"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 47: NĂM HÀM BÌNH THỨ 3 (CANH TÝ, 1000)

Từ tháng 4 năm Hàm Bình thứ 3 đời Chân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Tuất, điều Mộ Dung Đức Phong, người đang giữ chức Tri châu Trấn châu, Khách tỉnh sứ, và Thứ sử châu Uất, đến nhận chức Tri châu Thương châu.

Trước đây, khi quân địch kỵ binh tiến xuống phía nam, Đức Phong đã chuẩn bị binh lực, cố thủ kiên cường, khiến đường tiếp tế không bị cản trở, nên được chiếu thư khen ngợi. Đức Phong coi nhẹ của cải, thích làm việc thiện, khi yến tiệc khao thưởng tướng sĩ, đều hết sức đầy đủ. Mẹ ông ở lại kinh thành, vợ con lưu lại Trường An, sống rất khó khăn, Vua nghe tin thương xót, đặc chiếu cấp bổng lương theo chế độ Đoàn luyện sứ.

[2] Thái tử Thái bảo Lã Đoan, được tặng chức Tư không, thụy là Chính Huệ, bệnh nặng, Vua hai lần thân hành đến thăm hỏi. Hôm đó, ông mất. Trung sứ được cử hỗ trợ tang lễ, truy phong vợ quá cố của ông là Lý thị làm Phu nhân Kinh quốc, bốn con trai đều được thăng chức.

[3] Trước đó, Vua hạ chiếu triệu Hà Thừa Củ, Tri châu Hùng châu, về triều. Hơn một trăm dân châu Hùng đến kinh đô dâng ngựa, xin Thừa Củ tiếp tục nhậm chức. Ngày Nhâm Tý, Vua lại sai Thừa Củ trở lại làm Tri châu Hùng châu, và trả lại ngựa mà dân đã dâng. Thừa Củ dâng tấu rằng:

“Thần nghe các nhà binh pháp nói rằng có ba loại trận: Nhật nguyệt phong vân là ‘thiên trận’; sơn lăng thủy tuyền là ‘địa trận’; binh xa sĩ tốt là ‘nhân trận’. Nay dùng ‘địa trận’ để thiết lập hiểm yếu, lấy thủy tuyền để kiên cố, xây dựng đê đập, kéo dài đến biển cả, dù có kỵ binh địch cũng không lo chúng đột kích. Trước đây, quân Nhung xâm phạm biên giới, con đường Cao Dương phía đông giáp biển, phía tây đến Thuận An, dân chúng an cư, đó là nhờ lợi ích của đồn điền. Nay từ Thuận An về phía tây đến Tây Sơn, đất tuy rộng bằng mấy quân, đường chỉ trăm dặm, dù có đồi gò, song cũng nhiều sông suối nguồn nước. Nếu nhân đó mà mở rộng, xây dựng thêm đập hồ, thì có thể ngăn chặn kỵ binh địch, dẹp yên nỗi lo biên cương.

Hiện nay, các tướng giữ biên giới phần nhiều không có tài, trong lòng không hiểu sách vở[1], tai không nghe điều thiện, không giữ được cương giới, hành động sai lầm gây hại cho quốc gia, dù có dẫn quân hổ báo cũng không ngăn được đám đông hung hãn. Kính mong lựa chọn kỹ càng quan lại biên giới, cử họ đi quản lý dân vùng biên, ban thưởng bổng lộc hậu hĩnh để họ yên lòng, trao quyền uy để họ thi hành nghiêm mệnh lệnh. Sau đó, đào hào sâu, xây luỹ cao, nuôi ngựa, rèn binh, chuẩn bị sẵn sàng cho việc phòng thủ. Tu nhân tích đức, thi hành chính sách nhân ái, mở rộng con đường an dân. Huấn luyện binh sĩ, khai khẩn ruộng đất, khuyến khích nông nghiệp, tích trữ lương thực để phòng năm đói kém. Sửa chữa vũ khí, tu bổ cung nỏ, thận trọng với lửa hiệu, tu sửa đồn bảo để phòng ngừa ngoại xâm. Kẻ địch đến thì chống lại, đi rồi thì vẫn phải đề phòng. Làm như vậy, biên thành sẽ được yên ổn.

Hơn nữa, người dân vùng biên phần lớn có sức mạnh và dũng cảm, hiểu rõ sự thật giả của người Khương, người Nhung, biết rõ địa hình núi sông[2]. Mong rằng ở các quận biên giới lập doanh trại để chiêu mộ, không cần đợi người tài, chỉ cần tuyển người trẻ khỏe mạnh, số lượng lên đến một vạn người. Khi có báo động về Khiết Đan, hãy để tướng tài dũng cảm chỉ huy và sử dụng họ. Đó là kế sách lâu dài của Trung Quốc.”

(Phần ‘Chánh truyện’ của Thừa Củ ở đoạn dưới ghi thêm việc dâng sớ bàn về sự thuận tiện của chợ biên giới, việc này xảy ra vào mùa xuân năm thứ 5, nay dời đến tháng 4 năm thứ 5.)

[4] Ngày Quý Sửu, Điện tiền đô chỉ huy sứ, Hà Tây tiết độ sứ Phạm Đình Triệu từ Định châu về triều.

[5] Ngày Giáp Dần, 30 cử nhân giữ thành Hà Bắc là Khang Khắc Cần cùng những người khác được yết kiến ở điện tiện, nhà Vua đích thân xem xét và thử tài bắn cung, nỏ mạnh. Khắc Cần giỏi bắn cả hai tay và đánh kiếm. Nhà Vua chọn 18 người trúng tuyển, tất cả đều được bổ nhiệm làm Tam ban tá chức.

[6] Truy tặng cố Tây Kinh tả tàng khố sứ Lưu Thiệu Vinh làm Tả thần vũ đại tướng quân, Thành châu đoàn luyện sứ; cố Tây Kinh tác phường phó sứ Lý Thủ Luân làm Sùng nghi sứ, Vũ châu thứ sử. Cả hai đều tử trận trong loạn Vương Quân.

[7] Ngày Ất Mão, cải táng Nguyên Đức hoàng thái hậu bên cạnh Vĩnh Hi Lăng, rước thần chủ về thờ ở biệt miếu. Hữu ty tâu rằng nghi trượng của tám miếu nên giảm một nửa so với lăng tẩm, nhưng Vua xuống chiếu không cho giảm.

(Việc không giảm nghi trượng, theo ‘Thực lục’ là ngày Đinh Mão, nay phụ chép vào đây.)

[8] Ngày Bính Thìn, cấm thuyền tư độ sông Hoàng Hà, theo lời xin của chuyển vận sứ Lưu Tông.

[9] Thái tử trung thư xá nhân Vương Nghiễm tâu: “Khi trước thần làm Tri châu Triệu, quân Khiết Đan kỵ binh đi tuần đến dưới thành, có học trò là Mễ Trứ, vốn dũng cảm và giỏi bắn cung, thần bèn ra lệnh chiêu mộ trăm tráng sĩ để giữ cửa nam. Cuối cùng, giặc rút lui mà không dám đánh vào cửa ấy.” Vua nghe xong, cho triệu đến hỏi, thử sức bắn cung cứng, rồi bổ nhiệm làm Tam ban tá chức.

(Theo sách ‘Bách nhất biên’ của Vương Hạo: Ngoại lang bộ Ngu là Vương Nghiễm, vốn là cựu thần của Ngô Việt, lúc ấy đang vào cống, đến kinh đô, đem những điều nghe được báo lên họ Tiền, mong rằng họ sẽ cảnh giác. Sau này quy triều, giữ chức Thái tử trung doãn, làm Tri châu Triệu, gặp lúc Khiết Đan xâm lược, các quận Hà Sóc đều đóng cửa thành cố thủ, chỉ có Nghiễm mở cửa thành ra cho quân địch xem, quân địch đi qua lại mà không dám nhòm ngó. Việc xong, triều đình khen ngợi, thăng làm Thứ sử Tế châu, thọ đến 93 tuổi. Riêng ‘Thực lục’ không chép việc của Nghiễm, cần xét lại.)

[10] Cùng ngày, Vương Quân từ cầu Thăng Tiên chia đường đánh úp, quan quân tập trung binh lực ở phía đông, Lôi Hữu Chung đem quân nghênh chiến, đánh bại lớn, giết hơn nghìn người, đoạt được lọng che, thương vàng, Vương Quân một mình cưỡi ngựa trở về thành.

[11] Ngày Đinh Tị, điều Thiên Hùng quân đô bộ thự, Điện tiền phó đô chỉ huy, Bảo Thuận tiết độ sứ Cát Bá làm Bân Ninh Hoàn Khánh đô bộ thự, điều Phó bộ thự đường Trấn châu là Dương Quỳnh làm phó.

[12] Xuống chiếu rằng các châu Hành quân tư mã, Tiết độ phòng ngự đoàn luyện phó sứ, Thượng tá ty sĩ văn học tham quân, nếu không được đặc hứa ký tên, thì không được nắm quyền xử lý công việc.

[13] Ngày Kỷ Mùi, hạ chiếu răn dạy quần thần, bảo mỗi người hãy chăm lo tu dưỡng, không được tự bỏ mặc, lười nhác.

[14] Ban đầu, Cung bị khố phó sứ Lý Doãn Tắc được bổ nhiệm làm tri châu Đàm Châu. Khi sắp lên đường, Vua gọi đến và nói:[3]“Khi Trẫm còn ở Nam Nha, Tất Sĩ An đã kể cho Trẫm nghe về gia thế của khanh, nay Trẫm giao Hồ Nam cho khanh.”

Khi Doãn Tắc mới đến châu, xảy ra đám cháy lớn, dân chúng không có nhà ở, nhiều người chết vì lạnh. Doãn Tắc lập tức lấy tre quan cấp cho dân để dựng nhà tạm, đến mùa xuân thì thu hồi, dân không bị lưu lạc, việc quan cũng không thiếu hụt. Trước kia, họ Mã thu thuế nặng nề, dân châu hàng năm phải nộp lụa, gọi là địa thuế. Đến khi Phan Mỹ bình định Hồ Nam, tính theo mỗi gian nhà phải nộp một trượng ba thước lụa, gọi là “ốc thuế”. Hộ làm ruộng được cấp trâu, mỗi năm nộp bốn hộc gạo, trâu chết vẫn phải nộp, gọi là “khốt cốt thuế”. Dân nộp chè, ban đầu chín cân là một đại cân (tức cân lớn), sau tăng lên ba mươi lăm cân. Doãn Tắc xin bãi bỏ ba loại thuế này và quy định mỗi cân chè nộp 30 cân rưỡi làm mức cố định[4].

Lại thấy ruộng núi có thể trồng lúa, nhưng dân lười không cày cấy, bèn ra lệnh mỗi tháng cấp cỏ cho ngựa phải nộp bằng hiện vật, từ đó ruộng núi đều được khai khẩn. Khi đó gặp năm đói kém, ông muốn mở kho quan cứu tế trước rồi mới tâu lên, nhưng Chuyển vận sứ cho rằng không được, Doãn Tắc nói: “Nếu phải chờ báo thì ít nhất cũng mất một tháng, khi đó người đói sẽ không kịp cứu.” Tuy nhiên, lời ông không được nghe.

Sang năm sau lại gặp nạn đói, ông lại muốn cứu tế trước, Chuyển vận sứ cương quyết không cho phép, Doãn Tắc xin đem gia sản làm thế chấp, mới được mở kho bán gạo rẻ. Từ đó, ông chiêu mộ những người đói có sức vóc sung vào quân ngũ, được một vạn người. Chuyển vận sứ xin điều số quân mộ này đi phòng thủ “Thiệu Châu” chống lại man tộc[5], Doãn Tắc nói: “Hiện nay man tộc không gây rối, vô cớ tăng thêm quân đồn trú chỉ khiến biên giới thêm loạn. Hơn nữa, quân mới chiêu mộ, đói yếu, chưa đủ sức đi phòng thủ.” Bèn tâu xin bãi bỏ việc này.

Từ đó, dân chúng liệt kê những thành tích của Doãn Tắc, đến yêu cầu An phủ sứ xin cho ông ở lại. An phủ sứ tâu lên, Vua ban chiếu khen ngợi. Khi triệu hồi, ông được đối đáp ba ngày liền, Vua nói: “Tất Sĩ An thật không lầm người.”

(Bản truyện ghi rằng An phủ sứ là Trần Nghiêu Tẩu, năm Hàm Bình thứ hai tháng ba đi an phủ Quảng Đông, Tây, không đến Hồ Nam, có lẽ chỉ đi ngang qua. Lại tháng giêng năm nay, Nghiêu Tẩu còn sang Thiểm Tây làm việc, e rằng việc tâu xin này không phải do Nghiêu Tẩu. Lại theo sách Thực lục chỉ ghi rằng quan dân xin cho Doãn Tắc và Lam Châu Trương Doãn Chính ở lại, không nói An phủ sứ tâu lên, nay tạm theo truyện Doãn Tắc, bỏ qua tên vị sứ giả. Việc miễn thuế trâu vào ngày Bính Ngọ tháng tám năm thứ tư, nay ghi chung vào. Việc triệu hồi Doãn Tắc, cần tra xét năm tháng cụ thể.)

[15] Ngày Tân Dậu, Vua ngự tại điện nhỏ để duyệt binh. Phó Binh mã sứ thuộc Thần kị là Tiêu Ác tự nhận có thể múa cây thương sắt nặng mười lăm cân, được lệnh thử sức. Ác múa trên lưng ngựa, đi lại như bay, liền được thăng làm Bản quân sứ.

[16] Ngày Nhâm Tuất, ban cho ứng cử nhân Lâm Đào danh hiệu đồng tiến sĩ xuất thân. Đào dự thi tại Học sĩ viện nhưng không đạt, Vua đang muốn tìm người tài giỏi, nên đặc biệt khen thưởng.

