"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 293: NĂM NGUYÊN PHONG THỨ NHẤT (MẬU NGỌ, 1078)

Bắt đầu từ tháng 10 năm Nguyên Phong thứ nhất đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Mùa đông, tháng 10, ngày Nhâm Dần, mùng một, Quan văn điện Đại học sĩ, Tập hi quan sứ Vương An Thạch tâu: “Giang Đông chuyển vận phán quan Hà Uyển tấu việc Giang Ninh phủ giam giữ và tra xét viên sứ thần Dũ Tốn do thần cử đến, vì tội tham ô tiền của, việc đã kéo dài hơn một năm. Lữ Gia Vấn nhậm chức, xét xử nhiều tháng, vụ án mới hoàn tất. Nay hận Dũ Tốn thay đổi lời khai, nên thêm tội tố cáo, không liên quan đến tội của mình. Như lời Hà Uyển nói, thì Gia Vấn vì thần xử án Dũ Tốn có gian dối, thần với Gia Vấn thân thiết, cùng nhau mưu lợi mà thôi. Thần lo rằng bệ hạ thương xót bề tôi cũ, không nỡ phơi bày hành vi xấu của họ, nên không tra xét riêng. Như vậy thì thần với Gia Vấn mãi mang tiếng nghi ngờ, không thể dứt được việc Hà Uyển gây gổ, vu cáo. Mong đặc biệt chỉ thị việc Giang Ninh phủ tấu hặc Dũ Tốn, giao cho quan khác đường khác xét lại.” Chiếu giao cho Xu mật viện, đưa xuống Lưỡng Chiết chuyển vận ty xét xử.

(Sách 《Tôn Nghiêu dư ngôn》 của Trần Quán chép rằng Quán dâng sớ tâu: “Cái đẹp lớn của thời Hi Phong, ngày nay nên kể lại, nhưng bề tôi bị che lấp mà không nói, có hai việc: Một là việc đuổi Đặng Oản; Hai là việc Tri Giang Ninh phủ Lữ Gia Vấn và Giang Đông chuyển vận phán quan Hà Uyển tố cáo lẫn nhau về công việc. Vương An Thạch lúc nhàn cư, dâng sớ cứu Gia Vấn mà bênh vực Hà Uyển. Thần Khảo (ND: chỉ Vua Thần Tông) giận Gia Vấn mà ngăn An Thạch. Phải trái rõ ràng, thiên hạ vui mừng, uy quyền thuộc về bề trên, không ai dám xâm phạm. Cái đẹp lớn của thời Hi Phong, đây là việc thứ hai.”

Lại trong sớ riêng tâu: “Thần nghe năm Nguyên Phong thứ nhất, Tri Giang Ninh phủ Lữ Gia Vấn và chuyển vận phán quan bản lộ Hà Uyển tố cáo lẫn nhau về công việc. Vương An Thạch lúc nhàn cư, dâng sớ cứu Gia Vấn. Thần Khảo không cho là phải, phê giao sớ của An Thạch cho Hà Uyển. Hà Uyển nhân đó dâng sớ biện bạch không ngừng. Thần Khảo bèn theo lời tấu của Hà Uyển, mà Gia Vấn bị cách chức, đày làm Tri Lâm Giang quân. An Thạch tiễn Gia Vấn, làm thơ tặng. Hà Uyển lại chép hết thơ ấy dâng lên, nói rằng ‘lời châm biếm xen lẫn’. Thần Khảo không cho Hà Uyển là quá đáng. Gia Vấn là cha vợ của Kiển Tự Thần. Hai người này đều là tâm phúc của Thái Biện, và là bạn thân của Đặng Tuân Vũ. Việc của Hà Uyển, ai dám tâu với bệ hạ? Thần nói rằng việc che lấp cái đẹp lớn của thời Hi Phong, là do Biện vậy.”)

[2] Ty trà trường Đề cử Thành Đô phủ và các lộ khác xin cùng Ty chuyển vận dâng tấu tiến cử một viên triều thần làm Thông phán phủ Hưng Nguyên, nếu người được tiến cử chưa đủ tư cách thì thêm chữ “Quyền”. Được chấp thuận. (Việc này căn cứ theo 《Trung thư thời chính ký》.)

[3] Châu Nhạc tâu rằng, giặc Chiêm Ngộ cùng đồng đảng vào trường vàng, phóng hỏa giết người, cướp bóc tài vật, đã sai quan bắt giặc chiêu mộ dũng sĩ cùng nhau vây bắt. Chiếu rằng: “Giao riêng cho Chuyển vận sứ Tôn Khẩn đốc thúc bắt giặc, binh sĩ sử dụng thì cho phép tuyển mộ trong số dân binh đoàn kết; ai không tuân lệnh, cho phép thi hành quân pháp, quan viên thì trói lại chờ chỉ dụ. Cứ ba ngày một lần tâu số người đã bắt được.”

[4] Lệnh cho Tri châu Định châu Hàn Giáng làm Đề cử lo việc đắp đập, lập đồn bảo giáp. Trước đây, có chỉ cho vay một vạn quan tiền phong trang của châu Định, giao cho Đồng đề điểm chế trí đồn điền Diêm Sĩ Lương, chiếm đất trũng ở các thôn Đông Dương thuộc châu Bảo để trồng lúa, đắp đập ngăn đường Tây Sơn, lệnh cho Ty An phủ sứ cùng quản lý. Sau đó, Sĩ Lương bị bãi chức, chiếu cho Tri châu Bảo châu Trương Lợi Nhất quản lý, Tiết Hướng làm Đề cử, đến nay Hướng được triệu về kinh, nên lệnh cho Giáng thay thế.

[5] Ngày Quý Mão, Phán phủ Đại Danh Văn Ngạn Bác tâu rằng, biên soạn sổ sách kho quân cửu quân, các khoản tiền và vật phẩm dự trữ ở kinh đô, cùng số lượng còn thiếu hiện nay, xin giao cho Giám quân khí kiểm tra. Được chấp thuận.

