"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 275: NĂM HI NINH THỨ 9 (BÍNH THÌN, 1076)

Từ tháng 5 năm Hi Ninh thứ 9 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 5, ngày Bính Thìn (mùng một), xuống chiếu: “Các thủ lĩnh châu động ở biên giới Ung Châu đến đầu hàng, nên đối xử tử tế bằng nhiều cách, không để họ lâm vào cảnh khốn cùng.” Lúc này, giặc Giao Chỉ đã rút lui, các thủ lĩnh châu động như Nùng Quảng Lâm đều xin quy thuận.

[2] Vua phê dụ cho Vương Trung Chính: “Các bộ lạc phiên thuộc các châu Cung, Tĩnh dưới quyền quản lý của Mậu Châu làm loạn, đã bị tiêu diệt. Những bộ lạc bị ép theo, nếu biết hối cải quy thuận, thì nên đối xử tử tế gấp bội, đồng thời ra bảng hiểu dụ các châu quân tiếp giáp với man di và các trại thành ngoại biên thuộc các lộ.

Những việc cần xử lý, mỗi lộ chọn cử một viên giám ty đi khảo sát. Đo đạc kích thước lớn nhỏ, cao thấp, dày mỏng của các vòng thành, độ sâu nông, rộng hẹp của hào, có bao nhiêu chỗ bị địch tấn công, trong tình huống khẩn cấp có thể cho dân cư lân cận vào lánh nạn hay không, giếng nước có đủ dùng hay không.

Những chỗ hào thành nông sâu, rộng hẹp, có cần mở rộng và đào sâu thêm hay không, nếu cần tu sửa thì vẽ đồ án, tính toán vật liệu, nên quy hoạch như thế nào, dự tính bao nhiêu năm thì hoàn thành. Các công cụ phòng thủ như lầu canh, nếu cần tăng thêm, thì lấy vật liệu ở đâu, huy động nhân công từ chỗ nào. Bảo giáp và thổ đinh chưa được huấn luyện, trong tình huống khẩn cấp chắc chắn khó sử dụng, nên sắp xếp thành từng phiên, dưới quyền tuần kiểm và huyện úy đi tuần phòng, nhân đó khuyến khích tập luyện võ nghệ, xem có gì bất tiện hay không.

Đồng thời tóm tắt các điều ước về bảo giáp thượng phiên đang áp dụng ở Khai Phong và năm lộ, để xem xét. Vũ khí nếu không tinh nhuệ hoặc thiếu, thì cử quan đến các châu quân trọng yếu để tuyển chọn, chuẩn bị điều động sử dụng, hoặc nếu địa phương khó kiếm, thì lần lượt chế tạo ở các đô tác viện của các lộ. Nay đặc biệt cử người đi khảo sát, các quan không được coi là việc thường, làm qua loa, phải tự mình khảo sát và tìm hiểu lợi hại, phân tích rõ ràng rồi tâu lên. Giao Trung thư và Xu mật viện xem xét, lấy chỉ thi hành.”

[3] Lấy Chủ khách viên ngoại lang Chu Ôn Kỳ, người tiếp đãi sứ Liêu, làm Tri châu Thư. Trước đó, sứ Liêu là Gia Luật Hiếu Thuần hỏi Ôn Kỳ: “Nam Man có việc gì?” Ôn Kỳ đáp: “Nam Man làm phản, đã sai người đi đánh dẹp.” Lại hỏi: “Quân một hai vạn chăng?” Ôn Kỳ đáp: “Không chỉ một hai ngàn thôi.” Lại hỏi: “Ai làm tướng?” Đáp: “Quách Quỳ, Triệu Tiết.” Vì không bẩm báo trước với triều đình, nên Ôn Kỳ bị cách chức, lấy Hộ bộ phán quan, Độ chi viên ngoại lang, Bí các hiệu lý An Đạo thay thế.

[4] Ngày Đinh Tỵ, sai Quyền phát khiển Hoài Nam Đông lộ chuyển vận phó sứ Kiển Chu Phụ[1], đi ngựa trạm cùng Thái Xác xét xử các quan lại vi phạm pháp luật về kết địch ở Hi Hà lộ. Sau đó sai Chu Phụ xét xử vụ án Hoa Đình, đổi sai Hoài Nam Tây lộ chuyển vận phán quan Uông Phụ Chi thay thế. (《Nhật lục》 ngày 23 và 14.)

[5] Tân sai Quyền phát khiển Tần Phượng lộ chuyển vận phán quan Tôn Huýnh, xin lệnh cho Hi Hà lộ kinh lược ty cùng với Đề cử cung tiễn thủ ty, Chuyển vận ty, cùng chọn người cung tiễn thủ có thể thay thế chính binh, được chấp thuận.

[6] Trung thư môn hạ tâu: “Cấp sự trung, Tập hiền điện tu soạn Trình Sư Mạnh xin bãi bỏ Thị bạc ty ở Hàng Châu, Minh Châu, chỉ lấy Thị bạc ty ở Quảng Châu một nơi để trừu giải, muốn lệnh cho Sư Mạnh đến Tam ty cùng bàn bạc kỹ lượi hại rồi tâu lên.” Tam ty tâu: “Nay cùng Sư Mạnh bàn bạc kỹ lượi hại của Thị bạc ty Quảng Châu, Minh Châu, trước hết san định lập điều ước về trừu giải.” Chiếu rằng: “E rằng các châu có việc chưa hết chưa tiện, lệnh cho lấy thêm ý kiến rồi định lại thi hành.”

[7] Ngày Mậu Ngọ, yến tiệc sứ Liêu ở điện Sùng Chính.

[8] Quản lý ty Hoàng thành, Nội thị áp ban Vương Trung Chánh bị phạt 30 cân đồng. Vì tội để người điên là Tôn Chân mặc áo giấy đêm vượt Hoàng thành, leo lên mái điện Văn Đức, tụng kinh Phật, nói lời yêu quái. Chân là dân châu Túc, bị bệnh tâm thần, đặc cách đánh trượng vào lưng và đày ra đảo Sa Môn. Các binh lính canh gác bị xử trượng nặng nhẹ khác nhau, quan lại và binh lính liên quan đều giao cho phủ Khai Phong xét xử.

Ngự sử Thái Thừa Hi tâu: “Thần nghe dân châu Túc là Tôn Chân đêm vượt tường cung, leo lên mái điện Văn Đức, đêm đó từ trong ra ngoài, tuần tra kiểm soát đều không phát hiện, đến gần trưa mới nghe tiếng tụng kinh, lính canh mới bắt được. Điện Văn Đức là nơi triều hội bên ngoài, gần kề nơi cấm[2], mà việc canh gác lỏng lẻo, làm sao phòng ngừa được? Việc đã giao xuống phủ xét xử lâu rồi, nhưng chưa thấy thi hành hình phạt, bên ngoài có lời đồn rằng cấm vệ Hoàng thành đều bị khiển trách, muốn kéo dài thời gian để mong được khoan hồng tha bổng. Thần xin thúc giục sớm kết thúc vụ án, những người liên quan, cùng các quan chức phụ trách Hoàng thành, những nơi qua lại, chức trách canh gác, trước hết tạm ngừng triều yết, đều xử theo pháp luật, không được khoan hồng, để nghiêm phòng bên ngoài, giữ nghiêm cung cấm. Nay nếu Thánh từ khoan dung, thì sự nghiêm ngặt của nơi Thiên tử ở, sự cẩn mật của doanh trại xung quanh, từ đây sẽ dần lơi lỏng, việc Mãnh Hà đột nhập thời Hán, cảnh giác Trương Thiều thời Đường, đều là bài học sâu sắc. Đây là việc cần suy nghĩ kỹ, không thể vì việc nhỏ mà làm sai phép nước.”

