"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 283: NĂM HI NINH THỨ 10 (ĐINH TỴ, 1077)

Từ tháng 6 đến hết tháng 7 năm Hi Ninh thứ 10 đời Thần Tông.

[1] Tháng 6, ngày Kỷ Mão (mùng 1), chiếu phong truy tặng Điển ngôn Lý thị làm Hoa Nguyên quận phu nhân, vì có chỉ dụ của Vua rằng: “Lý thị vào cung hơn 70 năm, phụng sự từ thời Thái hậu Chương Ý và lúc Hoàng đế Nhân Tông còn nhỏ, công lao phụng sự nổi tiếng trong cung cấm.”

[2] Bảo Văn các Đãi chế, Kiểm chính Trung thư ngũ phòng công sự Lý Thừa Chi tâu: “Lộ Phu Diên nhiều năm bị thiên tai, xin cho phép thuế hạ năm nay được nộp cùng với thuế thu và thuế thu năm sau.” Vua đồng ý.

[3] Sai Nhập nội Cung phụng quan Dương Nhật Tân và Dương An Dân từ kinh đô đến châu Ung, đưa quân lính bị bệnh và tử trận ở doanh trại An Nam trở về nơi cư trú. Những người ứng mộ từ Thiểm Tây và Hà Đông được đưa về kinh đô.

[4] Chiếu tha chết cho Nguyễn Căn, tả lang tướng giả của Giao Chỉ, bổ làm Hạ ban Điện thị, theo lời tâu của Chiêu thảo ty. Vua phê: “Công sự câu đương của doanh trại An Nam là Lý Thuấn Cử, Tẩu mã Thừa thụ Lưu Duy Giản và Hàn Vĩnh Thức, đều được thăng hai cấp, những người đang giữ chức vụ tạm thời vẫn giữ nguyên.”

[5] Ngày Tân Tỵ, chiếu: “Tả ban Điện trực, quyền Đô Tuần kiểm châu Túc Bạc là An Ninh; Tuần kiểm huyện Chung Ly, châu Hào là Vũ Thiên Hữu; Hữu Thị cấm, Tuần kiểm huyện Định Viễn là Vương Thủ Trung, mỗi người được thăng một cấp; Huyện úy huyện Kỳ là Hoàng Ước được thăng ba cấp; Bảo chính Đái Quyền được bổ làm Hạ ban Điện thị, Chỉ sử của bản lộ. Do Phó sứ Chuyển vận lộ Hoài Nam Đông là Kiển Chu Phụ tâu: “Ở trấn Đồng Khư, huyện Kỳ, giặc Vương Hải giết Tuần kiểm Lưu Chấn, An Ninh và Hoàng Ước dẫn quân truy đuổi, Vũ Thiên Hữu giao chiến với giặc, chém được 11 thủ cấp, nhiều kẻ bị chết đuối, Đái Quyền mang lương dẫn quân đến bờ bắc sông Trừ để tiếp viện.” Vì vậy đều được ban thưởng.

[6] Ngày Nhâm Ngọ, nước Chú Liễn dâng cống vật, sứ giả dùng hoa sen vàng đựng ngọc trai, long não bước lên thềm, quỳ nhìn ngai vàng rồi rải ra, gọi là “tát điện”. Vua sai nội thị đến hỏi thăm. (Sách 《Lâm Hi dã sử》 chép: “Các nước khác dâng cống chưa từng được lên điện.” Lời chú thêm cần xem xét.)

[7] Chiếu cho con của Tri châu Thành Châu là Dương Quang Tiếm là Dương Xương Quỳ, chức Hữu thị cấm, cùng 5 người khác, mỗi người được thăng một bậc, cháu trưởng là Dương Thịnh Chiếu được làm Hạ ban điện thị. Chuyển vận phó sứ Hồ Nam là Chu Sơ Bình tâu rằng Dương Quang Tiếm đã chết, xin ban ân.

[8] Chiếu cho con của Hướng Kinh là Tông Hồi làm Lễ tân sứ, Thứ sử châu Vinh; Tông Lương làm Lễ tân sứ, Thứ sử châu Anh.

[9] Ngày Quý Mùi, chiếu cho Trang trạch phó sứ, quyền Phó tướng thứ nhất lộ Tần Phượng là Cao Tuân Nhất làm Đề cử lộ Phúc Kiến chiêu bắt trộm cướp, các quan bắt trộm cướp đều nghe theo sự chỉ huy của Tuân Nhất; lại sai Tả thị cấm, Cáp môn chi hậu là Bành Bảo đến huyện Trần Lưu tuyển mộ 300 quân mã bộ đi theo; lại sai Vương Trung Chính tuyển mộ 200 quân mã bộ, lệnh cho Trần Tế Phương, Trần Tòng Chu đưa Bành Bảo đi. (Ngày 22 tháng 5 đã sai Bành Tôn, nay lại sai Bành Bảo. 《Cựu kỷ》 ngày Quý Mùi chép: “Sai quan Đề cử lộ Phúc Kiến bắt trộm cướp.”)

[10] Chiếu rằng: “Các châu Nam Kinh, Vận, Duyễn, Tào, Từ, Tề, Bộc, Tế, Đơn, Nghi, Thiền, Bác, Lệ, Bạc, Thọ, Hào, Tứ, Túc, quân Hoài Dương, các huyện Đông Minh, Khảo Thành, Trường Viên, Bạch Mã, Tộ Thành, Vi Thành thuộc phủ Khai Phong, huyện Cự Lộc thuộc châu Hình, các huyện Kê Trạch, Bình Ân, Phì Hương thuộc châu Minh, đối với trộm cướp đều dùng pháp nặng.”

[11] Chiếu rằng: “Tông thất từ chức Đại tướng quân trở xuống, ai thông thạo một kinh và cả 《Luận Ngữ》, 《Mạnh Tử》, thì hai năm một lần được nộp đơn xin thi.”

[12] Ngày Bính Tuất, xem xét quân đội trở về từ An Nam[1]. Vua thấy các sứ thần quản áp Khúc Trân, Trương Thế Củ, Vương Mẫn ba người đều rất siêng năng, mà ngựa của họ đều chết, nên đặc biệt ban cho mỗi người hai con ngựa tốt và đai vàng. Vương Mẫn xin áo giáp, lại được ban thêm.

[13] Giáng chức Hữu Gián nghị đại phu Lữ Công Nhụ làm Tri châu Thái Châu, vì trước đây khi làm Tri phủ Chân Định đã xử án sai dẫn đến án tử hình. Bản truyện cho rằng ông sai ở châu Vận. Theo《Thời chính ký》, ngày 26 tháng 3, Lữ Công Nhụ, nguyên là Tri châu Vận, được lệnh đến châu Thiền nghe chỉ. Công Nhụ bị Ngự sử trung thừa Đặng Nhuận Phủ cho là bất tài, nên bị thay thế. Lại có chiếu cho Hình bộ xét lại việc xử án sai dẫn đến án tử hình khi ông làm Tri phủ Chân Định, nên mới có việc điều tra này. Ngày 3 tháng 10, ông được bổ làm Tri phủ Vĩnh Hưng. Thông phán châu Ung, Điện trung thừa Tô Tử Nguyên bị lệnh phải chịu tang, vì Quảng Đông chuyển vận ty cho rằng ông tùy tiện dùng hình phạt.

[14] Ngày Đinh Hợi, điều Quyền Hoài Nam Đông lộ chuyển vận phó sứ Kiển Chu Phụ làm Quyền Phúc Kiến lộ chuyển vận sứ, đợi khi giặc yên sẽ trở lại chức cũ. Sau đó có chiếu: “Chu Phụ được phép đi ngựa trạm gấp đến nhậm chức, nếu có việc bắt giết Liêu Ân mà không kịp xin chỉ dụ triều đình, thì được tùy nghi thi hành. Quan bắt giặc nào do dự không tiến, có biểu hiện sợ hãi, sẽ bị xử theo quân pháp, và phải bàn bạc với Đề điểm hình ngục Từ Tổng.” Việc này xảy ra ngày 19, nay gộp lại viết. Ngày 9 tháng 4, Tổng được bổ làm Hiến. Lại có chiếu: “Cao Tuân Nhất, Từ Tổng, Kiển Chu Phụ nếu ở cùng một nơi, thì mọi việc bắt giặc đều cùng bàn bạc; nếu ở trước quân, đều nghe theo chỉ huy của Tuân Nhất.” (Việc này xảy ra ngày 9 tháng 7, nay gộp lại viết.)

[15] Chiếu định số lượng giáo thụ Vũ học là bốn người.

[16] Ngày Tân Mão, bổ Thái thường thừa, Trực tập hiền viện, Thị ngự sử tri tạp sự Thái Xác làm Hữu Chánh ngôn, vẫn giữ chức Trực viện và Tri tạp sự như cũ.

[17] Trang trạch phó sứ, Tri Khâm châu Lưu Sơ kiêm Cáp môn thông sự xá nhân, quyền Tri Ung châu. Tháng hai, ngày Bính Ngọ, Thạch Giám làm Tri Ung châu, Lưu Sơ thay thế Thạch Giám.

[18] Định châu lộ An phủ ty tâu: “Theo chiếu chỉ xem xét việc An Túc quân nên giữ lại Nam Quan thành, các lầu gác hiện đang dần được tu sửa hoàn chỉnh[2], xin được khôi phục lại chức Giám áp một người.” Được chấp thuận.

