôn phương, mong được giữ như cũ, chọn người thân hiền giao nhiệm vụ. Nay các hoàng tử trong hoàng tộc phần lớn đã trưởng thành, chỉ được hưởng an nhàn, không có cơ hội thử sức, nên cử ra ngoại phiên, chọn những bậc văn võ trung trực làm tả hữu phụ tá.

Lại nữa, quan lại các châu huyện trong thiên hạ không đều, có nơi quan viên quá nhiều, có nơi thiếu hụt lâu năm. Mong rằng các huyện có trên 4.000 hộ thì chọn quan triều làm tri huyện, trên 3.000 hộ thì chọn quan kinh làm tri huyện, bỏ chức Chủ bạ, giao cho Huyện úy kiêm nhiệm. Còn các chức Thông phán, Giám quân, Tuần kiểm, Giám lâm sứ thần, nên cân nhắc giảm bớt, tránh lãng phí bổng lộc, lại đều đặn phân bổ chức quan[24].

Lại nữa, tình người tham lam tranh đua, thói đời nhẹ nổi, dù là thân tình ruột thịt, trước lợi lộc cũng hay thay lòng, trong cùng một đồng liêu, phần nhiều không hòa thuận, thừa cơ thì hãm hại, hoạn nạn thì chẳng ai cứu giúp, phong khí nhân nghĩa suy đồi không còn. Mong ban lệnh rõ ràng, khiến mọi người sửa đổi, để làm dày nguồn giáo hóa, vững chắc cội rễ chính trị.

Kính nghĩ rằng Thái Tổ thần võ, Thái Tông thánh văn, ánh sáng bao trùm trăm Vua, uy danh lan tỏa muôn nước, không hiền tài nào không dùng, không việc gì không biết. Mong Bệ hạ mở rộng lòng thánh, rộng như trời biển, việc gì nên quyết thì quyết, việc gì nên làm thì làm, quý trọng bề tôi trung trực, xem xét bọn gian nịnh. Thần lâu nay ở ngôi, được ơn sủng sâu dày, lời nói ngông cuồng, lí lẽ vụng về, mong Thánh thượng thứ lỗi.”

Liễu Khai đến Châu, sửa sang thành lũy, vũ khí, các tướng phần nhiều ngăn trở, bất đồng ý kiến. Khai nói với người cháu rằng: “Ta thấy sao Hồ có sáng, mây từ phương Bắc kéo đến xâm phạm biên giới, giặc sắp đến vậy. Ta nghe rằng quân thắng nhờ hòa hợp, nay các tướng oán giận ta, một khi giặc đến, ta sẽ nguy mất.” Bèn dâng sớ xin dời đến châu khác, sau đó được đổi làm Tri Châu Hãn.