(Tờ tâu của Thừa Hi kèm theo đây, cần tra cứu việc Tôn Chân. Tháng giêng năm thứ 8, Trịnh Hiệp có viết sách, có lẽ là việc Tôn Chân, cần xem kỹ hơn.

Theo 《Dã sử》 của Lâm Hi chép việc Tôn Chân rất đầy đủ, vào ngày mùng một tháng 4 năm thứ 9, hoàn toàn không liên quan đến lời Trịnh Hiệp. 《Dã sử》 chép “Chân”“Trân”, nay chú thích ở đây. 《Dã sử》 của Lâm Hi chép: Ngày mùng một tháng 4 năm Bính Thìn, trong tiệc Văn Hỷ vừa ngồi xuống, rượu mới rót một tuần, bỗng tuyên Trần Dịch rằng: Sáng sớm có người ngồi trên nóc điện Văn Đức, lại đi quanh mái hiên. Tiếng tụng kinh vang lên, lính canh mới phát hiện bắt được. Người đó mặc áo rách, vá bằng giấy, hỏi từ đâu đến, đáp: Tôn Trân huyện Hồng châu Túc, Phật sai hai người mặc áo xanh đưa ta đến. Lính canh vội đổ máu lợn vào miệng, giải về Khai Phong, gọi Trần Dịch xử lý. Lại chép: Thái hậu ở cửa Đông Nội tiễn Trưởng vương lên kiệu, từ xa trông thấy, người đó từ chỗ sửa thành vào thành, từ kho Tả Tàng leo xuống, lấy một viên ngói đặt lên tường. Kiểm tra quả đúng như vậy. Từ cửa Tả Thăng Long đi dọc mái nhà đến điện Văn Đức, nói rằng người sửa thành không thấy ta, ta cũng tự do, Tâm vương sai ta đến, những nơi đi qua, quan Thân sự, tổng cộng bắt 200 người về phủ.)

[9] Vì quốc mẫu nước Liêu mất, sứ giả đến chúc mừng tiết Đồng Thiên vào chầu từ biệt ở điện Tử Thần, nhưng sứ giả báo tang chưa đến nên chưa bãi triều, vì thế không từ biệt ở điện Sùng Chính. Xét trên có nói yến tiệc sứ Liêu ở điện Sùng Chính, điều này lại nói sứ báo tang chưa đến nên chưa bãi triều, vì thế không từ biệt ở điện Sùng Chính, sử sách nhà Tống không chép. Vả lại, ngày Giáp Dần, Liêu sai Gia Luật Hiếu Thuần đến báo tang, đã làm lễ thành phục phát tang, bãi triều bảy ngày, thì sứ báo tang đã đến, điều này nói vậy, chưa rõ.

[10] Ngày Tân Dậu, xuống chiếu: “Các hộ bảo giáp có thể theo phép đội mới ban hành để kết đội, và in đồ hình kết đội mới giao cho Binh bộ, mỗi đô bảo cấp một bản đồ. Phép kết đội, ba người là một tiểu đội, ba tiểu đội là một trung đội, năm trung đội là một đại đội, cùng một người dẫn chiến đứng trước, một người ủng đội cầm đao đứng sau, hai người hầu đứng hai bên, một người cầm cờ đứng giữa, tất cả là năm mươi người, đều là quân tinh nhuệ. Người có ngựa và người không ngựa mỗi loại thành một đội. Trong đội, binh khí có thể dùng thuần một loại, hoặc dùng lẫn cung, nỏ, đao, rìu, giáo, khiên, đều do bàn định khi kết đội để dạy tập.” Cuối năm Nguyên Phong thứ ba, phép đội của các tay cung tiễn theo đó.

[11] Kinh Nguyên lộ Kinh lược ty tâu: “Dân chúng Đỗ Quý trộm hai con ngựa của giới Tây.” Xuống chiếu: “Sứ thần ở trại bảo và tuần kiểm địa phận không ngăn chặn được, lệnh cho Kinh lược ty xét xử.”

[12] Hi Hà lộ Kinh lược ty tâu: “Quan người phiên là Triệu Tư Trung xin cấp ấn tín cho Lý Kỳ Nhai, và Ty An phủ Đào Tây xin cho Lý Kỳ Nhai làm Đồng Tuần kiểm bản tộc bộ lạc. Xét thấy Kỳ Nhai có công, trước đây đã được ban ân.” Xuống chiếu: “Từ nay, quan người phiên có công lao cần khen thưởng, đều do Kinh lược ty bảo đảm tâu lên, không được nhân tiện do thủ lĩnh bảo tiến để lập ân riêng.”

[13] Hà Đông lộ Kinh lược ty tâu: “Người giới Bắc nói Yên Kinh hàng ngày duyệt hỏa dược, sai người đến chợ giới Nam mua lén diêm tiêu, lo rằng việc cấm biên giới không nghiêm, xin lập lại thể lệ khen thưởng tố giác.” Bấy giờ, Thẩm hình viện và Đại Lý tự xin thi hành lại điều lệ cũ.

[14] Đô đề cử thị dịch ty tâu: “Ty thần thống hạt tiền quan để đương, nhưng kiểm hiệu khố lại thuộc Khai Phong phủ, nếu khố này có sự chậm trễ sai sót, không có cách nào kiểm tra, xin chuyển về thuộc ty thần. Những việc liên quan đến Khai Phong phủ thì vẫn thuộc phủ như cũ, còn các việc khác đều thuộc ty thần thống hạt.” Vua nghe theo.

[15] Ngày Nhâm Tuất, Sát phỏng Tử Quỳ lộ Hùng Bản tâu: “Nghĩa quân Kiềm Châu rất có hiệu quả, nếu chia thuộc các quan binh thì sẽ tranh giành mạnh yếu với quân sĩ, không chịu nghe lệnh.” Vua sai viết thư gửi cho Vương Trung Chính và Vương Quang Tổ ở Mậu Châu.

[16] Ngày Quý Hợi, Tri chế cáo Hùng Bản được cử làm Đề cử Thái y cục, Đại Lý tự thừa Đơn Tương quản câu Thái y cục. Sau đó có chiếu rằng: “Thái y cục không thuộc Thái thường tự, chuyên đặt một viên Đề cử, một viên Phán cục, viên Phán cục chọn người biết việc y làm. Mỗi khoa đặt một viên Giáo thụ, chọn quan y trong Hàn lâm trở xuống và học sinh ưu tú làm, cũng cho phép cục này xét cử những thầy thuốc bên ngoài có danh tiếng thực tế để tâu lên. Người muốn làm học sinh thì thử nghiệm sơ qua rồi thu nhận, không hạn chế số lượng. Thường tổ chức thi vào mùa xuân, lấy người đỗ, lấy 300 người làm định mức.

Học sinh Thái học, Luật học, Võ học và tướng sĩ các doanh bị bệnh, luân phiên sai học sinh đến chữa, mỗi người cấp một tờ giấy có ấn, bắt quan bản học và tướng hiệu bản doanh ghi lại tình trạng bệnh đã chẩn đoán, khỏi bệnh hoặc chết, qua quan cục này đóng dấu; hoặc chẩn đoán là không thể chữa được thì sai người khác đến chữa, đợi khỏi bệnh hoặc chết, mỗi người ghi lại tình trạng để làm công hay tội.