[17] Chuyển vận sứ Hà Đông là Phạm Chính Từ tâu: “Xin từ nay các quan Mạc chức sau nửa năm nhậm chức, bắt trưởng lại và thông phán xét năng lực rồi tâu lên.” Vua chuẩn tấu.

[18] Ngày Ất Sửu, lệnh hai chế và các quan ở Quán các xem xét lại việc Vũ cử và thứ tự nhập quan của người được tuyển chọn, sau đó không thực hiện.

(Mùa đông năm trước, Triệu An Nhân dâng sớ nói Vũ cử đang bàn việc khôi phục, có lẽ chỉ việc này.)

[19] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu: “Từ nay các cử nhân do hai kinh và các lộ tiến cử, phải xét trước hành vi thực tế. Nếu văn chương khá nhưng đạo đức có khuyết, hoặc gửi thư nặc danh, dùng lời lẽ xúc phạm bề trên, đều phải nghiêm trị, đuổi về quê làm dịch vụ, vĩnh viễn không được dự thi. Nếu ai dám tiến cử, quan lại liên quan sẽ bị xét tội, đồng thời giao Ngự sử đài giám sát việc này.”

[20] Thái tử Thiếu phó đã về hưu, được tặng chức Thái tử Thái bảo là Tân Trọng Phủ qua đời, được ban thụy là Khang Tiết.

[21] Ngày Kỷ Tỵ, lệnh cho Huyện lệnh Lỗ Sơn là Lý Đán làm Đại Lý tự thừa, ban áo đỏ. Khi ấy, dân huyện là Lưu Dụng tụ tập đồ đảng, làm phù sấm, mưu phản loạn. Đán biết chuyện, bắt hết bọn chúng, giải về kinh đô, Ngự sử đài tra hỏi xác thực, nên được khen thưởng. Dụng và đồng bọn bị xử lăng trì ở các cổng kinh thành, những kẻ liên đới bị đánh gậy và đày đến nơi xa xôi, thân thích và bạn bè không bị truy cứu.

[22] Ngày Canh Ngọ, Tri huyện Tuấn Nghi là Phàn Chứng xin được bổ nhiệm ngoại chức. Vua bảo các Tể thần: “Kinh đô đông đúc, huyện gần kinh là nơi trọng yếu. Nếu chọn được người tài, dân sự sẽ ổn thỏa, nên chọn người có đạo đức và không sợ quyền thế để đảm nhận.”

(Chứng là người Trần Châu.)

[23] Ngày Tân Mùi, Lôi Hữu Chung sai cháu là Phụng lễ lang Lôi Hiếu Tiên mang giáo và lọng từng thu được của Vương Quân vào tâu lên. Vua đưa cho tả hữu xem, nhân đó hỏi Hiếu Tiên về nguyên nhân đánh bại giặc, rồi cười bảo Điện tiền đô chỉ huy sứ Phạm Đình Triệu rằng: “Bọn này chỉ là giặc chuột, dù có cố thủ trong thành, cũng chỉ tính ngày là bắt được mà thôi.”

(Theo ‘Lôi Hiếu Tiên truyền’: khi Vương Quân làm phản, Hiếu Tiên theo chú là Hữu Chung tiến đánh, giao chiến với giặc ở cầu Thăng Tiên, chém được hàng trăm đầu, thu được giáo vàng và lọng vàng của Vương Quân dâng lên, được cải làm Tướng tác giám thừa. Việc này khớp với ghi chép. Nhưng sách này đã ghi vào ngày Giáp Ngọ tháng 3 việc sai con là Hiếu Nhược mang tấu chương vào triều, mà ‘Tống sử’ cũng chép Hiếu Nhược được cải bổ làm Cung phụng quan, có chỗ trùng lặp và sai sót.)

[24] Trương Tư Quân ỷ vào công lao dẹp giặc, tỏ ra kiêu ngạo. Bá Tây úy Phó Thu có con ngựa tốt, Tư Quân đòi lấy, Thu không chịu, Tư Quân nổi giận, lấy cớ chậm trễ việc vận lương, liền chém đầu Thu. Gia đình Thu đến kinh kêu oan, vì thế Vua sai Cung bị khố phó sứ Khai Phong là Trương Hú làm Đô tuần kiểm các châu Miên, Hán, triệu Tư Quân giao cho Ngự sử đài xét xử, tội đáng chết, nhưng đặc cách tha chết, tước bỏ tịch tịch, lưu đày đến Phong châu.

(Việc Tư Quân bị tước tịch, ‘Thực lục’ chép vào ngày Nhâm Tý tháng 10, nay gộp chép lại. Việc Tư Quân bị triệu về kinh bắt giam, không rõ thời gian, căn cứ vào ‘Tục kỳ cựu truyện’ và ‘Quốc sử’, đều chép vào tháng 4, nay nhân việc Lôi Hiếu Tiên tâu thắng trận, phụ chép sự việc này.)

[25] Ngày Nhâm Thân, vì Tây Kinh Tả tàng khố sứ Quách Sùng Tín mất, Vua không thiết triều, truy tặng chức Phúc Châu quan sát sứ, sai Trung sứ lo việc tang. Sùng Tín là con thứ của Quách Thủ Văn. Các cơ quan xưa nay không có lệ truy tặng chức tước và bãi triều, vì là anh của Hoàng hậu nên được ân lễ đặc biệt.

[26] Hữu gián nghị đại phu, Đại phu kiêm Tri ích châu Ngưu Miện bị tước hết quan tịch, lưu đày đến Đam châu. Tây xuyên chuyển vận sứ, Từ bộ lang trung, Trực tập hiền viện Trương Thích cũng bị tước quan tịch, được bổ làm Liên châu tham quân.

Ban đầu, Ngưu Miện và Trương Thích chạy về Đông xuyên, nhưng người Đông xuyên không tiếp nhận. Triều đình ra chiếu lệnh họ về kinh, đến Trường An, liền theo lệnh xét xử. Pháp quan bàn luận rằng Ngưu Miện đáng phải chết, nhưng triều đình đặc biệt tha tội. Các chức thông phán trở xuống đều bị giáng chức hoặc bãi nhiệm. Trước đó, Trương Vịnh từ Thục trở về, nghe tin Ngưu Miện thay thế mình, liền nói: “Ngưu Miện không phải là người có tài trị dân, làm sao có thể yên ổn được!” Quả nhiên sau đó đúng như vậy.

[27] Ngày Quý Dậu, bọn giặc Lỗ Sơn Lưu Dụng cùng bảy người, cùng với Long vệ quân sứ Trương Năng, vì tội đồng loạt xem thiên văn, bàn sấm vĩ, âm mưu kết đảng gây loạn, đều bị xử tử ở các cửa thành kinh đô. Những kẻ đồng mưu cũng bị chém, người liên lụy bị đánh bằng roi, lưu đày đến nơi xa xôi.

[28] Ngày Ất Hợi, triều đình ra chiếu lệnh các châu không được cấp giấy công văn cho tăng ni đi du lễ ở vùng biên giới.

[29] Triều đình ra chiếu lệnh các chức vụ mạc phủ tại Xuyên Hạp, cùng quan châu huyện, đều sẽ thay thế sau hai năm.

[30] Tháng 5, ngày Đinh Sửu, triều đình ban bố đức âm: “Giảm án cho tù nhân tử tội trong thiên hạ, tội lưu đày trở xuống đều được tha bổng. Những tội ác như thập ác, cướp giết, giết người cố ý, mưu sát, tham nhũng phạm pháp, đều xử theo luật. Dân chúng ở các lộ Hoài nam, Giang, Chiết, Kinh hồ và các châu gần kinh đô, từng bị điều động phục dịch hoặc mới trở về nghề cũ, đều được miễn thuế chưa đóng năm trước. Ruộng bỏ hoang trong thiên hạ, các huyện, xã không kịp khai khẩn, thuế đóng tại thôn bảo, đều được miễn trừ. Các cử nhân ở Hà bắc, Truy, Thanh, Tề châu, từng qua những nơi bị giặc cướp phá, được miễn kỳ thi. Quan lại và dân chúng trong thiên hạ, có người võ nghệ cao cường và tài năng xuất chúng, lệnh cho các trưởng quan tiến cử về kinh. Quân loạn ở Ích châu, trừ Vương Quân và những kẻ đồng mưu không được tha, những người bị ép theo, nếu quy thuận, đều được tha.”

[31] Quan lại và tướng hiệu ở Xuyên Hạp xin được nhận tiền đồng, mỗi một đồng tiền đồng được đổi bằng năm đồng tiền sắt, và được cấp gấp đôi.

Trước đó, Thừa tướng Trương Tề Hiền dâng tấu: “Nỗi lo hiện nay là tiền tệ chưa nhiều, mong chọn sứ thần đến các nơi khảo sát, tăng giá và dụ dỗ dân chúng khai thác chì thiếc, đồng thời kiểm tra các mỏ đồng dễ kiếm củi than để đặt lò đúc tiền. Làm như vậy, trong hai năm có thể thu được một trăm năm mươi vạn quan.” Lập tức cử Ngu bộ viên ngoại lang Phùng Lượng[6], (chưa rõ.) và Nội cung phụng quan Bạch Thừa Duệ đi lo việc này.

Ngày Canh Thìn, Lượng và các quan báo rằng các châu Nhiêu, Trì, Giang, Kiến mỗi năm đúc một trăm ba mươi lăm vạn quan tiền, đồng và chì đều dư thừa. Bèn phong Phùng Lượng làm Giang Nam chuyển vận phó sứ kiêm Đô đại đề điểm Giang Nam, Phúc Kiến lộ chú tiền sự, Thừa Duệ làm đồng đề điểm.

[32] Lý Kế Thiên đánh cướp trại Trọc Luân thuộc châu Lân, Kiềm hạt Tây Kinh tả tàng khố phó sứ Lưu Văn Chất đánh đuổi được chúng. Ngày Quý Mùi, ban chiếu khen thưởng.

(Theo bản truyện của Văn Chất, nói rằng Văn Chất làm Kiềm hạt trại Trọc Luân, tù trưởng phiên Vạn Bảo Di đến cướp, Văn Chất đánh đuổi được, thừa thắng chiếm trại của chúng, bắt được hàng vạn trâu dê và khí giới, được ban áo gấm, đai vàng, điều làm tri châu Khánh, không ghi việc đánh Lý Kế Thiên, khác với Thực lục, cần xem xét.)

[33] Quan sát suy quan châu Vận là Vương Chiêm tự nhận công lao chống giặc khi làm quan ở châu Tập trước đây. Ngày Ất Dậu, bổ nhiệm Chiêm làm Tây đầu cung phụng quan.

[34] Ngày Đinh Hợi, điều Khấu Chuẩn từ đồng tri châu Đồng, công bộ thị lang, sang làm tri phủ Phượng Tường, vì Chuẩn bị Thông phán Lưu Chửng tố cáo.

(Theo bản truyện của Chuẩn: Từ châu Đồng về triều, đi qua huyện Văn Hương, lại bị điều làm tri phủ Phượng Tường. Khác với Thực lục, Thực lục bản khác nói rằng bị thuộc hạ của Thông phán Lưu Chửng tố cáo, nhưng ghi việc này đều không rõ, cần xem xét.)

[35] Bộ thự châu Đại, Chiêu hóa lưu hậu Khổng Thủ Chính tự nhận đã bốn lần làm quan ở Nhạn Môn, biên giới yên ổn lâu dài, mong được điều về tiền tuyến phía đông bắc. Ngày Mậu Tý, bổ nhiệm Thủ Chính làm Phó bộ thự châu Định.

[36] Ngày Tân Mão, ban chiếu rằng: “Năm ngoái, số người được cử trong thiên hạ vượt quá vạn người, lúc khảo hạch, phần nhiều sai lầm và lạm dụng. Khi tiến cử và đưa đi, thường dung túng sự may rủi. Cần phải tuân theo pháp điển để cảnh cáo các quan. Lại nữa, trước đây từ cống viện tâu lên các châu về những người được cử không đủ tiêu chuẩn, triều đình thường lo nhiều người bị đình chỉ, nên có thể khoan dung. Nhằm trừng trị tệ nạn trước, nay lại ban chiếu minh văn. Từ nay, những kẻ được tiến cử một cách lạm dụng và những người tài thật sự bị bỏ sót, đều phải khảo thí lại. Ai không đạt, đều xử theo luật.”

[37] Ngày Nhâm Thìn, Mã bộ quân Phó đô chỉ huy sứ, Uy Tắc tiết độ sứ Vương Hán Trung từ Kinh Nguyên đến triều.

[38] Ngày Bính Thân, Vua ngự tại điện nhỏ, thiên bổ chức vụ quân sự, tất cả mười một ngày mới xong. Từ Long Vệ hữu đệ nhị quân Đô chỉ huy sứ, Ân Châu thứ sử Chu Huấn trở xuống, tổng cộng có một nghìn ba mươi mốt người được thăng chức.

(Chu Huấn, chưa thấy ghi chép.)

[39] Ngự tại điện Sùng Chính đối đáp với Lễ bộ thượng thư Ôn Trọng Thư ở phía bắc điện Sùng Chính, tổng cộng năm khắc.

[40] Ngày Đinh Dậu, Hữu Thần Vũ quân tướng quân Tiền Duy Diễn được bổ làm Thái bộc thiếu khanh. Duy Diễn là con của Tiền Thục, từ nhỏ hiếu học, nhân đó dâng lên các bài văn mình viết, được triệu đến học sĩ viện khảo thí, rồi có mệnh lệnh này.

[41] Ngày Mậu Tuất, ban chiếu rằng: Dân châu Thâm, Bác, Minh, Kỳ và quân Càn Ninh bị giặc Nhung cướp phá, không thể tiếp tục làm ruộng, gồm một nghìn ba trăm chín mươi tám hộ, được miễn thuế năm sau, quan lại phải thăm hỏi an ủi họ.

