"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 305: NĂM NGUYÊN PHONG THỨ 3 (CANH THÂN, 1080)

Bắt đầu từ tháng 6 năm Nguyên Phong thứ 3 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 6, ngày Nhâm Thìn, mùng một, Vua phê: “Chương Tín quân Lưu hậu, Phò mã Đô úy Lý Vĩ để tang mẹ đẻ, có thể theo như tông thất mà cấp đủ bổng lộc.”

[2] Chiếu cho Quyền Quỳ Châu lộ Chuyển vận Phó sứ Đổng Việt đến Dự Châu lo việc ứng phó Lư Châu, giữ lại tiền vật của Ty Nông ở đất Thục để chi phí cho việc đánh dẹp, thêm 1000 quan tiền công sứ cho Lư Châu. Hàn Tồn Bảo xin cho các tướng hành quân đặt chức Chủ bạ. Theo lời xin, nhưng không được can dự vào quân sự.

(Ngự sử đài tâu, vâng chiếu xét việc Tôn Dã, xin gia hạn thời gian. Vua phê: “Nếu đã xét được tình hình, thì Dã không cần giam giữ, trước hết hãy trách phạt rồi thả ra, cho gia hạn thêm 20 ngày.” Bản Chu có chép việc này, tạm giữ lại, đã nhập vào ngày Bính Thân tháng 8.)

[3] Ngày Quý Tỵ, chiếu: “Các quan Kiểm chính ở Trung thư, Kiểm tường ở Xu mật viện đến chức Viên ngoại lang, làm việc đủ 2 năm, thì trong dịp đại lễ được phép tâu bổ nhiệm người thân. Các quan Đường hậu ở Trung thư, Đề điểm Ngũ phòng tuy chưa đến chức Viên ngoại lang, việc tâu bổ nhiệm vẫn theo như cũ.” Trung thư Môn hạ tâu: “Ngự sử đài nói, các án Lục sát kiểm điểm các kho vụ, phường giám, xin được dùng trát tử, muốn theo như lời xin.”

Vua phê: “Các án Lục sát đối với các ty, không phải là quan thống lĩnh, về lý không nên dùng trát tử. Xem các thức lệnh đã ban, chỉ có Trung thư khi thi hành thánh chỉ mới dùng trát tử. Trước đây các cơ quan có hành xử lạm quyền, đài sát vốn phải sửa chữa, nhưng không biết xét lại mà còn theo lời xin sai trái, có thể dùng trát tử để biết.”

[4] Tri Dĩnh Châu, Công bộ Thị lang Nguyên Củng được làm Tư chính điện Học sĩ, Tri Thanh Châu. Củng xin vào chầu, được chấp thuận, nhân đó lưu lại làm Đề cử Trung Thái Nhất cung. Ban đầu định cho kiêm chức Thị độc, nhưng sau đó bãi bỏ.

(Việc bổ nhiệm Trung Thái Ất là vào ngày Nhâm Ngọ tháng 7, nay gộp lại chép. Việc bãi bỏ mệnh lệnh Thị độc, căn cứ theo Ngự tập.)

[5] Ngày Giáp Ngọ, ban chiếu: “Quân sĩ và dân binh đào ngũ theo quân hiệu dụng. Nếu bắt được, đều phải xiềng xích giải về nơi thuộc quyền, xét xử theo pháp luật. Dù có lập được chiến công cũng không được thưởng, cũng không cho phép dùng công chuộc tội, lệnh cho quân đội niêm yết rõ ràng.”

[6] Chiếu cho các quan chuyển vận, đề cử của năm lộ, khi đi tuần tra đến đâu, được phép xem xét việc huấn luyện nghĩa dũng và võ nghệ của bảo giáp[1]. Nếu có gì không đúng pháp, phải báo cáo lên Ty đề điểm hình ngục để xử lý. Do quan đề điểm hình ngục Hà Bắc là Lưu Định tâu rằng một ty không thể kiểm tra hết bảo giáp các châu huyện.

(Sách 《Tân kỷ》 chép: Ngày Giáp Ngọ có mây ngũ sắc. Sách 《Cựu kỷ》 không chép.)

[7] Ngày Ất Mùi, ghi công dân châu Nghi là Trình Phỉ, Phó Huy làm Hữu ban điện trực, Phó Lâm làm Tam ban tá chức, Lưu Thuấn Nguyên làm Tam ban sai sứ, đều được bổ nhiệm làm giám đương. Tất cả đều do bắt được giặc yêu ở châu Từ. Phó Huy vì từng là đảng của giặc, nên vĩnh viễn không được làm quan gần dân, không được phép vào kinh.

(Trình Phỉ được nhắc trong thư của Tô Thức gửi Chương Đôn.)

[8] Chiếu cho Trung thư từ nay về sau, nếu có chức giám ty, đề cử quan khuyết, phải bổ nhiệm trong vòng 10 ngày.

[9] Chiếu cho Tam ty chọn quan lo việc mua bán lương thực thuận tiện ở Hà Bắc.

(Ngày 11 tháng 3 năm thứ 4, sai Kiển Chu Phụ.)