Cuối năm so sánh chia làm ba bậc, tâu lên Trung thư xin chỉ, thu nhận theo thứ bậc, bậc trên mỗi tháng cấp 15 nghìn tiền, không quá 20 người; bậc trung 10 nghìn, không quá 30 người; bậc dưới 5 nghìn, không quá 50 người. Người phạm lỗi nhiều, cục này xét mức nặng nhẹ mà thi hành hình phạt, hoặc bắt ra khỏi cục. Người nhận tiền của quân doanh, xử theo tội giám lâm cưỡng đoạt, người bệnh ở các học muốn cho thì được nhận, không được đòi hỏi.”

(Sách 《Trung thư thời chính ký》 chép: “Ngày mồng 8, Tri chế cáo Hùng Bản được cử làm Đề cử Thái y cục, Đại Lý tự thừa Đơn Tương quản câu Thái y cục, lại dùng ty Nông tự cũ làm công sở Y học. Trước đó, ty Thị dịch vụ liệt kê các loại thuốc bán, Trung thư tâu muốn chuyển vào Thái y cục, đổi thành Y học, đặt quan chủ phán biết việc y. Đến đây, chiếu lệnh chỉ dùng làm Thái y cục, không thuộc Thái thường tự nữa, chuyên đặt quan Đề cử, nên dùng tên hiện nay để cử Bản kiêm lĩnh.”

Lại xét sách 《Thực lục》 chép ngày 14 lại hơi khác, nên khảo cứu thêm. 《Cựu kỷ》 chép bãi học sinh Thái y cục, lập pháp so sánh công tội, mỗi sương chọn hai thầy thuốc, để chữa bệnh cho thương nhân và người nghèo cô độc bị bệnh. So với 《Thực lục》 chép hơi khác, nghi có chỗ thiếu sót, nên khảo cứu thêm. 《Tân kỷ》 bỏ đi.

《Bản chí》 chép Thái y cục có Thừa, có Giáo thụ, chín khoa học sinh y định mức 300 người, mỗi tháng cấp lộc, chia nhau chữa bệnh cho học sinh ba trường Quốc tử giám và quân sĩ các doanh cùng thương nhân và người nghèo cô độc bị bệnh, tổng hợp số chữa khỏi và không khỏi mà định thưởng phạt.)

[17] Chiếu rằng nên giảm bớt binh lính cung thủ, huấn luyện nghĩa dũng, bảo giáp, tuần kiểm địa phận, huyện uý, lệnh cho Thẩm quan Tây viện, Tam ban viện, Lưu nội tuyển tuyển chọn, những tuần kiểm, huyện uý không đắc lực thì giao cho Đề cử, Chuyển vận, Thường bình ty chọn quan đối điều, xong rồi tâu lên. Theo lời thỉnh cầu của Phó đô thừa chỉ Xu mật viện Trương Thành Nhất.

[18] Xu mật viện tâu: “Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên Châu trước tuy theo giặc Giao làm loạn, nhưng Kỷ vốn có ý quy thuận triều đình, chỉ vì bị Giao Chỉ ép buộc, không có đường tự đổi mới. Lại thêm nhiều lần theo tin tức thám báo, Giao Chỉ chỉ lo phòng thủ, nếu quân triều đình tiến qua, Kỷ sẽ trước tiên dẹp loạn.”

Chiếu rằng: “Quách Quỳ, Triệu Tiết sai người chiêu dụ Kỷ, cho phép họ quy thuận, nếu hiện tại chưa thể đầu hàng, thì bí mật thông báo, đợi đại quân đến sẽ ra hàng, sẽ bàn bạc tâu lên, ban thưởng quan tước, ruộng đất và vàng bạc.”

Lại tâu: “Các châu động ở hai bên sông Tả, Hữu Giang thuộc Quảng Nam Tây Lộ tập hợp trai tráng để phòng bị đánh dẹp, việc nông tang đúng thời vụ, nhưng nhân lực không đủ.” Chiếu rằng: “Trai tráng hai sông, trừ người già yếu cho làm ruộng, còn lại đều tập hợp lại, mỗi người mỗi ngày cấp một thăng lương[3], hai mươi đồng tiền, đóng trại ở nơi hiểm yếu, chia phiên huấn luyện. Người giỏi võ nghệ được thưởng hậu, cùng chính binh hợp lực phòng thủ, người già yếu nếu thiếu thốn cũng được cứu tế.” (Ngày 3 tháng 6, Vương An Thạch nói thêm, và ngày 19 tháng 4, có thể tham khảo.)

[19] Ngày Giáp Tý, Kinh Hồ Nam Lộ Chuyển vận ty tâu: “Chuẩn bị vận chuyển tiền lương ứng phó cho quân Quảng Tây, thực sự không có người để thuê mướn, sợ bị thiếu sót, đã gửi công văn đến các châu Đàm, Hoành, theo chiếu sai người vận chuyển.” Chiếu rằng báo cáo số tiền công vận chuyển cho mỗi người theo địa lý.

[20] Kinh lược ty Quảng Tây tâu, Nùng Thịnh Đức ở động Hạ Lôi, châu Ung thường dẫn trai tráng giữ chặt đường hiểm, giặc Giao sai người dụ dỗ, nhưng không chịu theo giặc, xin phong chức để khen thưởng. Chiếu rằng Nùng Thịnh Đức được phong chức Tam ban tá chức.

[21] Ngày Bính Dần, ban chiếu chia lại hai lộ Chiết Đông và Chiết Tây. Trước đây, theo đề nghị của Thẩm Quát về việc chia lộ, chưa đầy nửa năm lại hợp nhất, đến nay lại chia ra, tháng 5 năm sau lại có chiếu hợp thành một lộ. Bởi vì tài chính không thể chia tách, lại đã giao cho Giám ty phân định tuần tra các châu huyện mỗi năm một lần. (Lần đầu chia vào ngày Quý Tỵ (26) tháng 4 năm thứ 7, ngày Đinh Mùi (12) tháng 9 cùng năm lại hợp nhất, đến ngày Bính Dần (11) tháng 5 năm thứ 9 lại chia, tháng 5 năm thứ 10 lại hợp nhất, nay ghi chép thêm vào đây.)

[22] Ngày Đinh Mão, ban chiếu: “Thành Mậu Châu lệnh cho Tri phủ Thành Đô Phùng Kinh xem xét, nhân thế quân mà tu sửa, lại sai quân mã phòng thủ, nếu có xâm chiếm đất của bộ tộc Phiên thì mua lại.”

[23] Ngày Mậu Thìn, Kinh lược ty lộ Hi Hà tâu: “Ngày Quý Dậu tháng giêng, dân sinh hộ Lãnh Kê Phác dẫn quân vây chùa Quách Mãng, tăng Phiên Ba Lặc Tư Đan, thủ lĩnh Triết Bốc Tôn dẫn quân Phiên chống cự, bắt được 13 người. Những quan Phiên và bộ tộc Phiên lập công đều là người mới quy phụ mà có thể tự lập công như vậy, xin ban ân thưởng.” Chiếu ban thưởng ngoài lệ, mỗi bậc thêm một tấm lụa[4]. Sau đó Kinh lược ty lại tấu: “Những người lập công xin đều bổ làm Tam ban Sai sứ, trong đó Ba Lặc Tư Đan sung làm Tuần kiểm bản tộc, Triết Bốc Tôn, Ba Lặc Tế Dĩnh Thành làm Đồng Tuần kiểm.” Đều theo lời tâu. (Ngày Quý Dậu (16) tháng giêng.)