[42] Ngày Kỷ Hợi, ban chiếu rằng: Tội lưu và tử hình trong ngục của Ngự sử đài, phải do quan chức từ cấp Gián nghị trở lên ghi chép hỏi cung. Tử hình ở Khai Phong phủ, chọn quan triều ghi chép hỏi cung.

Trước đây, Tống Đàm, Nhiếp Vịnh cùng những người khác bị bắt vì tội đổi tiền đồng lấy tiền sắt, bị đưa xuống ngục Ngự sử, đều bị đánh trượng và đày đi làm lao dịch. Sau đó, Thái Tông biết họ bị oan, ban chiếu hỏi Đàm, Đàm khóc nói: “Ngự sử đài không cho biện bạch, bắt phải khai nhận như lời tra hỏi.” Thái Tông thương xót, bèn ban chiếu từ nay mỗi khi Ngự sử đài tâu xử án, phải cử quan đến đài ghi chép hỏi cung. Việc này sau bị bỏ, đến nay lại được thi hành.

(Đàm bị đánh trượng vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 7, trong Thực lục năm Cảnh Đức thứ ba chỉ ghi riêng việc che giấu cho Đàm, xem đây có thể thấy.)

[43] Quan Tri phúc châu, Điện trung thị ngự sử Phùng Kháng qua đời, triều đình ban cho gia đình ông mười vạn tiền, con trai ông là Nguyên Ứng được ban học vị đồng học cứu. Phùng Kháng là con của Phùng Mật, từng làm qua các chức vụ ở các quận phiên, đều có thành tích chính sự, nên được đặc biệt khen thưởng.

[44] Ngày Canh Tý, triều đình ban chiếu tạm ngừng việc thi cử suốt một năm.

[45] Loạn của Vương Quân, có mấy trăm binh lính trốn tránh, đêm đến gõ cửa thành Tử Châu xin vào. Quan Tri châu, Tả gián nghị đại phu Phùng Khởi vì không biết thực hư thế nào nên không cho vào ngay, chẳng mấy chốc bọn chúng đều phản bội bỏ đi. Triều đình bàn rằng Khởi không có kế sách gì, bèn triệu hồi ông về, đến Phố Điền. Ngày Nhâm Dần, lại sai ông làm Tri Kim Châu. Sau vài tháng, Khởi dâng sớ tự trình bày, được điều sang Tương Châu.

[46] Trước đó, triều đình sai Đô quan lang trung, Trực sử quán Lưu Mông Tẩu và những người khác khảo thí các cử nhân ở các châu Hà Bắc, Thanh Tề, chọn được 582 người đạt chuẩn. Vua thân hành khảo thí, rồi ban cho Tiến sĩ Tề Cách và 12 người khác, cùng 345 người đỗ các khoa khác, được ban học vị cập đệ, đồng xuất thân. Có hơn 500 người thi rớt xin thi võ nghệ và được xét tài năng để bổ dụng, đều được ban tiền lộ phí và an ủi cho về, lệnh cho Lễ bộ ghi chép thành một kỳ thi. Nếu họ có thể chống giặc, sẽ được thưởng quan chức.

[47] Ngày Giáp Thìn, sông vỡ đê Vương Lăng Tảo ở châu Vận, nước dâng tràn vào khu vực Cự Dã, chảy vào Hoài, Tứ, thế nước hung hãn, đe dọa thành châu. Triều đình sai Bộ quân đô ngu hậu Trương Tiến, Nội thị phó đô tri Diêm Thừa Hàn dẫn ba vạn dân phu các châu đi đắp đê, lại phái sứ giả đi cứu tế dân bị thiệt hại, cấp lương thực. Quan Tri châu Mã Tương, Thông phán Khổng Húc bị cách chức, quan Tuần đê, Tả tàng khố sứ Lý Kế Nguyên bị đày đi Hứa Châu.

[48] Phúc Tân úy Lưu Oánh mang rượu thịt đến chùa, mổ chó uống rượu, đánh một quan viên trong cung ba lần một ngày, khiến người đó chết. Quyền phán Đại Lý tự Vương Tế luận tội xử tử, nhưng nhờ ân xá nên được giảm xuống đi đày. Tri thẩm hình viện Vương Khâm Nhược vốn không ưa Vương Tế, lại thấy Tế từng cãi Thừa tướng Trương Tề Hiền, thường xử án khoan dung, nên tâu rằng Lưu Oánh không nên được tha nhờ ân xá. Trương Tề Hiền nhân việc này, xử án theo lời tâu của Khâm Nhược, Vương Tế bị buộc tội cố ý xử sai và bị cách chức.

(Việc này không rõ thời gian, tháng năm ngày Quý Mùi, Vương Khâm Nhược mới nhận chức Tri thẩm hình, nên được ghi chép cuối tháng năm.)

[49] Các binh sĩ và hiệu úy đồn trú, tuần kiểm ở các châu, huyện thuộc Xuyên, Hạp, nếu được chi trả một đồng tiền đồng mà đổi thành năm đồng tiền sắt, thì nay được chi trả mười đồng tiền sắt. Các quan chức, sứ thần ở các châu, huyện thuộc Xuyên, Hạp, cùng tiền lương và phí dịch vụ cũng được chi trả như vậy.

[50] Dân ở Bảo Châu là Triệu Gia Siêu, thuộc dòng dõi xa của hoàng tộc, sống tại thôn Đông An, hương Phong Quy, huyện Bảo Tắc, vốn là quê cũ của Tuyên Tổ. Vua sai Nội điện sùng ban Mạch Thủ Ân triệu Gia Siêu đến kinh. Ngày mùng 1 tháng sáu, ngày Bính Ngọ, phong chức Tả đồn vệ tướng quân cho ông về hưu, đặc cách cấp đủ bổng lộc, lụa, tiền; các anh em, con cháu đều được gia phong tước vị, vợ con được ban cho nhiều vật phẩm khác nhau.

[51] Trước đó, Vua lo lắng sâu sắc về dịch bệnh ở Lưỡng Chiết, sai Tam quán tra cứu các linh tích rồi báo lại, sau đó phái sứ giả đi tế khắp các núi sông, đền miếu để cầu phúc cho dân.

[52] Ngày Đinh Mùi, ban chiếu rằng các quan ở dọc sông Hoàng, Biện phải thường xuyên tuần tra, bảo vệ đê, không được sai đi nơi khác. Nếu có khuyết chức, Lưu nội tuyển phải lập tức bổ nhiệm người thay thế, không để thiếu người.

[53] Ngày Kỷ Dậu, miễn thuế hạ cho dân Ích Châu năm nay.

[54] Trước đó, sông vỡ đê, nước tràn vào Tế, Tứ, thành Huyện Châu thường chịu cảnh ngập lụt. Đến lúc này, mưa lớn suốt tháng, nước càng dâng cao. Vua bèn sai Công bộ lang trung Trần Nhược Chuyết cùng Diêm Thừa Hàn lên kế hoạch dời thành. Nhược Chuyết xin dời đến cao nguyên ở hương Mân Dương, cách đông nam năm mươi dặm. Vua chấp thuận. Nhược Chuyết là cháu của Tư Nhượng.

(Tư Nhượng, xuất hiện lần đầu vào năm Thiên Phúc thứ 6 đời Tấn.)

[55] Ngày Tân Hợi, Vua hạ chiếu rằng các châu quân ở Hà Bắc, phàm có việc thu thuế, các quan Trưởng lại phải tự xem xét sổ sách và phân bổ công bằng, không được giao phó hết cho các viên chức Sương trấn, ai vi phạm sẽ bị trị tội.

[56] Vua thấy rằng Văn tư sứ Lý Thủ Ân đã lâu phục vụ nơi biên cương, lập nhiều công trạng, ngày Nhâm Tý, bèn thăng ông làm Lũng Châu thứ sử, kiêm quản Linh Châu. Lý Thủ Ân là con trai của Lý Hán Siêu.

[57] Ngày Ất Mão, vì vùng Kinh Hồ thiếu lương thực, Vua ra lệnh cho các địa phương từ Quế Châu trở về phía bắc không được cấm người buôn bán lương thực, đồng thời miễn thuế má cho họ.

[58] Ngày Nhâm Tuất, Vua hạ chiếu cho dân chúng ở vùng biên giới, từ nay không được tự ý vượt sang biên giới phía bắc để cướp bóc, ai vi phạm sẽ bị bắt giữ và xét xử rồi báo lên triều đình.

[59] Ngày Bính Dần, Trứ tác tá lang Hồ Tắc dâng tấu, xin bắt các châu huyện ở Hà Bắc trồng cây du và liễu để chuẩn bị nguyên liệu, Vua đồng ý.

[60] Vua cho rằng sau chiến tranh lớn, cần phái đại thần đi tuần thị và an ủi dân chúng hai vùng Hà Bắc, Hà Đông. Ban đầu, Vua định cử Thừa tướng Trương Tề Hiền, nhưng ông từ chối. Ngày Đinh Mão, Vua bèn cử Tham tri chính sự Hướng Mẫn Trung làm Tuyên phủ đại sứ hai vùng Hà Bắc, Hà Đông, Xu mật trực học sĩ Phùng Chửng và Trần Nghiêu Tẩu làm Phó đại sứ, điều động một vạn quân cấm vệ đi theo. Đến nơi, họ sẽ thăm hỏi dân tình, ban yến tiệc và ban thưởng cho quan lại.

(Theo ‘Bách quan biểu’ thì gọi là Tuyên phủ sứ biên giới, không có chữ “đại”.)

[61] Trước đó, Vua cử Điện trung thiếu giám Lý Xương Linh làm Tri châu Tử Châu. Tháng này, lại cử Cấp sự trung Đổng Nghiễm làm Tri châu Thọ Châu. Vương Đức Duệ và Dương Giam từng giữ chức Chuyển vận sứ nhưng sau bị mất chức, chỉ làm quan nhỏ ở các huyện gần kinh đô. Ngày Ất Hợi, Thị ngự sử tri tạp sự Phạm Chính Từ dâng tấu, nói rằng Lý Xương Linh và những người khác nổi tiếng tham nhũng, xin bãi nhiệm họ khỏi chức vụ dân chính. Vua hạ chiếu thu lại sắc bổ nhiệm của Đổng Nghiễm, còn lại đều chọn quan khác thay thế.

[62] Hộ bộ phán quan, Hữu ty gián, Trực sử quán Tôn Hà được bổ làm Kinh Đông chuyển vận phó sứ. Tôn Hà dâng sớ rằng:

“Việc trị quốc chung, quan mục thủ là gốc, quan thân dân thì lệnh trưởng là cần thiết. Đời trước, Thứ sử vào triều làm Tam công, Lang quan ra làm quan cai trị trăm dặm, việc tuyển chọn có thể thấy được[7]. Nay thì kết hợp cả pháp chế tuyển chọn nhân tài của đời Tùy, Đường, tham khảo chế độ khảo sát thành tích của đời Chu, Hán, nhưng những người nhờ ấm tước mà vào triều, giữ chức trưởng ngàn kỵ, bọn tư đồ làm chân tay, lại được chia phong trăm dặm, hoặc mắt không biết chữ, hoặc lòng chỉ nghĩ đến của cải, gặp thời thịnh trị, càng nên cải cách.

Mong lệnh cho Thẩm quan viện và Lại bộ thuyên chọn, phàm ai nhờ ấm tước mà vào làm quan triều đình, nếu không có thành tích rõ ràng, thì không được làm Tri châu, quan châu huyện; những người xuất thân từ lưu ngoại, nếu không có hành vi đặc biệt, thì không được bổ nhiệm làm Huyện lệnh. Như vậy mới phân biệt được phẩm hạnh, khuyến khích sĩ dân.

Lại nữa, Tam ty coi giữ tiền tài, nắm giữ của cải trong thiên hạ, những người như Lý Khôi, Cảnh Thọ Xương, Lưu Yến[8], Đệ Ngũ Kì thời xưa, tuy tiếng là bề tôi tụ thuế, nhưng đều có tài thông kinh tế, dân không phải nộp thêm thuế, quân không thiếu lương thực. Về sau thiết lập thêm ba chức ty, chia quyền lợi, bọn tiểu lại nghìn người[9], quan lại tăng gấp bội[10], mỗi nơi đều có hình ngục, liên tục ban bố lệnh văn, giấy tờ chất đống, chỉ lo giải quyết sự việc, thi hành bên ngoài, càng thêm phiền phức[11]. Thần tạm coi việc kế cục, từng cùng Đinh Vị, Chu Đài Phù bàn bạc, những loại giấy tờ văn thư của ba ty, có thể giảm bớt một nửa.

Mong chọn người cận thần hiểu việc trị nước, cẩn thận, nhanh nhẹn, cùng với các quan của ba ty giảm bớt việc này.

Lại nói, chức vụ pháp quan liên quan đến tính mạng con người, Thái Tông từng ban chiếu thư, các châu Ty Lý, Tư Pháp, tăng cấp bậc, tăng bổng lộc. Nay khi Lại Bộ định bổ nhiệm, chỉ xét hỏi về tư cách, người tinh thông luật lệnh lại được sai đi bắt trộm cướp, người không hiểu chương trình lại được sai xét xử, dẫn đến hỗn loạn, bàn bạc thay thế, nhẹ thì dân chúng oan ức, nặng thì hạn hán gây tai họa.

Mong rằng từ nay Ty Lý, Tư Pháp, đều chọn người xuất thân tinh thông luật pháp để bổ nhiệm, nếu không đủ, thì từ những người đang làm Ty Hộ, Bạ, Úy mà chọn lấy, nếu vẫn không đủ thì chọn người quen việc xét xử, luyện tập pháp lệnh, thi đỗ mà không có lỗi riêng, vượt cấp bổ nhiệm. Như thế được gần với sự cai trị cổ xưa, mở mang nền tảng thái bình.”

Không lâu được điều nhậm chức Lưỡng Chiết Chuyển vận sứ.