[19] Ngày Nhâm Thìn, Ty Kế nghị thố trí biên sự lộ Tần Phượng, Hi Hà tâu: “Các quan người Thổ ở Sơn Tây lập công, Hoàng thành sứ, Khang châu Thứ sử Bao Thuận trung bạch hướng về nhà Hán, được mọi người suy phục. Ngày trước, quân ở Dân Nam xuất binh, trong vòng mười ngày đã tiến sâu vào địch, dốc sức điểm tập, sắp xếp thứ tự, công trạng không kém các tướng phó trong doanh. Nay việc ban thưởng chưa thỏa đáng với ý kiến của mọi người. Cùng với Nội tàng khố phó sứ Triệu Thiệu Trung, Cung bị khố sứ Bao Thành đều ra sức liều chết, cũng mong được bàn riêng về việc ban thưởng.” Chiếu cho Bao Thuận lĩnh chức Vinh châu Đoàn luyện sứ, lại cho một con được thăng chức; Bao Thành làm Văn tư sứ, Triệu Thiệu Tông làm Sùng nghi sứ.

[20] Hợp châu Phòng ngự sứ Triệu Tư Trung mất, được tặng chức Trấn Dao quân Lưu hậu, quan cấp việc tang lễ, cho phép mang theo bài ấn khi chôn, con trai là Tả thị cấm Hoài Nghĩa được bổ làm Nội điện thừa chế, Hữu thị cấm Bỉnh Nghĩa làm Nội điện sùng ban.

[21] Lấy Trấn Nam quân Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, phán Giang Ninh phủ Vương An Thạch làm Tập Hi quan sứ, ở lại Kim Lăng, theo lời thỉnh cầu của ông. Ban đầu, An Thạch bị bãi chức, được bổ nhiệm ở Giang Ninh, ông khẩn thiết từ chối chức Sứ tướng, xin được làm quan ở cung quán. Vua sai Lương Tòng Chính mang chiếu thư đến khuyên nhủ, đợi ông nhận việc mới trở về. Tòng Chính ở lại Kim Lăng nhiều tháng, An Thạch vẫn không ngừng thỉnh cầu, đến lúc này, Vua mới cho phép ông giữ chức Sứ tướng kiêm quản cung quán.

(《Tống triều loại uyển》 chép: Vương Kinh công (tức Vương An Thạch) lúc đầu bị bãi chức Tể tướng, được bổ nhiệm làm Lại bộ Thượng thư, Quan Văn điện Học sĩ, tri Giang Ninh phủ, tiến cử Lữ Huệ Khanh làm Tham chính rồi rời đi. Sau đó, Huệ Khanh được Vua tin dùng, lộng quyền, lo sợ Kinh công sẽ trở lại, nhân dịp tế giao liền tiến cử Kinh công làm Tiết độ sứ, Bình chương sự. Khi đang dâng lễ vật, Vua nhận ra ý đồ của Huệ Khanh, liền hỏi: “Vương An Thạch bị cách chức không phải do phạm tội, sao lại dùng chiếu xá để phục chức?” Huệ Khanh không biết trả lời thế nào. Năm sau, Vua lại triệu Kinh công về nắm quyền, từ đó quan hệ giữa Vương và Lữ càng thêm xấu đi.)

[22] Quyền phán Đô thủy giám Trình Sư Mạnh được giảm một năm khảo khóa, Giám thừa Cảnh Uyển ba năm, Quản câu quan Hoắc Tường được chỉ định một người thân thuộc có chức vụ để bổ nhiệm, còn lại đều được ban ơn có khác biệt. Do Sư Mạnh và các quan đã dẫn nước sông bồi đắp ruộng ven sông Biện ở Kinh Đông, Kinh Tây được hơn chín nghìn khoảnh. (Ngày 27 tháng 8 năm ngoái, Sư Mạnh và Uyển đã dâng sớ xin việc này.)

[23] Đồng tu Khởi cư chú Hoàng Lý tâu: “Các quan lên điện chầu, xin cho họ ghi chép lời thánh chỉ trong ngày hoặc ngày hôm sau, niêm phong gửi về Khởi cư viện.” Vua đồng ý.

[24] Ty Kế nghị thố trí biên sự lộ Tần Phượng, Hi Hà tâu: “Trước đây đánh dẹp người Khương ở vùng núi phía sau, năm quân cùng các tướng hiệu, binh lính, cung thủ đã chém được thủ cấp và bị thương nặng nhẹ, xin ban thưởng.” Chiếu chỉ ban rằng mỗi thủ cấp được thăng một bậc, tối đa ba bậc, lại ban thêm 20 tấm lụa, người bị thương nặng nhẹ cũng được thăng bậc và ban lụa có khác biệt.

[25] Ngày Giáp Ngọ, người Man ở Doãn châu là Thư Quang Dũng được bổ làm Tam ban Phụng chức, Giám đương An châu. Do Tri Nguyên châu Tạ Lân tâu rằng Quang Dũng trước đây đã nộp đất rồi bỏ trốn, nay đến châu tự thú, xin được bổ nhiệm theo lệ của các động người Man ở Nam Giang.

[26] Chiếu tu sửa thành Thanh Châu, xây dựng lầu canh, bờ nam đặt cầu kéo, theo lời thỉnh cầu của Chuyển vận sứ Vương Cư Khanh.

[27] Chiếu cho Giám áp Mậu Châu Giả Biện thăng một bậc, con là Tông Phạm làm Tam ban Phụng chức. Do Vương Trung Chính tâu rằng Tông Phạm cùng người địa phương Mạnh Nhân Phú bắt được tướng Cung Châu là Trương Nhân Quý, đều nhờ mưu kế của Giả Biện, Tông Phạm thân chinh bắt được, nên ban thưởng.

[28] Ngày Ất Mùi, phong Vũ lâm quân Đại tướng quân Trọng Thứ làm Yến Quốc công. Trọng Thứ là con trưởng của Tông Bảo, nối ngôi tập phong, lo việc phụng tự.

[29] Chiếu rằng: “Giao Chỉ vừa bình định, các mệnh lệnh quân sự tạm thời liên quan đến An Nam vẫn giữ nguyên, nếu có việc cần tạm xử lý, phải trình bày rõ lý do tâu lên.”

[30] Ban thưởng cho gia đình Công bộ Lang trung, Tập hiền viện Tu soạn, Đề cử Linh tiên quan Ngô Thân 200 tấm lụa. Thân mất ở Lư Sơn, Vương Thiều tâu lên, ngoài tang lễ thông thường, đặc biệt ban thưởng này, lại lệnh chọn người thân cận đáng tin cậy để lo việc gia đình.

[31] Ngày Bính Thân, cho cháu nội của Nội điện Sùng ban Lưu Hỗ là Toàn Thọ làm Tam ban Tá chức, do Kinh nguyên lộ Kinh lược sứ Thái Diên Khánh tâu: “Hỗ thời Khánh Lịch có công lao nơi biên cương, người biên giới đến nay vẫn thờ cúng, bảo vệ gia đình ông như Hỗ còn sống, mà Toàn Thọ lại là dân thường, không phải cách khuyến khích.” Nên có mệnh lệnh này.

[32] Tri chế cáo Tôn Chu tâu rằng: “Năm Hi Ninh thứ tư, có người dâng lời lo rằng chế cáo quá khen ngợi, cho rằng việc thăng quan qua khảo xét không có thành tích gì, không nên dành riêng lời huấn thị. Lại nói rằng các quan soạn chế cáo đều kiêm nhiệm chức khác, tốn nhiều văn từ, e ngại cản trở công việc khác. Do đó ban lệnh rằng việc khảo xét đều dùng lời cố định, văn thần Đãi chế, vũ thần Cáp môn sứ trở lên mới đặc mệnh soạn chế, còn lại đều dùng bốn câu định sẵn. Kết quả là quần thần dù thăng quan trước sau khác nhau, nhưng cùng một lời; người soạn chế cáo dù liệt kê tên họ khác nhau, nhưng cùng dùng một chế; trong một nhà, có nhiều người được bổ nhiệm, văn võ tuy khác, nhưng đều dùng một thể.

Đến như việc về hưu, tặng quan, tiến cử, phục chức, tông thất ban tên, tông phụ phong ấp, trai văn sơ ngữ, dù danh thể khác nhau, nhưng đều theo một khuôn, năm nào cũng dùng. Tuy nói là cốt cho đơn giản, nhưng quy củ sơ sài, không phải là cách huấn luyện trăm quan, răn dạy hậu thế.

Điển chương đời trước, cố sự triều ta, chưa từng có như vậy. Bệ hạ trời sinh thần thánh, lời nói thành điển mô, xem xét rộng cổ kim, xét kỹ danh thực, mỗi khi nghe lời trời huấn dụ bề tôi, thủ trát tuyên thị nhị phủ, đều có pháp nghĩa, thấu đáo sự tình, thiên hạ truyền tụng, sử quan ghi chép, mà các quan soạn chế cáo lại cẩu thả đơn giản như vậy, há xứng với ý của minh chiếu để lập nên chế độ một đời sao?

Xin hãy cho tùy việc soạn thuật, nhưng không được quá khen ngợi, làm mất sự thực.”

Chiếu rằng: “Xá nhân viện soạn lời, Thiếu khanh, Giám trở xuống tấu tiến, phục chức, mỗi khi gặp đại lễ thì thay đổi; ân trạch cử nhân, mỗi khoa trường thay đổi; phong tước cho tông thất phụ nữ, tùy thời soạn chế; văn võ chuyển quan, về hưu, cùng tuyển nhân đổi làm kinh triều quan, tri huyện, đều tùy cấp soạn định.” Sau đó, Xá nhân viện lại xin: “Bách quan phong tặng, từng giữ chức Đãi chế, Quan sát sứ trở lên, đều được phong tặng, và tùy việc soạn riêng.” Đều theo.

[33] Ngày Đinh Dậu, Vua ban chiếu rằng: “Năm nay vùng Lĩnh Ngoại nắng nóng gay gắt, nhiều người mắc bệnh chướng khí. Quân đội đang đóng đồn chưa rút, quan lại, tướng sĩ ở đó đông, lo ngại khó khăn về thuốc men, dẫn đến chết oan. Y quan viện chọn ba người giỏi y học, ban cho 50 tấm lụa, cử đến Quế Châu, giao cho Triệu Tiết phân phối sử dụng, sau một năm sẽ thay người khác, Kinh lược ty báo cáo số người được chữa khỏi.”