[24] Thượng nói rằng các quan án ngoài phương dùng nhiều việc riêng, nội thần Lý Hữu Tuân mua vật phẩm dưới tháp châu Tứ, tính số tang vật cũng đã nhận tội, nhưng vì em của Vương Cổ là Vương Khải mua vật không được, nên nói với Thẩm Quát điều tra, thông phán châu Tứ mua vật rất nhiều, lại không hỏi đến. Vương An Thạch nói: “Bệ hạ đã nghe việc này, há lại không trị tội?” Vua nói: “Không muốn vì lời nội thần.” An Thạch nói: “Bậc nhân chủ lấy thiên hạ làm thể, cần gì phân biệt nội thần? Chỉ cần lời nói có lý thì làm, lời nói không thật thì trị tội là được. Muốn triệu đến Trung thư lấy lời khai tra hỏi, nếu lời nói đúng thì đủ để trừng trị kẻ gian bên ngoài, nếu lời nói sai thì trị tội nói sai, đủ để trừng trị kẻ nói dối bên cạnh.” Vua cho phép lấy lời khai, bèn triệu hỏi, liền nhận tội, thông phán tuy thường mua vật, nhưng không vi phạm pháp, Vua cũng phê hỏi được Hữu Tuân, như vậy không cần tra xét thêm.

[25] Ngày Kỷ Tỵ, đề điểm hình ngục lộ Hoài Nam Đông là Chu ước kiêm quyền phát khiển công sự chuyển vận ty bản lộ, vẫn căn cứu việc kênh đào tâu lên.

[26] Sai chủ bạ ty Nông tự là Giáp Đản đi lộ Hi Hà xem xét lợi hại việc doanh điền.

[27] Chiếu bãi sở hợp dược của khố thục dược, các việc lấy thuốc ở các nơi trước ngự và số lại nhân giảm bớt, đều thuộc sở bán thuốc, lại đổi thành Thái y cục.

(Việc này theo 《Thực lục》, khác với sự việc ghi ngày mồng 8, nên khảo xét.)

Xét việc công, lời tâu nói rằng Tham tri chính sự Lữ Huệ Khanh và em là Ôn Khanh nhờ Trương Nhược Tế vay tiền của sáu nhà giàu có như Chu Tường, tổng cộng bốn nghìn quan, để mua ruộng trong địa hạt.

Lại có Ngự sử trung thừa Đặng Uyển tâu: “Trước đây, Huệ Khanh phạm tội, tội ác đã trình lên, nhỏ thì gièm pha tà ác, lớn thì hại chính trị, làm khổ dân, lừa dối trời cao, phạm pháp tổ tông, nếu xét theo pháp luật tiền triều và tổ tông, đáng lẽ phải lập tức xử trọng tội, lưu đày xa. Nhưng trong ngoài đều bàn tán rằng triều đình chưa làm ngay là vì còn chờ điều tra việc giao kết với Trương Nhược Tế và Vương Lợi Dụng. Vương Lợi Dụng là lại viên huyện Hoa Đình.

(Điều này căn cứ theo chương tấu của Đặng Uyển ngày 27 tháng giêng năm Hi Ninh thứ 10 trong sách 《Thời chính ký》, cũng thấy trong tháng 9 năm thứ 8. Nay nghe nói đảng của Lữ Huệ Khanh là Từ Hi, Doãn Chính (Doãn Chính là lại viên Tam ty, theo chương tấu của Đặng Uyển ngày 27 tháng giêng năm Hi Ninh thứ 10 trong

《Trung thư thời chính ký》 có thể thấy) che chở, không điều tra rõ sự thật, lại không hề thăm dò các tội ác khác của Huệ Khanh, khiến trong ngoài đều thất vọng, than thở bất bình. Thần e rằng kế hoạch của bè đảng gian tà sẽ thành công, lời cứu giúp sẽ dần tiến tới, làm lầm lỗi việc bệ hạ lưu đày Cộng Công và phóng thích Hoan, gây thêm gánh nặng cho chính sự thánh minh.

Huống chi em của Huệ Khanh là Ôn Khanh cũng đã rõ tội trạng, nhưng vẫn lâu ngày giữ chức án sát một lộ; còn Hòa Khanh mới qua hai kỳ khảo xét, không có tài năng gì, mà Trương Ngạc lại dối trá, dùng phép thủ thực bảo đảm để cải làm kinh quan, việc gian lận đã phát giác, nhưng vẫn chưa bị truy đoạt. Hơn nữa, thưởng phạt là việc chung của thiên hạ, triều đình chắc chắn không vì tư lợi mà bỏ qua kẻ lừa dối phụ bạc quốc gia, nhưng việc thi hành chậm trễ, chưa thỏa đáng với dư luận trong ngoài.

Huống chi việc trừng trị bốn kẻ hung ác như Tượng Cung đâu cần phải kiểm tra pháp luật, việc giết hai kẻ ngụy biện ở Lưỡng Quan cũng không cần tính toán tang vật. Nay triều đình do dự, việc trừ gian diệt ác phải chờ bàn bạc của quan lại, thì Cộng Công thời Thuấn, Thiếu Chính Mão thời Lỗ có thể tung hoành ngày nay mà không bị hại.

Xin trước hết xét lại các tội gian dối của Huệ Khanh, sớm bàn việc trừng trị, còn các việc khác như tha tội chết cho Trương Nhược Tế, tự nhiên sẽ được điều tra tận gốc. Ôn Khanh buôn bán tầm thường, cũng xin sớm giáng chức, truy đoạt, để làm suy yếu bè đảng, thỏa mãn công luận.”

《Trung thư thời chính ký》 ngày 27 tháng giêng năm Hi Ninh thứ 10 chép rất chi tiết chương tấu của Đặng Uyển và Thừa Hi, nay chỉ căn cứ theo 《Thực lục》.)

Lại có Ngự sử Thái Thừa Hi tâu rằng: “Năm ngoái, Trung thừa Đặng Uyển nói Lữ Huệ Khanh và những người khác dùng thế lực ép dân huyện Hoa Đình là Thang Luân và những người khác mượn tiền của để kết hợp với Trương Nhược Tế mua ruộng.

Thần xin nói rằng Phương Trạch làm việc bất chính, nhờ Huệ Khanh tiến cử mà được làm chức Đề cử quan. Trong 《Thực Lục》 và 《Thời Chính Ký》 cùng với tấu nghị của Thừa Hi đều nói rằng Phương Trạch nhờ Vương Hoàn mà được Huệ Khanh tiến cử. Xét lại chương tấu trước của Thừa Hi phụ vào ngày 16 tháng 8 năm thứ 8, cũng không có tên Vương Hoàn, nay đều không lấy.

Triều đình sai quan đi xét việc, quan được sai tuy muốn che đậy, nhưng sự việc đều có dấu vết, thế mà cơ quan xét án đều không nghiên cứu tình hình thực tế, khiến khó mà luận tội. Nếu triều đình nhất định cho rằng những người liên quan đều đã bị biếm chức, những việc còn lại không cần xét hỏi, thì đây là dấu vết tham ác của Huệ Khanh và những người khác, làm nhơ bẩn thiên hạ, mà vẫn còn giữ chức quan, hoặc vẫn ở gần hoàng đế, khiến việc chỉ ra sự thật không thể ngăn chặn và khuyến khích bốn phương. Em rể của Huệ Khanh là Điện trung thừa Quách Phụ làm chức Quản câu công sự ở Lưỡng Chiết Chuyển vận ty, việc gì cũng can thiệp, xin trước hết bãi chức, sau đó xét án, hoặc chỉ trách tội, đều phải cách chức, để làm gương cho nhiều người.”

Chiếu sai Hoài Nam Đông Lộ Chuyển vận phó sứ Kiển Chu Phụ đến Tú Châu lập cơ quan xét án, bãi chức Tán thiện đại phu Lữ Ôn Khanh, Hà Bắc Đông Lộ Chuyển vận phán quan Quách Phụ, đưa về Thẩm quan đông viện.