[6] Phong cho Thần vệ thặng viên Vương Cử làm Hàn lâm y quan, ban áo tía và ba trăm tấm lụa. Vì chữa bệnh cho Thái hoàng thái hậu có hiệu quả. 《Tư mã ký văn》 chép: Thái hoàng thái hậu mắc bệnh thủy thũng, ngự y không chữa khỏi. Khi ấy, Tân Tri châu Bân châu Tiết Xương Kì[1] cũng mắc bệnh thủy thũng lâu ngày, được lão binh Vương Ma Hồ chữa trị, vài ngày thì khỏi. Vua nghe tin, sai trung sứ triệu Ma Hồ vào cung, chữa bệnh cho Thái hậu cũng khỏi. Vua mừng, liền phong Ma Hồ làm Hàn lâm y quan, ban áo tía, lại ban vàng lụa, trị giá mấy nghìn quan.

[7] Ty Đề điểm hình ngục Kinh Hồ Nam lộ tâu rằng, giặc Chiêm Ngộ đã chuyển vào Hồng Châu. Chiếu cho Tôn Khẩn nhanh chóng theo lệnh trước, không phân biệt bản lộ hay biệt lộ, đều giám sát quan binh đuổi bắt; đồng thời lập ra thưởng cách bắt giặc, gửi thông báo đến các nơi, hội hợp bắt giết.

[8] Ngày Giáp Thìn, chiếu cho Đại Lý tự thừa, Tri huyện Chương Minh, Miên Châu là Tống Đại Chương được thay thế.

Trước đó, Ty Đề cử trà trường gửi trát tử thúc giục huyện này mua trà, Đại Chương dâng tấu, cho rằng Trung thư, Xu mật viện phụng hành thánh chỉ mới có lệ này. Trung thư phê gửi Ty Trà trường giải trình, Ty Trà trường tâu: “Ty này đặt cục tại Phượng Tường phủ, theo lệ của Ty Chuyển vận, Đề cử bản lộ, gửi điệp đến các quân châu, gửi thiếp đến các huyện, gửi trát tử đến các trường vụ thuộc quyền, đều theo lệ cũ. Hơn nữa, các ty ngoại quan như Kinh lược tổng quản an phủ ty, Kinh chế ty, Quần mục ty, đều gửi trát tử, không phải chỉ có Ty Chuyển vận, Đề cử dám tiếm quyền. Nay Đại Chương bán thẳng cầu kỳ, nhận trát tử của ty này, như nhận được vật lạ, liền tâu lên, dùng cách này đả kích quan trưởng, về lý không thuận. Huống chi, giám quan trà trường vốn không phải là ty tấu sự, ý của ông ta là cho rằng pháp trà của ty này bất tiện cho kẻ tiểu nhân, kẻ thù nhiều, đều có ý hại người, nhân đó chỉ trích, nhất định muốn trúng thương để lấy lòng bè đảng gian tà, mong được đặc biệt đàn áp.” Do đó có lệnh này.

[9] Ty Nông tự xin từ tháng 8 năm nay sau khi có chiếu chỉ, các lộ vì thi hành pháp dịch, thực dụng quân nhân nhận lương, so sánh tiền thuê người thay dịch, cuối năm báo số lên ty để hoàn trả. Theo đó.

[10] Lệnh cho Tham tri chính sự Nguyên Ráng tham gia định soạn 《Tân biên Pháp bảo lục》 của Viện Truyền pháp. Trước đó, tăng dịch kinh Nhật Thành chết, các tăng cùng dịch là Huệ Tuân đều không thể kế tục, xin bãi dịch trường. Chiếu lệnh cho ở viện học tập, tiếp tục biên soạn 《Pháp bảo lục》 từ sau năm Bảo Nguyên, đợi có tăng Phạn thông đạt nghĩa lý, theo lệ cũ dịch kinh, Ráng nhân đó có lệnh này.

[11] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu cho Binh bộ lấy các điều khoản về võ cử trong sắc lệnh cống cử, lại đến các nơi thu thập văn bản, biên soạn thành sách sắc lệnh về võ cử để tâu lên.

[12] Phó sứ chuyển vận lộ Lưỡng Chiết, Điện trung thừa Tô Giải được đổi làm Quốc tử bác sĩ, vì đã chuẩn bị đầy đủ hành lý cho sứ thần đi Cao Ly.

[13] Lấy Tả thị cấm Giả Dụ làm Cáp môn chi hậu, thu hồi và hủy bỏ sắc mệnh thăng chức đã ban trước đó. Dụ là con thứ của Giả Quỳ. Trước đây, Quỳ vì lo việc biên giới Phu Diên, nên con trưởng của ông là Hữu được làm Cáp môn chi hậu. Sau đó, Quỳ được bổ nhiệm làm Điện tiền phó chỉ huy sứ, theo lệ xin cho Dụ làm chức Cáp môn, nhưng chiếu chỉ chỉ cho thăng một chức. Đến đây, Quỳ lại xin. Vua phê: “Trước đây cho Hữu chức Cáp môn là vì việc Quỳ lo việc biên giới Phu Diên, đặc cách ban cho, không phải là ân lệ. Nay Quỳ xin, là ân lệ khi được bổ nhiệm làm Điện suý, nên theo lời tâu.” Vì thế có mệnh lệnh này. (Hữu được bổ nhiệm chức Cáp môn vào tháng 10 năm Trị Bình thứ 4.)

[14] Ban chiếu cho ty chuyển vận và đề cử lộ Giang Nam Đông xét việc Lữ Gia Vấn, không cho phép Đề điểm hình ngục Vương An Thượng được miễn trừ, lệnh theo chỉ huy trước đó.

[15] Đô đề cử ty Thị dịch tâu xin dùng tiền mặt ở các châu huyện có tơ tằm thuộc Hà Bắc, đợi khi Tam ty mua đủ lụa và lĩnh, nếu dân muốn nhận tiền, giao cho lệnh tá tiếp tục chi trả, việc thu mua đều theo điều khoản mua bán. Theo lời tâu.