Hà có danh trong giới học giả, siêng năng tiếp xúc với sĩ tộc, nhưng tính nóng nảy không khoan dung, làm sứ giả, chuyên dùng sự nghiêm khắc, đến các châu quản, tra xét tỉ mỉ, lại dịch hàng ngày bị đánh đập, quan thuộc nhiều người sợ bị khiển trách, thiên hạ chẳng khen là hiền.

[63] Cam Châu Hồi Cốt Khả Hãn Vương sai sứ An Tiến đến cống nạp sản vật địa phương.

[64] Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Dần, Vua ban ra 32 bản trận đồ để cho các phụ thần xem.

[65] Ngày Kỷ Mão, lệnh cho Thiên Hùng quân phủ Tri phủ, Chương Đức tiết độ sứ Trương Vĩnh Đức trở về bản trấn, vì tuổi già bệnh tật, để tiện dưỡng già.

[66] Ngày Tân Tỵ, Mã quân Phó đô chỉ huy sứ Vương Hán Trung làm Cao Dương quan hành doanh đô bộ thự.

[67] Ngày Mậu Tý, định số lượng người hộ tống quan văn võ thay thế ở Xuyên Hạp, từ 10 người đến 3 người, đều dừng ở giới hạn Phượng Châu.

[68] Ngày Kỷ Sửu, truy tặng Kiêu dũng đệ nhất chỉ huy sứ Vương Thông làm Thành Châu Thứ sử, cho con trai là Vũ làm Đại Lý Bình sự, ban 200 lạng bạc trắng. Thông đóng quân ở Ích Châu, Vương Quân làm loạn, Thông chống cự, bị hại, nên được khen thưởng ưu đãi.

[69] Ngày Bính Thân, Chuyển vận sứ Giang Nam là Nhiệm Trung Chánh tâu: “Theo chiếu chỉ, tại châu Nhiêu đặt trường mua thu mua trà ở các huyện Phù Lương, Vụ Nguyên, Kỳ Môn, nhưng việc này bất tiện cho dân, nên sai thần cùng Tam ban tá chức Hồ Trừng xem xét, tính toán kỹ lưỡng. Nay thần đích thân đến kho trà hai châu Nhiêu, Hấp, hỏi han phong tục từng nơi, dân đều nói rằng khe suối hiểm trở, việc vận chuyển khó khăn, mong được khôi phục lại kho trà như trước để thuận tiện nộp thuế. Dân huyện Phù Lương như Lý Tư Nghiêu cũng nguyện tự chuẩn bị gỗ, xây dựng lại kho trà.” Vua đồng ý.

Lại hạ chiếu rằng: “Thuế sơn lâm, hồ đầm vốn là của chung, nếu thuận tiện cho dân, há vì lợi riêng. Các quan tâu việc không thấu hiểu đại cục, chỉ lo cải cách mà không nghĩ đến dân. Đặc sai sứ giả đến hỏi thăm nỗi khổ, tuân theo chế độ cũ để thỏa lòng dân. Đã lệnh cho ty chế trí trà muối và chuyển vận sứ Giang Nam y theo lời tâu của Nhiệm Trung Chánh.”

[70] Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu cho các quan văn võ thường tham, khi vào chầu và lui chầu, nếu không qua cửa chính mà không có công việc lại tự vào Trung thư, thì giao cho Ngự sử đài dâng sớ hặc tội.

[71] Vua thấy Giang, Chiết đói kém, ngày Kỷ Hợi, sai Hàn lâm thị độc học sĩ Hạ Hầu Kiều và Thị giảng học sĩ Hình Bính làm Tuần phủ sứ Giang, Chiết, Tri chế cáo Triệu An Nhân, Trực bí các Phan Thận Tu làm phó. Đến nơi, hỏi thăm dân về nỗi khổ, xử lý các vụ kiện tụng. Lại sai Hạ Hầu Kiều tập hợp đạo sĩ ở núi Lư Sơn làm lễ đại trai. Kiều thu thập hơn hai mươi việc dân khổ tâu lên, Vua lập tức hạ chiếu cải cách.

[72] Ngày Canh Tý, Trưởng công chúa nước Tần xin đặt năm hộ trông coi mộ cho Phò mã đô uý Vương Thừa Diễn, Vua đồng ý.

[73] Ban đầu, Kinh Hồ Giang Chiết đô tuần kiểm sứ, Tây kinh Tả tàng khố sứ, Khang châu thứ sử Dương Doãn Cung vì bệnh tâu lên, Vua hạ chiếu cho con ông là Đại lý bình sự Cáo được ngựa trạm về thăm bệnh, lại sai trung sứ đến hỏi thăm. Tháng đó, ông mất tại châu Thăng. Ngày Giáp Thìn, ban cho con ông là Cáo học vị Đồng học cứu, cho tiền tang hai mươi vạn, lụa trăm tấm, lại cấp thêm tiền năm vạn, lụa năm mươi tấm cho gia đình. Lệnh quan châu Dương xây một khu nhà ban cho.

[74] Vua dụ các quan phụ chính: “Lệnh ghi chép công trạng và lỗi lầm của các quan viên trong ngoài qua các nhiệm kỳ, biên soạn thành sách dâng lên, những người đáng được ân điển phục dụng thì biên riêng để Trẫm xem xét.”

[75] Tháng 8, ngày Đinh Mùi, ban chiếu khen thưởng Chuyển vận sứ Hà Đông Tống Đoàn, do Đô bộ thự Tịnh Đại Cao Quỳnh và các quan khác tâu rằng ông có chính tích tốt.

[76] Ra chiếu từ nay, vật phẩm dâng lên Hoàng thái hậu đều gọi là “cung thượng”.

[77] Ngày Tân Hợi, do vùng Kinh Đông bị lụt, sai Thái tử trung xá Trương Thư, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Trương Hi đến các đạo làm việc an ủi khắp nơi.

[78] Ngày Quý Sửu, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tống Bạch và các quan tâu xin định lại cách xưng hô của quan viên trong ngoài, đề nghị ban xuống Ngự sử đài, Tuyên huy viện, Cáp môn và các lộ chuyển vận sứ nghiêm khắc thông báo, bắt mọi người tuân theo, ai vi phạm sẽ bị xử như phạm luật, được chấp thuận. Trước đó, cách xưng hô của quan viên trong ngoài thường vượt quá phẩm cấp, Tri tạp ngự sử Phạm Chính Từ xin ban hành điều ước[12], nên có mệnh lệnh này.

[79] Lại ra chiếu định nơi các quan xuống ngựa khi vào triều, lệnh Hoàng thành ty thông báo.

[80] Ngày Giáp Dần, bổ Như kinh sứ Hàn Sùng Huấn làm Tây thượng Cáp môn sứ. Sùng Huấn là con của Trọng Bân, trước đây làm tri châu Thạch châu và Lân châu, khi Lý Kế Thiên lại xâm phạm biên giới châu, Sùng Huấn đều xuất binh đánh bại, nên được triệu về. Sùng Huấn tâu rằng mình đã ở vùng biên cương suốt 25 năm, Vua khen ngợi sự chăm chỉ của ông, nên có mệnh lệnh này. Sau đó, ông được cử làm Đô tuần kiểm sứ các châu Bân, Ninh, Hoàn, Khánh, Thanh Viễn.

(Việc Đô tuần kiểm ở tháng 9 ngày Canh Thìn, nay ghi chung.)

[81] Ngày Ất Mão, bổ tướng cướp Tế châu Ngụy Tiệp làm Đội trưởng Long mãnh quân. Tiệp có sức mạnh hơn người, được mọi người gọi là “Hám động sơn”, đến nay, ông đến Đăng văn tự tâu rằng mình bị bọn ác đảng ép buộc, mong được đầu thú để lập công. Vua triệu kiến, ban cho áo gấm, đai bạc và thu dụng ông.

[82] Ngày Kỷ Mùi, Vua ban chiếu cho châu Tấn lấy năm khoảnh ruộng công của huyện Tương Lăng để cấp cho Binh mã đô giám châu Tương là Ngư Ngạn Lân làm nghiệp vĩnh viễn, đồng thời miễn thuế cho ông. Ngạn Lân vốn là người châu Tuy, cùng Cao Văn Tùng về theo triều đình, nên được đối đãi hậu hĩnh. (Ngạn Lân, xem năm Thuần Hóa thứ năm).

[83] Ngày Mậu Thìn, Diêm thiết phán quan, Chế trí Giang Hoài Kinh Chiết trà diêm phàn là Vương Tử Dư kiêm nhiệm chức Hoài Nam chuyển vận sứ.

[84] Ngày Đinh Mão, Vua ban tước Công sĩ cho tiến sĩ châu Thiệu là Triệu Thế Xương và Triệu Thế Trưởng vì hai người đã đem thóc cứu giúp dân đói.

[85] Ngày Tân Mùi, Vua sai Hàn lâm học sĩ Chu Ngang đến đê Vương Lăng ở châu Vận để tế sông.

[86] Ngày Quý Dậu, Điện trung thừa, Quốc tử giám trực giảng là Thôi Di Chính vì tuổi già mắt yếu, không thể tham dự triều yết, xin từ quan. Vua cho ngồi, ân cần thăm hỏi, ban cho khí vật và tơ lụa, cho phép ông về hưu với nguyên chức, nhưng vẫn giữ chức Trực giảng.

[87] Vương Quân từ sau thất bại tại Thăng Tiên, đã phá cầu và đóng chặt cổng thành.

Lôi Hữu Chung cùng các tướng lĩnh dẫn quân triều đình tiến đến sông Thanh Viễn, bắc cầu phao vượt sông, thẳng tiến đến chân thành. Tại phía tây cổng bắc thành, họ chiếm lấy bãi cỏ cũ, rồi dựa vào đó xây dựng đồn lũy. Dựa vào hào, họ đắp núi đất, bố trí chông sừng nai, chế tạo các công cụ công thành như thang, thuyền đâm, xe đào. Thạch Phổ chuyên trách việc này. Cao Kế Huân, Trương Hú, Tôn Chính Từ tấn công phía đông thành; Thượng Quan Chính, Lý Kế Xương, Vương Nguyễn tấn công phía tây; Dương Hoài Trung cùng Tuần kiểm Mã Quý tấn công phía nam. Tướng giặc Triệu Diên Thuận dẫn toàn bộ bộ hạ hung ác ra chống cự quân triều đình. Sau đó, Diên Thuận trúng tên bỏ mạng, Thần vệ quân sứ Đinh Trọng Vạn thay thế Diên Thuận chiếm giữ lầu cổng đông thành, nhưng cũng bị quân triều đình bắn chết.

Tuy nhiên, mỗi lần tấn công thành thì trời mưa to, thành trơn trượt không thể leo lên, quân triều đình và dân phu dùng nhà hầm công thành thì quân giặc lại đào đường hầm ra đánh úp, nhiều người bị chết đuối trong hào, số người chết hơn nghìn, thế quân hơi bị suy yếu. Quân giặc mở tiệc lớn khao đám hung ác, tiếng ca hát vang ra ngoài thành. Lúc ấy đang mùa nóng ẩm, nhiều người công thành bị bệnh, Hữu Chung mua thuốc từ châu khác, tự pha chế để chữa trị.

Chiếu chỉ lại sai Lạc uyển sứ, Nhập nội phó đô tri Tần Hán làm Hai lộ Tróc tặc Chiêu an sứ. Tần Hán đến nơi, bàn bạc với Hữu Chung, quyết định đắp núi đất riêng ở cầu Cá phía bắc thành. Tháng đó, hạ được thành Dương Mã phía bắc, bèn dựng lầu địch hình cánh nhạn, phủ xe đào để tiến đánh La Thành, quân giặc cũng dựng lầu địch đối diện, đặt tên là “Lầu Hỉ Tương Phùng”.

Tháng chín, ngày Mậu Dần, quân triều đình đốt phá lầu địch, quân giặc bắt đầu nao núng, bèn xây thành nhỏ để tự vệ. Vương Quân vốn là nông dân, ngờ nghệch không có mưu lược[13]. Tể tướng giả của chúng là Trương Khải, tính tình xảo quyệt, hiểu biết sơ sài về âm dương, dùng để mê hoặc đồng bọn.

Trước đó, Quân thường tự nói rằng nếu đại quân đến[14], ông ta sẽ ra đón trước và trình bày hoàn cảnh bị ép buộc. Khải nghe tin, liền chọn con em trong quân lính làm người canh giữ Quân, không cho tiếp xúc với người khác. Sau đó, triều đình sai con cháu và thân tộc của Quân đến dưới thành kêu gọi đầu hàng, quân triều đình bắn tên để truyền lệnh, Khải nhận được tên liền đốt hết, Quân đều không biết việc này.

[88] Ban đầu, Thái Tông phá hủy thành cũ ở Tịnh châu, di dân đi, dân có người không muốn dời, vẫn ở lại. Ngày Kỷ Mão, lệnh Chuyển vận sứ thông báo dân chúng phải di dời hết, không được ở lại trong thành cũ.

[89] Ngày Canh Thìn, em trai của Tiết độ sứ Ứng Châu nước Khiết Đan là Tiêu Tích Lạt là Khẳng Đầu, cùng cháu là Chiêu Cốt, Trùng Ca đều quy hàng[15], Vua ban cho Khẳng Đầu tên là Hoài Trung, phong làm Tả Lĩnh quân Vệ tướng quân, Thứ sử Nghiêm Châu; Chiêu Cốt được ban tên là Tòng Hóa, làm Hữu Giám môn Vệ tướng quân[16]; Trùng Ca được ban tên là Tòng Thuận, làm Hữu Thiên Ngưu Vệ tướng quân, cùng được ban áo bào, đai lưng và tiền tệ.

(Bản kỷ ghi việc này vào tháng 8 ngày Canh Thìn, theo ‘Trường lịch’, tháng 8 không có ngày Canh Thìn, nay theo ‘Thực lục’ và ‘Khiết Đan truyền’.)

