"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 286: NĂM HI NINH THỨ 10 (ĐINH TỴ, 1077)

Bắt đầu từ tháng 12 năm Hi Ninh thứ 10 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 12, ngày Đinh Sửu mùng một, Sở Chuyển vận Quảng Đông tấu rằng nước Chiêm Thành tiến cống voi.

[2] Ngày Tân Tỵ, lấy Thái thường thừa, Trực sử quán, Kiểm chính Trung thư ngũ phòng công sự Du Sung làm Tập hiền điện tu soạn, Đô đại đề cử Thị dịch ty kiêm tại kinh chư ty khố vụ. Không rõ ai thay Du Sung làm Đô kiểm chính. Ngày Nhâm Thân 24 tháng 7, lần đầu bổ nhiệm Đô kiểm chính, Ngự sử Bành Nhữ Lệ có lời tâu; ngày 14 tháng 10, lệnh cho Giám ty Lưỡng Chiết điều tra.

[3] Ngày Nhâm Ngọ, chiếu rằng từ ngày mùng một tháng giêng năm sau đổi niên hiệu thành Nguyên Phong.

[4] Quyền phát khiển Phúc Kiến lộ Chuyển vận sứ Kiển Chu Phụ xin dời một viên Lộ phân đô giám đóng ở Kiến Châu, được chấp thuận.

[5] Chiếu rằng: “Sau khi lễ Nam giao kết thúc, các học sĩ ở ngoài là Hàn Duy, Vương Đào, Tôn Vĩnh, Trần Tiến đều là cựu thần của Đông cung, theo lệ bồi tự ban thưởng.”

[6] Lại chiếu truy tặng Thái sư, Thượng thư lệnh kiêm Trung thư lệnh, Vũ Công quận vương Cao Tuân Phủ truy phong làm Vệ vương; Định Quốc quân lưu hậu, tặng Thị trung Hướng Kinh truy tặng Thái phó, Trung thư lệnh, Hà Gian quận vương.

[7] Quảng Tế hà liễn vận Trương Sĩ Trừng vì có công thúc đẩy vận chuyển, được giảm thời gian khảo khóa 3 năm. Vốn không đáng ghi, nhưng vì lần đầu khôi phục vận chuyển trên sông Quảng Tế, nên đặc biệt ghi lại. Ngày Đinh Mão tháng 10 năm thứ 7, Sĩ Trừng bắt đầu tu sửa sông Quảng Tế.

[8] Cơ quan Tường định nhất ty sắc trình lên bộ luật của Hình bộ, các chỉ dụ triều đình ban ra từ Trung thư đều gọi là “Sắc”, từ Xu mật viện đều gọi là “Tuyên”, gồm chín mục, tổng cộng sáu mươi ba điều. Triều đình chấp thuận.

(Sách 《Trung thư thời chính ký》 chép: Ngày 6 tháng 12, cơ quan Tường định nhất ty sắc tâu: “Theo chỉ dụ triều đình, chúng thần đã biên soạn hai quyển luật của Hình bộ, gồm bảy mươi mốt điều. Nay xin xem xét kỹ các điều đã sửa đổi cùng các chỉ dụ, trát văn sau này. Những việc thuộc về các cơ quan khác thì giao về cơ quan đó; nếu liên quan đến hai cơ quan trở lên thì chờ biên soạn vào bộ luật chung của kinh thành; những điều đã có quy định thì không ghi lại; những điều văn nghĩa chưa ổn thì sửa đổi; những điều cần đối chiếu với bộ luật chung đã trình lên Trung thư và gửi đến cơ quan biên soạn lại bộ luật.

Xét thấy bộ luật của cơ quan Tường định nhất ty thời Hoàng Hựu được ban hành vào ngày 8 tháng 9 năm Hoàng Hựu thứ 4, nay xin ghi ngày ban hành sau mỗi điều. Các chỉ dụ, trát văn, phê chuẩn sau này, nếu do Trung thư ban hành thì đều gọi là ‘Sắc’, do Xu mật viện ban hành thì đều gọi là ‘Tuyên’. Đã biên soạn thành một quyển, chia làm chín mục, tổng cộng sáu mươi ba điều, đã gửi đến Hình bộ, Thẩm hình viện, Đại Lý tự và Luật học xem xét, sau đó trình lên Trung thư môn hạ xem xét. Những điều sửa đổi liên quan đến việc lớn trong Xu mật viện cũng đã trình báo[1].

Nếu được chấp thuận, xin ban hành chỉ dụ, lấy tên là ‘Hi Ninh tường định Thượng thư Hình bộ sắc’, giao cho Hình bộ khắc in và ban hành, đồng thời xin cho thi hành cùng với bộ luật chung. Nếu nội dung tương tự với bộ luật của Hình bộ thì cho phép áp dụng theo bộ luật của Hình bộ; những việc đã xử lý theo bộ luật cũ trước ngày ban hành bộ luật mới thì không được viện dẫn bộ luật mới để sửa đổi; những điều đã được biên soạn trước ngày 30 tháng 6 năm Hi Ninh thứ 10 thì không còn hiệu lực; những quan lại, nhân viên đang được thăng bổ theo luật cũ của Hình bộ mà bộ luật mới không quy định thì vẫn thi hành theo luật cũ, chờ đến khi không còn người áp dụng luật cũ thì bãi bỏ; những điều trong luật cũ cần đưa vào bộ luật khác mà không liên quan đến sửa đổi thì vẫn thi hành theo luật cũ cho đến khi ban hành bộ luật mới. Tất cả các điều sau ngày 1 tháng 7 năm Hi Ninh thứ 10 sẽ được coi là bộ luật sau.” Chiếu cho Hình bộ thi hành theo.

Sách “Thời chính” quá chi tiết, thực lục quá sơ lược, nên dùng “Hội yếu”.)

[9] Cấp 103 tờ độ điệp cho dân chài Phúc Châu, vì họ được chiêu mộ đi đánh An Nam, thuyền bị hư hỏng.