[34] Ngày Kỷ Hợi, Vua ban chiếu: “Số tiền của các giám bị bãi bỏ thuộc về ngân sách tỉnh, các lộ Đề hình ty, Phủ giới Đề điểm ty đều phải niêm phong, Trung thư quản lý.”

[35] Ngày Tân Sửu, Xu mật viện tâu: “Nghe nói động đinh ở Ung Châu, Khâm Châu rất dũng cảm, nhưng không được huấn luyện, không có cách khích lệ. Xin giao cho Kinh lược ty chọn người tài giỏi, liêm chính làm Đô ty, Tuần kiểm, phụ trách huấn luyện, mỗi quý đi kiểm tra, cuối năm báo cáo số người võ nghệ giỏi, thưởng bổng cho thủ lĩnh, người phụ trách huấn luyện nếu có trên 50% người võ nghệ giỏi thì được khen thưởng. Lại lệnh cho năm người gần nhau kết thành một bảo, năm bảo gần nhau kết thành một đội. Mỗi lần kiểm tra, bảo, đội phải hỗ trợ nhau, khi chiến đấu phải tương trợ. Chia thành ba hạng: người có chiến công hoặc võ nghệ xuất chúng là thượng đẳng, được miễn sai dịch; người tài năng nhanh nhẹn là trung đẳng, được miễn thuế khoá; còn lại là hạ đẳng. Ngày thường không ảnh hưởng việc nông, tập luyện võ nghệ. Khi có quan phụ trách đến kiểm tra, tập hợp cả thôn để thi, không được tập trung trước. Biên giới có giặc, lệnh cho thủ lĩnh báo cáo lẫn nhau.” Vua đồng ý.

[36] Ngày Nhâm Dần, ban cho Thiên chương các Đãi chế Hàn Chẩn, Tứ phương quán sứ, Vinh Châu thứ sử Lý Bình mỗi người 150 tấm lụa, 150 lạng bạc, riêng Chẩn được phép đeo đai vàng, vì có công phân định địa giới Hà Đông. Các chức Chuẩn bị sai sứ, Cung bị khố Phó sứ Yến Phục đều được giảm năm khảo hạch. (Sự tích Yến Phục, nên tra trong 《Tô Triệt tấu nghị》. 《Mật viện thời chính ký》 chép: Chẩn đeo đai vàng, theo lệ của Tri chế cáo, Đãi chế, Quyền phát khiển Tam ty. Ngày 17 tháng 7, Phục được giảm năm.)

[37] Tam ty tâu: “Đúc tiền lớn xin tạm theo mức cũ. Từ nay về sau nếu có đúc thêm, xin trừ Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà Đông ra, các lộ đều đúc tiền nhỏ.” Lại tâu: “Chuyển vận ty lộ Hà Bắc Tây xin đặt giám ở châu Hình, châu Từ, đúc mười vạn quan tiền sắt loại hai. Nay xét nên đúc mười vạn quan tiền sắt loại hai ở lộ Vĩnh Hưng Quân, lại đúc thêm tiền đồng lớn ở lộ Hà Bắc Tây.” Đều theo lời tâu. Bản chí ở phần “đều đúc tiền nhỏ” lại viết: “Tiền của dân xấu, công tư đều lo, bèn lệnh tiền xấu nộp quan thì hủy bỏ.” Đó là việc ngày 25 tháng 10 năm Nguyên Phong thứ nhất.

[38] Thẩm Quát tự chép rằng:

“Chuyển vận ty Hà Bắc bàn đúc tiền sắt, mỗi năm hai mươi vạn quan, để giúp kinh phí, Quát cho là không nên. Trước kia, Hà Đông từng đúc tiền sắt, dân phạm tội bị xử tử mỗi năm đến hàng nghìn người, mà tiền giả càng nhiều, dân chúng thất nghiệp, buôn bán không thông, rồi tiền sắt[3] cuối cùng bị bãi bỏ. Nay đất Hình, Từ ở Hà Bắc, sắt và đất bằng nhau, dân tham lợi chịu chết để lừa pháp luật, e không đủ chống lại. Thiểm Tây trước kia dùng tiền sắt, dân đã quen, nay Hà Bắc cần hai mươi vạn quan, chỉ nên bãi bỏ hai mươi vạn quan tiền đồng ở Thiểm Tây, đổi đúc ở phía tây giám Kỳ Thủy thuộc Hà Bắc, thêm hai mươi vạn quan tiền sắt, để bù vào số thu ở Thiểm Tây, thì điều Hà Bắc mong muốn, không cần thay đổi pháp luật mà vẫn đạt được.”

Vua từng hỏi: “Tiền công tư đều thiếu, tiền hao hụt là do đâu?”

Quát trả lời: “Tiền hao hụt do tám nguyên nhân, trong đó không thể cứu vãn được hai việc; có thể cứu vãn được năm việc, không đáng lo một việc.

Nay dân số trong thiên hạ ngày càng đông, chi tiêu công tư ngày càng nhiều. Lấy chi tiêu ngày càng nhiều để nuôi dân số ngày càng đông, tiền tệ không đủ, điều này không có gì lạ; lại thêm tiền bị hỏng do nước, lửa, mòn, vỡ không biết bao nhiêu mà kể. Đó là hai việc không thể cứu vãn được.

Việc cấm đồng đã mở, người tiêu tiền để làm đồ dùng thì lợi đến mười lần, vậy thì tiền còn lại có bao nhiêu mà không bị làm thành đồ dùng? Thần cho rằng nếu không cấm đồng, tiền sẽ cạn kiệt, không chỉ hao hụt mà thôi. Ngày khác, nhà giàu phòng giặc cướp, tránh tai họa nước lửa, chỉ tích trữ diêm sao, mà coi việc cất giữ tiền là bất lợi. Diêm sao trong dân lên đến hàng nghìn vạn.

Nay phép diêm sao thay đổi nhiều lần, dân không tin tưởng vững chắc, bất đắc dĩ mà bán diêm sao, sáng được thì chiều đổi đi, nên diêm sao không lưu lại mà tiền càng không ra. Thần cho rằng phép diêm sao không thể không vững chắc, khiến dân không nghi ngờ diêm sao, thì diêm sao có thể làm tiền tệ, mà tiền không cần thêm cũng tự nhiên nhẹ đi. Xưa làm tiền tệ, vàng, bạc, châu, ngọc, mai rùa, vỏ sò đều được, mà không chỉ dựa vào tiền. Nay thông dụng quý giá trong thiên hạ là vàng bạc, chỉ dùng làm đồ dùng mà không làm tiền tệ, dân nghèo mà làm đồ dùng thì ít, nên giá ngày càng nhẹ.

Nay nếu bắt người phải nộp tiền thì nộp vàng, định giá cao mà thu, đến khi xuất ra cũng như vậy, thì đường lối làm tiền tệ càng rộng, mà lợi của tiền sẽ chia bớt. Tiền lợi ở chỗ lưu thông. Giả sử một ấp mười nhà có mười vạn tiền, mà tích tụ vào một nhà, dù trăm năm, vẫn là mười vạn; nếu đem buôn bán di chuyển, khiến mười nhà hưởng lợi mười vạn, thì lợi thành trăm vạn. Di chuyển không ngừng, tiền không thể đếm hết. Nay đến ấp nhỏ nhất, kho thường bình tích trữ không dưới một vạn quan, nếu lưu thông khắp thiên hạ, lo gì tiền không nhiều?

Bốn phương đều trông cậy vào tiền đồng của Trung Quốc, mỗi năm chảy ra ngoài biên giới không ít. Người bàn muốn độc quyền muối Hà Bắc, muối nặng thì muối ngoài ngày càng đến, mà tiền Trung Quốc ngày càng ra Bắc. Lương thực của bách quan kinh sư, ngày trước lấy trâu dê ở chợ tư, chỉ đổi bằng hàng hóa. Gần đây, vì bệnh ghẻ lở mà bị hao hụt, tất cả đều mộ dân đem lương thực đến kinh sư, tuy bỏ được việc chăn nuôi, nhưng trâu dê từ nước ngoài đến, đều đổi bằng tiền thật của Trung Quốc. Những việc như thế, tiền Trung Quốc chảy ra Bắc, mỗi năm không biết bao nhiêu. Đó đều là do phép tắc thúc đẩy, việc đổi chác tư như vậy, trước hết nên cấm. Đó là điều thứ năm có thể cứu vãn.

Vùng giữa sông Hà và Hoàng, là một vùng đất cô lập, hàng năm vận chuyển tiền từ Trung đô để bổ sung cho biên giới, ước tính mỗi năm khoảng mấy chục vạn quan. Ở vùng Đao, Dân, người ta đúc sắt thành tiền, cũng khoảng bốn mươi vạn quan, tích tụ hàng năm ở ba châu. Sản vật của ba châu có hạn, trước đây một đấu gạo giá một trăm đồng, nay đã tăng gấp bốn, năm lần, đó là do tiền nhiều gây ra tai họa. Nếu không tìm cách giải tỏa, thì vài chục năm sau, giá cỏ khô và lương thực sẽ không chỉ tính bằng chung mà còn tính bằng thạch.

Nay chi bằng giải tỏa vào vùng Khương, cho phép họ tự do buôn bán, mỗi quan thu vài chục đồng, mỗi năm đã thu được mấy vạn quan. Lấy số tiền tích trữ của ta, đổi lấy chiến mã, dê thịt là những thứ hữu dụng, giá cỏ khô và lương thực nhập hàng năm sẽ giảm đi mấy lần, một kế sách mà được nhiều lợi. Tiền hàng năm gửi từ Trung đô, chỉ cần dùng khoán sao để thay thế, không những tiết kiệm được công vận chuyển qua núi, mà số tiền giải tỏa ra ngoài, cũng chỉ là sắt từ núi Dân mà thôi, đây là một điều không đáng lo ngại.”