[90] Ngày Ất Dậu, lệnh cho Trực bí các Đỗ Hạo cùng những người khác khảo sát, phân loại năng lực tốt xấu của các quan lại ở Ty Thiên Đài rồi tâu lên.

[91] Ngày Canh Dần, lần đầu đặt ra Quần mục ty[17], lệnh cho Xu mật trực học sĩ Trần Nghiêu Tẩu làm Chế trí sứ. Việc chính sự về ngựa trước đều do các viên giám quan của Kỳ Kỵ lưỡng viện phụ trách, từ đây về sau, mọi việc chăn nuôi ngựa trong và ngoài cung, từ Kỳ Kỵ viện trở xuống, đều phải tuân theo mệnh lệnh của Quần mục ty.

[92] Vương Quân thường dùng tên tẩm thuốc độc bắn quân triều đình, trúng tên ắt chết[18].

Lôi Hữu Chung chiêu mộ các dũng sĩ cảm tử đào hầm xuyên thành, theo đường tắt trùm chăn cầm đuốc tiến vào, đốt sạch khí giới phòng thủ của giặc. Ngày Giáp Ngọ, lệnh cho các trại phía đông, tây, nam đánh trống hò reo công thành[19], Lôi Hữu Chung và Thạch Phổ phân công chỉ huy hai lều che tiến đánh.

Thạch Phổ lại đào hầm làm cửa ngầm, cửa làm xong, giặc dồn giáo chặn đường, quân triều chưa dám tiến. Có hai quân lính xin đi, hứa ban thưởng hậu hĩ, liền cầm giáo xông thẳng vào, thế giặc hơi lùi, bèn hạ được thành. Lôi Hữu Chung lên lầu nhìn xuống, giặc vẫn còn tàn quân đóng trại trước Thiên Trường Quán[20], bí mật đặt giáo gỗ ở phường Văn Ông[21]. Cao Kế Huân báo với Chuyển vận sứ Mã Lượng, xin được dùng dây có tẩm dầu hỏa, rồi tập hợp mọi người cầm giáo dài, rìu lớn, nắm đuốc tiến lên, đốt sạch giáo gỗ. Dương Hoài Trung lại đốt trại của giặc trước Thiên Trường Quán, đuổi đến cửa Đại An, lại đánh bại chúng. Trước sau giết hơn ba nghìn tên giặc.

Đêm hôm đó, vào canh hai, Vương Quân dẫn tàn quân ra cửa vạn Lý Kiều, vượt vòng vây chạy trốn. Lôi Hữu Chung vẫn nghi ngờ đảng hung ác còn ẩn náu, sai người đốt lửa giữa đường phố. Sáng hôm sau, cùng Tần Hàn lên lầu cổng, tìm bắt được viên lại từng được giặc phong làm Tam ty sứ, lập dưới lầu, chất củi bên cạnh, đốt lửa lên, bắt tất cả đàn ông to khỏe, bảo họ nhận diện, nói: “Kẻ này từng nhận ngụy chức của giặc.” Không tra hỏi thêm, liền sai tả hữu túm ném vào lửa, từ giờ Thìn đến giờ Bô, thiêu cháy mấy trăm người, tiếng oan khóc vang trời. Lý Kế Xương nghiêm cấm bộ hạ không được quấy nhiễu dân, bắt được phụ nữ và trẻ em đưa vào chùa trống, phân binh canh giữ, việc xong đều cho về nhà.

[93] Ngày Đinh Dậu, ra chiếu miễn thuế hè năm nay của ba châu Toại, Quả, Lãng ba phần mười, do ba châu này gần Tây Thục nhất, việc phu dịch hơi nặng, lại thêm châu Quả và Lãng gặp nạn lũ lụt.

[94] Ngày Tân Sửu, sư Pháp Tiên của chùa Tướng Quốc dâng vật “Thiết luân bát hồn”, nặng ba mươi ba cân, đầu đuôi có lưỡi, là khí cụ chiến đấu trên ngựa. Ông tự xưng họ Cường, quê ở châu Minh, có trăm người thân thuộc bị giặc cướp, nguyện gia nhập quân ngũ để báo đền sức lực. Vua thương tình đồng ý, bổ nhiệm làm Ngoại điện trực. Lúc ấy, đội trưởng Thần vệ thủy quân Đường Phúc dâng hỏa tiễn, hỏa cầu, hỏa tật lê; thợ đóng thuyền Hạng Uyển dâng mẫu thuyền chiến chuyển hải. Đều được ban tiền.

[95] Ngày Nhâm Dần, nha hiệu châu U là Mã Quỳnh Chiếu và nha hiệu châu Sóc là Hàn Cống đem cả gia tộc về theo triều đình, đều được bổ làm tướng trấn ở các châu ngoại, ban cho y phục và lụa.

[96] Tiết độ sứ Chương Đức, kiêm Thị trung, tước Vệ quốc công, được phong tặng Trung thư lệnh là Trương Vĩnh Đức qua đời. Vĩnh Đức đọc rộng sách vở, thích ngâm thơ, đối đãi lễ độ với sĩ đại phu, nên Thái Tông từng có chiếu rằng: “Hiện nay trong thiên hạ, trong hàng chư hầu, chỉ có Vĩnh Đức là người hiền minh, biết chữ mà thôi.”

[97] Tháng này, Thứ sử châu Linh và châu Lũng là Lý Thủ Ân cùng Chuyển vận sứ Thiểm Tây, Độ chi lang trung là Trần Vĩ, chở thóc cỏ qua vùng Hãn Hải, bị Lý Kế Thiên đánh chặn. Thủ Ân và Vĩ đều tử trận. Con trai Thủ Ân là Trợ giáo Quảng văn quán Tượng Chi, Nha nội chỉ huy sứ châu Lũng là Vọng Chi, em là Ký ban Thủ Trung cũng đều chết theo. Vua nghe tin, vô cùng thương xót.

Mùa đông, tháng mười, ngày mùng một Giáp Thìn, đặc biệt ban tặng Thủ Ân chức Hồng Châu Quan sát sứ, (Thủ) Tượng chức Tả Tán thiện đại phu, (Thủ) Vọng chức Nội điện Sùng ban, (Thủ) Trung chức Sùng nghi Phó sứ. Lại ghi tên con của Thủ Ân là Hựu Chi giữ chức Tả Tán thiện đại phu, Thuận Chi giữ chức Cung phụng quan, Dụng Chi giữ chức Thị cấm, Nhuận Chi giữ chức Điện trực, Khánh Chi, Thành Chi, Tàng Chi giữ chức Phụng chức. Lại ban tặng (Thủ) Vĩ chức Công bộ Thị lang, ghi tên con của (Thủ) Vĩ là Bảo Hòa giữ chức Phụng lễ lang, cháu là Bảo Ung giữ chức Kinh Triệu phủ Công tào Tham quân.

Nhuận Chi là em út của Thủ Ân, được nhận làm con nuôi, sau khi Thủ Ân mất, lại xếp vào hàng em, đổi tên thành Thủ Chí. Ở vài năm, Thủ Chí muốn chia tài sản, nhưng con cháu Thủ Ân đông, lại lo thiếu thốn, vợ của Thủ Ân là Lưu tố cáo lên Hoàng thượng. Hoàng thượng vì ông là tướng cũ, lại hy sinh vì việc nước, không muốn để họ phân chia, bèn khuyên răn họ hòa thuận, nghiêm khắc trách mắng Thủ Chí, và sai Xu mật viện triệu Hựu Chi đến để khuyên bảo.

[98] Vương Quân từ Thành Đô đột phá vây, chạy qua khúc sông Hợp Thủy, qua Quảng Đô, chiếm lĩnh Lăng, Vinh, tiến đến Phú Thuận Giám, dọc đường ép buộc quân dân, chặt cầu, chặn đường, đốt kho rồi rút đi. Lôi Hữu Chung trước đó đã lệnh cho Dương Hoài Trung dẫn quân Hổ Dực đuổi theo, hai ngày sau, Thạch Phổ tiếp tục đem toàn quân tới hỗ trợ.

Trước đó, hàng năm cứ vào ngày mùng một tháng mười, triều đình đều ban chiếu cho phủ Phú Thuận chuẩn bị rượu thịt để khao thưởng các thủ lĩnh người Man đã quy thuộc. Ngày hôm đó vừa bày biện xong thì quân của Vương Quân vừa đến, liền cùng ăn uống. Chúng định bắc bè qua sông để tiến vào địa phận người Man ở các châu Nhung, Lô, nghe tin quân truy kích của Dương Hoài Trung sắp tới, tỏ ra khinh thường. Vương Quân bảo đồng đảng: “Hãy nhanh chóng đánh bại quân của Hoài Trung, bắt chúng mang vác đồ đạc mà đi.”

Hoài Trung cách Phú Thuận sáu bảy dặm, dừng chân nghỉ ngơi ở địa danh Dương Gia thị. Bọn giặc ở phía sau thách đánh. Bên cạnh thị trấn có một cao nguyên, Hoài Trung sai năm kỵ binh thân tín lên cao nguyên do thám quân địch, rồi nói với tả hữu: “Nếu để giặc qua sông thì hối hận không kịp. Thạch Hầu sắp đến, ta nên dùng kỳ binh đánh bại chúng.” Liền dàn quân bên sông tiến đánh, quân giặc tan vỡ bỏ chạy, có kẻ vội vã xuống thuyền định qua sông để trốn thoát, Hoài Trung dùng nỏ mạnh bắn tới, làm đắm mấy chiếc thuyền.

Hoài Trung kéo cờ đánh trống tiến vào thành, Vương Quân đang ở nha môn, đồng đảng phần lớn say rượu, Quân cùng đường nên tự thắt cổ chết. Hiệu úy quân Hổ Dực Lỗ Bân chém đầu Quân đem dâng Hoài Trung. Lại thu được rất nhiều vật phẩm ngụy tạo, cờ xí, giáp ngựa, bắt hơn sáu mươi đồng đảng[22], bọn phản nghịch bị tiêu diệt sạch. Hoài Trung thu quân, ra khỏi cửa Bắc, Thạch Phổ vừa đến, đoạt lấy đầu Vương Quân phi ngựa về thành Đô, treo ở chợ Bắc.

Ban đầu giặc phong quân thân tín làm Thiên Giáng, Hổ Dực, cuối cùng lại bị quân Hổ Dực giết chết.

[99] Ngày Ất Tỵ, truy tặng Thần Vệ Chỉ Huy Sứ đã qua đời Tôn Tiến làm Nghi Châu thứ sử, bổ nhiệm con trai ông là Đông Tây Ban Điện Thị Tín làm Điện trực, ban áo bào, đai, ủng, hốt và hai trăm lạng bạc, để tuyên dương người chết vì việc nước.

[100] Ngày Đinh Mùi, lấy Công bộ thị lang là Trương Giám làm Tri châu Lãng Châu. Các bộ tộc man di ở Khê Động nhiều lần quấy nhiễu, Giám triệu tập các tù trưởng, dùng uy tín răn dạy, họ đều cúi đầu nghe lệnh. Trước đó, Giám làm Tri châu Quảng Châu, cùng Thông phán Lý Di Canh và Tuần kiểm Tạ Đức Quyền không hòa hợp, hai người này mật báo rằng Giám đem hàng hóa giao cho lái buôn trên biển, qua lại mua bán, nên bị điều từ Quảng Châu sang Lãng Châu. Sau đó, Giám tự tâu rằng có người thân bị đày ở Quỳnh Châu, thường dùng bổng lộc gửi theo thuyền buôn để chu cấp. Lại tâu về hành vi tham lam hung hãn của Di Canh và Đức Quyền, Vua lòng hơi nguôi, bèn triệu về.

(Lý Di Canh, không rõ quê quán, có thể tham khảo trong ‘Lý Hãng truyền’).

[101] Ngày Canh Tuất, Lưu thủ Tây Kinh là Tả bộc xạ Lữ Mông Chính đến triều, vì được triệu. Mông Chính ở Lạc Dương, thường dẫn các bạn cũ và khách khứa, vui vẻ uống rượu và giúp đỡ họ. Ông cai trị nhẹ nhàng, giao việc phủ cho các thuộc hạ, chỉ nắm đại cương mà thôi. Có lần một nội thần quyền quý đến truyền mệnh, Mông Chính tiếp đãi không khác thường lễ, được người đời kính trọng.

[102] Ngày Tân Hợi, Lôi Hữu Chung sai Ký ban cung phụng quan Dương Sùng Huân mang tâu về việc dẹp yên Ích Châu, được ban gấm bào, đai bạc, và các vật dụng. Sùng Huân, người đất Kế, trước từng làm việc ở Đông Cung, thường than: “Nếu mắt không biết chữ, tay không biết viết, thì làm sao thành nghiệp được?” Vua biết chí hướng của ông, bèn ở Đông Cung lập trường học, tự làm thầy. Sai Trương Mân làm Học trưởng, Trương Cảnh Tông làm Phó Học trưởng, Sùng Huân cùng Hạ Thủ Bân làm Học sát, An Thủ Trung trở xuống làm học sinh. Cảnh Tông là hoạn quan; Thủ Trung, người Tịnh Châu. (Cảnh Tông có truyện, không rõ quê quán).

[103] Ngày Ất Mão, Chế trí quần mục sứ Trần Nghiêu Tẩu xin lệnh các châu có đặt Mục giám, Tri châu và Thông phán đều kiêm quản việc nuôi ngựa, được chấp thuận.

[104] Ngày Bính Thìn, phong cho Thủ lĩnh lớn ở Lục Cốc, Tây Lương Phủ là Chiết Bồ, Du Long Minh các chức Tướng quân, Lang tướng, Ty qua.

(Tháng 11 năm Hàm Bình thứ nhất, Du Long Minh đã được phong An Viễn Đại tướng quân, lần này hẳn là phong cho con cháu. Bản truyện không thấy, ‘Thực lục’ và ‘Hội yếu’ đều ghi vậy, nghi có thiếu sót, cần tra cứu thêm.)