[10] Ngày Giáp Thân, ban chiếu rằng: “Gần đây Dương Diễm và Cao Tĩnh đi kiểm tra sông ngòi trở về, trình bày những điều mắt thấy, có thể triệu đến hỏi han, tham khảo lợi hại, để dân bị thiên tai không phải chịu lao dịch vô ích.” Trước đây, sông vỡ đê ở Tào Thôn, sai quan đắp lại, nhưng dòng cũ đã bị lấp, cao hơn, nước không xuống được. Có người bàn nên từ phía đông huyện Hạ Tân đào sông Thiêm vào Đổng Cố[2] để bảo vệ dòng cũ, dài 70 dặm 90 bước[3], lại từ đập Trương Thôn thẳng về phía đông đắp đê đến đê cổ Trang Bàng Gia, dài 50 dặm 200 bước, tính dùng hơn 3 triệu binh lính và hơn 300.000 vật liệu. Nhưng Diễm cho rằng bịt chỗ vỡ thì dòng sông tự nhiên sẽ thành, không cần đào đắp, để tránh hao phí sức dân. Vua coi trọng việc này, nên sai hỏi han, lại sai Thị ngự sử tri tạp sự Thái Xác cùng đi xem xét rồi tâu lên. Sau vì mẹ Xác bệnh, đổi sai Xu mật đô thừa chỉ Hàn Chẩn. Sau Chẩn tâu: “Nước lũ xói mòn sông mới, đã thành dòng chảy. Thế sông thay đổi khôn lường, dù có đào sông theo đê, và ở lòng sông dựng đê mới, cũng uổng công. Muốn chỉ dùng sông mới, tùy nghi tu sửa, có thể bền lâu.” Theo lời ấy. (Lời Chẩn tâu vào tháng giêng năm sau, nay theo bản Chu đưa vào đây.)

[11] Lại ban chiếu: “Kinh chế Hi Hà lộ biên phòng tài dụng ty trình bày những việc lợi hại, trong đó có điều khả thi, nên thi hành trước, để khi việc đồng áng chưa bận, kịp thời lo liệu, giúp chi phí biên phòng.” Bấy giờ vì Hi Hà chi tiêu không đủ, trông cậy vào Độ chi cung cấp, bèn sai Nhập nội đô tri Lý Hiến lĩnh chức Kinh chế tài dụng ty. Trung thư liệt kê 14 việc Hiến đề xuất có thể thi hành, làm theo lời tâu. (Ngày 6 tháng 8.)

[12] Văn vũ bách quan đều được gia ân theo chiếu xá Nam Giao.

[13] Điện tiền Hổ Dực quân Đô chỉ huy sứ Trương Sùng được đổi làm Văn Tư sứ. Do Ty Kế nghị thố trí biên sự lộ Tần Phượng, Hi Hà đánh dẹp người Khương ở vùng núi phía sau, bộ hạ của ông bắt được nhiều tù binh nên được thăng chức.

[14] Chiếu rằng: “Các quan bị giáng chức trong và ngoài kinh, bề tôi thị tòng giao cho Trung thư, tông thất giao cho Đại Tông Chính ty, võ thần giao cho Xu mật viện, trình bày rõ tội trạng để xin chỉ dụ.”

[15] Chiếu rằng: Tây Phiên Đổng Chiên đã sai sứ sang triều cống, trước đây do châu Tần giải phát, nay đã lập lộ Hi Hà, giao cho phủ Sứ lộ này giải phát và cấp trà thái.

[16] Chiếu ban cho Tập Khánh quân Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Tông Ngạc và Sùng Tín quân Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, Phán Đại Tông Chính sự Tông Đán, mỗi người một đai vàng có hoa văn hình cầu.

[17] Ngày Ất Dậu, châu Minh tâu rằng, nước Nhật Bản sai tăng Trọng Hồi cùng năm người khác sang cống phương vật.

[18] Ngày Đinh Hợi, hoàng tử Dụng được phong làm Thiên Bình quân Tiết độ sứ, Quân Quốc công; Giá được phong làm Vũ Thắng quân Tiết độ sứ, Kiến Quốc công.

[19] Vua phê: “Châu Toại là trọng trấn phía tây nam, kiềm chế binh giáp một đạo, triều đình thường kén chọn quan giữ chức. Nay Lương Đoan tuổi già sức yếu, e không đủ sức đảm đương, nên chọn người khác.” Bèn sai Phạm Thuần Lễ. (Việc sai Thuần Lễ căn cứ theo 《Ngự tập》, ngày 25 tháng giêng năm sau, ông được làm Đề cử Thường bình lộ Hà Đông, nên khảo cứu. 《Mộ minh của Lương Đoan》 do Trương Thuấn Dân soạn.)

[20] Nhập nội Đông đầu Cung phụng quan, Câu đương Ngự dược viện Lưu Hữu Phương xin từ chức, chiếu cho làm Đông Tác phường sứ, vẫn mang chức Ngự khí giới, do ông đã giữ chức Câu đương Ngự dược viện lâu năm và từng phụng sự triều trước.

[21] Ban thưởng 5 vạn quan tiền cho hai lộ phía tây kinh thành để bắt cướp, giao cho Chuyển vận ty lộ Hà Bắc Đông để chi phí đắp đê.

[22] Lấy Hoắc Tường, Đề điểm Hình ngục lộ Tần Phượng, Viên ngoại lang bộ Giá, kiêm chức Đồng Quản câu Kinh chế biên phòng tài dụng sự lộ Hi Hà, các chức vụ Đề cử Quan trang và Doanh điền Cung tiễn thủ đều bãi bỏ, giao hết về ty này. (《Thời chính ký》 chép các điều mục tấu xin của ty Kinh chế rất chi tiết, nay chỉ căn cứ theo 《Thực lục》 ngày 6 tháng 8.)

[23] Ngày Mậu Tý, phong thủ lĩnh Tây Phiền Mạc Xuyên, Tiết độ sứ Bảo Thuận quân Đổng Chiên làm Tiết độ sứ Tây Bình quân.

[24] Chiếu cho Tri Nhiêu Châu, Viên ngoại lang Giá bộ Phạm Tử Minh chuyển sang làm việc ở lộ lân cận. Do đề điểm hình ngục ty cho rằng ông quá khắt khe trong việc xét xử.

[25] Biên tu viện tâu: “Theo chiếu, biên tu quan Vương Tồn, Lâm Hi biên soạn 《Hội yếu》. Vương Tồn và các quan hàng ngày bàn luận quốc sử, khó có thể chuyên tâm biên soạn. Xin cử Quang lộc tự thừa Lý Đức Sô, Hiệu thư lang thí sai Trần Tri Ngạn biên soạn 《Hội yếu》.” Được chấp thuận, và đặt cơ quan biên soạn tại Sùng Văn viện.

[26] Chiếu: “Từ nay, Tri châu và Thông phán Nam Kiếm Châu, Tri quân và Thiêm phán Thiệu Vũ quân đều do triều đình tuyển chọn. Nếu làm tốt công việc, không để xảy ra trộm cướp, sẽ được triều đình bổ nhiệm một lần.”