[16] Ngày Đinh Mùi, việc trùng tu kinh thành hoàn thành, Vua xuống chiếu cho Tri chế cáo, Trực học sĩ viện Tôn Chu soạn bài ký khắc vào bia đá đặt trên cửa Nam Huân. Thành dài 50 dặm 160 bước, cao 4 trượng, rộng 5 trượng 9 thước, bên ngoài cách hào 15 bước, bên trong cách 10 bước. Từ ngày Quý Dậu tháng 9 năm Hi Ninh thứ 8 khởi công, lấy Nội thị Tống Dụng Thần đốc thúc việc này, huy động hơn vạn lính dư, chế tạo máy móc để đào đất, tiền của và sức lực đều không lấy từ dân. Ban đầu, dự tính công việc tốn 5.790.000 quan, đến nay, tiết kiệm được 3/10. Sau khi Tôn Chu mất, đổi lệnh cho Tri chế cáo Lý Thanh Thần soạn bài ký. (Bài ký mới ghi: Ngày Đinh Mùi hoàn thành việc tu sửa kinh thành, chu vi 50 dặm.)

[17] Ngày Mậu Thân, Đô thủy giám tâu: “Từ trước đến nay, trước ngày Đông chí 30 ngày thì đóng cửa sông Biện. Năm nay có tháng nhuận, so với năm thường đã là cuối đông, e rằng băng trên sông lớn gây họa, xin đóng cửa sông sớm hơn.” Vua xuống chiếu hạn trước ngày Đông chí nửa tháng.

[18] Ngày Kỷ Dậu, Vua xuống chiếu cho Duyện Châu thường dùng tiền của tỉnh để tu sửa miếu thờ Khổng Tử.

[19] Vua phê: “Binh sĩ ở mặt trận Lô Châu đều được điều từ xa đến, giao cho Hàn Vĩnh Vũ đợi khi đánh giặc xong, ban thưởng tiền đặc biệt cho quân Cấm vệ.”

[20] Ngày Canh Tuất, Vua xuống chiếu cho Ty Nông tự lệnh các lộ đề cử ty, các khoản vàng bạc, tơ lụa trong kho thường bình, phải thúc giục theo quy định chuyển đổi. Nếu giá thị trường rẻ, thì lấy giá gốc của từng loại trong châu, tính toán theo giá cao thấp, nếu thiệt hại không quá một phần, đều cho phép bán, không được ép buộc. Nếu bán không được, phải trình bày kế hoạch cụ thể lên Ty Nông tự xem xét, hoặc đổi thành tiền cung nạp, các vật phẩm khác cũng theo đó.

[21] Chiếu rằng: “Tại kinh thành tổ chức thi thử võ nghệ các quân: Quân bộ và kỵ bộ dùng cung nỏ, lấy việc tăng thêm đấu thạch làm ba bậc; bắn cung bộ binh, bắn cung kỵ binh, phi ngựa bắn thẳng, bắn ngược, bắn nỏ bộ binh, lấy số tên trúng làm ba bậc; nỏ sàng tử và yết, lấy số tên trúng làm ba bậc, thưởng bát đĩa bạc có khác biệt; thương, đao, tiêu bài thủ, lấy số người thắng làm ba bậc, thưởng đĩa bạc có khác biệt; người không đạt tiêu chuẩn thì giáng bậc thưởng, không có bậc để giáng thì không thưởng, người liên tục đạt bậc trung thì được thưởng liên tục.”

(Binh chí: Tháng 10, chiếu lập quy cách thi thử kỹ nghệ các quân tại kinh thành[2], cung của quân bộ và kỵ bộ tăng thêm hai đấu so với bậc thượng của bản quân, lên đến bốn đấu[3], nỏ tăng thêm sáu đấu, lên đến một thạch ba đấu, chia làm ba bậc thượng, trung, hạ.

Bắn cung bộ binh, sáu phát trúng ba phát là bậc nhất, trúng hai phát là bậc nhì, trúng một phát là bậc ba; bắn cung kỵ binh, năm phát, phi ngựa bắn thẳng ba mũi tên vào bia, bắn ngược hai mũi, số tên trúng chia bậc như cách bắn cung bộ binh. Bắn nỏ bộ binh, từ sáu phát trúng đến hai phát trúng, nỏ sàng tử và yết từ ba phát trúng đến một phát trúng, đều đạt bậc.

Phàm đạt bậc đều được thưởng bạc có khác biệt. Thương, đao và tiêu bài thủ thi đấu phân thắng bại, tính số thắng để thưởng. Nếu cung nỏ rơi, hoặc bắn tên không tới bia, kéo cung làm hỏng thân cung, hoặc cung không giương được, hoặc tên không đủ, hoặc nỏ không lên nỏ, hoặc không bắn được, hoặc ngã người rơi chân, đều là không đạt tiêu chuẩn. Nếu bắn trúng thì được thưởng, các tên còn lại không đạt tiêu chuẩn thì giáng một bậc, không có bậc để giáng thì bỏ. Hợp dụng bản chí này, bản lục cũ quá sơ lược, bản Chu quá chi tiết.)

[22] Chiếu ban thưởng cho Thị cấm Ngỗ Toàn tang lễ như trường hợp tử trận, cho em trai là Tuyên làm Tam ban tá chức, vì Toàn không có con. Toàn vốn thuộc dưới quyền Kinh Hồ Nam lộ Kiềm hạt Hà Thứ Công, làm tiên phong bắt cướp, đến trước chùa Tinh Tiến huyện Vạn Tải châu Viên, đánh nhau với giặc Chiêm Ngộ, tử trận. Đến đây, Giang Nam Tây lộ Chuyển vận phán quan Bành Nhữ Lệ tâu: “Gần đây tuần tra đến nơi Toàn tử trận, tăng chúng và dân địa phương nói: ‘Toàn dũng cảm xông vào địch, giặc ban đầu bị đẩy lùi, vì không có viện binh nên tử trận.’ Thần thấy từ khi Chiêm Ngộ gây loạn, người dũng cảm xả thân vì nước đánh giặc chỉ có Toàn, xin được ban thưởng.” Vua phê: “Toàn tuy thiếu mưu lược dẫn đến thất bại, nhưng thế giặc bị Toàn giết hại cũng bị suy yếu, lòng trung dũng xông pha đáng thương, nên ban thưởng như trường hợp tử trận.” Nhữ Lệ lại tâu: “Binh sĩ dưới quyền Toàn bỏ chạy không cứu viện, xin trị tội.” Theo lời tâu.