  1. Hàng ngày sai Thôi Di Chính đến Ngự thư viện chờ đối đáp: 'Chờ đối đáp' nguyên bản là 'hầu đối đáp', theo bản Tống, Tống toát yếu và 'Tống sử' quyển 431 Thôi Di Chính truyện, 'Tống sử toàn văn' quyển 5 sửa lại. Xét 'Biên niên cương mục' quyển 6 chép là 'hầu giảng', nhưng chức 'Hầu giảng' được đặt vào tháng 7 năm Hàm Bình thứ hai (xem quyển 45), có lẽ là sai.
  2. 'Xum xuê' nguyên văn là 'tài', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 21, 'Tống sử' quyển 284 truyện Trần Nghiêu Tẩu sửa lại.
  3. 'Nhờ vào gốc cũ' trong 'Tống sử' dẫn trên viết là 'củng cố gốc cũ'.
  4. 'Đất có lợi thừa mà dân lại thiếu vốn' nguyên văn 'đất' viết là 'dã', 'vốn' viết là 'kim'. Xét nguyên bản có lẽ do hình tự gần nhau mà sai, hoặc do âm gần mà nhầm, khiến câu văn khó hiểu. Nay căn cứ vào 'Tống sử' dẫn trên và câu 'vải lụa cung cấp cho triều đình, tiền tệ lưu thông' trong phần sau sửa lại.
  5. 'Các huyện lệnh và tá quan theo lệ ghi vào sổ để làm tiêu chuẩn' nguyên văn 'các' viết là 'thỉnh', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 'Tống sử', 'Trường biên kỷ sự bản mạt' sửa lại.
  6. từ chối việc gặp gỡ riêng 'từ chối' nguyên tác 'biết', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử mà sửa
  7. Lại nói nguyên tác 'Chi ngôn', theo Tống bản, Tống toát yếu bản mà sửa
  8. đợi khi họ bãi chức Tống sử quyển 441 truyện Diêu Huyền, Tục thông giám quyển 20 đều viết 'Sĩ kì bãi quan'
  9. Mong rằng nơi nào Tri châu, Phủ, Quân, Giám 'Mong rằng' nguyên tác 'Vọng dục', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và truyện Diêu Huyền mà sửa
  10. Chữ 'phóng' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 22 bổ sung.
  11. Xét rằng tháng 7 năm thứ hai mới đặt chức Thị giảng học sĩ, chữ 'Thị' nguyên bản khuyết, căn cứ vào quyển 45 sách này, tháng 7 năm Hàm Bình thứ hai, ngày Bính Ngọ, đặt chức Hàn lâm Thị giảng học sĩ, và quyển 6 'Tống Sử', kỷ Chân Tông bổ sung.
  12. Dịch thư chỉ trích các đề thi của quan ra đề là bài phú 'Hủ sách ngự lục mã' cùng các đề thi thơ, luận, sách, chữ 'Cập' nguyên tác là 'Hựu', nhầm lẫn do liên quan đến dòng dưới, căn cứ vào 'Tục Thông Giám' quyển 20 sửa lại.
  13. Lệnh cho tam ty bàn bạc để định chế độ lâu dài, chữ 'lệnh' nguyên bản là 'phân', căn cứ theo bản Tống và bản Tóm lược của Tống mà sửa
  14. Chu vi đồng bằng hai nghìn dặm, chữ 'hồi' nguyên là chữ 'vi', căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu, bản Các và quyển 492 'Thổ phiền truyện' trong 'Tống sử' sửa chữa. Câu 'thành chu vi năm mươi dặm' ở dưới cũng sửa theo.
  15. Bùi Dũ nguyên tác là 'Bùi Dũ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống hội yếu chức quan 18/51 sửa lại.
  16. Chu Ngang nguyên tác là 'Chu Bạch', theo sách đã dẫn và Tống sử quyển 439 Chu Ngang truyện sửa lại.
  17. lại lấy mười sáu đạo về nghi chế, xe ngựa, v.v., biên thành một quyển riêng 'nghi chế' nguyên là 'nghi chú', theo Tống bản, Tống toát yếu và Tống hội yếu, phần hình pháp đã sửa. Dưới đây cũng vậy.
  18. sắc lệnh ghi là 'theo pháp luật' hoặc 'theo điển chế triều đình' để xét xử 'lệnh' nguyên là 'kim', theo Tống hội yếu đã sửa.
  19. theo 'vi chế sắc' 'sắc' gốc thiếu, theo Tống hội yếu đã bổ sung.
  20. phân biệt giữa cố ý và vô ý, cũng như không tự mình nhận sắc lệnh 'vô ý' gốc thiếu, theo Tống hội yếu đã bổ sung.
  21. Chữ 'Chứng' ở đây, bản Tống, bản Tống Toát Yếu đều chép là 'Đàm', bản Các chép là 'Tiếm'. Theo ‘Tống Sử’ quyển 293, ‘Vương Vũ Xứng Truyện’, câu này chép là 'Vương Vũ Xứng nghị luận khinh trọng trong đó'.
  22. Nếu so sánh với Khiết Đan, chữ 'so sánh' nguyên bản là 'thử nghị', dựa theo Tống toát yếu và tập Hà Đông tiên sinh của Liễu Khai (gọi tắt là Hà Đông tập) quyển 10, biểu thư thời chính, và Tống sử quyển 440, truyện Liễu Khai mà sửa.
  23. sai họ xâm chiếm, hai chữ 'sai họ' nguyên bản thiếu, dựa theo sách trên mà bổ sung.
  24. 'Đều đặn phân bổ chức quan': nguyên bản chữ 'Quan' viết là 'phương', căn cứ theo sách trên và 'Tống sử' quyển 440 'Liễu Khai truyện', 'Tấu nghị' quyển 29 'Trị đạo' sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.