[27] Thượng phê: “Cố Tuyên khánh sứ, Chiêu Châu phòng ngự sứ Lý Thần Phúc từ nhỏ đã phục vụ ở phủ Tấn, đến khi lên ngôi, được ở bên cạnh, được tin dùng đặc biệt, các việc cơ mật trong cung đều giao cho ông xử lý. Nay cháu đời sau là Lý Thuấn Cử đem hơn mười bức thư ngự bút của gia đình dâng lên, có thể ban cho chùa của Lý Thần Phúc tên là Báo Cần Thiền viện, mỗi hai năm độ một tăng, không được lấy làm lệ.”

[28] Lại phê: “Giá gạo ở vùng biên giới Hà Bắc tăng cao, chuyển vận sứ và ty địch vẫn tăng tiền để mời người mua, không chỉ khiến dân chúng khó khăn trong việc kiếm ăn, mà còn lãng phí tiền công để làm lợi cho hào hữu. Cần nhanh chóng chỉ đạo: nếu quân lương có thể dùng trong hai năm, thì tạm dừng việc thu mua.”

[29] Chiếu: “Khai Phong phủ giới và các lộ nhiều năm bị thiên tai, nợ đọng thuế hai khoản và tiền thường bình miễn dịch tạm thời được hoãn thu; và giảm thuế dịch cho dân bị lũ lụt ở Hà Bắc và Kinh Đông lộ, tùy theo mức độ thiệt hại.”

[30] Ngày Kỷ Sửu, đến chùa Thái Bình Hưng Quốc, viện Khải Thánh, điện Thần Ngự ở Vạn Thọ quan[4] để làm lễ tạ ơn.

[31] Ngày Canh Dần, đến điện Thần Ngự ở chùa Từ Hiếu làm lễ tạ ơn, rồi đến cung Trung Thái Nhất, quán Tập Hi, chùa Đại Tướng Quốc.

[32] Ngày Quý Tỵ, Lý Tuân, Phòng ngự sứ Đức Châu, được bổ nhiệm làm Quan sát sứ Tuyên Châu, kiêm Tri châu Tương Châu. Theo lời phê của Vua: “Tuân từ khi được cải bổ làm Phòng ngự sứ đến nay đã hai mươi năm, vì là thân thích gần của Chương Ý Thái hậu, nên đặc cách thăng một chức.”

[33] Hàn Chẩn và các quan dâng lên các văn thư qua lại với người Liêu, cùng bản ghi chép lời nói khi gặp mặt và bản đồ. Vua ra chiếu cho Hàn Chẩn cùng Lữ Đại Trung căn cứ vào văn thư do Gia Luật Vinh mang đến, bản ghi chép lời nói của sứ quán, cùng những bàn luận về biên giới giữa Lưu Thầm và người phương Bắc, cũng như các chỉ thị trước sau của triều đình, phân loại biên soạn rồi tâu lên. Lữ Đại Trung mãn tang, được bổ làm Phán Binh bộ, thăng lên Kiểm tường Viện Mật, không rõ lúc đó giữ chức vụ gì.

[34] Kinh lược ty lộ Kinh Nguyên tâu rằng, trại Hi Ninh thuộc quân Trấn Nhung có thể phòng thủ lâu dài, xin tạm giữ lại, Vua đồng ý.

[35] Bổ nhiệm Hoàng thành sứ, Phòng ngự sứ Đăng Châu là Triệu Lệnh Yến làm Đề cử các ty khố vụ tại kinh. (Việc này căn cứ theo bản ghi chép của Chu Bản. Tông thất ghi họ, khác với thông lệ thường, cần xem xét lại.)

[36] Ngày Giáp Ngọ, Hoàng Lí, Tri gián viện, tâu rằng: “Gần đây thần theo hầu tế giao, thấy việc dùng lễ nhạc, so với cổ nhân, có chỗ chưa hợp. Từ thời Tần đến Chu, văn chương tàn khuyết, không thể khảo cứu. Nhưng thần nghe nói lễ là cái thực của nghĩa. Hợp với nghĩa thì hợp, dù tiên vương chưa từng có, vẫn có thể dựa vào nghĩa mà đặt ra, huống chi là sửa lại cho đúng? Xin bệ hạ sai các quan và các tế tự khảo cứu đại lược, sao cho tình và văn tương xứng.” Vua ra chiếu cho Hoàng Lí cùng các quan Lễ viện bàn bạc rồi tâu lên. Tháng hai năm sau, ngày Mậu Ngọ, lập sở Tường định.

[37] Thái Xác, Hữu chánh ngôn, Trực tập hiền viện kiêm Thị ngự sử tri tạp sự, được bổ làm Tri chế cáo, vì Vua phê rằng Xác có thể triệu thí.

[38] Tri châu Quế Châu là Triệu Tiết tâu rằng: “Dân động ở châu Ung, châu Khâm chưa được huấn luyện, muốn trước tiên ủy thác cho An phủ đô giám là Lưu Sơ nhân việc đề cử đoàn luyện, đến các trại trấn tuyển chọn những người có võ nghệ tinh thông, cường tráng, ghi tên vào sổ ngoài, còn những người trung bình và kém, ủy thác cho các tri châu động ở các châu huấn luyện, đến cuối năm kiểm tra, nếu tiến bộ thêm được ba phần, thì các thủ lĩnh động ở bản châu sẽ được cấp thưởng theo số người quản lý, chuyển tư, giảm năm khảo khóa và các bậc khác.” Được chấp thuận.

[39] Chiếu rằng: “Gần đây đã ban hành các quy định về việc quản lý ruộng đất của Ty Kinh chế Tài dụng Hi Hà Lộ, nghe nói các chỉ thị đã được gửi đến trị sở châu Hi. Vì quan của ty này là Lý Hiến hiện đang ở kinh sư, nên sao chép lại và gửi nhanh xuống[5], để kịp thời thi hành.”

Ngày 6 tháng 8. Ty Kinh chế Biên phòng Tài dụng Hi Hà Lộ là Lý Hiến tâu rằng: “Phụng chiếu sai chuyên trách việc kinh chế biên phòng lâu dài và các điều khoản về tài chính của Hi Hà Lộ:

Một là, chuẩn bị binh lính phiên vào mùa xuân và mùa thu, luân phiên nghỉ ngơi, điểm danh và khao thưởng;

Hai là, lấy một vạn người làm cung thủ, sáu nghìn ngựa làm hạn ngạch, dần dần giảm bớt quân đồn trú, xây dựng các pháo đài bảo vệ canh tác ở những nơi trọng yếu, nhàn rỗi thì cử quan đến điểm danh;

Ba là, ở Hi Hà, châu Dân, quân Thông Viễn đều lập các chợ biên giới, buôn bán các loại hàng hóa, thu hút người từ xa đến, thu lợi để giúp biên giới; Bốn là, các thành lũy trên toàn lộ sẽ được tu sửa theo thứ tự ưu tiên, dùng quân Bảo Ninh chỉ huy giản trung để làm việc; Năm là, chọn những nơi có nước và cỏ thuận tiện trên lộ, theo phép cổ, lập trại chăn nuôi trâu dê.” Chiếu rằng chợ biên giới lấy tên là Ty Thị dịch, còn lại thì lập pháp tâu lên.