[10] Chiếu cho Lưu Thầm, Trình Chi Tài không được can thiệp vào quân sự của Hàn Tồn Bảo.

[11] Ngày Bính Thân, chiếu cho Ty Nông tự chuyển tiền thường bình từ các huyện, trấn, thành, trại biên viễn về bản châu, cho phép dân trừ tiền vận chuyển, lập thành pháp luật. Tam ty tâu rằng, Ty đề cử mua muối giải từ năm Hi Ninh thứ 8 đến năm Nguyên Phong thứ nhất, thu được lãi 165.700 quan. Quan đề cử là Điện trung thừa Trương Cảnh Ôn, quan câu đương là Hữu ban điện trực Lã Quỳ, mỗi người được thăng một chức, những người khác được giảm năm khảo khóa, lại viên được ban lụa theo thứ bậc.

(Bản chí cũng chép như vậy.)

[12] Ngày Mậu Tuất, ban chiếu rằng: “Giáo thụ tông thất kiêm nhiệm cả Đại học và Tiểu học, Quảng Thân, Mục Thân, Bắc Trạch mỗi nơi hai viên, còn lại mỗi nơi một viên. Mỗi tháng tăng thêm chi phí, Ký thất và Giảng thư mười lăm ngàn, Giáo thụ mười hai ngàn, tức là cấp lương tháng cho tông thất. Người nhận hối lộ sẽ bị xử theo tội tham nhũng.” Ban đầu do số lượng quan viên tông thất học nhiều mà bổng lộc ít, thường nhận quà biếu từ các cung, dần dần bỏ bê chức trách, nên ban chiếu cho Trung thư định lại, giữ lại mười ba viên, bãi bỏ mười viên.

(Tháng tư ngày Mậu Thân.)

[13] Chiếu bổ nhiệm Mạc Xuyên thành chủ, Hội Châu đoàn luyện sứ Ôn Nạp Chi Dĩnh Thành Thúc Khê Tâm và em là A Lệnh Kinh làm Tây đầu cung phụng quan, con trai của Khê Tâm là Lạc Tư Ba Ôn và em là A La làm Hữu ban điện trực, em họ là Khê Ba Ôn làm Tam ban phụng chức, em rể là Đáp Lệnh Ba làm Tá chức, mỗi tháng cấp trà và lụa theo thứ bậc. Do Hi Hà lộ tâu rằng Nạp Chi Dĩnh Thành tự nguyện quy phụ, xin ghi nhận người trong họ và thủ lĩnh.

[14] Lễ viện tâu: “Việt Quốc trưởng công chúa mất, trong thời gian tang chế của Từ Thánh Quang Hiến thái hậu. Xét theo lễ, sách 《Gian Truyền》 viết: ‘Tang phục Tề suy, sau khi làm lễ Ngu và Tốt khốc, gặp tang Đại công, thì mặc cả vải gai và vải cát.’ Lại trong sách 《Tạp Ký》 bàn về việc cởi tang phục, sau khi xong việc, trở lại tang phục[2]. Chú giải viết: ‘Dù có tang lớn của người thân, nhưng nếu có tang nhẹ thì vẫn cởi tang phục.’ Như vậy, tang lớn chưa xong mà gặp tang nhẹ, tự nhiên phải thay đổi tang phục để tỏ lòng thương xót, xong việc thì trở lại như cũ. Chân Tông trong thời gian để tang, vẫn mặc tang phục Ti cho nhũ mẫu là Tần Quốc phu nhân, dù chưa hết tang, cũng mặc tang phục cho Hứa Quốc trưởng công chúa. Nay tang phục cho Từ Thánh Quang Hiến thái hậu đã qua thời gian một tháng, nên cử hành tang lễ và mặc tang phục cho Việt Quốc trưởng công chúa.” Được chấp thuận.

[15] Quốc Tử Giám tâu: “Sau tám mươi trai phòng của Thái học, xin xây thêm một gian nhà nhỏ, và vì Quốc Tử sinh chưa có trai xá, phía bắc Giám có đất của dân, xin cấp tiền để mua lại[3], mở rộng xây dựng trai xá cho Giám sinh.” Được chấp thuận.

(Bản mới bỏ đi.)

[16] Ngày Kỷ Hợi, quyền Ngự sử trung thừa Lý Định và các quan khác tâu rằng sổ sách của Quân khí giám bị chậm trễ và không xử lý được 1.031 việc. Chiếu chỉ phạt Thừa 8 cân đồng, Chủ bạ 10 cân đồng, lại viên bị phạt trượng tùy mức độ, còn chủ phán quan thì được tha.

[17] Chiếu chỉ rằng các quan trong và ngoài triều khi làm việc với Trung thư, Thượng thư tỉnh, Tam ty, không phân biệt có thuộc quyền quản lý hay không, đều phải dùng thư tấu (thân trạng), chỉ có Ngự sử đài khi làm việc với Tam ty thì dùng công văn (di điệp). Sau đó lại có chiếu chỉ rằng Ngự sử đài khi làm việc với các cơ quan có chữ “Thượng thư” trong tên thì dùng thư tấu.

(Việc các cơ quan có chữ “Thượng thư” trong tên, cần xem xét thêm.)