[23] Chiếu: “Tôn Khẩn căn cứ vào mức độ nặng nhẹ của bọn giặc bắt được, theo quy định hiện nay chia làm ba loại hình phạt, xử xong tâu lên. Những kẻ cầm vũ khí giúp giặc cướp bóc, dù có tang vật hay không, đều chém; những kẻ ban đầu bị ép buộc, sau đó theo giặc, làm bị thương chủ nhà và người bắt giặc, hoặc đón tiếp giặc, cướp của, giúp vũ khí, chứa chấp, đều đánh bằng gậy, tùy tình hình xăm chữ và đày, tội nặng thì xử nặng; hoặc bị giặc bắt ép, mang theo người và của cải, nhận của giặc không báo quan, đều xử, tình tiết nặng thì đày 500 dặm.”

[24] Ngày Tân Hợi, Hàn Tồn Bảo phá giặc Lô Di ở Hậu Thành và 13 đồn (ghi chép mới vào tháng 10 ngày Tân Hợi, ghi chép cũ vào tháng 10 ngày Giáp Thân, vì Giáp Thân là ngày tấu đến, nay ghi cả hai.)

[25] Ngày Nhâm Tý, Ngự sử trung thừa Thái Xác tâu: “Thần nghe nói Giang Đông chuyển vận phán quan Hà Uyển tâu rằng, ở kinh sư có người đem những việc Uyển liệt kê báo mật cho Giang Ninh phủ Lữ Gia Vấn biết. Nếu đúng như vậy, thì không thể không trừng trị nghiêm khắc để ngăn chặn tệ giao thông lộ bí mật. Xin lệnh cho cơ quan hữu trách điều tra kỹ, nếu có thật, xin xử phạt nặng.” Chiếu chỉ trừ thư của Vương An Thạch ra, còn lại đều giao cho Ngự sử đài điều tra.

[26] Đô đề cử thị dịch, Binh bộ lang trung Vương Cư Khanh tâu: “Những người vay tiền thị dịch, cho phép dùng vàng, lụa… làm vật thế chấp, thu lãi không quá 1 phân 2 ly; nếu chưa đủ một năm thì tính theo tháng; nếu muốn vay toàn bộ bằng tiền, hoặc muốn nhận cả tiền lẫn hàng hóa, đều được chấp thuận.” Theo lời tâu. (Ngày mồng 8 tháng giêng năm sau, ngày Nhâm Tý[4], lại có ngày mồng 2 tháng 12 năm này, ngày Nhâm Dần, cần xem xét.)

[27] Chiếu chỉ: “Sứ thần đi Cao Ly về, Đô hạt Tây đầu cung phụng quan, Các môn khán ban chi hậu Tống Cầu thăng một bậc, sung chức Các môn chi hậu, lại giảm thời gian khảo hạch 2 năm; Thư trạng quan là cựu huyện lệnh Cốc Thành, Tương Châu Phong Tắc và cựu huyện lệnh Khai Hóa, Cù Châu Trịnh Hi Hàn, mỗi người thăng hai bậc; những người còn lại thưởng phẩm có khác nhau.”

[28] Hạ lệnh cho Quyền đồng phán Hình bộ viên ngoại lang Lữ Hiếu Liêm, Ty huân viên ngoại lang, Quyền Đại Lý thiếu khanh Hàn Tấn Khanh, đến Đồng Văn Quán thiết lập cơ quan, điều tra việc các tăng nhân Tông Phạn ở chùa Tướng Quốc lập viện cháo[5], lệnh cho Câu đương Ngự dược viện Đậu Sĩ Tuyên giám sát việc này. Theo lời phê của Vua: “Tông Phạn vì chủ tăng Hành Thân tự tiện dùng tiền cháo do quan cấp cho thường trú, xét tình trạng chi tiêu tiền ấy, thì ra là do Tôn Thuần, nguyên Tri huyện Tường Phù, mượn tiền, theo pháp luật, người vay mượn đều phạm tội, nhưng chủ quản vì Thuần là thân thích của cận thần, đặc biệt ngăn chặn lời tố cáo, lại nhiều lần sai người khuyên Thuần, chỉ bắt bồi thường riêng số nợ, có thể giao cho cơ quan không liên quan điều tra kỹ.”

Trước đó, Thuần bị cách chức Tri huyện Tường Phù, được bổ làm Đề cử Thường bình quan lộ Tử Châu, còn Hành Thân vốn là người quản lý ruộng đất cho Thuần, Thuần muốn đến nhậm chức mới, theo Hành Thân đòi tiền[6], Hành Thân tự mình mượn 100 ngàn tiền thường trú đưa cho Thuần, nhưng Tông Phạn tố cáo Hành Thân tự ý mang 100 ngàn tiền ra ngoài, nghi ngờ có gian lận. Quyền phát khiển Khai Phong phủ Tô Tụng nói: “Tông Phạn tố cáo việc không liên quan đến mình, không nên xử. Tiền thuộc thường trú, không phải do quan cấp, không có luật vay mượn.” Nhưng Thuần nghe việc bại lộ, liền trả tiền cho Hành Thân rồi, Tông Phạn bị xử đánh trượng. Có người nói Thuần là con trai của em gái con rể Tụng, Tụng cố ý tha tội cho Thuần, bị lính Hoàng thành tố cáo. Vua cho rằng ở kinh đô, cận thần dám dùng thế lực làm rối pháp luật, nếu xét đúng như vậy thì không thể không trị tội, nên có lệnh này.

[29] Chiếu cho Tuần hà Hàn Thôn Tảo, Tả ban điện trực Vũ Kế Ninh bị giáng một chức, cách chức, các quan khác bị thay thế, phạt đồng có mức độ khác nhau. Vì sông lớn do mưa gió tràn bờ, không chuẩn bị trước.

[30] Ngày Giáp Dần, phục chức cho người bị cách chức Trương Ngạc, phục làm Thái tử trung doãn, Giám Giang Ninh phủ thương thuế. Ngạc không lâu sau thì mất.

[31] Ngự sử trung thừa, phán Tư nông tự Thái Xác tâu: “Sắc lệnh cũ về thường bình đã bị sửa đổi nhiều, các pháp lệnh về miễn dịch chưa được biên soạn. Nay ngoài việc ra lệnh sửa đổi thành sắc lệnh, những quy định nhỏ sẽ là lệnh, còn các danh số, mẫu mực sẽ là thức. Xin lấy tên là 《Nguyên Phong Tư nông sắc lệnh thức》.” Được chấp thuận.