[40] Ngày Đinh Dậu, Long Thần vệ Tứ sương Đô chỉ huy sứ, Xương Châu đoàn luyện sứ, Tri Hà Châu Miêu Thụ được bổ nhiệm làm Tri Hùng Châu. Tây thượng các môn sứ, Quả Châu[6] đoàn luyện sứ, Tần Phượng lộ kiềm hạt Lưu Xương Tộ được bổ nhiệm làm Tri Hà Châu. (Việc Lưu Xương Tộ làm Tri Hà Châu, bản Chu ghi riêng vào ngày mồng 9 tháng giêng năm sau, nay chỉ theo bản Mực.)

[41] Tri chế cáo, Tri thẩm quan Tây viện Thái Xác được bổ nhiệm làm Tri gián viện kiêm Phán Tư nông tự.

[42] Chiếu chỉ cho Tam ty ở Vĩnh Hưng, Tần Phượng hai lộ chi tiền niên ngạch diêm sao 30 vạn quan, giao cho Quần mục ty mua ngựa.

[43] Tri Quế Châu Triệu Tiết xin giao riêng cho Hoành Sơn trại chủ, Giám áp chiêu dụ người Man mua ngựa chiến ở Đặc Ma Đạo, được chấp thuận.

[44] Ngày Tân Sửu, Liêu chủ phái sứ thần đến chúc mừng năm mới là Trưởng Ninh quân Tiết độ sứ Gia Luật Hiếu Thuần, Phó sứ là Thái thường thiếu khanh, Sử quán tu soạn Lý Nghiễm đến chúc mừng năm mới.

[45] Khách tỉnh sứ, Đạt Châu thứ sử, Hi Hà lộ kiềm hạt Vương Quân Vạn kiêm Đồng quản câu Kinh chế bản lộ biên phòng tài dụng sự. Quân Vạn tâu: “Xin ban bố ân tín, chiêu dụ kết nạp các thủ lĩnh bộ tộc như Đổng Chiên.” Chiếu chỉ cho Hi Hà lộ Kinh lược ty: “Nếu Đổng Chiên đến lộ này, lập tức mở lời khuyên bảo các thủ lĩnh, ai muốn bổ làm quan Hán thì bảo đảm rõ ràng tâu lên.” (Việc Quân Vạn kiêm Kinh chế tài dụng, bản Chu ghi riêng vào ngày mồng 9 tháng giêng năm sau, nay chỉ theo bản Mực.)

[46] Xu mật viện tâu: “Đông tác phường sứ, Tri Can Ninh quân Hướng Xước dâng thư hỏi thăm Thiêm thư Xu mật viện sự Tăng Hiếu Khoan, không nên nói đến việc ở thôn Cố Thành, Ân Châu có nhà họ Cổ làm Bảo chính[7], trong thôn cậy thế hoành hành, hiệu là ‘Tiệt Đạo Hổ’, châu huyện né tránh việc bảo giáp làm giặc. Đã sai thay.” Chiếu chỉ cho bổ nhiệm làm Trú bạc hoặc Châu đô giám. (Việc này căn cứ theo 《Xu mật viện thời chính ký》.)

[47] Vì số lượng quân cấm các lộ thiếu hụt nhiều, triều đình phái bảy vị đại sứ thần đến các khu vực Khai Phong phủ, Kinh Đông Tây, Thiểm Tây, Kinh Hồ lộ, cùng với các quan trưởng lại và quan chức tại chức tuyển chọn bổ sung.

[48] Tăng thêm một viên huyện thừa huyện Bành Thành, châu Từ tại Lợi Quốc giám.

[49] Lại có chiếu rằng: “Kinh chế Hi Hà lộ biên phòng tài dụng ty kiêm quản việc tài lợi của Tần Phượng lộ, và thiết lập thị dịch vụ, không thuộc quyền quản lý của Đô đề cử thị dịch ty. Các thị dịch vụ ở Hi Hà lộ và Tần Phượng lộ đều bãi bỏ[8].” (Tháng giêng năm sau, ngày Quý Hợi, cần xem xét lại.)

[50] Ngày Quý Mão, An Đào, quan thể lượng an phủ Hà Bắc lộ tâu: “Xin cho các hộ bị thiên tai lũ lụt ở hai lộ Hà Bắc, từ hạng tư trở xuống, được miễn thuế đến bảy phần, mong cho phép họ đến thường bình thương vay lương thực, theo số nhân khẩu. Lại nữa, dân lưu tán đến đâu, cần cứu tế, nên cho phép mượn lương từ thường bình thương hoặc phong trang thương, dùng số gạo đổi từ độ điệp để hoàn trả, nếu không đủ thì khuyến khích các gia đình có khả năng đóng góp, nhưng không được thu thêm ngoài số quy định.” Triều đình đồng ý.

[51] Hàn Giáng, kinh lược sứ Hà Bắc Đông lộ tâu: “Điện trung thừa, quyền thông phán châu Đại là Triệu Hàm đã hoàn thành việc khảo sát đất đai, xin ban ân.” Chiếu cho Triệu Hàm thăng một chức, thăng một bậc.

[52] Kinh chế Hi Hà lộ biên phòng tài dụng ty tâu: “Các châu, quân, thành, trại đều có quan trang của phiên bộ cung tiễn thủ, việc doanh điền và thủy lợi rất nhiều, xin theo như thường bình ty, mỗi châu quân cử một viên thông phán hoặc chức quan, mỗi thành trại chọn một viên sứ thần làm quản câu quan.” Triều đình đồng ý.

[53] Chiếu cho bốn châu quân Nam Kiếm, Đinh, Kiến, Thiệu Vũ từ nay là đất áp dụng trọng pháp, theo đề nghị của chuyển vận sứ Kiển Chu Phụ. Ngày 29 tháng 6 năm Nguyên Phong thứ nhất cần xem xét lại.

[54] Lý Hiến, tuyên chính sứ, được thăng làm tuyên khánh sứ.

[55] Chiếu rằng: “Lời tâu của Bành Nhữ Lệ về việc Du Sung, sau khi thăm dò nghe được, là do Viên ngoại lang bộ Ngu là Tống Quân Quốc nói với các quan ngự sử, hãy lệnh cho Quân Quốc phân tích rõ rồi tâu lên.” (Việc này ghi trong 《Thời chính ký》 ngày 27 tháng 12, đến ngày 23 tháng giêng năm sau, Quân Quốc đã phân tích xong, nhưng không có hành động gì.)