[39] Ngày Quý Mão, bổ nhiệm Điện trung thừa Tiết Xương Triều làm Kiểm tường Xu mật viện Binh phòng văn tự.

[40] Tiền An Nam đạo Kinh lược Chiêu thảo ty tâu: “Lý Thuấn Cử, Yến Đạt và những người khác đã bảo đảm và xác nhận công lao của các sứ thần và quân binh theo quân đến Phú Lương Giang, tổng cộng một trăm bốn mươi bốn người, trong đó có Phi kị Thập tướng Bạch Bảo ở Lân Châu bắt được Thái tử Hồng Chân, Trưởng hành Quảng dũng Đặng Trung bắt được Tả lang tướng Nguyễn Căn.” Chiếu chỉ cho Bạch Bảo làm Tả ban Điện trực, Đặng Trung thăng ba bậc, Tam ban Tá chức Thái Thuyết trở xuống được thăng chức và ban tặng lụa có khác nhau. Sau đó, Phi kị Thập tướng Tiết Đức Kinh Đạt tự trình bày: Khi đánh ải Quyết Lý, bắt được thủ cấp của Hồng Chân, bán cho Bảo. Bảo bị xử đánh trượng, giáng làm Trưởng hành Sương quân; phong cho Đức chức Tam ban Phụng chức.

[41] Ngày Giáp Thân, ghi công cho con của Tả thị cấm Sài Diễn là Thực, Thanh, Nhuận đều được làm Tá chức. Vì Kế nghị Biên sự ty tâu rằng Diễn vì chiến đấu bị thương nặng mà chết.

[42] Ngày Ất Tỵ, chiếu chỉ cho Quảng Tây Kinh lược ty phân chia các động Khê ở hai châu Ung, Thuận thuộc về hai ty An phủ Đô giám.

[43] Tháng đó, huyện Vũ Thành thuộc châu Ân[4] gặp gió lớn, làm hư hại công đường huyện, vợ của Tri huyện Lý Dũ là Diêu thị và mẹ của vợ Chủ bạ Khấu Tông Thích là Dương thị bị đè chết. Triều đình ban cho Dũ và Tông Thích mỗi người 50 tấm lụa.

[44] Đặt thành Thiết Thành thuộc châu Dân. (《Thực lục》 có ghi chép việc này, lại thấy vào cuối tháng 8 năm Nguyên Phong thứ nhất, nay chỉ ghi lại ở đây.)

[45] Mùa thu, tháng 7, ngày Tân Hợi, ban chiếu định vào ngày Giáp Tuất tháng 11 sẽ tổ chức lễ tế Nam Giao.

[46] Ban chiếu yêu cầu các lộ báo cáo rõ ràng về các tướng quan, kèm theo công tội, năng lực, và tình hình huấn luyện tinh nhuệ hay thô sơ để tâu lên.

[47] Ban chiếu cho Quyền phát khiển Quần mục phán quan công sự, Thái thường thừa Vương Khâm Thần đến Tần Châu, Phượng Tường phủ để tiếp ứng việc mua ngựa, lấy tên là “Quần mục hành ty”.

[48] Thượng phê: “Phạm Tử Uyên đang đôn đốc việc nạo vét sông Biện, có thể sai Nội cung phụng quan Phùng Tông Đạo đến đó giám sát.” Việc này căn cứ theo 《Ngự tập》 và 《Ký văn》. Thái Xác hặc tội việc nạo vét sông, bắt giam hơn 200 người làm chứng, vụ án kéo dài không quyết, Thượng hoàng tỏ ra nghi ngờ. Ban đầu, lệnh cho Tông Đạo tự dùng cào để thử nghiệm trên sông Biện, Tông Đạo từ chối vì bệnh, Thượng hoàng ra lệnh đợi khi khỏi bệnh phải đến thử, Tông Đạo bèn xin cùng đi với Tử Uyên, do đó có lệnh giám sát.

[49] Ngày Nhâm Tý, Vua phê: “Đã lập thưởng để bắt Lộ Ân và sai người chiêu mộ quân sĩ đi đánh dẹp, có thể ban thêm chiếu thư giao cho Lưu Định xem xét tình hình mà chiêu hàng, để dân chúng sớm được yên ổn.” Trung thư soạn chiếu thư: “Lộ Ân vốn là họ lớn ở Nam Kiếm Châu, trước đây vì Ngô Duẫn cướp bóc, cùng người trong họ là Thừa Vũ hợp sức đánh dẹp, nhưng bản lộ tâu công không đúng sự thật, khiến ân thưởng không công bằng. Nay lại tụ tập đám đông, dám làm cướp bóc, giết hại quan binh, đã lệnh cho bản lộ tiến quân, và chọn sai quan quân đi đánh dẹp. Huống chi Lộ Ân vốn là dân thường, có công chưa được thưởng, sa vào tội lớn, nên mở đường cho họ tự đổi mới.”

Vua phê: “Bọn giặc nhỏ trộm cướp, e rằng không cần triều đình phải uốn nắn như vậy. Truyền bố khắp nơi, ắt sẽ khiến dân gian nảy lòng khinh nhờn, không tiện cho thể chế. Có thể xem lại các chiếu thư chiêu an trộm cướp trước đây, làm theo chỉ đạo.” Rồi bảo Lưu Định đợi đến nơi xem xét, nếu núi rừng hiểm trở, chưa thể đánh dẹp, thì ra chiếu thư ở nơi trọng yếu, và chọn người mang chiếu thư đi chiêu dụ, cho phép dẫn đầu đồng bọn đến đầu thú, hoặc trong bọn tự giết nhau, bắt giữ đưa đến quan, ngoài việc tha tội, sẽ được ưu đãi sắp xếp theo thứ bậc.

[50] Chiếu rằng tông thất đổi làm quan ngoài, gặp tang mà giải chức để chịu tang, được cấp đủ lương bổng như trước.

[51] Chiếu rằng Đề cử Thành Đô phủ các lộ trà trường, Đô quan lang trung Lưu Tá, Tri Bành Châu, Đồn điền viên ngoại lang Lã Đào đều bị thay thế, lệnh cho Chuyển vận ty xét tội. Tá vì mua trà mà sắp xếp không đúng, Đào không nghe nhận kiện của dân trồng trà ở Bằng Khẩu. (Ngày 21 tháng 5 có thể tra cứu.)

[52] Ngày Quý Sửu, Kiển Tự Thần, vừa được bổ nhiệm làm Quản câu Quảng Nam Tây lộ Thường bình đẳng sự, được điều chuyển sang Kinh Tây Bắc lộ. Tự Thần là con của Chu Phụ. Chu Phụ tâu: “Tự Thần được triệu đối, giao phó trách nhiệm một đạo, nghĩa vụ tất phải thi hành. Tuy nhiên, cha con thần đều nhận mệnh đi xa, gia đình không có nơi nương tựa, xin đổi sang một nơi gần hơn.” Vì thế có mệnh lệnh này. (Theo 《Tống sử》: Tự Thần[5]vốn là Suy quan châu Tứ, chủ quản Thường bình Giang Tây, Chu Phụ tâu lên, nên được đổi sang Kinh Tây.)

[53] Tạ Lân, Tây thượng các môn phó sứ, Tri châu Nguyên, được bổ nhiệm làm Đông thượng các môn phó sứ tái nhiệm, ban sắc khen ngợi, thưởng 200 lượng bạc và lụa, vì Hồ Bắc chuyển vận ty tâu rằng Lân có công lao trong việc chiêu nạp.

[54] Trung thư tâu: “Phủ Khai Phong và các lộ năm nay mùa thu được mùa, xin cử quan đi đề cử việc thu nợ của dân: Ngu bộ viên ngoại lang Dương Cảnh Phân đi Hoài Nam Tây lộ, Thái tử hữu tán thiện đại phu Tăng Hiếu Xước đi Lưỡng Chiết lộ, Sơn Nam Đông đạo tiết độ suy quan Lý Hiếu Bác đi Vĩnh Hưng, Tần Phượng các lộ, Thiền châu ty hộ tham quân Hoàng Hảo Tín đi Hà Bắc Đông, Tây lộ.”

[55] Tam ty tâu: “Các lộ Giang, Hoài bị thiên tai, Phát vận ty chưa vận chuyển được 3.500.000 thạch lương thực cung cấp, xin hạ lệnh cho bản ty xem xét, nếu không thể thu xếp được, tạm cho phép đổi thành tiền mặt, không quá 1.000.000 thạch, hạn trước tháng 10 năm nay phải về kinh để tỉnh ty thu mua, chuẩn bị quân lương.” Đều được chấp thuận.

[56] Ngày Giáp Dần, phân mệnh các phụ thần cầu tạnh.

[57] Quốc tử bác sĩ Lý Tắc được bổ nhiệm làm Đề cử trà trường Thành Đô phủ các lộ và Thị dịch sự Hi Hà lộ, thay thế Lưu Tá.

[58] Tam ty tâu rằng: “Các lộ Giang, Hoài đông tây, Kinh Hồ nam bắc và Lưỡng Chiết xin được đặt riêng thời hạn vận chuyển số lượng hộc (đấu) cống nạp hàng năm. Năm nay xin cho hai lộ Hoài Nam đông và tây, hạn thứ nhất là tháng 12, hạn thứ hai là tháng 2, hạn thứ ba là tháng 4, chỉ lệnh phong trữ tại các châu quân ngoài lộ; Giang Đông hạn thứ nhất là tháng 12, hạn thứ hai là tháng 3, hạn thứ ba là tháng 5; Giang Tây, Kinh Hồ nam bắc và Lưỡng Chiết hạn thứ nhất là tháng 2, hạn thứ hai là tháng 4, hạn thứ ba là tháng 6.” Đều theo lời tâu.