[32] Chiếu cho Tam ty và Tư nông tự mỗi nơi cử năm quan viên triều đình, sung làm đề cử quan các lộ, hạn trong mười ngày phải báo tên lên.

[33] Chiếu rằng các châu huyện tu sửa công trình, nếu trước đây do công nhân tự xoay xở, dù không có văn bản chứng cứ, từ nay đều phải bảo đảm chi một nửa từ tiền tỉnh và tiền đầu tử miễn dịch.

[34] Sở Tường định lễ văn tâu: “Nay định ngày Bính Thìn tháng 10, triều yết điện Thiên Hưng, theo lễ tiến hưởng cung Cảnh Linh trước Nam Giao, chỗ ngồi của hoàng đế nên đặt ở phía đông bệ điện, chỗ rửa tay nên ở phía đông mái hiên. Phía nam bắc theo chiều sâu của điện, phía đông tây thẳng theo mái hiên, hoàng đế đứng phía nam chỗ rửa tay, hướng bắc để rửa.” Chiếu cho Lễ viện tạm theo nghi thức cũ. Bản Chu đã bỏ đi, nay khôi phục lại. Xét: Sách lễ văn giao miếu chép, chỗ rửa tay ở cung Cảnh Linh và Thái Miếu không nên ở phía đông mái hiên, xin sửa lại. Ngày 17 tháng 9 năm Nguyên Phong thứ nhất đã được chỉ, theo quy định, lại ngày 4 tháng 8 năm thứ ba, và ngày 21 tháng 8 đều nói là theo tấu[7], việc này cần xem xét.

[35] Ngày Ất Mão, Đoan minh điện học sĩ kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ, đề cử cung Sùng Phúc Tư Mã Quang xin cho con là Khang sung làm chức kiểm duyệt văn tự ở sở biên soạn 《Tư trị thông giám》. Được chấp thuận.

[36] Tư nông tự tâu rằng tiến sĩ Lý Phục và Vương Kham đi khảo sát đất hoang trong phủ giới, chiêu mộ dân Mân, Thục trồng lúa có công, xin ban ân. Chiếu cho Lý Phục và Vương Kham đều được làm nhiếp quan lộ Quảng Nam. Lý Phục và Vương Kham lúc đầu được cử đi vào ngày Đinh Sửu tháng 10 năm Hi Ninh thứ 6.

[37] Kinh lược sứ Phu Diên lộ Lữ Huệ Khanh xin lấy tiền vốn từ kho hồi dịch của ty mình để nuôi dưỡng quân sĩ, đặt riêng một kho, không được lẫn với tiền công sứ, do Kinh lược ty biến đổi, chỉ dùng để nuôi dưỡng quân sĩ và thưởng cho người do thám. Nếu là việc nhỏ thì chỉ chi tiền tỉnh. Các lộ khác cũng xin làm theo. Được chấp thuận.

[38] Chiếu rằng: “Dân huyện Bình Giang, châu Nhạc trước đây bị Chiêm Ngộ đốt nhà cửa. Lệnh cho Tôn Khẩn gửi văn thư đến các nơi thuộc quyền, tùy theo số hộ và cấp bậc mà cấp tiền.”

[39] Đại Lý tự tâu: “Tán viên đô ngu hậu, Thứ sử Vạn châu Toàn Tín đòi tiền của Vệ Đán, nên truy chức Thứ sử, phạt 60 cân đồng, giáng chức và điều đi nơi khác.” Chiếu theo lời tâu, giáng làm Đô đầu bản thành Hồ Nam. Trước đó, Vua phê: “Toàn Tín đòi tiền của Vệ Đán, người thuộc hàng trưởng hành trong ban mình, đã có án tâu, nên nhanh chóng trình lên để xét xử, nhằm răn đe trong quân.” Đến đây, Xu mật viện tâu xử án xong.

[40] Ngày Mậu Ngọ, cho con của Tả ban điện trực Tống Mật làm Tam ban tá sai. Vì khi đi sứ Cao Ly, Tống Mật làm Quản câu châu thuyền tuần kiểm, rồi chết ở Cao Ly.

[41] Tặng Hoàng thành sứ, Gia châu Phòng ngự sứ Tào Thuyên làm Đồng châu Quan sát sứ. Thuyên là cha của Phò mã đô uý Tào Thi, được đặc tặng theo lời phê của Vua.

[42] Ngày Kỷ Mùi, lấy Tuyên huy Bắc viện sứ, Kiểm hiệu Thái phó, Trung Thái nhất cung sứ Vương Củng Thần làm Kiểm hiệu Thái uý, Tuyên huy Nam viện sứ, Tây Thái nhất cung sứ, cho ở kinh sư. (Sử cũ chép việc này.)

[43] Tả tàng khố sứ, Thứ sử Xương châu Tào Chí được cử làm Đề điểm Vạn Thọ quan. Người trước đó được cử làm Đề điểm Vạn Thọ quan là Hoàng thành sứ, Gia châu Đoàn luyện sứ Lưu Vĩnh Thọ đổi làm Lễ Tuyền quan. Vì Chí là cháu của Thái hoàng thái hậu.

[44] Quyền phát khiển Hưng châu La Quan xin ban bố pháp nghĩa thương cho bốn lộ Xuyên Hạp[8]. Được chấp thuận. (“Chí” có ghi chép.)

[45] Chiếu rằng: “Ở trường khai thác mỏ bạc đồng Vĩnh Hưng thuộc huyện Lưu Dương, châu Đàm, những người làm việc trong hầm mỏ đều là dân phiêu bạt từ khắp nơi. Nếu không liên kết họ thành tổ nhóm, tăng cường hình phạt liên đới về tội ẩn giấu kẻ gian, thì những kẻ xấu ẩn náu trong đó sẽ khó kiểm soát. Một khi xảy ra biến loạn, họa sẽ lan đến nhiều nơi, như vụ gần đây của Chiêm Ngộ. Có thể lập pháp, chọn quan để thi hành.” Sau đó, chiếu cử một viên quan kinh triều làm Giám trường, quản lý công việc yên hỏa của trường, được phép xử tội trượng trở xuống.