(Tương Tĩnh viết 《Lữ Huệ Khanh Gia Truyền》 nói rằng: Bấy giờ bãi chức chính sự của Huệ Khanh, cho giữ chức cũ làm Tri Trần Châu. Lại có chiếu chỉ của hoàng đế đưa chương tấu của Thừa Hi cho Huệ Khanh xem, Huệ Khanh cũng phân tích từng điều tâu lên, trong 21 điều mà Thừa Hi nói, không có điều nào là thật. Tông Đạo và những người khác sau khi xét việc ruộng đất, không thấy có gì như lời Uyển và Thừa Hi nói, không thể tự giải thích, lại tâu rằng Thừa Hi là đồng đảng, công khai che chở, xin cùng xét án. Em của Huệ Khanh là Ôn Khanh làm việc buôn bán tầm thường, vẫn giữ chức Án sát ở một lộ, xin sớm giáng chức.

Ban đầu, Uyển nói Huệ Khanh mượn tiền mua ruộng, Huệ Khanh tự biện bạch là không có, nhưng em là Ôn Khanh khi còn tang chế, từng mua ruộng ở Tú Châu, cầm cố nhà giàu, cũng đã trả xong, Huệ Khanh đang lo việc tang về chôn ở Tuyền Châu, ban đầu không biết việc này. Việc đã rõ ràng, người đương quyền nhất định muốn hại Huệ Khanh, nói rằng tuy đã xét xong, nhưng những người liên quan chưa bị xử pháp, nên lập án xét. Có chỉ, Ôn Khanh trước hết bị cách chức, sai Kiển Chu Phụ đến Tú Châu lập án xét. Ngự phê: “Trừ những quan lại có tội vào ngày 21 tháng 5 bị cấm xét án theo pháp luật, còn lại những người dân liên quan, như việc đã xét xong rõ ràng, thì không được truy xét thêm.” Và hoàng đế cũng nói ở triều rằng Huệ Khanh không có việc gì.

Sau đó, Trung thư ban sắc, không dùng lời ngự phê, vẫn lấy cớ xét án Huệ Khanh, và cùng xử tội Oản, Thừa Hi vì chương tấu nói lại, trước đây dẫn chứng sai khiến việc bị đảo ngược vô tội. Huệ Khanh trước sau 14 lần dâng chương, biện bạch rằng văn sắc của Trung thư ban ra khác với ý chỉ nguyên sai Chu Phụ trong ngự phê, xin bãi sai Chu Phụ, thay bằng đại thần và tín thần tả hữu, lấy bản tấu đã xét xong xem xét kỹ và quyết định trước mặt hoàng đế. Chu Phụ tuy cuối cùng bị sai đi, nhưng triều đình không thể không cho rằng việc ban sắc có sai sót, phạt các quan Kiểm chính, và thêm sai Lý Tủng tham gia xét án.

Từ lúc bắt đầu xét án đến lúc này, bắt giam hơn nghìn người, Chu Phụ là quan lại tàn ác, xét nét từng chi tiết, không gì là không làm, cuối cùng không thể bôi nhọ dù một chút. Xét việc sai Lý Tủng vào ngày 7 tháng 6, phạt các quan Kiểm chính vào ngày 13 tháng 6.)

[28] Quyền Khai Phong phủ giới đề điểm chư huyện trấn công sự Thái Xác tâu: “Phủ giới đề cử ty xin chuyên sai một viên quan, không để Ty Nông tự thừa kiêm lĩnh nữa.” Được chấp thuận.

[29] Đồng tri Thái thường lễ viện Lâm Hi tâu: “Thần thấy theo lệ cũ, khiển quan đi triều bái các lăng, Tuyên Tổ, Thái Tổ, Thái Tông ba lăng cùng sai một viên quan, Chân Tông cùng Chương Hiến, Chương Huệ hậu ba lăng cùng sai một viên quan, đều do Thái thường, Tông chính khanh đảm nhiệm. Từ Hiếu Minh Hoàng hậu trở xuống chín lăng, thì sai riêng hai viên lang trung hoặc quan thanh vọng đi bái. Nếu Thái thường, Tông chính khanh khuyết, thì dùng quan tứ phẩm Thượng thư tỉnh, ngũ phẩm hai tỉnh trở lên hoặc đại khanh giám, nếu lại khuyết thì sai quan thứ cấp.

Thời Nhân Tông, riêng Vĩnh Định lăng luân phiên sai một viên quan Tông chính tự và Thái thường lễ viện, xuân thu triều hưởng vẫn lệnh điểm kiểm việc tế tự, lấy lăng đài lệnh bồi vị. Nếu là tế cáo không theo thời tiết, thì chỉ sai triều thần. Từ khi Vĩnh Chiêu, Vĩnh Hậu hai lăng phục thượng trở lại, Thẩm quan viện theo lệ các lăng tăng sai hai viên triều thần mà thôi. Lại nữa, phàm các quan lăng trần thiết chấp sự, đều thuộc Tông chính tự và Thái thường tự lễ viện, mỗi lúc sai triều thần tạm lệnh thống nhiếp, thường hay lười biếng, các lăng tế khí phần nhiều đã hư hỏng, để lâu không sửa chữa.

Thần cho rằng hiện nay Vĩnh Hậu lăng nên theo lệ cũ thời tiên triều phụng sự Vĩnh Định lăng, luân phiên sai Tông chính tự và Thái thường lễ viện, đi khắp các lăng điểm duyệt việc tế tự, nếu có gì không đúng phép, thì xử lý theo án, khí phục nếu có hư hỏng, thì gửi văn thư yêu cầu lăng đó sửa chữa thay thế. Ngày hành sự vẫn lấy lăng đài lệnh bồi vị, nếu gặp tế cáo không theo thời tiết, thì vẫn theo lệ cũ sai triều thần đi.

Lại nữa, các lăng cung phụng tự nha sàng, tế khí, sau khi tế xong chỉ để trong hiến điện, phơi lâu ngày dễ bị hư hỏng. Huống chi các lăng cung môn đều có đông tây khuyết đình, chuyên để cất nha sàng, tế khí, gặp khi hành lễ xong, thì thu cất ngay.” Được chấp thuận.

[30] Hôm đó, Vua nói với Vương An Thạch rằng: “Vương Thiều nghi ngờ khanh ép buộc ông ấy, nên cố gắng xin từ chức, e rằng sẽ giống như Lữ Huệ Khanh. Vương Thiều may mắn không có ý gì khác, hy vọng sau này còn có thể sử dụng được, khanh nên cố gắng giữ ông ấy lại.” Lại nói: “Vương Thiều khi bàn việc thường không thấu đáo lý lẽ, nhưng không đố kỵ người tài, thẳng thắn.”

Vương An Thạch nói: “Vương Thiều trong lúc cấp bách hay thong thả đều đủ dùng, thực sự là bậc hào kiệt.” Vương Khuê nói rằng trước đây vì việc của Mã Giam và Cao Tuân Dụ, chắc chắn ông ấy không vui. Vương An Thạch nói: “Cao Tuân Dụ hại Mã Giam, nhưng không được nghe theo, nên xin tự rút lui. Mã Giam cho rằng không ai khác ngoài ông ấy có thể giữ được Hi Hà, triều đình cuối cùng điều Mã Giam đến Giang Tây. Nếu quan lại giám sát chỉ biết tuân thủ pháp luật mà bị phương trấn hãm hại, thì kỷ cương quốc gia sẽ bị hủy hoại. Đó là lý do thần không dám chiều theo lời tấu của Vương Thiều. Thần và Vương Thiều không có gì khác, bệ hạ đều biết. Hơn nữa, việc Hi Hà, thần từ đầu đã tham gia bàn bạc về kế hoạch mở mang, nay xử lý Cao Tuân Dụ chính là để hoàn thành kế hoạch ban đầu, không để lại hậu họa cho quốc gia. Ngày khác, Vương Thiều lại tâu với bệ hạ rằng Hi Hà nên tạm thời yên lặng chờ đợi thời gian, nếu không sẽ có sai sót, thần há có thể tránh được trách nhiệm!”