[105] Bân Ninh Hoàn Khánh Thanh Viễn Phó đô bộ thự, Tân Châu phòng ngự sứ Vương Vinh dẫn quân tiếp viện vận lương thảo đến Linh Vũ.

Vương Vinh vốn không có tài mưu lược, lại không nghiêm ngặt trong việc tuần tra canh gác, đến Tích Thạch thì ban đêm bị quân phiên tặc tập kích, quân của Vương Vinh đại loạn.

Kinh Nguyên Hoàn Khánh đô bộ thự, Bác Châu phòng ngự sứ Từ Hưng, cùng Bân Ninh Hoàn Khánh kiềm hạt, Lục trạch sứ, Phong Châu thứ sử Lý Trọng Hối giao chiến. Quân của Từ Hưng đều là bộ binh, bị đánh bại, Vương Vinh không thể cứu viện, quân sĩ chết rất nhiều, tổn thất gần như vô cùng, theo luật phải xử tử, nhưng Hoàng thượng đặc cách tha tội. Ngày Kỷ Mùi, Vương Vinh bị tước tịch, lưu đày đến Quân Châu. Từ Hưng và Lý Trọng Hối cũng bị tước tịch, Từ Hưng bị lưu đày đến Dĩnh Châu, Lý Trọng Hối bị lưu đày đến Quang Châu. Từ Hưng là người Thanh Châu.

(Việc Vương Vinh tiếp viện lương thảo, có lẽ cùng sự việc với Lý Thủ Ân, nhưng sử sách chép không rõ, cần tra cứu thêm. Việc của Từ Hưng và Lý Trọng Hối xảy ra vào mùng một tháng mười một, nay ghi chung.)

[106] Lệnh cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Tống Bạch cùng các quan tu sửa ‘Tục Thông Điển’.

[107] Ngày Ất Sửu, Lôi Hữu Chung tâu rằng Vương Quân đã bị xử tử. Ban ân xá cho tù nhân tử tội ở hai lộ Xuyên, Hạp. Phong Lôi Hữu Chung làm Bảo Tín lưu hậu, Tần Hàn cùng chín người khác đều được thăng chức. Trước đó, Thượng Quan Chính và Thạch Phổ không hòa hợp, Tần Hàn sợ sinh biến, nên đã khuyên giải hòa, Thượng Quan Chính sau đó cáo bệnh về Đông Xuyên, nên không được ban thưởng. Trong trận này, công lao của Dương Hoài Trung đứng đầu, nhưng bị Thạch Phổ che lấp, Hoàng thượng nghe được chút ít, liền sai sứ đi khảo sát chiến trường, biết hết sự tình.

Sau đó, Dương Hoài Trung mãn nhiệm, được thay thế về triều, từ chức Cung bị khố phó sứ được thăng làm Sùng nghi sứ, kiêm Ân Châu thứ sử. Một ngày khác, Hoàng thượng bảo Tể tướng rằng: “Người ta nói lời thanh liêm mà hành động ô uế, thật khó lường. Như Lôi Hữu Chung trước đây ở tam ty, mỗi lần tâu đối, tự nhận là công bằng liêm chính, là bậc lương thần một đời. Gần đây hai Xuyên có giặc, nhân đó sai dẹp loạn, nghe nói Hữu Chung nhân lúc hỗn loạn, tham lam của cải, tính bằng tiền sắt cũng đến mấy vạn mân. Như thế thì ân đức của vương triều sao thấm xuống dân, phong tục xa xôi sao thay đổi được? Lời nói và việc làm trái ngược nhau, đến thế ư?”

[108] Ngày Bính Dần, lệnh cho Hàn lâm học sĩ Vương Khâm Nhược, Tri chế cáo Lương Hạo làm An phủ sứ Tây Xuyên và Hạp Lộ; Quốc tử Bác sĩ Viên Cập Phủ, Bí thư Thừa Lý Dịch Trực làm Phó sứ; Hạp môn Chi hậu Lý Thừa Tượng (chưa thấy) cùng xử lý việc an phủ.

Đến nơi, lục soát hỏi tội phạm, từ tội chết trở xuống đều được giảm án theo thứ bậc. Vua dụ bảo Vương Khâm Nhược rằng: “Trẫm muốn xem xét phong tục, nhưng khó tìm người thích hợp, đã suy nghĩ nhiều ngày, không ai thay được các khanh. Các khanh hãy tuyên bố đức trạch của Trẫm, để phương xa biết lòng Trẫm chăm lo thương xót dân.”

(Theo ‘Trương Sĩ Tốn truyền’, khi Sĩ Tốn làm Xạ Hồng Lệnh, Tri châu tử là Trương Ung trả lời An phủ sứ rằng Sĩ Tốn có tài hành chính đứng đầu. Xét lại, thời Vương Khâm Nhược an phủ Tây Xuyên, Trương Ung đã nhậm chức Độ chi sứ, nay không lấy.)

[109] Diên châu tâu rằng: Kiềm hạt Trương Sùng Quý cùng các tướng phá được bộ tộc Đại Lô, Tiểu Lô mười bộ, bắt được người, dê, ngựa hơn hai mươi vạn.

(Theo ‘Trương Sùng Quý truyền’, Triệu Bảo Cát có hiềm khích với thục hộ Lý Kế Phúc, nhân đó gây loạn trong nước. Sùng Quý cùng Trương Thủ Ân đánh dẹp, đốt nhà cửa, cướp tài sản, khí giới, bắt được nhiều người. Nghi là việc này, cần xét lại.)

[110] Ngày Canh Ngọ, lấy Chức phương Lang trung, Trực Bí các Hoàng Di Giản làm Quang lộc Thiếu khanh; Chủ khách Viên ngoại lang, Trực Sử quán Tăng Trí Nghiêu làm Hộ bộ Viên ngoại lang. Trước đó, Tể tướng Trương Tề Hiền tiến cử Di Giản và Trí Nghiêu cho việc chấp bút chiếu lệnh. Có lần cần soạn chế sách gấp, gặp lúc Xá nhân đã rời viện, bèn trao việc cho Di Giản. Có người bàn không nên, nên triệu vào thi thử, văn từ cũng không xuất sắc, nên chỉ thăng bậc mà thôi.

[111] Từ cuối năm Thuần Hóa, việc triều cống của Cao Ly bị gián đoạn, đến khi Vua Trị mất, em là Tụng lên ngôi, từng phái binh hiệu Từ Viễn đến chờ đợi chỉ dụ triều đình, nhưng Viễn lâu không đến. Do vậy, bề tôi là Lại bộ thị lang Triệu Chi Lận sai nha tướng Chu Nhân Thiệu đến châu Đăng dò la tình hình, châu Đăng tâu lên, Vua đặc biệt triệu kiến Nhân Thiệu, an ủi hỏi han, ban cho khí vật và lụa. Nhân Thiệu nhân đó tự tâu về tình cảm của người dân nước mình hướng mộ giáo hóa của hoàng đế, cùng tình hình bị Khiết Đan khống chế, liền ban cho Tụng chiếu thư trong hộp vàng, sai Nhân Thiệu mang về. Lúc đó, châu Minh cũng tâu rằng tám người dân Cao Ly là Trì Đạt và những người khác, do thuyền bị bão đánh dạt đến huyện Ngân. Triều đình ra chiếu giao cho châu Đăng cấp tiền lương, đợi khi thuận tiện thì đưa họ về nước.

[112] Giang Nam bị hạn hán.

[113] Tháng 11, ngày Giáp Tuất mùng 1, ra chiếu cho các Tể thần, Tham tri chính sự vẫn được phép cưỡi ngựa vào cổng lớn Trung thư, đến từng sảnh thì xuống ngựa. (Điều này căn cứ theo hội yếu, gọi là “y cựu”, vì tháng 8 trước đó đã từng sửa đổi chế độ cũ.) Lại ra chiếu cho mỗi phòng trong Trung thư Ngũ phòng đặt một chức Chủ sự.

(Năm Chí Đạo thứ nhất, tháng 8, lần đầu đặt hai Chủ sự, nay mỗi phòng đặt một người, tổng cộng năm người. Sách chí trong ‘Tam triều sử’ nói rằng có năm Chủ sự và đều được đặt từ năm Chí Đạo thứ nhất là sai.)

[114] Ngày Ất Hợi, Phó bộ thự châu Linh, Đoàn luyện sứ châu Khánh là Tôn Tiến, cùng Đô giám, Nội điện Sùng ban là Trương Hỗ, tự ý rời nhiệm sở đến kinh đô. Tiến bị giáng làm Đoàn luyện Phó sứ châu Phục, Hỗ giáng làm Giáo luyện sứ châu Hứa.

[115] Ra chiếu yêu cầu các châu, phủ, quân, giám mỗi tuần tâu lên tình hình cấm vệ, từ nay trở đi đều giao cho Viện thẩm hình xem xét, nếu có việc đáng trách thì tâu lên.

[116] Ngày Bính Tý, Trương Tiến và những người khác tâu rằng việc đắp đập ngăn sông ở châu Vận đã hoàn thành.

[117] Ngày Mậu Dần, Vua hạ chiếu rằng: “Chế độ thu thuế ruộng, vốn có điển lệ cố định. Như năm quân điền được định đạt đến nay, đã trải qua nhiều năm, bản đồ thay đổi, thuế ruộng chuyển dịch. Miền kinh kỳ là gốc rễ của chính sự, nên thuận theo phong tục địa phương, đặt ra quy định ổn định. Nay sai Viên ngoại lang Bộ Hình, kiêm Trực sử quán Trần Tĩnh làm Kinh kỳ Quân điền sứ, cho phép tự chọn quan lại kinh triều đến các huyện, căn cứ vào mức thuế cũ để định, không được thu thêm số dư. Những hộ bỏ trốn thì lập sổ riêng, do triều đình chiêu dụ trở lại làm ăn. Công việc trồng dâu không chia đều, khuyến khích dân chúng trồng thêm.”

(Trần Tĩnh nhận chức sứ, Thực lục ghi là ngày Quý Mùi, nay căn cứ vào bản chí ghi chung lại.)

[118] Ngày Canh Thìn, Phó sứ Chuyển vận Hà Bắc Lưu Tống tâu rằng Tri châu Đức là Cận Tương, Tri châu Tân là Lộ Chấn, Thông phán Trịnh châu là Hác Thái Xung đều là người liêm chính, siêng năng, biết lo việc. Vua ban chiếu khen thưởng. Trước đó, giặc bất ngờ kéo đến dưới thành Tân châu. Trong thành quân ít, dân chúng hoảng loạn, đều cho rằng Chấn là quan văn, không có mưu lược chống giặc, cùng khóc lóc. Chấn bèn thân hành dỗ dân, giữ vững thành trì, giặc sau đó rút lui. Còn Cận Tương giữ thành Đức châu, giặc cũng không thể hạ được. Chấn là người Kỳ Dương. Cận Tương là người Cao Đường. Về sau, Tương đổi tên là Hoài Đức để tránh húy cha của Khấu Chuẩn.

(Hác Thái Xung không thấy xuất thân.)

[119] Ngày Nhâm Ngọ, ra lệnh cho các quan thường tham tri theo lệ cũ chuyển đối. Chiếu viết: “Trước đây, Trẫm đã ra chiếu sâu sắc chỉ đạo triều đình, mở rộng đường lối ngôn luận, nhưng lại còn dùng áp chế, không nghe lời can gián tốt, chẳng lẽ lòng thành của Trẫm chưa đủ tin ư[23]? Hay các quan quen thói cũ mà không thay đổi? Nay xét lại quy chế cũ, lần lượt tiến cử lời nói thẳng, những lỗi lầm của Trẫm, sự sai trái trong chính sách, sự thiếu sót trong giáo lệnh, sự bế tắc trong nhân tình, đều có thể tâu lên, không được giấu giếm. Lời nói gần như chỉ trích cũng được xem xét khoan dung, văn không trau chuốt cũng cho phép thẳng thắn, những người chưa được tham gia đối đáp, nghe tâu bày để biết.”

(Ngày Nhâm Tý tháng 12 và cuối tháng 10 năm thứ 5, xem thêm sớ của Điền Tích. Ngày Ất Mùi tháng 4 năm Cảnh Đức thứ 3, lại khôi phục chuyển đối, chiếu trong sách “Đông đô sự lược” nói rằng: “Xưa Hoàng đế có lời hỏi Phong Hậu, Bá Vũ có lễ bái Xương Ngôn, siêng năng tiếp nhận lời can gián để đạt đến sự hòa hợp, Vua tôi đồng lòng, trên dưới không ngăn trở, nghĩ đến điều này, lòng Trẫm vô cùng cảnh giác.”)

[120] Vua ngự ở điện tiện, xem quân sĩ Phụng Nhật, Thiên Vũ tập chiến, thăng người nào bắn cưỡi ngựa xuất chúng theo thứ tự.

[121] Diêm Thiết sứ Trần Thứ dâng “Chiếm ngạch đồ”.

[122] Ngày Bính Tuất, chiếu rằng người nhậm chức ở Quảng Nam đều được thay thế sau hai năm.

[123] Loạn ở Ích Châu, mọi người lo sợ giặc theo sông xuống hạ lưu, bèn tập hợp con em man tộc ở Thi, Kiềm và Cao Châu để tính kế phòng ngự. Các bộ man quen thuộc đường đi của người Hán, nhân lúc thích hợp ra cướp bóc. Chuyển vận sứ Đinh Vị mới đến, triệu Cao Châu thứ sử Điền Ngạn Y nói về họa phúc, và nói rằng có chiếu tha tội không giết. Ngạn Y cảm động khóc, đều quay về với nhà Hán, nguyện đời đời phụng sự không dám khinh nhờn, bèn làm lời thề khắc vào đá dựng ở biên giới man tộc. Ngày Mậu Tý, Ngạn Y sai con đến cống vật địa phương, nộp binh khí, tự nói không dám xâm phạm biên giới.