Lại chiếu rằng: “Những hộ khai mỏ phải nộp vũ khí đang giấu trong vòng một tháng. Nếu hết hạn mà không nộp, sẽ bị xử theo luật tàng trữ vũ khí trái phép. Trong cùng một tổ bảo, nếu có người phạm tội cướp, giết người, phóng hỏa, chứa chấp kẻ cướp, hoặc lính đào ngũ tàng trữ vũ khí, giáp nỏ mà biết mà không tố cáo, sẽ bị giảm hai bậc so với tội phạm và đuổi khỏi trường. Trường hợp nặng thì đưa đi quản thúc ở châu lân cận; không biết thì giảm thêm hai bậc. Những việc chưa quy định rõ, giao cho Ty đề điểm khanh dã chú tiền lập pháp. Việc sắp xếp tổ bảo ở địa phận trường này chưa đúng pháp, lệnh cho Chu Sơ Bình theo điều lệ mà sắp xếp lại.” Ngày Quý Hợi, đặt chức Giám quan. (Tháng 11, ngày Giáp Tuất, cấm tàng trữ vũ khí trái phép và sắp xếp tổ bảo, nay đều ghi chép lại.)

[46] Ngày Canh Thân, quan Phán Tư nông tự Thái Xác tâu: “Các lộ đề cử thường bình ty trước đây kiêm lĩnh dưới chuyển vận ty, thường có việc tự ý sử dụng tiền vật của ty nông. Từ khi phân cục đến nay, đề cử ty lộ Hà Bắc Đông tâu rằng chuyển vận ty đã sử dụng hơn hai mươi vạn quan tiền, đề cử ty Giang Đông tâu rằng chuyển vận ty đã sử dụng hơn mười hai vạn quan tiền và thóc. Việc chuyển vận ty kiêm lĩnh không thể tránh khỏi tệ nạn lạm dụng. Hiện các lộ Xuyên, Quảng chưa có quan đề cử tại chức, nên vẫn để chuyển vận ty theo lệ kiêm quyền. Xin rằng những nơi thiếu quan đề cử, chỉ cho quan đề điểm hình ngục kiêm quyền; nếu nha môn xa xôi, thì lưu lại một số lại viên trông coi quan vật, giao cho tri châu hoặc quan quản câu tiện thể quản lý; nếu quan đề cử tạm thời nghỉ phép, cũng giao cho tri châu hoặc quan quản câu quyền quản lý văn tự của ty.”

Lại tâu: “Từ nay, những quan đề cử xứng chức, xin cho giữ chức lâu dài, đợi có thành tích thì thăng làm đề điểm hình ngục hoặc chức vụ cao hơn.” Đều được chấp thuận.

[47] Chiếu cho chuyển vận ty lộ Quảng Nam Tây điều tra các quan lại ở Ung Châu không cứu hỏa, bắt giam đô giám và quan trại. Do có chỉ dụ: “Ung Châu, Liêm Châu, trại Vĩnh Bình, Thái Bình liên tiếp bị hỏa hoạn, mất tiền lương, khí giới. Các châu trại đều là nơi biên giới trọng yếu, đường thủy bộ hiểm trở, vận chuyển khó khăn, một khi quan lại lơ là, thiệt hại lên đến hàng chục vạn. Người gây hỏa hoạn khó xử theo luật thường, nên nhanh chóng điều tra, xử trảm rồi tâu lên; các quan tại chức không cứu hỏa, cũng nên bắt giam tra xét.”

[48] Ngày Tân Dậu, ban chiếu: “Kinh Hồ Bắc lộ Chuyển vận sứ Tôn Khẩn, đợi khi hội hợp quân các nơi, tuyển mộ 600 quân cảm tử, chọn 5-6 viên sứ thần tài giỏi võ nghệ, cấp dưỡng hậu hĩ để khao thưởng, lệnh chia làm hai cánh, dũng cảm tiến lên, số còn lại đều cho trở về nơi cũ. Nếu bọn giặc tập hợp đông, hội hợp với quan quân mà không đủ sức đối phó, thì tùy tình hình, có thể giữ lại 200-300 người, hoặc tăng thêm 1-2 cánh quân rồi tâu lên. Còn Bành Tôn lệnh cho thống lĩnh quân cũ, ngoài số tuyển mộ được giữ lại sử dụng, số còn lại đều cho trở về Kinh Nam bản tướng.”

[49] Ngày Nhâm Tuất, ban chiếu: Các lộ phải tạo sổ sách, nếu thuế mùa thu bị thiên tai, số thuế được miễn đến 7 phần trở lên, thì tạm miễn tạo sổ, đợi đến năm sau.

[50] Quân khí giám tâu: “Trước đây Tán thiện đại phu Lữ Ôn Khanh nói: ‘Các châu quân 5 lộ những năm gần đây tăng thêm quân Tráng thành, tuy có lệnh huấn luyện, nhưng võ nghệ tập luyện đều không thực dụng. Như thành Đại Danh phủ chu vi hơn 40 dặm, chỉ có 4 người bắn nỏ, những người khác như treo dây, bắn hỏa dược, toàn bộ hỏa lực đều thiếu. Vì trước đây không có quy chế huấn luyện, lại không có quan chuyên trách kiểm tra. Nay muốn lệnh cho quân Tráng thành các châu, ngoài việc tu sửa thành lũy, đều chia làm hai phiên, huấn luyện phòng thủ, lấy 10 phần làm chuẩn, trong đó giữ lại 3 phần bắn nỏ, số còn lại đều tập treo dây, sử dụng khí giới phòng thủ.

Lại ghi tên thợ đã tập, mỗi quý do bản châu tổ chức thi đấu để thăng giáng.’ Đã từng giao cho 5 lộ An phủ ty, nhưng 5 lộ bàn bạc khác nhau. Nay bản giám tham khảo, xin cho quân Tráng thành các châu quân 5 lộ, nếu không có công việc tu sửa thành trì lầu lũy, thì lệnh An phủ ty lấy 10 phần làm chuẩn, 3 phần tập bắn nỏ, số còn lại tập treo dây, sử dụng khí giới phòng thủ. Còn thợ 11 tác xưởng Quảng bị, đều giao cho 5 lộ chuẩn bị sai sứ và chỉ đạo sử dụng, 3 năm thay một lần. Những nghề cấm tập luyện từ trước, không được truyền dạy nữa. Các châu quân Hi Hà lộ cũng theo như vậy.” Đều theo.