Vua nói: “Xử lý những quan lại phạm lỗi, khiến người sau không dám tái phạm, giảm bớt chi phí không cần thiết, tăng cường phòng bị biên giới, đó chính là cách để Hi Hà không có sai sót.” Vương An Thạch nói: “Nay xét những quan lại phạm lỗi và những kẻ lang thang vô dụng, có liên quan gì đến sự an nguy của Hi Hà? Nếu quấy nhiễu bộ lạc mà không vỗ về kết thân để họ hướng về nhà Hán, thì Hi Hà sẽ nguy hiểm. Nếu khiến những quan lại phạm pháp biết sợ hãi, những kẻ lang thang không dám đến, đó mới là cách để Hi Hà yên ổn. Hơn nữa, người ta thường nói rằng giảm bớt thì mới yên ổn, còn phiền phức mà muốn yên ổn thì khó lắm.”

(Đoạn này căn cứ vào 《Nhật lục》 ngày 14 và 23 tháng 5, lược bớt mà chép lại.)

[31] Ngày Canh Ngọ, triệu tập các quan phụ chính đến vườn sau xem lúa mạch.

[32] Kinh lược ty lộ Phu Diên tâu: “Ở địa giới trại Hoài Ninh châu Diên và thành Tuy Đức, người phương Tây chiếm hai khu đất hoang không canh tác, xin gửi văn thư đến châu Hựu để chất vấn, những đất đã canh tác vẫn giữ nguyên, làm ranh giới vĩnh viễn.” Triều đình đồng ý. (Có thể tham khảo thêm ngày 23 tháng 4.)

[33] Ngày Tân Mùi, Ty chuyển vận lộ Thành Đô phủ tâu: “Ty Kiềm hạt đã ra bảng thông báo, những hộ có tài sản nguyện đưa người đi theo quân quan đến Mậu Châu giúp đánh giặc phiên, sau khi việc yên sẽ tâu lên xin ban thưởng.” Vua phê: “Người Thục vốn không quen việc võ, việc chiêu mộ chắc cũng không được nhiều, chỉ làm rối loạn, khiến lòng người hoang mang, nên lập tức dừng lại.”

[34] Lại phê: “Mậu Châu đã yên ổn, việc chiêu mộ binh Hoàn Khánh trước đây có thể dừng, chỉ lệnh cho Vương Trung Chính chiêu mộ binh Tần Phượng đi thôi.” Lúc đó, Thái Diên Khánh sai Phạm Bách Thường lại cùng bộ lạc phiên thề ước. (Việc Mậu Châu đã yên ổn, dừng chiêu mộ binh Hoàn Khánh, theo 《Ngự Tập》; việc lại cùng bộ lạc phiên thề ước, theo 《Tư Mã Quang Ký Văn》, nay phụ chép vào ngày 16, 《Ngự Tập》 là việc ngày 15. Vương Trung Chính ra đi ngày 30 tháng 4, lúc đó đã trên đường rồi.)

[35] Chiếu bãi bỏ 5 viên quan câu đương công sự ở Binh bộ. Lệnh chọn giữ lại 5 viên theo chỉ huy ngày Canh Tuất tháng 4 có thể tra cứu.

[36] Ngày Nhâm Thân, chiếu bãi Ty Câu Hà thuộc phủ Khai Phong, giao việc này cho Đô Thủy Giám. Lúc đó việc đào sông đã dần hoàn thành, nên bỏ quan chuyên trách.

[37] Chiếu: “Các quân An Nam qua núi, có người bệnh tật phải ở lại, lệnh cho châu quân nơi đó chọn quan chuyên trách việc chữa trị, quan Đề điểm hình ngục đi lại giám sát. Nếu chữa trị tốt, số người khỏi bệnh nhiều, sau khi quân về sẽ so sánh tỷ lệ, sẽ bàn việc ban thưởng.”

[38] Ngày Quý Dậu, Trung thư tâu: “Xin lệnh cho Tam ty chi tiền ngân lụa trị giá 15 vạn quan, đưa đến Hi Hà lộ mua lương thảo.” Lại tâu: “Ở các nơi Thiểm Tây chưa chuyển tiền bản giao tử 26 vạn 2 ngàn quan, xin chi gần đó cho Ty chuyển vận hai lộ Tần Phượng mua lương quân, và lệnh từ nay về sau tiền đúc mới sẽ dùng để nộp đổi tiền giao tử.” Đều theo.

[39] Đại Lý tự thừa, tân sai Đồng đề cử thường bình đẳng sự hai lộ Lưỡng Chiết là Vương Cổ được làm Đề cử thường bình đẳng sự phủ Khai Phong. (Ghi lại đây để biết đầu đuôi vụ án Hoa Đình, hoặc bỏ đi, ngày 14 và 21 tháng này có thể tra cứu.)

[40] Đề điểm hình ngục Lưỡng Chiết lộ là Triều Đoan Ngạn và Phan Lương Khí đều bị cách chức, chờ xét xử ở Nhuận Châu.

Trước đó, Đề cử Thường bình là Hàn Chính Ngạn bị bãi chức về kinh, trên đường gặp Thể lượng An phủ sứ Thẩm Quát, tự thú rằng cùng với Đoan Ngạn và Chuyển vận sứ Trương Tịnh, Vương Đình Lão đã vi phạm pháp luật đến Hàng Châu, dự tiệc yến và dạy ca kỹ nhân dịp lễ Đồng Thiên tiết. Trương Tịnh và Vương Đình Lão vì liên quan đến vụ Trương Nhược Tế nên đã bị cách chức trước đó, còn Triều Đoan Ngạn và Phan Lương Khí thì nhận lệnh này. Người trước đó làm Đề điểm hình ngục là Trần Mục đã lệnh cho Chuyển vận ty điều tra, vì Ngự sử Trung thừa Đặng Uyển tâu rằng việc của Trần Mục có liên quan đến Trương Nhược Tế.

[41] Cùng ngày, Vua nói với các quan chấp chính rằng: “Dùng cày bừa để nuôi sống, dùng cung tên để phòng họa, đạo sinh dân chỉ có vậy thôi.” Vương An Thách nói: “Thiên tử răn chư hầu ‘chăm lo cày cấy không lười biếng’, ‘lo toan việc ruộng nương mới’; quần thần răn thiên tử ‘chỉnh đốn sáu quân, đừng làm hỏng mệnh lệnh của Cao Tổ ta’, ‘chỉnh đốn binh lính, để noi theo dấu vết của Vũ’. Những việc cần làm để nuôi dưỡng dân chúng, quả thực như lời bệ hạ nói. Nhưng nếu không thông hiểu đạo thuật, thì không thể sai khiến được quần chúng, ai sẽ cùng hoàn thành công việc này!”

Thượng lại bàn về việc Phạm Trọng Yêm muốn sửa đổi pháp chế khoa cử và trường học, bèn dạy người ta lấy thể phú “Động tĩnh giao tương dưỡng” của người Đường làm khuôn mẫu. Giả sử làm được bài phú “Động tĩnh giao tương dưỡng”, không biết có tác dụng gì? Huống chi pháp chế đã không tốt, tức là không thể thi hành, lại còn tiếc nuối điều gì! Trọng Yêm không có học thuật, nên cách sắp xếp chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi. An Thạch nói: “Trọng Yêm thiên tư thông minh sáng suốt, nhưng có nhiều thời gian rảnh rỗi, nên không vượt xa người khác. Ông ta thích mở rộng danh tiếng, kết giao với các du sĩ, lấy đó làm trợ lực cho phe phái, rất hại phong tục.”