[56] Ngày Giáp Thìn, chiếu cho ty đúc tiền đều dùng chữ “Nguyên Phong Thông Bảo”.

[57] Lại chiếu cho Viện Lễ nghiên cứu việc tế tự ở Thái Miếu mà chưa kịp phối hưởng công thần, hãy báo cáo lễ lệ. Đến ngày Nhâm Ngọ tháng giêng năm sau, sẽ phối hưởng.

[58] Năm đó, con cháu tông thất được ban tên và phong chức quan có 54 người; xử án tử hình 389 người; số hộ chủ và khách trong thiên hạ là 1.424.527 hộ, nhân khẩu là 30.807.211 người. (Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 của Vương Khuê thêm vào, 《Thực lục》 không ghi chép.)

[59] Tư Mã Quang viết thư cho Ngô Sung rằng:

“Quang ngu muội, cố chấp, tự biết mình không có gì đáng kể trên đời, nên lui về nơi thanh nhàn, chỉ mong hưởng chút bổng lộc nhỏ để che thân giữ nhà mà thôi. Gần đây nghe những người từ kinh sư đến, nhiều người nói tướng công thường nhắc đến tên họ của Quang, hoặc nói cũng từng tiến cử, nhưng chưa biết hư thực thế nào. Quang từ khi về ở Lạc Dương, lòng ham muốn làm quan đã dứt từ lâu, lúc còn trẻ khỏe còn chẳng bằng người, huống chi nay tuổi gần sáu mươi, tóc bạc trắng, mắt mờ tai nặng, răng rụng bảy tám cái, tinh thần suy nhược, há còn có lòng mong tiến thân? Chỉ vì từng theo học lâu ngày, nay được tướng công nhắc đến, cảm kích ân tri kỷ, suốt đời đâu dám quên? Chỉ nghĩ tướng công đã giàu sang hiển vinh, đầy đủ tột bậc, còn Quang là kẻ tầm thường, không có gì để báo đáp, chỉ mong lời trung tín này có thể đền đáp được phần nào ân đức lớn lao của tướng công.

Phục nghĩ bậc minh chủ đã chọn lựa khắp nơi, dùng người tài giỏi để giúp đỡ việc trị nước, làm rạng rỡ đạo đức, nên không dám quên lòng tri kỷ, biết rằng tướng công chắc chắn không coi thường kẻ cô độc trước bậc minh chủ.

Tôi thấy từ khi nước nhà thi hành pháp luật mới, trong ngoài đều xôn xao, người dù ngu dốt hay thông minh đều biết đó là sai lầm. Quan lại các châu huyện bị khốn đốn vì những điều phiền hà, ngày đêm bỏ bê công việc thực tế, chỉ chú trọng vào những văn bản rỗng tuếch, lấy sự cố chấp làm tài năng, lấy sự lừa dối làm tài giỏi. Dân chúng trong làng xóm bị áp bức bởi sưu cao thuế nặng, người dù giàu hay nghèo đều mất kế sinh nhai, buồn phiền oán hận, lưu lạc khắp nơi, chết đói ngoài đồng, tụ tập thành giặc cướp, ngày đêm ngóng trông mong triều đình tỉnh ngộ, thay đổi pháp luật hủ bại, đã bao nhiêu năm qua rồi. Tướng công thông minh, há lại không nghe thấy sao?

Nay của cải trong kho tàng đã hao hụt gần hết, lương thực trong kho chỉ đủ dùng vài tháng, tài sản của dân chúng không đủ lo cho ngày mai, mà chi tiêu ngày càng nhiều, thuế má ngày càng gấp. Giặc cướp nổi lên ở Hà Bắc, Kinh Đông, Hoài Nam, cướp phá thành ấp, giết hại quan lại, quân triều đình đã không thể kiểm soát được nữa, nếu không may lại gặp thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sương giá, châu chấu trên diện rộng hai ba ngàn dặm, thì nỗi lo lắng ấy, há có thể che giấu được sao!

Điều này có thể coi là việc nhỏ, đảm bảo chắc chắn không xảy ra, mà lại thản nhiên không để ý sao? Giả Nghị thời Hán Văn Đế đã ví như ôm lửa đặt dưới đống củi, mà nằm ngủ trên đó, lửa chưa cháy tới, nên cho là yên ổn. Nếu ở thời nay, ắt phải nói là lửa đã cháy, mà vẫn nằm ngủ yên như không vậy.

Nếu như Chu Công tận tụy với nhà Vua, ngồi chờ đến sáng, vất vả khó nhọc, cuối cùng có thể giúp nhà Chu thành tựu sự nghiệp thái bình, lập nên cơ nghiệp tám trăm năm, thân làm Thái sư, danh tiếng lưu truyền vô cùng, con cháu được hưởng đất Quy, Mông, cùng nhà Chu thăng trầm. Vương Di Phủ giữ chức Tể phụ, không lo nghĩ việc nước, chỉ muốn bảo toàn bản thân, đặt hai em ở phương trấn, coi như ba hang ổ, đến khi nhà Tấn lâm nguy, bản thân cũng không tránh khỏi. Vậy thì lòng của thánh hiền, há lại quên mình vì việc đời, không lo nghĩ cho bản thân sao? Bởi vì quốc gia hưng thịnh thì bản thân không thể không được hưởng phúc. Chỉ là sự hiểu biết của người thường thì gần, còn sự lo xa của thánh hiền thì xa vậy thôi. Như tâm ý của tướng công, chính là tâm ý của Chu Công vậy.

Nay nếu pháp chế hỏng mà không sửa, dân chúng mệt mỏi mà không cứu giúp, lỡ như bọn trộm cướp ngày càng nhiều, rắn độc ẩn nấp, thì e rằng ngôi vị trong triều đình cũng không dễ an ngồi, dù có giao bỏ quyền bính, an nhàn nơi biên trấn, biên trấn vốn không phải là nơi nghỉ ngơi, cho đến việc từ bỏ quan chức, ngao du Đông Sơn, Đông Sơn cũng không phải là nơi gối cao mà ngủ được. Vậy thì tướng công ngày nay cứu nguy cho thiên hạ, bảo vệ an nguy cho quốc gia, không còn gì phải nhường nhịn nữa.

Phương pháp cứu nguy giữ yên, nếu không bãi bỏ chính sách thanh miêu, miễn dịch, bảo giáp, lãi suất thị dịch, mưu đồ chinh phạt, mà muốn đạt được hiệu quả, thì cũng giống như ghét nồi nước sôi mà lại thêm củi và thổi bễ, muốn đến Yển Dĩnh mà lại quay xe về hướng bắc chạy nhanh, điều mong muốn ắt không thành.