Lại nói: “Ôn Khanh cho rằng: ‘Triều đình sai quan chế tạo cầu phao và cọc lửa ở châu Thiền, việc phòng bị cũng không phải là không chu đáo. Tuy nhiên, sợ rằng nếu giặc đến, dùng bè lửa, thuyền lửa theo dòng nước trôi xuống, gió thuận lửa bốc, trên cầu không thể chứa nhiều người, khó mà phòng thủ, chi bằng đặt thêm chiến thuyền để tấn công phía sau.

Xin đóng 20 chiếc chiến thuyền, và đặt một chức Tuần kiểm Hoàng Hà ở châu Thiền, chọn 500 binh lính Thanh Hà, lấy danh nghĩa bắt trộm cướp trên sông Hoàng Hà, tập luyện thủy chiến để phòng bị bất trắc.’ Giao cho Ty An phủ lộ Đại Danh xem xét. Ty này tâu: ‘Ở khu vực châu Thiền trên sông Hoàng Hà trước đây không có Tuần kiểm, lại nằm trên đường sứ Bắc, nếu tăng thêm chiến thuyền, e rằng sẽ gây náo động. Chỉ nên chọn 100 binh lính Thanh Hà, lập thành Thủy quân Kiều đạo, cho họ tập luyện thông thạo thuyền bè, có thể sử dụng khi cần thiết để chống lại thuyền bè từ thượng nguồn và trang bị chiến thuyền.’ Ty Giám muốn theo đề nghị của Ty An phủ.” Triều đình đồng ý.

[51] Ngày Quý Hợi, nước Vu Điền dâng sản vật địa phương. Hai kỷ phụ lục vào cuối năm.

[52] Chiếu sai Y quan Hàn lâm là Hình Tháo, Thiệu Hóa và Tần Giới[9] đi chữa bệnh cho Cao Ly quốc vương là Vương Huy, do Nội điện thừa chế là Vương Thuấn Phong quản lý. Vì Vương Huy mắc bệnh phong tê, nên khi An Đào đi sứ trở về đã dâng biểu xin thầy thuốc. Lại chiếu cho Thuấn Phong nếu Vương Huy bệnh không thể tự nhận chiếu mệnh, thì trao cho thế tử là Huân. (Việc trao chiếu mệnh cho thế tử Huân của Vương Huy là vào ngày Giáp Tuất tháng 11, nay ghi chung.)

[53] Ngày Bính Dần, Tam ty xin niêm yết cho các hạng người trong kinh nộp tiền tư nhỏ vào quan để hủy bỏ. Triều đình đồng ý. Lúc đó, việc buôn bán trong chợ thường dùng tiền nhỏ đúc trộm từ ngoại phương, chất lượng kém, khiến thương nhân lo ngại. (Bản chí ghi việc này vào năm Hi Ninh thứ 10 là sai, nên theo thực lục.)

[54] Chiếu cho cháu của Hiếu Huệ hoàng hậu là Hạ An Tủng được vào hàng quan lại. Trước đó, An Tủng kể rằng chú là Kế Tuyên từng được hưởng ân điển của hoàng tộc triều trước, được phong chức Phụng chức, nhưng chưa nhận thì mất, nên xin chuyển lại cho mình.

[55] Chiếu cho các huyện trong phủ Khai Phong từ nay bổ nhiệm Tri huyện là các quan Kinh triều hợp lệ.

[56] Ngày Đinh Mão, Ngự sử trung thừa Thái Xác tâu rằng việc điều tra Lữ Gia Vấn và những người khác, theo quy định, nên luân phiên cử ngự sử của ba viện hoặc quan suy trực đảm nhận việc tra xét, nhưng lo ngại không chuyên nhất, xin giao riêng cho Ngự sử Hoàng Liêm và Thư Thiện điều tra. Chiếu chỉ chỉ cử Hoàng Liêm cùng điều tra.

[57] Cơ quan Đề hạt tu hoàn kinh thành tâu lên danh sách 31 người phụ trách việc tu sửa thành trì, bao gồm các chức vụ như Đô hạt, Bộ dịch, Sử thần, cùng thời gian quản lý. Chiếu chỉ: “Những người quản lý từ bốn tháng trở lên và đủ điều kiện để xét duyệt theo năm, được giảm một năm; những người xét duyệt 10 năm, 12 năm, theo quy định sẽ được điều chỉnh. Quan Đề hạt là Nhập nội đông đầu cung phụng quan Tống Dụng Thần được thăng làm Lễ tân sứ, Dao quận thứ sử, vẫn giữ nguyên chức vụ cũ, được hưởng lương theo chế độ cũ.”

[58] Chiếu chỉ bãi bỏ hai chức Câu đương công sự quan của Ty đề điểm phủ Khai Phong, và chuyển họ sang làm Quản câu quan của Ty đề cử; Quan Quản câu văn tự của Ty đề điểm, khi có việc liên quan đến phòng chống lũ lụt và bảo vệ an ninh, được phép cử đi làm việc. Trước đó, Ty đề cử tâu rằng: “Ty này chuyên quản lý 22 huyện về các vấn đề như thường bình, công việc rất nhiều. Nay Ty đề điểm đã bãi bỏ việc kiêm nhiệm, nhưng hai Quản câu quan vẫn kiêm nhiệm công việc của Ty đề điểm, e rằng công việc không chuyên nhất, khó hoàn thành.” Ty Nông tự tâu lên, nên có chiếu chỉ này.

[59] Kinh chế Lô Châu là Hàn Tồn Bảo tâu rằng: “Thủ lĩnh của mười thôn là Mai Thủy Cát, Hồ Đẩu Đãn, Đẩu Cá Tát đã đầu hàng và đã thề.” Chiếu chỉ: “Giặc trốn tránh trong núi rừng, giao cho Tồn Bảo tăng cường các biện pháp đánh dẹp, đồng thời triệu tập Phủ Vọng Cá Thứ, Yến Tử, hoặc cử người thuyết phục; lệnh cho họ phân bố những người có năng lực dưới quyền, cùng với dân sinh và dân thục[10], bao vây và truy bắt giặc. Mỗi tên giặc bị giết hoặc bắt được sẽ thưởng 20 tấm lụa; nếu số lượng nhiều, sẽ bàn việc thăng chức; đồng thời tham chiếu chiếu chỉ ngày Giáp Tuất tháng 7, trừ người già, trẻ nhỏ và phụ nữ, thực hiện theo chỉ đạo này.” (Ngày Giáp Tuất là ngày mồng 2 tháng 7.)