Thượng nói: “Sở dĩ thích danh tiếng, chỉ vì kiến thức không đủ để vượt qua thói tục mà thôi. Như Đường Thái Tông cũng là bậc minh chủ, nhưng lại học theo Văn của Canh Tín, đó cũng là do kiến thức không đủ để vượt qua thói tục vậy. Không đủ để vượt qua thói tục thì lại sợ thói tục, mọi người cùng khen một việc là đúng, mà mình không có cách nào để biết đó là sai, thì tự nhiên phải theo đám đông. Nếu có cách để biết đó là sai, thì đám đông không thể cưỡng lại được ý kiến của mình.” An Thạch nói: “Không thay đổi theo thế tục, đó là việc của bậc đại nhân, nên trong quẻ Càn có nói đến.”

Thượng lại bàn: “Đạo tất nhiên có pháp, có diệu đạo thì ắt có diệu pháp, như đạo diệu mà nhà Phật nói đến, thì Thiền chính là diệu pháp vậy. Diệu đạo không thể dùng trí để biết, không thể dùng thức để nhận biết, nhưng vẫn có pháp để giải thích, thì đạo thô tất nhiên cũng phải có pháp.” An Thạch nói: “Bệ hạ thông suốt đạo thuật và văn chương, nhưng chưa từng dùng văn từ để khen ngợi người khác, thật sự biết rằng lời hoa mỹ không có ích gì cho việc trị nước. Phong tục tuy chưa thay đổi lớn, nhưng những người chú trọng lời hoa mỹ cũng đã suy yếu, điều này đối với đạo trị nước và phong tục không phải là không có ích.”

Thượng nhân đó nói rằng người đọc kinh phải biết cách vận dụng, thì mới có ích, nếu không thì không tránh khỏi trở thành hủ nho.

(Bản mới nói: Đoạn này không có căn cứ, mượn lời bàn luận của Thần Tông để ngụ ý riêng của An Thạch, cho rằng Phạm Trọng Yêm thích danh tiếng, làm hại phong tục, há không làm mê hoặc người đời sau? Nên xóa bỏ. Nay lại giữ lại, người đời sau há có thể bị mê hoặc?)

[42] Ngày Giáp Tuất, Ngự sử đài tâu: “Đại Lý tự trước đây xét xử việc Bí thư giám Vương Đoan khi làm Tri châu Trịnh, đã lấy gỗ liễu chết của quan làm của riêng, ước tính tang vật là hai tấm lụa ba trượng năm thước, đáng lẽ phải bị cách chức và bãi nhiệm, nhưng quan pháp nguyên xử tránh né, giấu giếm không nộp, rõ ràng là không đúng.” Vương Đoan năm nay 70 tuổi, chiếu miễn việc cách chức và bãi nhiệm, giáng làm Thái thường thiếu khanh về hưu, các quan xử án trước là Thôi Đài Phù v.v. đều bị kéo dài thời gian khảo hạch hai năm. Ngày 7 tháng 3 năm thứ 8, lần xử đầu tiên truất một chức quan và cho làm quan ở cung từ. (Bản truyện của Vương Đoan chép: “Vương Đoan cai trị nghiêm khắc, bọn lại gian khổ sở. Khi ở Trịnh Châu, cùng với lại lấy cây liễu khô để đun nấu, Ngự sử hặc tội tự ý lấy trộm, bị tước một chức quan.”)

[43] Ngày Bính Tý, chiếu cho Viện Khám xét ở Tú Châu: “Trừ những quan lại có tội được phép bắt giam để khám xét, còn những dân thường bị liên đới, nếu đã xét rõ sự việc, thì lập tức thả ra, nếu lời khai trước sau khác nhau, cũng đều được miễn tội.” Bản mới đã bỏ đi, cho là mệnh lệnh tạm thời, nay lại giữ lại. (Ngày 14 có ghi chép, có thể tham khảo.)

[44] Nước Đại Lý dâng sản vật địa phương.

[45] Chiếu cho Trung thư, Ty ứ điền thủy lợi và Ty thị dịch tính toán chuẩn bị lương thực cho quân ở Châu Thiền Định và Bắc Kinh, lệnh lập pháp rồi tâu lên.

[46] Ngày Mậu Dần, Tri châu Thần Châu, Hoàng thành sứ Đào Bật được giữ nguyên chức sung chức Khang Châu đoàn luyện sứ, Tri châu Ung Châu, Như kinh phó sứ Trương Thuật được quyền phát khiển Nghi Châu. Lúc đó, Ung Châu vừa bị phá, dân chúng chạy trốn vào núi rừng không dám trở về. Đào Bật một mình cưỡi ngựa dẫn hơn trăm người tiến vào động Tả Giang để chiêu dụ, dân chúng mới yên lòng trở về làm ăn. Ông điểm danh tập hợp những thanh niên tráng đinh đã từng được đăng ký trước đây, được hơn 27.000 người, chia làm ba hạng, lấy 20.000 người giao cho các tướng, những người mở đường và vận chuyển lương thực đều là dân động, còn lại thì mang theo bên mình.

Chiếu rằng: “Ty Tuyên phủ An Nam ở hai xứ Giang phải tập hợp những người khỏe mạnh, cấp tiền ăn hàng ngày, huấn luyện võ nghệ. Nếu việc vận chuyển lương thực khó khăn, thì dùng thêm tiền, bạc, lụa. Nếu các châu động ở Tả Giang trước đã theo giặc, thì phải dùng nhiều cách chiêu dụ, nếu không nghe thì tùy nghi đánh dẹp. Nếu các châu động trong địa giới của giặc, có thể bí mật liên kết hoặc thừa cơ tấn công, cũng tùy tiện thi hành. Vẫn phải nhanh chóng tuyển binh, chiêu mộ người khỏe mạnh, tổng cộng khoảng năm sáu nghìn người, khiến lực lượng tập hợp ở hai xứ Giang hỗ trợ lẫn nhau.”

[47] Chiếu rằng: Tân Tri châu Vị Châu, Long đồ các trực học sĩ Thái Diên Khánh bị giáng làm Thiên chương các đãi chế, vì không thể xử lý việc biên giới ở Mậu Châu.

Trước đó, Vua nói với Vương An Thạch: “Trước đây đã dùng chiếu chỉ của ngự tiền để an ủi Diên Khánh, hắn không có quân nên thất bại là đương nhiên, hãy khéo léo an ủi dân chúng, đừng để họ hoảng loạn, giữ vững chờ quân Tần đến rồi mới đánh giặc.” An Thạch nói: “Bệ hạ an ủi Diên Khánh, rất tốt. Diên Khánh nhút nhát, vừa thua trận, lại sợ triều đình trách phạt, ắt sẽ hoảng loạn mất mực, được bệ hạ an ủi mới có tinh thần xử lý việc. Như Diên Khánh là người rất biết hướng về trên, không dám làm gì khác, chỉ vì tài năng không đủ, dù trách phạt cũng chẳng ích gì! Bậc quân chủ cần nhất là biết được bề tôi có hướng về mình hay không.”

(Việc này căn cứ vào 《Nhật lục》 ngày 18. Sau đó, Vương Trung Chính muốn tự lập công trong việc Mậu Châu, các quan giám ty đều theo ông ta, nên nói Diên Khánh xử lý sai lầm, do đó có mệnh lệnh này. Diên Khánh phải đợi Phùng Kinh đến rồi mới đi nhậm chức ở Vị Châu, lúc này vẫn còn ở Thành Đô. Theo 《Thành Đô đề danh》, ngày 24 tháng 6 mới rời Thành Đô.)