[59] Chiếu rằng từ nay các châu quận thuộc lộ Quảng Nam tây có đất đai xấu yếu, nếu có nơi cần phái y quan, mà người làm chức Chi hậu ngoài ngạch nguyện đi thì cho phép.

[60] Ngày Ất Mão, lấy Tể thần Ngô Sung làm Nam giao đại lễ sứ, Quyền Ngự sử trung thừa Đặng Nhuận Phủ làm Nghi trượng sứ, Phán Binh bộ Hứa Tướng làm Lỗ bạ sứ, Phán Thái thường tự Trần Tương làm Lễ nghi sứ, Quyền Tri Khai phong phủ Tôn Cố làm Kiều đạo đốn đệ sứ.

[61] Trứ tác tá lang, Hiệu thư Sùng văn viện Trương Tái kiêm chức Tri Thái thường lễ viện. Tái bàn về lễ với Hữu ty không hợp[6], nên bãi chức về ngay. “Tái bãi chức về”, thêm việc của Tái vào.

[62] Vua bảo các phụ thần rằng: “Nguyên Hạo trước kia tiếm hiệu, sai sứ dâng biểu xưng thần, lời lẽ còn khiêm tốn, triều đình không tra hỏi nguyên do đã vội cự tuyệt, lại để cho biên dân và phiên bộ đánh dẹp, nên Nguyên Hạo thường tự nhận là do các Khương lập lên, không thể từ chối, xin với triều đình, bất đắc dĩ phải làm phản, quân Tây đánh là thua, thiên hạ náo động, Nhân Tông hối hận. Khi Nguyên Hạo gửi thư tiếm hiệu đến, chỉ có Gián quan Ngô Dục cho rằng ngoại phiên khó lấy cách đối xử với bề tôi phản nghịch của Trung Quốc, có thể đổi danh hiệu một chút. Các nghị thần đều cho là không đúng, cuối cùng làm khốn đốn Trung Nguyên, mà phải thêm tuế tứ, phong sách làm Hạ quốc chủ, thật đáng tiếc thay!”

[63] Ngày Bính Thìn, lấy Thái tử trung doãn Hoàng Liêm làm Giám sát ngự sử lý hành. Xuống chiếu rằng: “Các quan kiểm chính, kiểm tường ở Trung thư, Xu mật viện cùng các quan tập học, đều không được tiến cử quan đài.” Do Ngự sử trung thừa Đặng Nhuận Phủ tiến cử Hoàng Liêm và Quyền kiểm chính trung thư hộ phòng công sự Tất Trọng Diễn có tài năng đảm nhiệm chức Ngự sử, nên mệnh cho Hoàng Liêm và ban chiếu này.

[64] Xuống chiếu rằng: “Từ tẩm điện phía sau Thanh thành ở Nam Giao đến Ngự đạo ở Bảo Hoa môn, không được dùng gạch hoa để lát.” Vì trước đây ở Thanh thành, tất cả các đồ dùng để du ngoạn đều đã bãi bỏ, đến đây, xem xét thấy các cơ quan tính toán công trình quá nhiều, nên lại bãi bỏ.

[65] Ngày Đinh Tỵ, Công bộ viên ngoại lang, Bảo văn các đãi chế, Kiểm chính trung thư ngũ phòng công sự Lý Thừa Chi được quyền phát khiển Tam ty sứ, Hàn lâm học sĩ, Khởi cư xá nhân, Quyền Tam ty sứ Thẩm Quát giữ chức cũ làm Tập hiền viện học sĩ, nhận chức Tri Tuyên châu.

Trước đó, Thị ngự sử tri tạp sự Thái Xác tâu: “Quát dùng tờ trắng đến gặp Ngô Sung bàn việc miễn dịch, nói có thể thay đổi pháp lệnh, khinh dịch vẫn theo lệ cũ mà luân phiên. Quát là bề tôi thân cận, đã thấy pháp lệnh triều đình có chỗ chưa tiện, không dâng sớ tâu rõ, mà chỉ âm thầm dâng lời ở chỗ chấp chính; lại Quát nhiều lần phụng mệnh đi sát phỏng, chức trách là sắp xếp phép dịch, lúc ấy chỉ muốn giảm bớt tiền của hộ dưới, chưa từng nói đến việc khôi phục sai dịch, nay không phải chức phận mà vội xin thay đổi pháp lệnh, trước sau trái ngược khác nhau.

Việc quy hoạch chính sách mới của triều đình, lớn nhỏ Quát đều tham dự, về phép dịch, bàn bạc vốn đã quen thuộc, như việc khinh dịch không dùng phép sai, Quát trước kia không cho là sai, mà nay lại không cho là đúng, ý của hắn không khó hiểu, từ khi Vương An Thạch bãi chức tể tướng, Quát sợ các đại thần thay đổi pháp lệnh, nên âm thầm đưa ra lời này để dò xét ý họ, làm cơ sở để phụ họa. Quát từ chức tuyển nhân, trong vài năm được thăng đến chức này, nên làm gì để báo đáp, mà lại lập dị tráo trở, mang tư tâm hại chính sự, thật không phải ý của bệ hạ đối với Quát.

Hơn nữa, Quát từ khi làm chủ kế đến nay, chẳng có gì bổ ích, đối với cấp dưới thì chỉ làm vừa lòng, đối với trên thì chỉ quan sát, việc này trong ngoài đều biết, thánh minh đều rõ, mà lại âm thầm dùng lời dị luận can thiệp chấp chính, muốn thay đổi phép dịch, càng rõ ràng hơn. Thần nghe nói Trung thư cũng từng đem tờ tâu này dâng lên, giao xuống Tư nông xem xét, lòng nhân từ bao dung của bệ hạ không truy cứu, mà thần lấy việc đàn hạch kẻ gian tà làm chức trách, sao dám im lặng? Xin bệ hạ suy xét tình hình của Quát, đặc cách cách chức.”

Chiếu giao tờ tâu cho Quát biết. Quát tâu: “Thần tự nghĩ mình được vượt cấp lâu ngày, chẳng có gì bổ ích, tội lỗi ngày càng nhiều. Lời các quan nói đều trúng tội thần, sao dám tiếp tục giữ chức vụ quan trọng? Thần xin ở nhà chờ tội.”

Có chiếu lệnh Quát tiếp tục làm việc. Xác lại tâu: “Gần đây thần đàn hạch tội trạng của Quát, chưa được thi hành, nghe nói Quát giả vờ xin từ chức, có chiếu lại lệnh tiếp tục làm việc. Nếu đúng như lời đồn, triều đình đối xử với Quát như vậy, thần thật không hiểu. Hơn nữa, Quát nói phép dịch có thể thay đổi, sao không nói vào lúc làm Kiểm chính sát phỏng, mà lại nói vào lúc không phải chức phận; không nói với bệ hạ, mà lại âm thầm nói với chấp chính[7]? Ý của Quát đâu phải vì pháp độ triều đình, chỉ muốn dựa vào đại thần, khéo léo mưu cầu lợi ích cá nhân mà thôi. Xin bệ hạ trừ bỏ kẻ gian tà, quyết đoán không nghi ngờ, xử tội Quát.” Vì thế có lệnh này.

(Ngày 26 tháng 11 năm ngoái, Quát bàn về phép dịch [của] hai Chiết, cần tra cứu.

Thẩm Quát tự chép rằng: Ông từng xin việc ở tướng phủ, lúc ấy, Chính túc Ngô công Sung đang làm tể tướng, hỏi ông: “Phép miễn dịch, dân chúng chê bai đến nay chưa thôi, rốt cuộc đối với dân thế nào?” Ông đáp: “Những người cho là không tiện, không ngoài sĩ đại phu và dân thành thị quen được miễn trừ, đột nhiên bắt họ như người trong nước, lời chê bai không đáng lo. Chỉ có hộ nhỏ vốn không có sức làm dịch, nay bắt họ mỗi năm nộp tiền, đó là điều đáng lo. Quát từng tâu nghị giảm thu nhập hàng năm của hai xứ Chiết năm vạn quan, và miễn cho hơn hai mươi tám vạn hộ nhỏ. Nếu cả nước đều như vậy, hộ nhỏ đều được miễn nộp, thì dù có dịch nhỏ cũng không đáng lo.” Công cho là phải và biểu dương thi hành.

Ngự sử bèn chê ông trước chỉ bàn giảm thuế, nay lại âm thầm đổi lời, muốn miễn hết, tráo trở bất nhất, âm thầm hại phép Tư nông. Ông bị giáng làm Tập hiền học sĩ, tri Tuyên châu. Ngự sử chưa từng nghĩ rằng nói về một lộ là giảm, mà nói về hộ là miễn. Nay ghi chép thêm, cần tra cứu ngày 11 tháng 8 năm Nguyên Phong thứ nhất.)

[66] Thượng phê: “Liệu Ân nhiều lần đánh bại quân triều đình, đồ đảng đã lớn mạnh, nếu không kịp thời xử lý, lo sâu rằng sẽ càng kết giao, tập hợp thêm người, nuôi dưỡng thành mối họa lớn, trở thành nỗi lo lớn của triều đình. Trước đây Bành Bảo tuy đã chiêu mộ hơn 500 bộ binh và kỵ binh đi trước, nhưng xét tình hình giặc hiện nay vẫn sợ không đủ ứng phó, Trung thư, Xu mật viện nên cùng bàn bạc kế hoạch, lại tăng cường chiêu mộ người tiếp tục phái đi, để tiêu diệt bọn hung ác, cứu một phương sinh linh khỏi bị tàn hại.” Bèn sai Chiêu tuyên sứ, Gia Châu đoàn luyện sứ, Nhập nội phó đô tri Vương Trung Chánh làm Đô đại đề cử Phúc Kiến lộ chiêu tróc tặc đạo công sự, tuyển mộ 3000 quân và các đại tiểu sứ thần cần dùng, báo tên lên triều đình, các quan quân và quan bắt giặc đều nghe theo sự chỉ huy của Trung Chánh.