[124] Ngày Canh Dần, Cung bị khố sứ Giả Kế Huân bị tước danh hiệu, lưu đày ở Nhữ Châu, Lạc uyển phó sứ Tiền Thủ Tín, Tả thị cấm Dương Kế đều bị tước hai chức, phối lưu ở Hứa Châu, Hoạt Châu, vì xây thành ở Thiên Hùng quân không cẩn thận, giàn chiến đổ sập.

[125] Môn hạ thị lang, kiêm Binh bộ thượng thư, Bình chương sự Trương Tề Hiền cùng Lý Hãng cùng làm tướng, tình cảm không hòa hợp; tự cho mình có tài giúp Vua trị nước, mỗi lần tấu chương thường không thẳng thắn, khiến người đương thời cho là sơ suất.

Ngày Tân Mão, Đông chí, quần thần vào chầu, Tề Hiền say rượu, mũ nghiêng lệch, suýt ngã trên điện. Ngự sử trung thừa hặc tội Tề Hiền thất lễ. Tề Hiền tự trình rằng vì cảm lạnh nên uống rượu để chống chọi, không ngờ say đến mức ấy, rồi dập đầu tạ tội. Vua nói: “Khanh là bậc đại thần, sao lại làm gương xấu? Triều đình có phép tắc, Trẫm không dám tư vị.” Ngày Giáp Ngọ, Tề Hiền bị cách chức, chỉ giữ nguyên quan hàm.

(Trương Vịnh truyện chép: Vịnh làm Ngự sử trung thừa, trong lễ trai vào dịp Thừa Thiên tiết, có vị tướng lớn say rượu làm thất lễ, Vịnh liền đàn hặc. Vị tướng lớn đó, có lẽ chính là Tề Hiền. Tuy nhiên, Vịnh vào tháng 4 năm Hàm Bình thứ 2 đã ra làm Tri châu Hàng Châu, Ngụy Tường thay chức, nhưng Ngụy Tường truyện lại không chép việc này, không rõ vì sao. Nay không nêu tên người làm Trung thừa.

Bản truyện chép rằng Tề Hiền lại được làm tướng, nhiều lần khởi án lớn, lại cạnh tranh với Khấu Chuẩn, người đời vì thế mà chê trách.

Xét việc khởi án lớn, Thực lục hẳn có ghi nhưng đều không thấy. Khấu Chuẩn lúc đó lại đang ở ngoài, không biết Tề Hiền cạnh tranh với ông thế nào. Phải chăng khi từ Đồng Châu chuyển đến Phượng Tường là do Tề Hiền? Đều cần khảo cứu thêm.

Tống sử toàn văn của Lã Trung viết: Một tướng đương quyền thì dễ chuyên quyền, hai tướng cùng làm thì sinh chia phe lập đảng. Thế nhưng, Triệu Trung Lệnh quyền thế nặng mà vẫn cùng Lữ Mông Chính mới tiến cộng sự; Tất Sĩ An đức cao vọng trọng mà vẫn cùng Khấu Chuẩn tính khí ngang ngược cùng chính sự, không những không có tệ chia phe lập đảng, mà còn giữ được lòng hòa hợp đồng lòng. Thế mà Tề Hiền lại không hòa hợp với Lý Hãng, cạnh tranh với Khấu Chuẩn, vì sao vậy? Người quân tử có thể thấy rõ sự hơn kém trong tài trị nước của các tướng vậy.)

[126] Xu mật trực học sĩ Phùng Chửng tâu rằng: Trung thư hộ phòng đã trực tiếp phát ra bốn đạo trát tử mà không qua sự kiểm tra của Phát sắc viện. Vua ban chiếu rằng: Tam ty, Khai Phong phủ, Ngự sử đài, Tiến tấu viện và các nơi khác, phàm nhận được tuyên sắc hoặc trát tử đều phải thấy có ấn quan phong của Phát sắc viện mới được thi hành, nếu vi phạm sẽ sai lại đưa về Phát sắc viện.

[127] Tháng 12, ngày Đinh Mùi, Vua ban chiếu chọn hai người làm Phán ty và Bạ uý, sung vào chức Chủ sự Nam tào thuộc Lại bộ Lưu nội tuyển.

[128] Ngày Mậu Thân, Vua đi săn ở vùng ngoại ô, lấy thú săn được dâng lên Thái miếu.

[129] Ngày Nhâm Tý, Vua ban chiếu cho các cơ quan chép lại một bản chương sớ chuyển đối để lại trong cung.

(Tháng 11, ngày Nhâm Ngọ, lại tiếp tục chế độ chuyển đối.)

[130] Ngày Ất Mão, Vua đến thăm ban của Điện tiền chỉ huy sứ, xem duyệt võ nghệ, các phụ thần nói: “Bệ hạ dùng thần vũ để huấn luyện binh sĩ, quân cấm lữ tinh nhuệ, từ xưa đến nay chưa từng có.” Sau đó, Vua bắn cung trong vườn, uống rượu say rồi giải tán.

[131] Ngày Canh Thân, Vua ban chiếu: “Trước đây đã quân bình thuế ruộng ở kinh đô, nhưng nghe nói dân chúng không hiểu rõ ý chỉ của triều đình, đã chặt cây dâu và cây chạ, gây hoang mang trong làng xóm. Hơn nữa, mùa xuân sắp đến, giá lúa gạo đang tăng cao, nên giảm bớt việc để thuận tiện cho dân, vì vậy hãy bãi bỏ hết.”

[132] Bộ tộc Doãn Ngạc Khắc của Tây Phiên đã cử Y Mặc Lỗ đến dâng tặng bò lông dài.

[133] Ngày Giáp Tý, các sứ giả nước Khiết Đan là Thuế mộc giám sứ Hoàng Ngung, Trà tửu giám sứ Trương Văn Tú, Quan thành sứ Lưu Kế Long, Trương Hiển cùng thuộc hạ đã về quy thuận, được ban cho mũ áo, đai, áo bào và hốt, sắp xếp vào Quy minh ban viện. Hoàng Ngung và những người kia đều là họ hàng của tướng địch là Vu Việt.

[134] Ngày Bính Dần, Binh bộ lang trung, Trực chiêu văn quán, Tri Duyện Châu Hàn Viện dâng tấu:

“Trộm thấy gần đây có chiếu chỉ ban hành việc chuyển đối, các văn võ quần thần ở ngoài chưa được dự vào hàng thứ đối, đều cho phép dâng tấu sự. Đây là do Bệ hạ hết lòng lo nghĩ[24], rộng tìm lời khuyên, trong khắp cõi đất nước, đều hết lời ca ngợi. Trộm nghĩ Bệ hạ thuận vận trời, nắm giữ quyền lớn, làm việc gì cũng tuân theo điển lễ, nói câu nào cũng xem xét cổ kim. Trong ba năm cấm cố, quá sức khổ sở, sau khi nghe xử việc lớn, chưa từng lơ là mệt mỏi. Mỗi khi mùa xuân hạn hán, lúa mạ chưa chín, Bệ hạ đều thân hành đến đền miếu, dâng lễ đầy đủ, giảm bớt ngự thiện mà lo lắng, sai sứ giả đi khắp nơi, cùng cầu nguyện các thần linh, giảm nhẹ hình phạt, để cảm động trời cao, chắc chắn được mưa thuận, dù có tai ương, cũng không thể thành họa. Nhưng thần mạo muội dùng lời cỏ cây dò xét trời xanh, lui về nghĩ đến sự vượt quyền, khó lòng tránh khỏi tội đáng chết! Đáng chết!

Gần đây hơi có nắng hạn, hơi tổn thương mùa màng, hay là trời xanh vì Thái Tổ, Thái Tông hai bậc thánh đã về trời, Bệ hạ đương thời phồn thịnh, trăm họ vui vẻ làm ăn, muôn nước đến triều cống, nếu chẳng may tâm thánh bỗng sinh kiêu sa nhàn rỗi, nên tạm gây tai ương, để cảnh tỉnh trí tuệ.

Xưa Ngụy Trịnh Công từng nói với Đường Thái Tông: ‘Những năm đầu Trinh Quán, nghe điều thiện như giật mình, năm sáu năm sau, vẫn vui vẻ nghe lời can gián, từ đó về sau, dần ghét lời nói thẳng.’ Đây là chê việc dần lơ là chính sự. Vậy nên biết cần kiệm khó giữ, kiêu sa nhàn rỗi dễ sinh, đó là lẽ thường của con người. Sau năm thứ 15 Khai Nguyên, Huyền Tông ở chỗ sâu xa, nhìn lên cao, mệt mỏi với việc trị vì, trong cung nuông chiều cung nữ, ngoài thì tiến hành chinh phạt, liên tiếp dấy lên chiếu ngục, giết hại người vô tội, rồi đến nỗi giặc lớn hoành hành, Trung Nguyên rối loạn, đó là do sau thời thịnh trị, sự kiêu sa nhàn rỗi gây ra vậy.

Thần kính cẩn thấy Tiên đế phúc lớn kéo dài, hưởng nước lâu dài, siêng năng cần kiệm, chưa từng một ngày bỏ bê việc quốc gia. Từ thời Đoan Củng trở lại, càng thêm gắng sức xử lý chính sự. Thần từng tạm quyền chức Diêm thiết phán quan, được cùng quan chủ lên điện tâu việc.

Một hôm, Tiên đế ung dung bảo thần rằng: ‘Phàm giữ chức vụ, không thể không siêng năng. Trẫm mỗi lần thấy binh lính trong sân điện quét một chỗ đất, múc một bình nước, đều ghi nhớ tên họ của họ.’ Như vậy, có thể thấy Tiên đế chăm lo chính sự, không bỏ sót điều thiện nhỏ nào. Mong Bệ hạ giữ vững cơ đồ lớn của Thái Tổ[25], tuân theo di huấn của Thái Tông, cẩn trọng siêng năng, không lười biếng, không phóng túng.

Thần lại nghe rằng, người trị quốc cần phải xa kẻ nịnh, ngăn lời gièm. Sách ‘Thư’ viết: ‘Diệt kẻ gièm pha, hành vi bất chính, khiến ta kinh sợ.’ ‘Thi’ viết: ‘Bắt kẻ gièm pha, ném cho hổ sói.’ Thần thấy trong triều đình hiện nay, từ chức Tể tướng trở xuống, đều là người ngay thẳng, không có kẻ tà nịnh. Tuy nhiên, việc xấu sinh ra từ chỗ kín đáo, nên phòng ngừa từ khi chưa manh nha. Với sự thông minh thần trí của Bệ hạ, chắc chắn không lo nạn kiêu căng phóng túng. Nhưng mong Bệ hạ đừng mệt mỏi soi xét điều kín đáo, đừng để kẻ tiểu nhân nhân cơ hội tiến thân. Mỗi ngày càng thận trọng, dù có an ổn cũng đừng nghỉ ngơi, ở yên nghĩ đến nguy nan, lúc thịnh vượng đề phòng loạn lạc, thì thiên hạ thật là may mắn.”

Tấu trình xong, Vua triệu Viện về triều[26], phong chức Sử quán tu soạn.

(Phong chức Sử soạn vào tháng 2 năm sau, nay viết chung vào đây.)

[135] Khai Phong phủ tâu rằng nhà tù không có tù nhân, được ban chiếu khen thưởng.

[136] Chiếu cho quan lại và dân ở biên giới, ai chém được một đầu địch thưởng năm nghìn tiền, bắt sống được thưởng gấp đôi, bắt được ngựa thưởng hai mươi tấm lụa, ngựa không thể mặc giáp thì trả lại.

(Theo chiếu cho quan lại và dân ở biên giới, thuộc ngày Đinh Mão, nay viết chung, nghi có chỗ thiếu sót hoặc sai lầm.)

[137] Ngày Tân Mùi, sai Hàn lâm học sĩ Lương Chu Hàn đến Thái Nhất cung vào ngày mùng một tháng giêng năm sau để tổ chức lễ cầu đảo trong một tháng, vì dân chúng cầu phúc.

[138] Lý Kế Thiên nhiều lần quấy nhiễu biên giới, ở Hoàn Khánh tập trung nhiều binh mã.

[139] Ngày Nhâm Thân, chiếu lệnh chuyển chức vụ của Lưu Tổng, vốn là Chuyển vận sứ Hà Bắc, sang làm Chuyển vận sứ Thiểm Tây.

[140] Từ thời Ngũ Đại, ở Hà Bắc và Hà Đông đã có lực lượng Cương Tráng, cụ thể là ở các châu Doanh, Bá. Năm nay, lần đầu tiên ban chiếu lệnh ở Hà Bắc rằng: nhà dân nào có hai hoặc ba đinh thì ghi tên một người, bốn hoặc năm đinh ghi tên hai người, sáu hoặc bảy đinh ghi tên ba người, từ tám đinh trở lên ghi tên bốn người làm Cương Tráng. Cứ 500 người thì lập một Chỉ huy, đặt Chỉ huy sứ. Mỗi 100 người là một Đô, đặt hai người làm Chính và Phó Đô đầu, cùng bốn người làm Tiết cấp. Ở các địa phương đều thiết lập sổ sách, chọn người giỏi bắn cung để bổ làm Hiệu trưởng. Cho phép tự sắm ngựa, ai có khả năng mua giáp thì được miễn thuế thân. Sau đó, chiêu mộ những người dũng cảm, tập hợp lại thành các trại gần đại quân, quan phát cho áo giáp.

(Đoạn này căn cứ theo ‘Lưỡng Triều Binh Chí’, trong Thực lục không có. Việc tập hợp người dũng cảm gần đại quân, ‘Chí’ lại ghi vào năm sau, nay cũng ghi thêm vào.)