[18] Chiếu chỉ tăng thêm 4 người dư cho Tam viện Ngự sử, vì trước đây chỉ có 6 người thay phiên nhau làm việc.

[19] Ngày Canh Tý, quyền Tri Tân châu, Điện trung thừa Ngô Tiềm được quyền phát khiển, đề cử làm chức Quảng Nam Đông lộ Thường bình đẳng sự. Tiềm dâng sớ xin tu sửa thành lũy ở Quảng Tây, Vua nghe theo nên thăng chức cho ông.

[20] Đồng phán Thái thường tự Vương Tồn tâu: “Gần đây có chiếu chỉ cho Bí thư giám Lưu Kỷ[4] đến Tường định Giao miếu lễ văn sở bàn về nhạc. Thần thấy Lễ bộ Thị lang đã về hưu Phạm Trấn thường bàn luận về nhã nhạc, xin triệu Trấn cùng Kỷ tham khảo để xem được mất.” Vua nghe theo. Trước đây, Trấn về hưu, sống ở Đông viên ngoài kinh thành, mỗi khi đến tiết Đồng Thiên, ông đều xin theo hàng tản quan vào chúc thọ. Sau đó có chiếu chỉ cho Trấn đứng trên hàng Hàn lâm học sĩ đương chức, và từ nay về sau, các quan về hưu khi gặp tiết đản và đại lễ, được phép đứng vào hàng cũ. Sau đó Trấn dời đến sống ở Dĩnh châu, rồi vào triều yết kiến, Cáp môn tâu rằng Trấn có lỗi thất lễ, nhưng có chiếu chỉ tha tội. Lại có chiếu chỉ rằng từ nay về sau, các quan về hưu vào triều mà có lỗi thất lễ thì không bị xét tội, hai việc này đều được ghi vào sắc lệnh của một cơ quan. Vua đối đãi ưu ái với các bậc lão thần như vậy.

(Hai việc này đều căn cứ vào 《Truyền tín ký》 của Tiên Vu Xước, cần xem xét thêm. Ngày Ất Dậu tháng 9, bãi bỏ việc bàn về nhạc.)

[21] Chiếu cho hai châu Phú, Cát[5] những người làm quan quy thuận được phép sai phái như quan người Hán, ra vào không bị giám sát. Theo lời xin của Tham tri chính sự Chương Đôn.

[22] Quyền Phát khiển Đề điểm Khai Phong phủ giới huyện trấn công sự Lữ Ôn Khanh tâu: “Trong phủ giới có 216 chỉ huy sương quân và cấm quân, cùng các quân Hà Thanh, Đệ Phố nhận lương bổng, qua nhiều năm chưa từng kiểm tra, không có căn cứ để xem xét các khoản nợ đọng và thất thoát; thêm vào đó, các khoản lợi từ thuế rượu, khúc ở phường trường, thuế thu hạ, tiền thuê nhà cửa, cửa hiệu, cùng các sổ sách thu chi tiền bạc, trong đó không tránh khỏi có tình trạng gian lận, xin chọn quan lập ty để kiểm tra.” Triều đình đồng ý.

[23] Binh bộ tâu: “Khoa thi võ cử, theo lệ cũ, thi cùng khoa chế cử. Trước đây hai lần thi võ cử đều thi cùng tiến sĩ. Nay theo chế độ mới, thi tiến sĩ xong mới thi võ cử. Việc phái quan lại nhiều lần không có ích gì, chỉ tốn kém thêm. Nên thi cùng lúc với tiến sĩ thì tiện hơn.” Triều đình đồng ý.

(Cuối tháng 3 năm thứ 8, có thể tham khảo.)

[24] Tường định lễ văn nói rằng: “Theo sách 《Lễ ký – Ngọc tảo》 chép: ‘Hốt của thiên tử làm bằng ngọc cầu.’ Chú giải: ‘Cầu là ngọc đẹp.’ Có người gọi là đại khuê, thực chất là một. Sách 《Chu lễ – Ngọc nhân chức》 chép: ‘Đại khuê dài ba thước, trên nhọn, đầu hình chung quỳ, thiên tử dùng nó.’ Sách 《Điển thụy》 chép: ‘Vua cắm đại khuê, cầm trấn khuê để triều nhật[6].’ Đã nói là dùng nó, thì nên dùng để phụng thờ trời đất, tông miếu, không có gì không dùng, không chỉ riêng triều nhật mà thôi. Chư hầu gặp nhau và triều cận, tông ngộ, hội đồng với Vua, đều cùng cầm một loại ngọc, thì Vua dùng khuê triều nhật để thờ đại thần, kính hưởng tổ tông, có thể biết được. Vì vậy, Vương Kinh trong 《Giao tự lục》 nói: ‘Tế trời đất đều trước nhận đại khuê cắm vào, sau lại nhận trấn khuê cầm lấy.’ Sách chép: ‘Vào thái miếu bỏ hốt không phải là cổ lễ.’ Như vậy, giao miếu đều không thể thiếu. Nay tế giao miếu, có trấn khuê, không có đại khuê, theo lễ là thiếu. Xin hạ lệnh cho Hữu ty chế tạo.” Chiếu cho tham khảo kích thước đại khuê.