Muốn bỏ năm điều này mà không trước hết phân biệt lợi hại để thức tỉnh lòng Vua, thì năm điều ấy không thể bỏ được. Muốn thức tỉnh lòng Vua mà không trước hết mở rộng đường ngôn luận, thì lòng Vua không thể thức tỉnh được. Cái gọi là mở rộng đường ngôn luận, không phải như trước kia chỉ hạ chiếu thư, bảo bề tôi và dân chúng nói lên được mất, rồi những lời nói đúng chẳng thi hành gì, lại bắt những người hơi thẳng thắn mà trị tội, đó là bịt đường ngôn luận, chứ không phải mở ra vậy.

Việc cần kíp hiện nay là ở các bề tôi phụ tá, ngày đêm khuyên răn, chỉ lấy việc gần gũi người trung trực, tiếp nhận lời can gián, mở rộng sự sáng suốt, bỏ đi sự che lấp làm việc trước, như thế thì sự được mất của chính lệnh, nỗi khổ của dân chúng, sẽ rõ ràng không còn gì che giấu. Với tư chất thông minh sáng suốt của bậc thánh chúa, có sự giúp đỡ trung tín của bậc hiền tướng, khiến lời nói ngay thẳng ngày càng tiến lên, tình hình dưới thông lên trên, thì nền trị vì tốt đẹp có thể đạt được trong thời gian ngắn, pháp chế hủ bại nào khó bỏ? Cái khó được mà dễ mất là thời cơ.

Nay bệnh tuy đã nặng, nhưng chưa đến mức nguy kịch, nếu biết trị nước khi chưa loạn, giữ nước khi chưa nguy, thì còn dễ như trở bàn tay. Bỏ lỡ cơ hội này không chữa trị, sẽ thành bệnh kinh niên, dù có sự giúp đỡ của Bính, Ngụy, Diêu, Tống, cũng không làm gì được, ắt sẽ hối hận không kịp. Tướng công đọc sách làm quan, lên đến chức thủ tướng, thực hiện chí hướng và đạo lý, chính là lúc này. Nếu chí không khuất, đạo không mất, hợp thì ban ơn khắp bốn biển, không hợp thì tiếng thơm cao ngàn thu, bậc trượng phu lập thân thờ Vua, trước sau như thế, cũng có thể coi là không phụ vậy.”

(Thay thế Vương An Thạch làm Tể tướng, biết rằng thiên hạ không thuận với pháp mới, muốn có sự thay đổi, từng xin triệu hồi Tư Mã Quang cùng Lữ Công Trước, Hàn Duy, Tô Tụng, lại tiến cử Tôn Giác, Lý Thường, Trình Hạo cùng hơn mười người khác, đều là những người bị Vương An Thách bài xích, nên Tư Mã Quang gửi thư này. Nhưng người thay thế không thể dùng, Tư Mã Quang cũng không ra làm quan. Thư của Tư Mã Quang gửi người thay thế không rõ thời gian. Theo thư của Tư Mã Quang nói “tuổi gần sáu mươi”, người thay thế vào tháng 10 năm Hi Ninh thứ 9 thay Vương An Thạch làm Tể tướng, năm đó Tư Mã Quang 58 tuổi, năm sau là năm Hi Ninh thứ 10, Tư Mã Quang 59 tuổi, nên thu thư của Tư Mã Quang và phụ vào cuối năm thứ 10.)

[60] Trương Phương Bình dâng thư nói:

“Thần nghe rằng thích dùng binh cũng như thích sắc vậy. Việc hại sinh mạng không chỉ một, mà kẻ thích sắc ắt chết; việc hại dân không chỉ một, mà kẻ thích dùng binh ắt diệt vong. Đó là lẽ tất nhiên. Chỉ có binh của thánh nhân là do bất đắc dĩ, nên khi thắng thì hưởng phúc an toàn; khi không thắng thì cũng không có họa ngoài ý muốn. Đời sau dùng binh đều là đã có thể dừng mà không dừng, nên khi thắng thì biến cố chậm mà họa lớn; khi không thắng thì biến cố nhanh mà họa nhỏ. Vì thế thánh nhân không tính công thắng bại, mà sâu sắc cảnh giác với họa dùng binh. Tại sao?

Khởi binh mười vạn, mỗi ngày tiêu tốn ngàn vàng, trong ngoài xáo động, gần bảy mươi vạn hộ phải đi đường xa. Trong thì kho tàng trống rỗng, ngoài thì trăm họ cùng khốn. Đói rét bức bách, sau ắt có loạn đạo tặc; chết chóc oán hận, cuối cùng ắt dẫn đến tai ương hạn hán. Trên thì tướng súy nắm quyền, có lòng ngang ngược; dưới thì quân sĩ lâu ngày phục dịch, có chí phản loạn. Biến cố trăm đường, đều do dùng binh. Đến kẻ khởi xướng việc binh, tội trời càng nặng, vì dân vô tội chết vì binh, oán khí chất chứa, ắt có kẻ phải chịu tội. Vì thế thánh nhân sợ hãi và coi trọng, không phải bất đắc dĩ thì không dám dùng.

Từ xưa, các bậc quân chủ thích dùng binh đao, từ thất bại mà diệt vong, không thể kể xiết. Thần nay không dám nói nhiều, xin được nói với bệ hạ về những trường hợp chiến thắng. Tần Thủy Hoàng sau khi bình định sáu nước, lại gây chiến với Hồ, Việt, nỗi khổ về việc binh dịch lan khắp bốn biển, tuy mở rộng lãnh thổ nghìn dặm, vượt xa ba đời trước, nhưng đất mộ chưa khô, thiên hạ đã oán hận nổi loạn, Tần Nhị Thế bị hại, Tử Anh bị bắt, sự diệt vong thảm khốc, từ xưa chưa từng có.

Hán Vũ Đế kế thừa sự giàu có thời Văn, Cảnh, đầu tiên khiêu khích Hung Nô, chiến tranh liên miên không dứt, khiến cho xâm lấn lan đến các nước, năm nào cũng điều động binh lính, đi đến đâu cũng thành công. Thời kỳ Kiến Nguyên, tai họa chiến tranh bắt đầu. Lúc đó, cờ Si Vưu xuất hiện, dài ngang trời, mùa xuân năm ấy, Thái tử Lệ sinh ra, từ đó quân đội hành quân hơn ba mươi năm, người chết không kể xiết. Đến khi vụ Vu Cổ xảy ra, kinh thành đẫm máu, xác chết chất đống hàng vạn, Thái tử và cha đều thất bại, nên Ban Cố cho rằng Thái tử sinh ra trong chiến tranh, cùng với nó từ đầu đến cuối. Vua tuy hối ngộ tự kiềm chế, nhưng nỗi hận đến chết, đã không kịp nữa.