[48] Ngày Kỷ Mão, lấy Lý Thời Lượng, nguyên là Lục sự Tham quân châu Quế, làm Phó sứ Cung bị khố[5], kiêm Tri châu Liêm. Thời Lượng là người Lĩnh Nam, đáng lẽ cải bổ làm Trứ tác Tá lang, đổi sang võ chức làm Nội điện Thừa chế, Tri châu Liêm, nhưng chỉ nên thăng một chức. Vì châu Liêm vừa bị giặc Giao Châu phá, nên đặc cách bổ nhiệm.

Thời Lượng tâu rằng thời Chân Tông, Giao Chỉ có thể đánh lấy được, nhưng đã bỏ lỡ cơ hội. Vương An Thạch nói: “Nùng Thiện Mĩ quy phụ, Giao Chỉ không dám khăng khăng đòi lại, lúc đó Càn Đức mới lên ngôi, trong ngoài chưa phục, người trong nước đều sợ Trung Quốc đến đánh.”

Lại nói: “Có người bị bán sang Giao Chỉ, nhân theo giặc đến châu Ung rồi trốn thoát, được triệu đến hỏi, trong số sáu vạn quân xâm lược trước đây, phần nhiều là đàn bà, trẻ già bị bán rồi trốn thoát, chủ nhà họ có sáu người, năm người theo quân, một người không đi được nên ở lại. Trước đây Tô Tử Nguyên cũng nói nhà họ có tám người, bảy người đi, một người ốm không đi được nên ở lại. Như vậy Giao Chỉ đem cả nước đi xâm lược, trong nước họ hẳn là không còn ai, bỏ lỡ cơ hội này thật đáng tiếc.”

An Thạch lại bàn việc châu Mậu, đã cùng bộ lạc Thổ phản thề ước, lại muốn đánh họ, là thất tín. Vua cho là phải, sai nói rõ với quân tiền, e rằng từ nay về sau thất tín với ngoại phiên, không còn gì để ước thúc với họ, chỉ nên nhân thế quân mà xử lý việc quân tiền. An Thạch nói: “Rất hay. Nhân thế quân mà xử lý lâu dài, có thể khống chế khuất phục được việc man di, thì hơn là đánh giết, nếu họ chống lại việc xử lý của ta, thì đánh họ không phải là thất tín, nếu họ không dám chống, tự nhiên không cần đánh.” Lúc đó Thái Diên Khánh đã tâu rằng thủ lĩnh dưới quyền châu Tĩnh là Đổng Trân Ba đã đến hàng.

[49] Ngày Canh Thìn, ban chiếu: “Thành Đô phủ, Lợi Châu lộ Kiềm hạt ty cùng nhau xem xét lại số binh tướng đã điều động, vốn là để đánh dẹp các bộ tộc man di xâm lấn, nhưng đã có lời thề ước thì khó lòng thất tín. Tuy nhiên, nhân thế binh lực này, nên có biện pháp xử lý lâu dài về lợi hại của biên phòng, như tu sửa thành trại, khai thông chướng ngại hiểm trở, hoặc di dời những kẻ cầm đầu ác độc đến các thành ấp để kiềm chế, hoặc bắt họ phải gửi con làm con tin, cũng đủ để ngăn ngừa mối họa biên giới về sau. Nếu chúng còn dám kháng cự, thì có thể thấy rõ ý đồ phản phúc của chúng, lúc đó binh tướng đang ở đó cũng đủ để xử lý.”

[50] Ban chiếu: “Các chỉ huy việc hòa địch, phối địch, quát địch ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam, giao cho Ty đề cử lương thảo xem xét kỹ, nếu không cần thiết thì cứ thế thi hành rồi tâu lên.” Vì lương thực quân đội các lộ đều dư thừa.

[51] Ngày Tân Tỵ, Trình Chi Tài, quan thể lượng lộ Hà Đông tâu: “Phép hòa địch ở Hà Đông khác biệt với các lộ khác, dân gian nộp một thạch chỉ được giá trị bằng một đấu ở chợ hòa. Xin giảm một phần trong số hòa địch hàng năm, chia đều chín phần vào hai thuế, không cấp tiền hòa địch nữa.” Trung thư tâu: “Gần đây vâng chiếu xem xét các văn bản trước sau về việc hòa địch để lập pháp. Việc hòa địch ở Hà Đông có hai vấn đề là số lượng quá nhiều và sự đóng góp không đều giữa hộ giàu và hộ nghèo. Nếu muốn giảm số lượng thì phải có nguồn thu khác thay thế. Nếu muốn chia đều thì phải xem xét tình hình hiện tại không đều như thế nào rồi mới quyết định cách chia đều. Nay muốn giao cho An phủ, Giám ty, Đề cử ty của lộ này cùng xem xét, sau đó chọn quan lại xem xét lại rồi lập pháp xin chỉ.” Được chấp thuận.

[52] Ban chiếu cho Ty thường bình lộ Hoài Nam kịp thời đổi và phát tán lương thực ở các châu quân có mùa màng tốt, không được tích trữ lâu ngày khiến hư hỏng.

[53] Vương Tử Kinh, quan đề cử thường bình đẳng sự lộ Hoài Nam tâu: “Đề cử việc đào sông vận chuyển muối, từ Thái Châu đến huyện Như Cao[6] dài hơn 170 dặm, mỗi ngày huy động 29.000 nhân phu.” (Việc này theo《Hội yếu》. Tử Kinh là em của Tử Thiều, ngày 26 tháng 9 năm thứ 8, trong《Lữ Huệ Khanh gia truyền》có ghi chép, có thể tham khảo.)

[54] Ngày Quý Mùi, Tây đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Tô Tử Nguyên được bổ làm Tướng tác giám thừa, cho phép ông được để tang, theo lời thỉnh cầu của ông.

[55] Tháng này, đặt Giám Sơn Thủy ở châu Dân. Ngày Ất Hợi tháng 11 năm Nguyên Phong thứ nhất [1078], có thể tra cứu.

[56] Lệnh cho Phán đô thủy giám Trình Sư Mạnh kiêm quyền Đô đại đề cử Kinh Đông, Kinh Tây ứ điền. (Trình Sư Mạnh đề cử ứ điền, theo 《Thực hóa chí》 ghi chép riêng. Ngày 28 tháng 8, Trình Sư Mạnh kiến nghị cử Cảnh Uyển…)


  1. Quyền phát khiển Hoài Nam Đông lộ chuyển vận phó sứ Kiển Chu Phụ, 'Hoài Nam Đông lộ' nguyên là 'Hoài Tây Đông lộ', theo 《Tống sử》 quyển 329, 《Đông đô sự lược》 quyển 98 bản truyện sửa lại.
  2. Câu 'bí dạ thậm nhĩ' khó hiểu, nghi ngờ chữ 'dạ' là sai, nên là 'dịch', chỉ cửa dịch, tường dịch
  3. Một thăng lương mỗi ngày, bản các bản chép là 'hai'.
  4. Chiếu ban thưởng ngoài lệ, mỗi bậc thêm một tấm lụa 'Một', bản các làm 'Mười'.
  5. Chữ 'bị' trong 'Cung bị khố phó sứ' vốn bị thiếu. Xét: Quan võ nhà Tống có chức Cung bị khố phó sứ chứ không có chức 'Cung khố phó sứ', ở đây rõ ràng thiếu chữ 'bị', nên bổ sung.
  6. Từ Thái Châu đến huyện Như Cao, chữ 'Châu' nguyên bản thiếu, theo bản khác bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.