Sau đó lại nói: “Theo sách 《Khảo công ký》, đại khuê, có người nói: ‘Có người gọi là thỉnh.’ Sách 《Tùy thư – Chí》 chép: ‘Hốt của thiên tử gọi là thỉnh, dài một thước hai tấc, làm bằng ngọc cầu.’ Sách 《Khai nguyên lễ nghĩa la》 chép: ‘Hốt từ Tây Ngụy trở đi, chỉ thiên tử dùng ngọc cầu làm, dài một thước hai tấc.’ Xin triều đình xem xét có ngọc hay không để chế tạo.” Theo lời tâu.

(Theo lễ văn, lời xin trước là ngày 17 tháng 9 năm Nguyên Phong thứ nhất, lời xin sau là ngày 9 tháng 6 năm thứ ba, nay ghi chép cả. Lại ngày 28 tháng 6, ngày 14 tháng 7 cũng phụ chép ở đây.)

Lại nói: “Theo 《Chu Lễ》, chương Đại Tông Bá: ‘Dùng ngọc làm sáu loại báu vật để phân định thứ bậc các nước chư hầu, Vua cầm trấn khuê.’ Chương Điển Thụy: ‘Vua cắm đại khuê.’ Như vậy, trấn khuê là vật báu Vua cầm; đại khuê là vật Vua cắm làm hốt. Trong 《Khai Nguyên Lễ》, 《Khai Bảo Thông Lễ》 và các nghi chú, khi hoàng đế thân hành tế lễ ở Minh Đường, Thái Miếu, đến lúc rửa tay, dâng ngọc lụa, uống rượu phúc, đều nói là cắm trấn khuê. Đây vốn không phải là hốt, không nên cắm. 《Cận Lễ Ký》 viết: ‘Đặt khuê lên tấm thảm.’ Người giải thích cho rằng: ‘Đặt xuống đất.’ Khi chư hầu yết kiến thiên tử, ngồi đặt khuê, thì thiên tử khi tế trời đất, tổ tiên cũng nên đặt khuê lên tấm thảm. Trong các nghi chú, khi hoàng đế thân hành tế lễ dâng ngọc lụa, lại cắm trấn khuê. Xin đổi thành đặt trấn khuê. Còn việc rửa tay, uống rượu phúc, nên sai người tiếp nhận khuê.”

(Văn lễ này ghi ngày 28 tháng 6, nay gộp vào ngày 9 tháng 6.)

Lại nói: “Thiên tử khi phụng tế cầm trấn khuê là để tỏ lòng thành kính; cầm đại khuê là để làm hốt. Lễ gặp gỡ người tôn quý, đặt lễ vật xuống mà không trao tận tay. Lễ cận có nói: ‘Đặt khuê lên trên tấm lụa.’ Trấn khuê có tấm lụa. Nghĩa lễ triều sự nói: ‘Thiên tử đội mũ miện cầm trấn khuê, dài một thước hai tấc, tấm lụa dài một thước hai tấc, cầm đại khuê, triều nhật ở đông giao.’ Tấm lụa dùng để đặt ngọc, là đặt để cầm. Khi đã đặt lễ vật xuống đất, thì cầm đại khuê làm hốt. Quản tử nói: ‘Thiên tử cầm ngọc hốt để triều nhật.’

Lễ nhà Đường, khi tế trời đất thần kỳ đều cầm đại khuê và trấn khuê; khi tế tông miếu thì chỉ cầm trấn khuê. Vương Kinh trong 《Giao Tự Lục》 nói: ‘Đại khuê là chất. Lễ tế trời đất là chất, nên cầm và đặt. Trấn khuê là văn. Lễ tông miếu cũng là văn, nên không có nghĩa cầm cả hai.’ Điều này không biết rằng đại khuê là hốt của thiên tử, dùng chung cho cả tế trời và tế miếu.

Xin từ nay hoàng đế khi thân tế trời đất và tông miếu, cầm đại khuê và trấn khuê. Mỗi khi tế lễ, sau khi tiếp thần, lạy hai lạy, thì đặt trấn khuê làm lễ vật, cầm đại khuê làm hốt. Khi làm việc thì cầm hốt, Vua tôn quý thì không cầm, để phân biệt với bề tôi. Tất cả các nghi thức hoàng đế cầm trấn khuê đều là sai lầm do truyền lại. Xin được sửa đổi.” Chiếu đợi khi chế tạo xong đại khuê sẽ thi hành.

(Ngày 14 tháng 7 được chỉ, nay nhập vào ngày 9 tháng 6.)