[141] Trước đó, ở Bộc Châu có bọn trộm đêm vào thành, bắt Tri châu Vương Thủ Tín và Giám quân Vương Chiêu Độ. Tri Hoàng Châu Vương Vũ Xứng nghe tin, cho rằng quốc gia không tu bổ võ bị nên giặc cướp mới dám hoành hành gần kinh đô, bèn dâng sớ nói rằng:

“Xét rằng việc thể chế quốc gia, kinh lý đất đai là chế độ giữ nước của bậc Vương giả. Kinh Dịch nói: ‘Vương hầu đặt hiểm yếu để củng cố đất nước.’ Lại nói: ‘Đóng chặt cửa, gõ mõ để phòng bạo khách.’ Truyện nói: ‘Phòng bị bất ngờ là lời dạy tốt từ xưa.’ Từ thời cuối niên hiệu Quảng Minh nhà Đường, thiên hạ loạn lạc, các nơi chiếm giữ thành lũy, sửa sang binh giáp, chia cắt như hạt đậu, mảnh vỏ[27], hơn bảy mươi năm.

Khi Thái Tổ mới khởi nghiệp, nhằm khôi phục Quan Nam, bình định Hoài Điện, năm thụ thiền, lại cất quân đánh kẻ phản nghịch, chiếm Dung, Thục, hạ Kinh, Tương, khuất phục Phiên Ngu, đánh Kim Lăng, chiếm bảy phần mười thiên hạ.

Thái Tông kế thừa nghiệp lớn, hoàn thành đại công, bình định Tịnh, Phần, thu phục Mân, Việt, thiên hạ nhất thống, không ai không thần phục. Lúc đó, có người bàn bạc, bèn ra lệnh cho các quận ở Giang, Hoài phá hủy thành hào, thu binh giáp, bỏ vũ bị hơn ba mươi năm. Kẻ học trò lĩnh châu, quận lớn cho hai mươi người[28], quận nhỏ giảm năm người, sung làm người theo hầu. Gọi là Trưởng lại, thực chất như lữ khách, gọi là thành quận, nhưng trống trải như đất bằng. Dù đó là cách tôn kinh sư mà hạ quận huyệt, là kế ‘cường cán nhược chi’[29], nhưng cũng không phải là đạo trung dung.

Thần khi ở Trừ Châu, gặp lúc điều binh kéo thuyền, cửa thành không người canh giữ, chỉ lấy người thường thay mở đóng, thành trì đã đổ nát, khí giới không đủ. Đến khi dời đến Duy Dương, nơi được gọi là trấn trọng yếu, cũng chẳng khác Trừ Châu. Từng xuất hai mươi bộ giáp cho sứ thần tuần cảnh, cung nỏ hư hại bốn năm phần mười. Bởi không dám tự ý sửa chữa, lại thêm đất ẩm khó phơi khô, trên dưới thờ ơ, nên đến nông nỗi này. Nay thành lũy và khí giới ở Hoàng Châu còn kém hơn Trừ, Dương, nếu chẳng may gặp thiên tai lũ lụt, giặc cướp nổi lên, dù muốn phòng bị[30], lấy gì chống đỡ?

Thần xét sách ‘Thiên quan’ của Tư Mã Thiên có chép: ‘Vận trời ba mươi năm lại có một lần biến nhỏ, một trăm năm một lần biến vừa, năm trăm năm một lần biến lớn, đó là lẽ thường.’ Các bậc thánh xưa biết được điều này nên chuẩn bị sẵn sàng, dù có biến động cũng không gây loạn. Quốc gia từ năm Kiến Long Giáp Tí tiến xuống Tây Xuyên[31], đến năm Giáp Ngọ lại xảy ra loạn lạc, đó là ứng nghiệm của ba mươi năm. Lúc đó ở Tây Xuyên chỉ có các thành Ích, Tử, Mi, Toại là có thể phòng thủ, duy chỉ Quách Tải bỏ thành chạy trước, bị giặc chiếm cứ, còn lại đều kiên cố phòng thủ. Những nơi không có thành trì đều bị giặc chiếm. Đây chính là minh chứng rõ ràng về việc có chuẩn bị và không chuẩn bị.

Bệ hạ kế thừa di chí của hai bậc thánh, phát huy truyền thống lâu dài, ắt sẽ có chế độ đặc biệt, thay đổi phương hướng, điều chỉnh lại, dựa theo thời thế mà lập pháp, không nên quá cứng nhắc[32]. Thái Tổ thu hồi quyền lực chuyên quyền của các chư hầu, đó là điều không thể không làm. Thái Tổ dẹp các nước ngụy, tiêu diệt sào huyệt yêu tà[33], vốn là để ngăn chặn những mưu đồ tham vọng, nhưng cũng như việc cứu đời lập pháp, lâu ngày sinh ra tệ lậu, cách cứu tệ là phải tuỳ cơ ứng biến.

Hán Cao Tổ rút kinh nghiệm từ sai lầm của nhà Tần khi đặt quận huyện, nên đã phong đất cho con cháu, nhưng khi bảy nước lớn mạnh, các Vua Văn, Cảnh phải tiến hành thu hồi quyền lực. Đường Đức Tông dựa vào việc quân An, Sử đã chán chiến tranh, nên có chính sách khoan hồng thời Trinh Nguyên, Hiến Tông nhờ dẹp được bọn gian hùng lớn ở Tề, Sái, nên có quyết định trừng trị tội phạm thời Nguyên Hoà. Đó đều là thấy trước cơ mà hành động, vì sự nghiệp lâu dài của xã tắc, nhanh như xoay bánh xe, không thể cứng nhắc.

Hiện nay, các quận vùng Giang, Hoài gặp ba mối lo lớn: thứ nhất là thành trì đổ nát; thứ hai là binh khí không đầy đủ; thứ ba là binh lính không được huấn luyện. Nay giặc Bộc nổi lên, việc phòng thủ lỏng lẻo đã rõ. Xin Bệ hạ đưa ra quyết định sáng suốt, tham khảo ý kiến triều đình. Nếu tạm thời tu sửa, không muốn gây chấn động, thì các quận Giang, Chiết, Kinh Hồ, Hoài Nam, Phúc Kiến, căn cứ vào số dân ít hay nhiều, thành trì lớn nhỏ, đều cho phép lập đội quân phòng thủ thành, không quá ba đến năm trăm người, không cho điều động ra ngoài[34], chỉ luyện tập cung kiếm trong thành. Sau đó dần dần tu sửa thành lũy, sửa chữa áo giáp. Các quận quốc sẽ có biện pháp phòng thủ, các quan lại cấp cao sẽ tránh được nỗi lo bị cướp bóc[35].”

[142] Tấu chương dâng lên, Vua khen ngợi và chấp nhận.


  1. Trong bản 'Chân Tông kinh chế Khiết Đan' ở quyển 4 của sách 'Trị tích thống loại' có ghi 'mắt không biết chữ', nghi ngờ đây là đúng.
  2. Trong bản gốc chữ 'thế' viết là 'thắng', theo bản Tống và bản 'Tống Toát Yếu' cùng các sách khác đã sửa lại.
  3. Chữ 'triệu' nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và Tục thông giám quyển 22 để bổ sung.
  4. Việc quy định mỗi cân chè nộp 30 cân rưỡi được ghi trong 'Tống sử toàn văn' quyển 5 giống nhau. Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và Biên niên cương mục quyển 6, 'Tống sử' quyển 324 truyện Lý Doãn Tắc đều ghi là '13 cân rưỡi', có khả năng cần theo đó để sửa.
  5. 'Thiệu Châu' nguyên bản ghi là 'Quận Châu', căn cứ theo các bản trên và truyện Lý Doãn Tắc để sửa.
  6. Chữ 'tức' nguyên bản là 'kí', căn cứ vào bản Tống, Tống toát yếu và Tục thông giám quyển 22 sửa đổi.
  7. việc tuyển chọn có thể thấy được: chữ 'lân' nguyên là 'thận', dựa theo Tống bản, Tống toát yếu bản và sách 'Trị tích thống loại' quyển 5 'Chân Tông thánh chính', 'Tục thông giám' quyển 22 mà sửa
  8. Lưu Yến nguyên là 'Lưu Yến', dựa theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác mà sửa.
  9. bọn tiểu lại nghìn người: chữ 'thiên' nguyên là 'thập', dựa theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tục thông giám' quyển 22 mà sửa.
  10. quan lại tăng gấp bội: chữ 'liêu' nguyên là 'bổng', dựa theo sách trên mà sửa.
  11. càng thêm phiền phức: chữ 'chương' nguyên là 'ý', dựa theo sách trên và các bản khác, bản hoạt tự mà sửa.
  12. Tri tạp ngự sử Phạm Chính Từ xin ban hành điều ước, chữ 'tri' vốn thiếu, dựa theo 'Tống hội yếu Nghi chế' quyển 5 phần 5 và bản truyện trong 'Tống sử' bổ sung.
  13. 'Ngờ nghệch không có mưu lược', chữ 'noạ' dưới vốn có chữ 'nhi' thừa, theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và bản Trường biên kỷ sự bản mạt sửa.
  14. 'Đại quân nếu đến', chữ 'đại' nguyên là chữ 'Thiên', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và bản Trường biên kỳ sự bản mạt sửa.
  15. Theo 'Tống hội yếu', phần 'Phiên di' quyển 1, mục 24 chép: 'Tiết độ sứ Ứng Châu giả của Khiết Đan là Tiêu Hạt Lạt, Khẳng Đầu, cháu là Chiêu Cốt, Trùng Ca, Phán quan Ngô Thập Đắc quy hàng...', không có chữ 'em'. 'Tống sử' quyển 6, phần 'Chân Tông kỷ' ghi chép việc này, liệt kê những người Khiết Đan đầu hàng là Tiêu Khẳng Đầu, Chiêu Cốt và Trùng Ca, phù hợp với tên ban tặng và chức vụ được ghi trong bản này và 'Tống hội yếu'. Nghi rằng chữ 'em' là do thừa.
  16. Chữ 'Hữu' trong 'Hữu Giám môn Vệ tướng quân' vốn bị thiếu, căn cứ vào 'Tống hội yếu' và 'Tống sử' để sửa lại.
  17. Chữ 'Quần' trong 'Quần mục ty' vốn viết là 'Quận', căn cứ vào bản Tống, bản 'Tống toát yếu', bản các, và 'Biên niên cương mục' quyển 6, cùng 'Tống sử' quyển 164, phần 'Chức quan chí' để sửa lại.
  18. 'ắt' nguyên văn là 'nhiều', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống và sách 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 25 'Vương Quân chi biến' mà sửa.
  19. chữ 'nam' nguyên bản thiếu, căn cứ vào sách trên và 'Tục thông giám' quyển 22 mà bổ sung.
  20. chữ 'trại' nguyên bản là 'chặn', căn cứ vào sách trên mà sửa.
  21. chữ 'giáo gỗ' nguyên bản thiếu, căn cứ vào 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 25 'Vương Quân chi biến', 'Tống sử' quyển 278 'Lôi Hữu Chung truyền' và 'Tục thông giám' quyển 22 mà bổ sung.
  22. Chữ 'sáu mươi' nguyên bản viết là 'sáu ngàn', căn cứ theo Tống bản, Tống Toát Yếu bản và Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt dẫn trên, cùng sách Trị Tích Thống Loại quyển 5 phần 'Chân Tông Bình Vương Quân' mà sửa lại.
  23. 'Thành' nguyên là 'thức', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và sách Tống hội yếu chức quan 61 đổi thành 'thành'.
  24. Đây là do Bệ hạ hết lòng lo nghĩ, 'Cần' vốn viết là 'Thành', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa lại.
  25. Mong Bệ hạ giữ vững cơ đồ lớn của Thái Tổ ('Đồ' nguyên bản là 'Cơ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Tục thông giám quyển 22 sửa lại)
  26. Triệu Viện về triều ('Viện' dưới nguyên bản có chữ 'Vấn', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Biên niên cương mục quyển 6, Tống sử toàn văn quyển 5 trên đã bỏ)
  27. 'Chia cắt như hạt đậu, mảnh vỏ' nguyên văn là 'Đậu phân qua phẫu,' chữ 'phẫu' nguyên bản là 'cát', căn cứ vào 'Tống sử' quyển 293, 'Vương Vũ Xứng truyền', 'Tấu nghị' quyển 317 về việc trừ đạo tặc, và 'Tục thông giám' quyển 22 mà sửa.
  28. 'Quận lớn cho hai mươi người' chữ 'nhân' nguyên bản bị thiếu, căn cứ vào sách trên mà bổ sung.
  29. 'Là kế cường cán nhược chi' chữ 'vi' nguyên bản bị thiếu, căn cứ vào sách trên mà bổ sung.
  30. 'Dù muốn phòng bị' chữ 'ngự' nguyên bản là 'dự', căn cứ vào bản các đời và đoạn trên trong 'Tấu nghị' mà sửa.
  31. Chữ 'dĩ' nguyên bản thiếu, theo bản trong kho mà bổ sung
  32. Chữ 'cố' nguyên bản là 'phong', theo bản Tống và bản Tóm tắt Tống mà sửa lại
  33. Thái Tổ dẹp các nước ngụy, tiêu diệt sào huyệt yêu tà, xem Tống sử quyển 293, truyện Vương Vũ Xứng có chép: 'Thái Tổ thu hồi thế lực chuyên quyền của chư hầu, Thái Tông ngăn chặn lòng tham vọng ngụy tạo', tấu nghị quyển 317 về việc ngăn chặn trộm cướp dẫn đoạn này gần như giống nhau. Nghi là trong bản ghi chép này 'Thái Tổ' nên là 'Thái Tông'
  34. 'Vật lệnh sai xuất', chữ 'lệnh' nguyên bản viết là 'mệnh', căn cứ vào các bản và 'Tục thông giám' quyển 22 mà sửa.
  35. 'Trưởng lại miễn phiếu lược chi ngu', chữ 'trưởng lại' nguyên bản viết là 'trưởng sử', căn cứ vào Tống bản, 'Tống toát yếu', các bản khác và 'Tống sử toàn văn' quyển 5 thượng, dẫn theo truyện Vương Vũ Xứng mà sửa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.