[60] Ngày Mậu Thìn, xuống chiếu bãi chức Tả tàng khố phó sứ Hoắc Thuấn Cử và Tây Kinh Tả tàng khố phó sứ Vương Giám, không cho họ tiếp tục quản lý việc trồng cây du liễu ven sông Hoàng Hà, sông Biện và các sông khác, mà chỉ giao cho các sứ thần địa phương kiêm quản, đồng thời ủy thác cho quan đô đại quản lý. Trước đây, Trình Phưởng đã đề ra quy định cử quan chức phụ trách việc trồng cây du liễu, bắt đầu từ năm Hi Ninh thứ 4. Đến năm thứ 8, Đô thủy giám tâu rằng công việc đã hoàn thành, nên có chiếu chỉ này. (Việc cử hai người trước đây xảy ra vào ngày Tân Dậu, tháng 5 năm Hi Ninh thứ 6.)

[61] Kinh chế Hi Hà biên phòng tài dụng ty tâu rằng, ngoài việc phân bổ ruộng đất quan trang theo chỉ dụ của triều đình ở bốn châu quân, xin được chọn thêm 20 khoảnh đất màu mỡ gần thành để làm ruộng doanh điền, và cử riêng sứ thần phụ trách. Triều đình đồng ý. (Việc này liên quan đến các ngày 9 tháng 5, 14 tháng 6 và 1 tháng 7).

[62] Ghi nhận con trai của huyện lệnh huyện Thanh Thạch, châu Toại là Lý Tiến Khanh làm Giao xã trai lang. Do Tiến Khanh khi vận chuyển lương thảo bị giặc man đánh úp[11], ném xuống sông, sau đó Hàn Tồn Bảo tìm được thi thể và tâu lên, nên có mệnh lệnh này.

[63] Xuống chiếu rằng nếu quan bắt cướp ở các địa phương xảy ra cướp bóc không kịp thời bắt giết, thì các lộ đề điểm hình ngục ty phải nhanh chóng xét tội, không được dựa vào việc đã được ân xá hay đã thôi chức để miễn tội.

[64] Ngày Kỷ Tỵ, ghi nhận con trai của Tam ban sai sứ Trương Giản là Viện Hỉ làm Tam ban sai sứ, ban tên là Trung, và cấp cho gia đình 20.000 quan tiền cùng 20 tấm lụa. Do Hà Bắc lộ chuyển vận ty tâu rằng: “Giản vốn là bảo đinh, được thi thử và bổ nhiệm làm chỉ sử dưới quyền Tuần kiểm trấn Hồi Hà, trong khi tuần tra ban đêm, thấy bọn cướp Trương Thiện gồm 5 người, liền lập tức phi ngựa đuổi theo[12], rồi tử trận”, nên có mệnh lệnh này.

[65] Kinh Hồ Nam lộ chuyển vận ty tâu: “Đô giám Hồ Bắc là Bành Tôn gửi thư cho Chiêm Ngộ, có ý muốn chiêu hàng. Đã gửi văn thư cho Hà Thứ Công, cần phải tiêu diệt. Xin được chỉ thị thêm.” Triều đình xuống chiếu cho Tôn Khẩn kín đáo điều tra, nếu đúng như vậy thì đợi Bành Tôn nhậm chức, bắt phải trình bày rõ ràng căn cứ vào chỉ thị nào mà chiêu dụ bọn giặc, rồi tâu lên.

[66] Chiếu cho Khai Phong phủ Phán quan Từ Đại Phương và Thôi quan Hứa Ngạn Tiên đều bị cách chức trước. Đại Phương và những người khác bị kết tội vì đã bí mật dụ dỗ Tôn Thuần dùng tiền riêng để đền bù cho nhà sư Tông Phạm.

[67] Lại đổi trấn Vị Nam thuộc Hoa Châu thành huyện.


  1. Chữ 'kì' trong các bản khác và bản hoạt tự viết là 'triều'.
  2. Quy cách thi thử kỹ nghệ các quân tại kinh thành, chữ 'kỹ' nguyên là 'hiệu', theo 《Tống sử》 quyển 195 Binh chí sửa lại.
  3. Cung của quân bộ và kỵ bộ tăng thêm hai đấu so với bậc thượng của bản quân, lên đến bốn đấu, chữ 'tăng' nguyên là 'như', theo bản trong các bản sửa lại.
  4. Chữ 'ngày' nguyên là 'tháng', theo các bản và bản in hoạt tự sửa lại.
  5. Việc điều tra các tăng nhân Tông Phạn ở chùa Tướng Quốc lập viện cháo, chữ 'thiết' nguyên bản là 'thuyết', theo bản trong các kho lưu trữ mà sửa
  6. Theo Hành Thân đòi tiền, chữ 'tiền' nguyên bản là 'tiền', theo bản trong các kho lưu trữ mà sửa
  7. Nguyên văn ngày 21 tháng 8 viết nhầm thành 'lại tháng 8 nói theo ngày 21 đều tấu', theo bản các và bản hoạt tự sửa lại.
  8. Bốn lộ Xuyên Hạp, chữ 'Hạp' nguyên bản là 'Thiểm', theo bản trong các kho sửa lại.
  9. Tần Giới, chữ 'Giới' nguyên là 'Giới', theo các bản và bản hoạt tự sửa lại.
  10. 'bãi dũng', trong 《Tống hội yếu》 phiên di 5-26 viết là 'la'.
  11. Chữ 'dĩ' trong câu 'dĩ Tiến Khanh bộ lương thảo vi di tặc sở yểm' nguyên bản thiếu, căn cứ vào các bản khác bổ sung.
  12. Chữ 'toại' trong câu 'tức tiên lộ trì mã toại tặc' nguyên bản là 'tuần', căn cứ vào các bản khác sửa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.