Lại nói: “Xưa, chư hầu vào chầu và gặp nhau đều cầm ngọc. Sách 《Điển Thụy》 chép: ‘Công cầm hoàn khuê, hầu cầm tín khuê, bá cầm cung khuê, tử cầm cốc bích, nam cầm bồ bích’, ‘để vào chầu, gặp nhau, hội họp với Vua. Chư hầu gặp nhau cũng như vậy’. Cô, khanh, đại phu, nguyên sĩ mới nhậm chức làm bề tôi thì cầm lễ vật. Sách 《Đại Tông Bá》 chép: ‘Dùng chim làm sáu loại lễ vật, để phân biệt các bề tôi, cô cầm da lụa, khanh cầm dê con, đại phu cầm ngỗng, sĩ cầm gà lôi.’ Sách 《Tư Sĩ》 chép: ‘Người coi việc tiếp đón sĩ, giữ gìn lễ vật của họ’ là vậy. Khi gặp nhau thì cầm lễ vật. Sách 《Sĩ Tương Kiến Lễ》 chép: ‘Mùa đông dùng gà lôi, mùa hè dùng thịt khô’ là vậy. Khi bắn cung cũng cầm lễ vật. Sách 《Xạ Nhân》 chép: ‘Tam công cầm ngọc bích’ là vậy. Nếu chư hầu và quần thần giúp tế lễ cho Vua, vốn không có nghĩa cầm ngọc lụa, dê con hay ngỗng, nên dù mặc áo miện cũng chỉ nên cầm hốt. Sách 《Ngọc Tảo》 chép: ‘Khi gặp thiên tử, bắn cung, không bỏ hốt, vào thái miếu bỏ hốt, không phải là cổ lễ.’ Người giải thích cho rằng: ‘Trong thái miếu, chỉ có Vua mới bỏ hốt khi làm lễ.’ Vì bề tôi gặp Vua không ai là không cầm hốt, nên rõ ràng trong thái miếu dù đang làm lễ cũng phải cầm hốt.

Sách 《Đường Vương Kinh Giao Tự Lục》 chép: ‘Phàm thái tử làm lễ thích điện và vương công trở xuống theo tế đều cầm hốt.’ Xin từ nay về sau, khi Vua thân hành tế lễ ở giao miếu, quần thần mặc áo miện giúp tế đều cầm hốt, hoặc khi làm lễ thì cắm hốt. Các tiên nho cho rằng bề tôi dù đang làm lễ cũng cầm hốt là không bỏ hốt, điều đó không đúng. Các quan bồi vị cũng nên mặc áo miện giúp tế.” Được chấp thuận.

(Văn lễ ghi ngày 21 tháng 8 năm thứ ba, nay gộp vào ngày 9 tháng 6.)

[25] Chiếu cho quyền Hình ngục Hà Bắc Đông lộ, Thái thường thừa Uông Phụ Chi, Ngu bộ viên ngoại lang Trần Tri Kiểm, mỗi người phạt 20 cân đồng. Cả hai đều bị tội vì trước đây ở Ty chuyển vận Hà Bắc tâu số tiền lụa không đúng sự thật.

[26] Ngày Nhâm Dần, ban chiếu rằng Bảo Văn các học sĩ kiêm Thị độc Trần Tiến lâu nay khổ vì bệnh chân, ngoại trừ việc tế tự Minh Đường trong tương lai, các việc tế tự khác đều được miễn thay mặt trong một năm. Lúc đó, Trung thư tâu xin vào mùa hạ tế Hoàng Đế, muốn cử Trần Tiến thay mặt làm Thái úy.

[27] Ngày Quý Mão, quyền Đề cử Hà Bắc Tây lộ Thường bình đẳng sự, Thái thường bác sĩ Ngô Cư Hậu được cử làm quyền Kinh Đông lộ Chuyển vận phán quan.

(Muốn ghi chép việc của Ngô Cư Hậu, nên đặc biệt ghi lại đây. Tháng 6 năm thứ 5, ngày Bính Dần, thăng làm Phó sứ. Tháng 9 năm thứ 6, được bổ làm Đãi chế sứ. Cư Hậu là người Dự Chương, đã được nhắc đến vào tháng 8 năm Hi Ninh thứ 8.)

[28] Ghi chép con trai của Chủ bạ huyện Bắc Bình, châu Định là Lý Tủng làm Giao xã trai lang, con trai của Huyện úy Vương Khuê làm Tam ban sai sứ. Tủng và Khuê đều chết đuối khi đào hào.

[29] Ngự sử Hà Chính Thần tâu: “Lễ bộ Thị lang Đằng Phủ vừa từ chức Tri trì châu chuyển làm Tri thái châu. Phủ trước đây từng bao che kẻ đại nghịch, pháp luật không thể dung thứ. Triều đình khoan dung, vẫn giữ chức vị hiển hách, đối với Phủ đã là may mắn lắm rồi, sao có thể lại chuyển đến một phiên lớn! Xin chuyển đến một châu nhỏ xa xôi.” Chiếu cải làm Tri an châu.

(Từ Trì châu chuyển đến Thái châu là ngày 24 tháng 4, nay ghi chung vào đây.)

[30] Hàn Tồn Bảo tâu: “Các lộ Ích châu, Lợi, Quỳ cùng với người Di ở Lô châu có đường thủy bộ thông nhau, xin chỉ huy các lộ qua lại, yêu cầu chuẩn bị đầy đủ.” Được chấp thuận.