Lại hạ chiếu: “Phàm các việc liên quan đến Lưu Định, đều giao cho Trung Chánh xử lý, để quân sự có sự thống nhất, tình hình không đến mức mâu thuẫn. Trong quân chỉ cần vỗ về quân sĩ, sửa chữa vũ khí, loại bỏ những người ốm yếu không thể chiến đấu, dùng hậu thưởng chiêu mộ người làm gián điệp, và phân tướng giữ các nơi hiểm yếu, không để giặc chạy thoát. Trời nóng, quân sĩ ở ngoài đồng, nên kiểm tra thuốc men, ăn uống, giữ gìn sức khỏe quân sĩ, chờ Trung Chánh đến.”

(Ngày 22 tháng 5, đã sai Bành Tôn đi; ngày 5 tháng 6, lại sai Bành Bảo đi; nay lại sai Trung Chánh; ngày 5 tháng 8, triệu Trung Chánh về kinh. Lưu Định trước làm Phúc Kiến thể lượng an phủ, ngày Quý Mùi tháng 8 bị khiển trách.)

[67] Chiếu: “Các lộ hàng năm báo lên tình hình trị lý ưu tú của các tri huyện, huyện lệnh, giao cho chủ phán quan xem xét, chọn người giỏi nhất ghi vào sổ. Chủ bạ Tư nông tự và đề cử thường bình quan có khuyết, chọn người giỏi nhất bổ nhiệm. Nếu có người trị lý đặc biệt xuất sắc hoặc tư cách đã cao, cần đặc cách thăng chức thì báo lên.” (Cựu kỷ chép: Chiếu các huyện lệnh hàng năm khảo khóa, giao Lại bộ xem xét, chọn người giỏi nhất ghi vào sổ, người có thể thăng chức thì báo tên lên. Tân kỷ chép: Lệnh các lộ hàng năm báo lên khảo khóa của huyện lệnh, giao phán kiềm hạt xem xét, ghi tên người giỏi nhất để thăng chức.)

[68] Chiếu rằng các lộ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây năm lộ, tiền thặng dư từ các phường trường miễn dịch thường bình không được chuyển lên kinh đô hay ứng phó cho các lộ khác, chỉ để lại tại bản lộ để dùng vào việc thưởng biên phòng.

[69] Chiếu rằng dân các lộ Hà Đông, Thiểm Tây, Hà Bắc Tây lộ, vì bị thiên tai mà phải cầm bán ruộng đất, cho phép theo giá cũ, tùy theo thời hạn mà trả lãi để chuộc lại. Nếu quá năm năm hoặc khi mua không bị lỗ giá thì không áp dụng lệnh này.

[70] Ngày Kỷ Mùi, Hàn Chẩn tâu rằng đã san định các điều kiện chuẩn bị phòng giặc và thanh dã. Viện Mật cùng Trung thư phụng chỉ: “Lệnh cho các kinh lược, an phủ sứ năm lộ xem xét kỹ, nếu có điều gì chưa đầy đủ, chưa tiện hoặc cần thêm sửa đổi, thì lệnh cho cơ nghi quan viết tấu trình lên, không được giao xuống các ty.” (Việc này được ghi chép mật vào ngày 11.)

[71] Ngày Tân Dậu, quần thần dâng biểu xin tôn hiệu là Phụng Nguyên Hiến Cổ Văn Vũ Nhân Hiếu, chiếu đáp không chấp thuận. Biểu dâng năm lần, cuối cùng vẫn không được chấp thuận.

[72] Đề cử Linh Tiên Quan, Giá bộ Lang trung Lý Trực Cung làm Vệ úy Thiếu khanh. Trực Cung vì già yếu xin về làm quan tại cung quán, theo quy chế thẩm quan thì không được xét duyệt, nhưng Tể thần Ngô Sung nói: “Trực Cung vốn có phong cách mạnh mẽ, tuy già nhưng không suy, từng trải qua nhiều chức vụ, đến đâu cũng được khen ngợi, tính tình điềm đạm, xin cho làm chức nhàn.” Vì thế có mệnh này[8]. (Sử Chu[9] ghi chép, trong Thời chính ký, chép rằng Trực Cung từng tự xin xét duyệt để đổi chức, không đáng ghi. Bản mới cũng bỏ đi.)

[73] Ty Đề điểm hình ngục Phúc Kiến lộ tâu: “Đô giám bản lộ là Trầm Phi thân, theo lệnh bắt giết Liêu Ân. Vì Phi trước làm Quốc tử giám Bác sĩ, đổi làm Lễ tân sứ, chưa quen việc quân chính, sợ làm sai nhiệm vụ.” Chiếu rằng Phi trước hết bị cách chức, xét tội rồi tâu lên.

[74] Ngày Nhâm Tuất, Vua phê: “Huyện úy Nam Phong, quân Kiến Xương là Hoàng Khắc Tuấn, từ khi Liệu Ân làm giặc, đã dâng nhiều kế sách trừ giặc, nhưng chưa có ai như Khắc Tuấn hiểu rõ nguồn gốc của giặc và có phương lược xử trí tốt như vậy. Nên triệu đến hỏi han, nếu thực sự là kế của mình, có thể cho theo Vương Trung Chính quản lý việc văn thư.” Do đó, Trung thư triệu Khắc Tuấn đến hỏi tình hình, rồi sai đi. Ban cho Trung Chính 500 quan tiền công dụng.

[75] Sắc chỉ: “Hoàng bá tổ, Bảo đại tướng quân, Tiết độ sứ Thừa Tuyển nhiếp chức Thái úy, tháng 7 dâng lễ tế Thái miếu. Thừa Tuyển tuổi cao, khó khăn trong việc lễ bái, nên đặc cách miễn nhiệm vụ này.”

[76] Ngày Giáp Tý, Bảo Văn các đãi chế, quyền phát khiển Tam ty sứ Lý Thừa Chi kiêm chức Tường định biên tu Tam ty lệnh thức.

[77] Ngày Ất Sửu, sông lớn vỡ đê ở hạ du Tào Thôn, châu Thiền. Ngày 28, sông dời về phía nam.

[78] Xu mật phó đô thừa chỉ Trương Thành Nhất dâng sách “San định nghĩa dũng bảo giáp chế sắc” 5 quyển, “Tổng lệ” 1 quyển.

[79] Xu mật viện tấu: “Tri châu Hãn là Tiêu Sĩ Nguyên, Bí thư thừa đang để tang Lữ Đại Trung trước đây khám xét địa giới Hà Đông, trong đó có việc không dán tên địa danh lên bản đồ và việc phân chia ranh giới núi chưa hợp lý.” Chiếu tha tội cho Tiêu Sĩ Nguyên và Lữ Đại Trung vì đã nhiều lần được ân xá. Sở phân chia địa giới Hà Đông là Yến Phục và các người khác khám xét vùng tây nam Thiên Trì không có tên địa danh Hoành Lĩnh, sau khi khám xét lại, có núi Cố Trại cũng gọi là Hoành Lĩnh. Chiếu giảm một năm trong thời hạn khảo sát của Yến Phục và những người khác. (Việc ghi chép bí mật ngày 17 tháng 7, có thể tham khảo ngày 24 tháng 6.)

[80] Ngày Kỷ Tỵ, phân công các quan đại thần cầu tạnh ở Giao miếu và Xã tắc.

[81] Ngày Canh Ngọ, Tây thượng các môn phó sứ, Tri châu Đại là Lưu Thuấn Khanh được làm Khách tỉnh sứ, Tri phủ Thái Nguyên. Hàn Giáng nói rằng Thuấn Khanh đã 8 năm không được khảo sát.

[82] Quảng Tây chuyển vận ty tâu rằng, thám thính được quân Giao Chỉ hiện đang ở ngoài huyện Cơ Lang. Chiếu rằng: “Huyện Cơ Lang đã bị giặc Giao Chỉ đánh chiếm, chưa thấy bản lộ hợp tác xử trí thế nào, cùng với Quyết Lý, Thuận Châu lâu dài có thể hay không thể cố thủ, làm sao để không tổn hại uy quốc, và lâu dài binh lực tài chính tránh được hao tổn. Giao cho Triệu Tiết, Lý Bình Nhất, Miêu Thời Trung cùng nhau thẩm định kế hoạch rõ ràng lợi hại, không được do dự né tránh, để lỡ việc lớn của triều đình. Sau khi bàn định, phải tự tay viết thư gửi gấp tâu lên.”

[83] Ngày Tân Mùi, lấy Quyền tri Kinh Nam, Đồn điền Lang trung Trương Giáp làm Trực Tập hiền viện, giữ chức Quảng Nam Tây lộ chuyển vận sứ. Tô Triệt trong sớ đàn hặc đầu niên hiệu Nguyên Hựu nói rằng: Nghe nói Trương Giáp trước đây làm tri Kinh Nam, hành vi tham tàn. Đề cử quan Trương Uyển xét ra bảy việc, trong đó có một việc: Trương Giáp sai người mua ô đầu, người buôn Tương Tam cung cấp ô đầu xanh, Trương Giáp ba bốn lần đòi đổi, Tương Tam đoán ý Trương Giáp muốn phụ tử[10], bèn mua phụ tử làm ô đầu cung nạp, Trương Giáp mới chịu nhận. Ô đầu xanh và phụ tử màu sắc khác nhau, giá cả cũng khác, việc này thuộc tội tham nhũng. Lại có một việc: Bắt tăng chùa Ngọc Tuyền tu sửa các vườn tược của quan lại, tốn kém nhiều nhân lực, tiền của; lấy cớ tu sửa thảo đường của Đường Tề Kỷ, sai tăng quê của Trương Giáp ở đó. (Việc này thuộc tội tư lợi. Trương Uyển dâng sớ lên, cựu tể tướng Vương Khuê vì có tình riêng với Trương Giáp, bèn đổi chức của Trương Giáp, mà lấy tội vượt quyền xét Trương Uyển, đặc cách cách chức. Lúc đó nếu Trương Giáp không có tội tham nhũng tư lợi, là kẻ sĩ, lẽ ra phải biện bạch minh oan[11]. Trương Giáp không dám lên tiếng tự biện minh, nhận chuyển đi nơi khác, thì tội trạng rõ ràng không còn nghi ngờ. Trương Uyển bị cách chức vào ngày Mậu Thìn tháng giêng năm Nguyên Phong thứ nhất.)