Tùy Văn Đế sau khi hạ Giang Nam, tiếp tục gây chiến với Di Địch, Dương Đế lên ngôi, chí hướng này không suy giảm, đều có thể tiêu diệt các nước mạnh, uy chấn vạn dặm, nhưng dân oán giặc nổi, diệt vong không lâu sau. Đường Thái Tông thần vũ vô địch, đặc biệt thích dùng binh, sau khi đã diệt Đột Quyết, Cao Xương, Thổ Cốc Hồn, vẫn chưa thỏa mãn, thân chinh Liêu Đông, đều là chí hướng lập công, không phải bất đắc dĩ mà dùng. Sau đó, họa Vũ thị, tông thất suy yếu, không dứt như sợi tơ. Bởi vì tai họa dùng binh, lẽ tự nhiên khó tránh. Nếu không, Thái Tông nhân thánh khoan hậu, kiềm chế bản thân, khoan dung người khác, gần như hình phạt không cần dùng đến, nhưng chỉ một đời sau, con cháu lâm vào cảnh khốn cùng, đây há chẳng phải là báo ứng của việc làm thiện sao?

Từ đó mà xét, Hán, Đường dùng binh sau thời khoan nhân, nên thắng mà chỉ còn tồn tại; Tần, Tùy dùng binh trong thời tàn bạo, nên thắng rồi diệt vong. Thần mỗi lần đọc sách đến đây, không khỏi gấp sách lại rơi lệ, thương xót cho sự tính toán sai lầm của họ. Nếu như bốn vị quân chủ này, ngay từ lúc mới dùng binh, đã thất bại ngay, cảnh giác lo sợ, biết được sự khó khăn của việc dùng binh, thì tai họa thất bại đã không đến mức này. Bất hạnh thay, mỗi lần ra quân đều thắng, nên khiến họ quen với công lợi, lo nghĩ về họa hoạn không sâu sắc. Thần nói rằng “thắng thì biến đổi chậm mà họa lớn, không thắng thì biến đổi nhanh mà họa nhỏ”, không thể không xem xét kỹ.

Xưa kia, Nhân Tông hoàng đế nuôi dưỡng thiên hạ, không có ý dùng binh, tướng sĩ lười biếng, binh khí cùn mòn. Nguyên Hạo nhân cơ hội phát động ở vùng biên giới phía tây, giữa Diên An, Lân Phủ, Kinh Nguyên, thua trận ba bốn lần, tổn thất lên đến hàng vạn, nhưng trong nước vẫn yên ổn, binh lính nghỉ ngơi, việc đã xong, dân chúng không oán hận, quốc gia không để lại mối lo. Tại sao vậy? Vì thiên hạ thần dân biết rằng Vua không có lòng ham dùng binh, trời đất quỷ thần hiểu rằng đó là việc bất đắc dĩ. Nay bệ hạ được trời ban cho dũng trí, ý muốn làm giàu mạnh, từ khi lên ngôi đến nay, sửa sang giáp binh, chăm lo việc quân, chờ đợi cơ hội với nước láng giềng, quần thần thấy rõ ý này, nhiều người bàn đến việc dùng binh.

Lúc đầu, các đại thần nắm quyền quốc gia không có lòng lo xa, các quan trong triều bàn luận việc nước không có kiến thức lo lắng về hậu quả, những người giữ chức vụ đài gián không có lời khuyên can trung thành. Từ nhỏ đến lớn, dần dần thành ra tai họa. Sau đó, Tiết Hướng bày mưu đánh Hoành Sơn, Hàn Giáng hiến kế tiến sâu, Trần Thăng Chi, Lữ Công Bật ngầm hợp tác, quân đội thua trận, tài chính hao tổn, so với thất bại thời Bảo Nguyên, Khánh Lịch không bằng một phần mười, nhưng trời giận người oán, quân biên giới phản bội, kinh thành náo loạn, bệ hạ phải thức khuya lo lắng nhiều tháng. Tại sao vậy? Vì việc dùng binh là do bệ hạ khởi xướng, nên quan lại binh sĩ không có lòng căm thù địch, mà không thẳng thắn với bệ hạ.

Nhờ ơn tổ tiên tích lũy dày, trời cao bảo hộ sâu, nên khiến quân ra đánh không thành công, khiến thánh ý cảm ngộ. Nhưng những kẻ tầm nhìn hẹp, lại lấy thất bại làm nhục, ra sức tìm cách thắng, để làm vừa lòng trên. Do đó, Vương Thiều gây họa ở Hi Hà, Chương Đôn gây hấn ở Hoành Sơn, Hùng Bản gây khó ở Du, Lô. Nhưng những việc này đều là tàn sát kẻ đã đầu hàng, bắt giữ người già yếu, làm khốn đốn lòng dân, mà chiếm lấy những vùng đất trống rỗng vô dụng, để lập công võ, khiến bệ hạ mang tiếng hư danh, mà bỏ qua họa thực. Gắng gượng mài giũa, phấn đấu vì công danh, nên Trầm Khởi, Lưu Di lại gây sự ở An Nam, khiến hơn mười vạn người phơi mình trong lam chướng, chết đến năm sáu phần mười, người trên đường chết vì vận chuyển, lương thực khí giới chưa gặp địch đã hết. Tưởng rằng ý dùng binh sẽ giảm bớt, nhưng quân của Lý Hiến lại xuất chinh ở Đào Châu. Nay quân sĩ thắng trận, khí thế đang hăng, bệ hạ vui vì một thắng lợi, ắt sẽ có ý khinh thị tứ di, khinh nhờn nước địch. Ý trời khó lường, thần thực sự lo sợ.

Hơn nữa, sau khi chiến thắng, những gì bệ hạ có thể biết được chỉ là tin tức khải hoàn, biểu chương chúc mừng, những điều hiển nhiên trước mắt. Còn đối với dân chúng ở phương xa, gan óc bị chém giết dưới lưỡi gươm, xương cốt đứt đoạn vì vận chuyển lương thực, ly tán gia đình, phá sản, bán con trai gái, mắt bị hun khói, tay chân gãy gập, tự vẫn, những cảnh tượng ấy bệ hạ chắc chắn không thể thấy được; tiếng khóc của những người cha hiền, con hiếu, bề tôi cô độc, góa phụ, bệ hạ chắc chắn không thể nghe được. Ví như giết mổ trâu dê, mổ xẻ cá rùa để làm món ăn ngon, người ăn thì thấy rất ngon, nhưng người chứng kiến cảnh giết mổ thì thấy rất đau lòng.