[31] Chiếu cho An phủ ty lộ Định Châu cấp 3 vạn tấm lụa từ kho phong trang để tu sửa thành Bảo Châu. Tam ty tâu: “Giấy mua lương thảo ở Hà Bắc, vốn dùng tiền mặt theo pháp nhất đẳng để hoàn trả, sau này lại lập riêng tiền thảo liệu, dùng bạc, lụa và tiền vốn trà để chiết khấu, thương nhân không có lợi, nên tăng thêm tiền thảo liệu hư. Tuy dùng bạc, lụa để định giá, lại bắt tính thêm hương trà, tạm ngừng cấp bạc, cũng thu nạp, chưa thông hành, dẫn đến việc phân chia số lượng giấy giao dẫn mua lương thực, ép buộc thu nạp. Trước đây Tiết Hướng xin dùng pháp tiền mặt để mua, lúc đó Tam ty cho rằng tiền không đủ, nên lại theo lệ cũ. Nay xét thấy lụa vốn không phải là thứ thương nhân Hà Bắc, Kinh Đông cần, các phố giao dẫn thu mua với giá rẻ, thu lợi lớn, nếu không làm rõ, e rằng sẽ kéo theo việc tăng tiền hư mua lương thực, dần gây hại cho kế hoạch biên cương. Xin đều theo lệ mua lương thực mà thu nạp, xuất giấy không được nâng giá hư, Ty Thị dịch vụ hạ giới cũng theo pháp giấy mua lương thực mà hoàn trả. Nếu thiếu tiền mặt, Tam ty sẽ ứng phó, các giấy trước đây vẫn theo pháp cũ.” Được chấp thuận.

[32] Chiếu ban cho cung Thượng Thanh Trữ Tường vườn nhà và 14 khoảnh đất của Tôn Thủ Ngưng, người không có người thừa kế.

[33] Ngày Giáp Thìn, chiếu cho Quyền phán Ty Thiên giám Đinh Tuân và Quyền đồng quản câu Ty Thiên giám Chu Tông, mỗi người được bổ một con hoặc cháu làm học sinh ngoại ngạch. Tuân, 29 năm không được khảo khóa; Tông quản việc giám 26 năm, chưa từng xin ân cho con cháu, nên đều được ban.

[34] Chiếu cho lộ Kinh Nguyên chiêu mộ dũng cảm theo lệ lộ Phu Diên, lấy 100 người làm định ngạch[7]. Theo lời xin của Kinh lược ty.

(Binh chí quyển 3 có việc này, giống với thực lục. Định ngạch Phu Diên phụ lục cuối năm Hi Ninh thứ 6.)

[35] Chiếu cho Ty Nông tự ở các lộ Vĩnh Hưng quân cấp 18 vạn thóc từ kho Thường Bình để sung vào việc phòng thủ dưới quyền tướng lộ Hoàn Khánh và cho vay khi thiếu hụt đối với Hán, Phiên cung tiễn thủ trong trường hợp khẩn cấp.

[36] Chiếu rằng: “Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây chưa đặt bảo giáp, lệnh cho Giám ty, Đề cử ty hàng năm chia ra các châu huyện để kiểm tra.” Theo lời thỉnh của Binh bộ.

[37] Đô Đề cử Biện Hà Đê Ngạn ty xin cấm thương nhân dùng tre gỗ làm bè phao vào Biện buôn bán. Được chấp thuận.

[38] Tường định Lễ văn sở tâu: “Nay theo nghi chú, khi tế thân hưởng Thái miếu chỉ có mâm xương thịt ba con vật, mà không có mâm ruột gan da, không hợp với nghĩa xưa. Xin thỉnh ngoài mâm xương thịt ba con vật, thêm một mâm ruột gan bò dê, một mâm da heo. Ruột gan bò dê, mỗi thứ ba cái, chiều dài đều đến chỗ cách mâm. Phổi tách mỗi thứ một cái, nhỏ mà dài, cắt ngang, không đứt giữa chút nào; phổi cắt mỗi thứ ba cái, cùng với ruột gan để chung một mâm. Thứ tự xếp đặt, để phổi tách ở trên cùng, phổi cắt kế tiếp, ruột gan ở dưới cùng. Da heo để một mâm, xếp ngang, cho da thuận theo chiều.” Được chấp thuận.

(Lễ văn sở ngày 16 tháng 2 năm thứ 3 theo tấu, nay phụ vào ngày 13 tháng 6.)

Lại tâu rằng: “Xưa kia khi tế tự dùng sinh vật, dâng đồ sống thì chia làm bảy phần, dâng đồ chín thì chia làm mười một phần. Nay khi thân tế ở Nam Giao, chính vị và phối vị đều dùng một chân bò, một chân dê, một chân lợn, mỗi thứ một miếng thịt; ở Thái Miếu, mỗi gian đều dùng một chân dê, một chân lợn, mỗi thứ một miếng thịt bò, đến khi dâng đồ chín, lại cắt một miếng thịt của ba con vật, không phân biệt bên trái hay bên phải, không chia quý tiện, không có sự khác biệt giữa đồn giải và thể giải.