[84] Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý, Tri Hồ Châu Cúc Chân Khanh được làm Thái thường bác sĩ, Trực bí các, do Tuyên huy Bắc viện sứ Vương Củng Thần quyền Ngự sử trung thừa. Đặng Nhuận Phủ nói Chân Khanh từ khi đổi chức đến khi vào triều đã ba mươi năm, không phải nhờ ân đặc biệt mà chưa từng xin xét duyệt công trạng.

[85] Vua ngự điện Tư chính, Giám tu quốc sử Ngô Sung dẫn Tu quốc sử Tống Mẫn Cầu, Biên tu quan Vương Tồn, Hoàng Lý, Lâm Hi, dâng bản thảo kỷ Nhân Tông, Anh Tông. Vua mặc áo bào, nội thị dâng án, Mẫn Cầu đọc, Vua đứng nghe hỏi ý kiến, xong bài mới ngồi.

[86] Ngày Nhâm Thân, Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý, Quyền phán Đô thủy giám Du Sung làm Trực sử quán, Kiểm chính Trung thư ngũ phòng công sự. Trước đây, người Khương ở Mậu Châu làm phản, đã xin kết minh, Sung cố ý trì hoãn để đợi Vương Trung Chính, lại xúi giục họ nói ra, rồi tăng cường đánh dẹp, dùng làm công lao của Trung Chính. Sung kết thân với Trung Chính, đến mức sai vợ ra lạy. Trung Chính về, nhân đó tiến cử Sung có thể dùng, liền triệu từ Thành Đô về làm Quyền phán Đô thủy giám, chưa bao lâu, lại có mệnh này. (“Sung sai vợ lạy Trung Chính”, theo bài minh của Tằng Triệu trong mộ Bành Nhữ Lệ. Chương tấu của Bành Nhữ Lệ phụ vào ngày 18 tháng 9 và 3 tháng 10, đến ngày 5 tháng 12, Sung bị bãi chức. Hoàng Liêm nói thêm phụ vào ngày 9 tháng 8.)

[87] Thư Châu đoàn luyện suy quan, Quyền Lưu nội tuyển[12] Chủ bạ Thái Kinh làm Sùng văn viện hiệu thư, Trung thư lễ phòng tập học công sự. Ngày 8 tháng 7 năm thứ 9, làm Thuyên bạ[13].

[88] Chiếu cho quan Đề điểm Chiết Giang đẳng lộ đúc tiền, Thái thường thiếu khanh Tiền Xương Vũ phạt 10 cân đồng, Giám quan Thị cấm Thôi Thản bị thay thế, vì tội đổi đặt lò lớn ở Vĩnh Bình giám đúc tiền mỏng yếu[14]. Lệnh cho Tam ty từ nay các lộ đúc tiền đều phải theo mẫu của bộ, không được tự ý thay đổi quy mô, đòi tăng số lượng, giao cho Ty đề cử kiểm tra.

[89] Chiếu cho Tam ty hàng tháng phải báo cáo tổng số vàng bạc, tiền lụa chi tiêu ở kinh đô.

[90] Ngày Quý Dậu, chiếu rằng: “Từ nay khi tế Nam Giao, đi xe ngọc cũ, khi về cung đi xe lớn, xe ngọc mới không được dùng nữa.”

[91] Ngày Ất Hợi, chiếu cho châu Hựu rằng những tờ trình gọi là “Lăng La chỉ huy”, từ nay đều phải tâu xin chỉ dụ. Người Hạ gọi Viện Xu mật giả là “Lăng La”.

[92] Chiếu cho tu sửa thành trì ở châu Tín, Thiệu Vũ, Kiến Xương quân, nếu dân phường quách muốn ra sức thì cho phép. Vì giặc Phúc Kiến chưa bắt được, lòng dân muốn được bảo vệ tập trung.

[93] Chiếu rằng: “Hà Bắc mưa dầm nhiều ngày không ngớt, hại nhiều đến lúa mùa thu, lệnh cho các quan trưởng thành tâm cầu đảo ở các danh sơn, linh từ.”

[94] Giáng chức Tuyên huy Nam viện sứ, Hùng Vũ quân lưu hậu Quách Quỳ làm Tả Vệ tướng quân, an trí ở Tây Kinh; Lại bộ viên ngoại lang, Thiên Chương các đãi chế Triệu Tiết làm Tả Chánh ngôn, trực Long Đồ các, vẫn giữ chức Tri Quế châu. Do Ngự sử tri tạp Thái Xác tâu rằng Quỳ kinh chế An Nam, vì bệnh xin về trước, Tiết bố trí lương thảo sai phương, và không kịp thời dẹp giặc. (《Thời chính ký》 chép: Vì Quỳ ban đầu dâng sớ riêng xin chuyên trách kinh chế[15], không thể đợi thời cơ tiến đánh, nhân thế dẹp yên, vì bệnh liền về trước; Tiết cũng bị tội bố trí lương thảo sai phương, và không kịp thời dẹp giặc, nên bị trách phạt. Nay theo 《Thực lục》.)

Tháng 11 năm ngoái ngày Quý Dậu, chiếu rằng vì phu dịch vận lương ở các châu Nghi, Quế chưa đủ, lệnh Triệu Tiết trình bày rõ để tâu lên. (Phạm Bách Lộc trong 《Triệu Tiết mộ chí》 chép: Lúc đầu bàn việc nam chinh, Vua lo việc vận lương, Tiết tâu: “Quân lương phải tương xứng, thần xin nhận trách nhiệm, mong việc lớn thành công.” Vua rất vui, bèn cho Tiết kiêm chức Đô đại đề cử lương thảo. Đến Hồ Nam, hỏi số lượng điều động, Chuyển vận phán quan Đường Nghĩa Vấn nói: “Việc quân không thể chậm, phải vận chuyển một lần là đủ.” An phủ sứ Tăng Bố nói: “Dân sao chịu nổi! Xin chia làm hai đợt, để giảm bớt sức dân.” Nghĩa Vấn nói: “An phủ nói thế, muốn tôi chết sao?” Tiết hỏi: “Lương thảo ở Quảng Tây đến được bao nhiêu?” Đáp: “Chín mươi vạn hộc.” “Phu dịch bao nhiêu?” Đáp: “Hai trăm bảy mươi vạn.” Tiết tính toán thấy lương thảo hiện có đủ cung cấp cho quân đội, không cần dư thừa làm khổ dân, bảo Nghĩa Vấn: “Phu dịch có thể giảm bớt. Nếu không đủ, tôi sẽ chịu trách nhiệm.” Bèn tâu xin bãi bỏ. Dân Hồ Nam được bảo toàn tính mạng, mang ơn Vua và cảm kích Tiết không quên. Sau khi bố trí vận chuyển đường biển, Yến Đạt đem quân dẹp yên Quảng Nguyên, thu được một vạn hộc lương, dân châu dâng lúa, cung cấp lương thực mười ngày, và mang phần còn lại về. Quân về đến Thái Bình, Liêm Châu tích trữ tiền lương rất nhiều, Đằng, Ngô dư lương hơn hai mươi vạn hộc. Xét: Tiết vừa bị trách vì bố trí lương thảo sai phương, ngày mùng 1 tháng 8 lại bị trách; Lý Bình Nhất, Thái Diệp, Chu Ốc đều vì việc vận chuyển không chu toàn bị giáng chức, không rõ Bách Lộc vì sao nói như vậy, nay không theo.)

[95] Sông Hoàng Hà đã vỡ lớn ở đập dưới thôn Tào. Ngày Giáp Tuất, châu Thiền tâu: “Dòng chảy phía bắc đã đứt, dòng sông chuyển về phía nam, rồi đổ về phía đông vào đầm Trương Trạch ở núi Lương Sơn, chia thành hai dòng: một hợp với sông Thanh Hà phía nam chảy vào sông Hoài, một hợp với sông Thanh Hà phía bắc chảy ra biển. Tổng cộng ngập lụt 45 châu huyện, trong đó các châu Bộc, Tề, Vận, Từ bị thiệt hại nặng nhất, phá hủy hàng vạn nhà dân và công trình, cùng 300.000 khoảnh ruộng.” (Phần trên căn cứ theo 《Hội yếu》, dựa vào 《Linh Tân miếu ký》 của Tôn Chu, nhưng ghi ngày đứt dòng là Nhâm Thân. 《Bản chí》 cũng giống với 《Hội yếu》. 《Tân kỷ》 và 《Cựu kỷ》 đều ghi ngày Bính Tý: Sông Hoàng Hà vỡ đập thôn Tào ở châu Thiền, 17 ngày sau, vỡ lớn ở thôn Tào.)

[96] Ngày Bính Tý, châu Thiền xin cử quan đến cứu hộ. Chiếu cho Trương Mậu Tắc, Đô tri Nội đô, và Lưu Cáp, Quyền Đồng phán Đô thủy giám, cùng đi xem xét việc đắp đập.

[97] Chiếu cho các quan Chỉ sử, Tả Thị cấm Trương Thủ Vinh, Hữu Ban điện trực Trương Đức, Tam ban tá chức Lưu Cát ở Kinh lược ty Hi Hà lộ đều giáng hai cấp và bị thay thế. Vì không kiểm soát được việc binh lính Phiên do Thường Tôn chỉ huy làm phản, cùng với quân của Quỷ Chương giết hại quan quân.