Xét: Tập văn của Tô Thức viết “người chịu đựng rất khổ.” Nếu bệ hạ nhìn thấy họ kêu gào dưới lưỡi gươm, quằn quại giữa lưỡi dao, dù có món ngon tám vị, cũng sẽ ném đũa mà không nỡ ăn, huống chi dùng mạng người để làm trò vui cho mắt tai?

Hơn nữa, nếu bệ hạ có tướng sĩ tinh nhuệ, kho tàng đầy đủ, như các Vua Tần, Hán, Tùy, Đường, thì sau khi thắng trận, họa loạn mới nổi lên, còn không thể cứu vãn được, huống chi những tướng lại được bổ nhiệm hiện nay, yếu kém tầm thường, so với người xưa, kém xa vạn lần, mà mấy năm nay, công tư đều khốn đốn, kho tàng tích lũy bao đời trong nội phủ đã cạn sạch, kho thuế của châu quận dâng lên triều đình cũng gần hết, bổng lộc của trăm quan chỉ đủ sống qua ngày, phần thưởng tế Nam Giao đã lâu chưa chuẩn bị xong, với tình hình như vậy, dù có người tài giỏi cũng không thể xoay chuyển được.

Hơn nữa, sau nạn đói dịch, khắp nơi giặc cướp nổi lên, nhất là vùng Kinh Đông, Hà Bắc. Nếu việc quân sự một khi khởi động, thuế má đè nặng, dân cùng khổ không kêu được, tình thế ấy không trở thành giặc lớn thì không thể tự toàn. Việc biên cương đang căng thẳng, nội loạn lại nổi lên sau, thì hình thế của Trần Thắng, Ngô Quảng sẽ xuất hiện ở đây, đó là lý do khiến lão thần suốt đêm không ngủ, ngồi ăn mà than thở, đến nỗi khóc lóc không thể tự kìm được.

Thần từng nghe rằng, phàm làm việc lớn, ắt phải thuận theo ý trời. Điều gì trời hướng đến, làm theo ắt thành; điều gì trời quay lưng, làm theo ắt bại. Dấu vết của sự hướng về hay quay lưng của ý trời, thể hiện qua tai ương, điềm lành, được mùa hay mất mùa. Gần đây, nhật thực, biến động sao, động đất, núi lở, lụt hạn, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, dân chết gần nửa, ý trời hướng về hay quay lưng đã rõ ràng. Thế mà bệ hạ vẫn cương quyết không để ý, cứ khởi sự mãi. Ví như con cái phạm lỗi với cha mẹ, chỉ nên cung kính thuận theo, im lặng, nhận lỗi tự trách, may ra được tha thứ. Nay lại ồn ào trách mắng nô tì, tùy tiện đánh đập, dùng cách này đối xử với cha mẹ, chưa từng thấy được tha thứ.

Vì thế, thần mong bệ hạ nhìn xa dấu vết hưng vong của đời trước, xét kỹ lý lẽ hướng về hay quay lưng của ý trời, dứt ý dùng binh, giữ yên bờ cõi, hòa hiếu láng giềng, an tĩnh vô vi, để có kế sách lâu dài cho xã tắc, trên là yên ổn việc phụng dưỡng hai cung, dưới là cứu giúp sinh mệnh của muôn dân bốn phương. Như vậy, dù thần có già chết nơi đồng hoang, cũng nhắm mắt nơi chín suối vậy.

Xưa Hán Cao Tổ đánh bại các hùng, rồi có thiên hạ; Quang Vũ trăm trận trăm thắng, thờ Hán phối với trời. Nhưng đến khi bị vây ở Bạch Đăng, thì bàn việc hòa thân; Tây Vực xin làm quan, thì đưa ra lời từ chối. Hai vị đế vương này, không phải không biết dùng binh, nhưng vì trải qua nhiều biến cố, nên lo nghĩ sâu xa. Nay bệ hạ ở sâu trong chín tầng, mà khinh suất bàn việc đánh dẹp, lão thần nhu nhược, riêng nghĩ là sai lầm. Tuy nhiên, bề tôi dâng lời với Vua, nhân lúc Vua đã chán mà ngăn lại, thì dễ làm; đón lúc Vua đang hăng mà chặn lại, thì khó thành công. Phàm những kẻ có máu thịt, đều có ý thích thắng. Khi khí thế đang hăng, dù là kẻ áo vải cũng không thể cướp được, nếu không phải là người trí tuệ đặc biệt, độ lượng hơn người, thì chưa có ai trong lúc hăng hái dũng mãnh, lại bỏ mình theo người, chỉ nghe theo nghĩa.

Nay bệ hạ đang hăng hái dùng vũ lực, thế không thể đổi, thần không phải không biết mà vẫn dâng lời không ngừng, thực là thấy bệ hạ đức lớn khoan dung, nghe lời không nghi ngờ, nên không dám lấy lòng thích thắng của mọi người mà mong ở bệ hạ; và nghĩ rằng ngày sau bệ hạ thấy tận mắt cái hại của việc dùng binh, ắt sẽ đau xót hối hận, mà trách cứ các đại thần tả hữu chưa từng nói một lời. Thần cũng sẽ già rồi chết, gặp tiên đế dưới suối vàng, cũng có cớ để nói, mong bệ hạ thương xét!”

(Thư này là Phương Bình nhờ Tô Thức viết, Vua rất cảm động, nhưng rốt cuộc không nghe theo. Đến khi thua trận Vĩnh Lạc, mới nhớ đến lời ấy. 《Thập triều cương yếu》 chép: Năm đó, theo lời của Lý {Mộc Tỵ} ở ty đề cử trà trường, bắt đầu độc quyền trà ở Thục.)

 


  1. Cũng đã trình báo: chữ 'trình' nguyên bản là 'trung', theo các bản khác và bản in hoạt tự sửa lại
  2. Chữ 'Đổng' nguyên bản viết là 'Cận', theo 《Tống sử》 quyển 92 《Hà cừ chí》 sửa lại.
  3. Chữ 'mậu' (dài) nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung.
  4. Chữ 'điện' trong 'Thần Ngự điện' vốn bị thiếu, theo 《Tống sử》 quyển 109, Lễ chí bổ sung.
  5. Nên sao chép lại và gửi nhanh xuống, chữ 'bản' nguyên là 'trung', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 44-42 sửa lại.
  6. 'Quả' nguyên là 'Lương', theo bản trong các bản và 《Tống sử》 quyển 349, 《Lưu Xương Tộ truyện》 sửa lại.
  7. 'Cổ' nguyên là 'Mãi', theo bản trong các bản sửa lại.
  8. chữ 'thị' trong 'thị dịch vụ' bị thiếu, căn cứ vào bản các và 《Tống hội yếu》 chức quan 44-42 bổ sung

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.