Xin từ nay khi dâng đồ sống ở Giao Miếu, chia con vật thành hai đùi, hai vai, hai sườn, cùng với xương sống thành bảy phần. Dùng cả hai bên trái phải, khi bày lên mâm, thì đặt hai đùi ở hai đầu, hai vai tiếp theo, hai sườn tiếp theo, xương sống ở giữa, đều hướng về phía trước. Khi chưa dâng đồ chín, nhúng thịt vào nước sôi, chỉ dùng bên phải, đùi không bày lên. Mười một phần khi bày lên mâm theo thứ tự là vai, cánh tay, bắp tay, xương sống chính, xương sống ngắn, xương sống ngang, sườn thay, sườn dài, sườn ngắn, thịt bụng, thịt đùi.

Sắp xếp theo thứ tự này. Vai, cánh tay, bắp tay ở phía trên, thịt bụng, thịt đùi ở phía dưới, xương sống và sườn ở giữa, vẫn chia làm hai phần, một nửa để dâng đồ sống, một nửa để dâng đồ chín, mâm ruột và da cũng như vậy.” Được chấp thuận.

Lại tâu rằng: “Phàm khi kiểm tra việc rửa sạch đồ tế khí và các dụng cụ nấu nướng, quan viên đều phải đến xem. Nay khi thân tế ở Thái Miếu, trước mỗi gian chỉ bày một mâm và một bát, còn ở Nam Giao thì trước vị thần cũng bày một mâm và một bát trước, dẫn đến việc kiểm tra rửa sạch, nhưng không bày các đồ như chậu rửa, giỏ đậy, hộp đựng, bình đựng và khăn phủ, chỉ là hình thức mà không có thực chất sạch sẽ. Xin sửa đổi.” Được chấp thuận.

(Sở Tường Định ngày 16 tháng 2 năm thứ 3 theo tấu, nay phụ vào ngày 13 tháng 6.)

[39] Ngày Bính Ngọ, Vua ban chiếu cho Trung thư đặt cục để xem xét và định ra chế độ quan chế, sai Hàn lâm học sĩ Trương Tảo, Xu mật phó đô thừa chỉ Trương Thành Nhất đứng đầu. Từ bộ viên ngoại lang Vương Trắc Thần, Quang lộc tự thừa Lý Đức Sô kiểm thảo văn tự, ứng việc xem xét và định ra chế độ quan danh, đều do Trung thư trình lên. Sau đó lại lấy Trứ tác tá lang, Bí các hiệu lí Hà Tuân Trực kiêm kiểm thảo văn tự.

(Hà Tuân Trực kiểm thảo vào ngày 9 tháng 7, nay ghi chung vào đây.)

[40] Long đồ các trực học sĩ, Xu mật đô thừa chỉ Hàn Chẩn kiêm phán Binh bộ, bãi chức câu đương công sự quan của Binh bộ.

[41] Chiếu cho các lộ Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây mỗi nơi chọn một viên quan văn võ để đề cử nghĩa dũng, bảo giáp. Quan võ đề cử nghĩa dũng, bảo giáp kiêm đề điểm hình ngục, quan văn đề điểm hình ngục kiêm đề cử nghĩa dũng, bảo giáp. Từ nay các lộ đề điểm hình ngục đều theo lệ này. Đông thượng các môn sứ, Vinh châu thứ sử Địch Tư ở Hà Bắc Tây lộ, quyền phán Đô thủy giám, Đô quan viên ngoại lang Lưu Định ở Hà Bắc Đông lộ, Đông thượng các môn phó sứ Vương Sùng Chửng, quyền phán Hình bộ Tập hiền hiệu lí Hoàng Liêm cùng ở Hà Đông lộ, Dẫn tiến phó sứ Trương Sơn Phủ ở Vĩnh Hưng đẳng lộ, quyền phán Binh bộ Thái thường bác sĩ Lý Thâm ở Tần Phượng đẳng lộ, đề điểm Hà Bắc Tây lộ hình ngục Đỗ Thường, đề điểm Vĩnh Hưng quân đẳng lộ hình ngục Diệp Khang Trực, đều kiêm lĩnh việc đó.

(Ngày 29 tháng 11 năm thứ hai, lần đầu sai Vương Trung Chính, Địch Tư đề cử.)

[42] Quyền phán Đô thủy giám Trương Đường Dân xin khôi phục số lượng 9.000 quân khách tu sửa sông Hoàng, Biện mỗi năm. Đô đại đề cử Du điền ty xin lấy 10 trại đất chăn nuôi ở huyện Ung Khâu làm trang điền. Vua đồng ý.

[43] Tăng số tiền công sứ của châu Quế lên 4.000 quan.

[44] Như kinh sứ Cao Thông dâng lên 32 tờ văn tự kêu oan của người chú là Vĩnh Hanh trong ngục[8], xin chuyển Vĩnh Hanh đến châu quân khác, đợi báo miễn tội, nhưng bị Lữ Huệ Khanh và những người khác ngang nhiên gia hình, oan chết trong ngục. Vua phê: “Vĩnh Hanh là tiểu thần ở vùng biên viễn, phạm pháp không oan, chủ súy trị tội gian trạng của hắn, hắn vẫn không biết sợ, lại dám giả tình tự nói, bản chất hung hãn của hắn có thể thấy rõ. Hãy giao cho cơ quan xét án phân tích việc khoan dung tội nhân, lộ bí mật ngục tình, tâu lên, và từ nay về sau gặp ân xá cũng không được tha.”