[98] Chiếu cho Tam ty miễn giảm một nửa thuế thu năm ngoái của dân chúng các châu quân ở Giang Ninh phủ, phần còn lại cho hoãn lại. Do Giang Đông chuyển vận ty tâu rằng dân chúng vì dịch bệnh không thể cày cấy.

[99] Bành Tôn, quan Tróc sát tặc đạo ở Phúc Kiến lộ, tâu rằng Liêu Ân đã chạy đến địa giới châu Tín, có đơn xin đầu hàng. Chiếu rằng: “Giao cho Tôn chiêu hàng, áp giải về kinh, các quan bắt giặc khác phải giữ quân ở các cửa ải, không được tranh công bắt giết. Nếu bọn giặc thực sự đầu hàng mà các quan văn võ bắt giặc dám giết hại, giao cho Tôn bắt trói lại[16], binh lính thì xử trảm ngay.”

[100] Chiếu cho các quân ở Hà Đông, Vĩnh Hưng, Tần Phượng lộ cùng các Hán, Phiên cung tiễn thủ, Phiên binh thường được chiêu mộ đi đến hành dinh An Nam, nếu bị nhiễm chướng khí, thì Ngự dược viện đưa phương thuốc trị chướng khí ở quân tiền An Nam xuống cho các Kinh lược ty chế thuốc, tùy theo bệnh mà cấp phát.

[101] Chiếu cho Thái thường lễ viện tiếp tục tu sửa 《Lễ các tân biên》. (Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 ngày 27 tháng 7, nhưng 《Thực lục》 không ghi chép, e rằng 《Hội yếu》 có sai sót, tạm ghi vào cuối tháng, đợi tra cứu thêm.)

[102] Văn Ngạn Bác tâu: “Thần vào ngày mồng 6 tháng giêng năm nay đã tâu rằng: Theo báo cáo của châu Đức, sông lớn từ mùa thu hạ năm ngoái đến mùa đông năm nay, đáy sông bị bồi lắng, dòng chảy không thông suốt, thế nước thay đổi, không theo dòng cũ, hiện nay nước tràn lan khắp nơi, hai bên bờ đều bị nạn lụt. Thần xét thấy hạ lưu sông Hoàng Hà bị bồi lắng, việc nạo vét không thực hiện được, nước không thoát nhanh, thế nước thượng lưu tất nhiên sẽ bị ngăn trở. Nếu không có biện pháp phòng ngừa trước, e rằng trong tương lai nước sông dâng cao, chắc chắn sẽ gây vỡ đê và gây họa cho các châu Ngụy, Bác, Ân, Thiền, v.v. Sau đó, thần không nghe thấy cơ quan thủy lợi có kế hoạch gì khác, chỉ tập trung bảo vệ bờ bắc dòng chảy phía đông. Tháng 5, 6, 7 năm nay, nghe nói khu vực đê Kim Tân thuộc Đại Danh rất nguy cấp, quả nhiên dẫn đến vỡ đê ở châu Thiền. Sách 《Bị Yếu》 nói: Đây không phải là thiên tai, mà là do sức người không đủ.

Thần lại xem xét bản tấu ngày mồng 8 tháng giêng năm nay, nói rằng những năm gần đây, quan lại phụ trách đê điều vì muốn tiết kiệm vật liệu để mong được thưởng, chỉ vì ba bốn năm nay sông Hoàng Hà nước rất nhỏ, đê điều tạm thời không nguy cấp nên mới giảm được vật liệu. Điều này không phải là chế độ lâu dài, e rằng đê điều dần dần sẽ hư hỏng, nếu trong tương lai nước sông dâng cao như trước, chắc chắn sẽ gây ra sơ suất. Thần kính xin xem xét lại điều lệ cũ, không nên lấy việc tiết kiệm vật liệu để mong được thưởng. Mùa hè thu năm nay, nước dâng cao, các đê điều rất nguy cấp, nhiều nơi báo cáo thiếu vật liệu. Nay đê Tào Thôn bị vỡ, từ năm Hi Ninh thứ 8, 9, 10, khi kiểm kế vật liệu mùa xuân, những chỗ thấp yếu cần gia cố, trong ba năm đó đều không được đáp ứng. Hơn nữa, binh lính ở đê này phần lớn bị điều đi nơi khác, hoặc lái thuyền chở lúa mì cho ty Thủy Lợi, hiện chỉ còn 17 binh lính thực sự làm việc, dẫn đến đê thấp yếu, cuối cùng bị vỡ.

Trước đây, thần đã từng bàn về việc sông ngòi và đề nghị chọn lựa kỹ càng quan lại thủy lợi. Nay nhân dân các châu huyện Hà Sóc, Kinh Đông bị nạn lụt, không biết bao nhiêu người, kêu than thảm thiết, khiến bệ hạ lo lắng, nhưng quan lại thủy lợi không tự biết lỗi, vẫn hối hả mong được thưởng, như thế có hợp lý không! Những điều thần tâu trước sau đều xuất phát từ lòng thành, chỉ mong báo đáp, không dám khích bác, xin bệ hạ xét cho.”

(Tấu năm Hi Ninh thứ 10, nay phụ vào cuối tháng 7 sau khi sông vỡ đê. Sông lớn vỡ đê vào ngày 17 tháng 7.)

Ngạn Bác lại tâu: “Thần năm ngoái vào mùa đông đã tấu rằng việc mở đê ở Vệ Châu, Vương Cung Tảo để lấy nước sông Hoàng Hà làm kênh vận tải, đặt cửa cống dẫn nước vào sông Ngự, rất bất tiện, vì nếu lớn thì vỡ đê tràn nước, nhỏ thì bồi lắng. Nghe nói đã sai quan xem xét lợi hại, nay quả nhiên khiến nước sông Hoàng Hà chảy vào kênh vận tải, không ngăn chặn được, vỡ qua cửa cống, tràn xuống các châu, phủ, huyện, trấn ở hạ lưu, gây họa rất lớn. Thần lo rằng cơ quan xem xét chưa biết được tác hại của kênh vận tải hiện nay, xin chỉ thị cho cơ quan xem xét xuống Vệ Châu và An phủ ty lộ Đại Danh, lấy các văn bản báo cáo về việc vỡ đê tràn nước từ ngày mùng 4 và 14 tháng 7 trở đi, xem xét kỹ rồi quyết định.”

[103] Tháng đó, sông Hoàng Hà lại tràn vào Vệ Châu, Vương Cung. Tháng 10 năm thứ 4, sông Hoàng Hà tràn vào Vương Cung, tràn vào Hoài Châu, sông Hoàng và sông Sấm, tràn vào Vệ Châu, huyện Cấp, các đê thượng hạ tảo, tràn vào Hoạt Châu, thôn Hàn, rồi vỡ lớn ở Thiền Châu, thôn Tào. (Điều này căn cứ vào 《Hà cừ chí》 thêm vào cuối tháng. 《Thực lục》 chỉ chép vào ngày 28 là đê thôn Tào vỡ, nhưng thực tế đê thôn Tào vỡ lớn vào ngày 17. Thôn Hàn được chép vào ngày mùng 4 tháng 8, sông Hoàng và sông Sấm được chép vào ngày 14 tháng 8.)


  1. Xem xét quân đội trở về từ An Nam, chữ 'Nam' ban đầu bị thiếu. Căn cứ vào quyển 279, tháng 12 năm Hi Ninh thứ 9, ngày Quý Mão, khi Quách Quỳ và các tướng Khúc Trân, Trương Thế Củ, Vương Mẫn rút quân từ An Nam, chữ 'Nam' dưới chữ 'An' rõ ràng bị thiếu, nên bổ sung.
  2. Các lầu gác hiện đang dần được tu sửa hoàn chỉnh, chữ 'hiện' nguyên bản là 'lệnh', theo nghĩa văn mà sửa.
  3. 'Tiền sắt' nguyên bản chép là 'tiền', theo các bản khác và bản in chữ rời sửa lại.
  4. Huyện Vũ Thành thuộc châu Ân, chữ 'Ân' nguyên bản viết là 'Tư'. Xét: Huyện Vũ Thành thời Tống thuộc châu Ân, lộ Hà Bắc Đông, xem 《Tống sử》 quyển 86, chí Địa lý, theo đó sửa lại.
  5. Chữ 'Tự' trong 'Tự Thần' nguyên bản bị thiếu, căn cứ vào bản trong các và văn bản trên mà bổ sung.
  6. Theo văn bản, nghi ngờ chữ 'ư' là sai, nên là chữ 'dữ'.
  7. mà lại âm thầm nói với chấp chính 'chính' nguyên bản là 'sự', theo các bản và văn trên sửa lại.
  8. 'Có mệnh' hai chữ nguyên bản thiếu, theo các bản khác bổ sung
  9. 'Chu' nguyên bản viết là 'Tống', theo bản hoạt tự sửa lại
  10. Tương Tam đoán ý Trương Giáp muốn phụ tử, chữ 'đoán' nguyên là 'suy', theo các bản khác sửa lại
  11. Lẽ ra phải biện bạch minh oan, chữ 'biện' nguyên là 'hứa', theo các bản khác sửa lại
  12. Lưu nội tuyển 'Lưu' nguyên là 'Lưu', theo các bản và quyển 277 năm Hi Ninh thứ 9 tháng 7 ngày Nhâm Tuất sửa.
  13. Thuyên bạ 'bạ' nguyên là 'bộ', theo chính văn sửa.
  14. 'Khiếp bạc' nguyên bản chữ 'Khiếp' viết là 'Khoái', theo bản trong các sách sửa lại.
  15. Vì Quỳ ban đầu dâng sớ riêng xin chuyên trách kinh chế, chữ 'chuyên' nguyên bản thiếu, theo bản trong các kho lưu trữ bổ sung.
  16. 'Hệ' nguyên là 'Kích', theo các bản và bản hoạt tự sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.