(Ngày 2 tháng 5 năm thứ 2, Vĩnh Hanh trước tiên bị cách chức.)

[45] Quyền Kinh lược ty Hi Hà lộ là Triệu Tế tâu rằng nhận được thư của Đổng Chiên, nói muốn xây một thành, xin cấp dụng cụ xây thành và quân tiếp viện. Chiếu cho Triệu Tế dụ theo chỉ triều đình, dụng cụ xây thành bằng sắt đã lệnh ứng phó, trước hãy báo số lượng, đến khi xây dựng sẽ lệnh Kinh lược ty điều quân đến giám sát và tiếp ứng.

[46] Ngày Đinh Mùi, Tứ phương quán sứ, Thứ sử Khánh Châu là Tào Bình được lĩnh chức Vinh Châu Đoàn luyện sứ, Đông thượng các môn phó sứ Tào Dụ được làm Dẫn tiến phó sứ, Cung bị khố sứ Tào Luận được làm Tây Kinh Tả tàng khố sứ. Vì họ xin từ chức để chịu tang Từ Thánh Quang Hiến hoàng hậu ba năm, nên có mệnh lệnh đặc biệt này.

[47] Chiếu rằng triều đình và các cơ quan như Tỉnh, Tự cử quan đến các lộ, các An phủ, Giám ty, Đề cử ty không được tấu cử. Vì Trung thư tâu rằng những quan được cử đi làm việc ở ba bốn lộ, nhân cơ hội xin xỏ, được nhiều người tiến cử, e rằng không tránh khỏi tệ nịnh hót cẩu thả, nên xin lập pháp.

[48] Ngự sử Mãn Trung Hành tâu: “Tri huyện Uý Thị là Tôn Lãm được triệu về kinh, các nghị sĩ đều cho rằng Lãm có khả năng đàn áp quân sĩ dưới quyền tướng, sẽ được thăng chức. Nhưng lời bàn tán trong ngoài đều cho rằng trước đây trong quân Uý Thị vốn có mối liên kết thực sự, chỉ vì đô giám của huyện này không hòa hợp với tướng quan, thường dùng lời ngon ngọt để chiều chuộng, ý muốn gây tổn hại. May mắn có chút lời nói, lại còn phóng đại sự việc, bí mật báo cho tri huyện, chiếm công làm của mình. Nay tướng quan đã bị thay thế không theo thứ tự, mà Lãm lại được triệu kiến và sẽ được thưởng thăng chức, e rằng từ nay về sau chính sự quân chính của tướng quan không thể phấn chấn, mà các huyện lệnh tham lợi đều có ý may rủi.” Chiếu cho Lãm trở về nhiệm sở.

Lãm là em của Tôn Giác.

Trước đây, tướng quan Úy Thị cai quản quân sĩ hà khắc, quân sĩ định nhân dịp đại duyệt giết tướng quan để làm phản. Đến ngày, tướng quan không dám ra. Lãm nghe tin liền vội đến, khi đến nơi, quân sĩ vẫn còn bàn tán không chịu nghe. Lãm từ tốn khuyên bảo: “Tướng quan bạo ngược, thật có tội, nhưng các ngươi được cấp ăn mặc từ huyện quan, huyện quan đâu có phụ bạc các ngươi? Sao dám tính kế diệt tộc!” Mọi người đều cảm ngộ và trở về hàng ngũ. Hai tướng quan chờ dịp từ từ đến, đều mặc áo giáp, dẫn theo con em để tự vệ. Lãm mặt đối mặt trách mắng, sai lại vội tâu lên, mọi người liền phục tùng. Vua nghe tin khen ngợi, nên muốn triệu kiến. Sau đó bổ nhiệm Lãm làm Chủ bạ Tư nông tự.

(Truyện của Lãm ghi trong năm Tĩnh Quốc tháng 11. Việc tướng quan bị thay thế không theo thứ tự, cần xem xét.)

[49] Ngày Mậu Thân, Từ bộ Viên ngoại lang Hồ Tông Dũ làm Khai Phong phủ Thôi quan. Mấy ngày sau, đổi làm Tri châu Thái. Tông Dũ trước đây làm Đề điểm hình ngục Hà Đông, vì không xứng chức nên bị triệu về, và có mệnh lệnh này.

[50] Chiếu cho Kinh lược ty Phu Diên lộ là Thẩm Quát giải quyết những việc chưa xong về biên phòng bốn lộ do Kinh lược sứ trước là Lữ Huệ Khanh sắp đặt.

[51] Đô đại kinh chế Hi Hà lộ biên phòng tài dụng sự Lý Hiến tâu: “Vương Quân Vạn, người bị giáng làm Dẫn tiến sứ, Đạt châu Đoàn luyện sứ, từ khi khai thác Hi Hà, công lao lớn nhất, không may qua đời, số tiền kết địch mà ông ta còn nợ quan phủ đã bị tịch thu gia sản. Con trai ông là Vương Chiêm vừa nhận chức quan lại bị thu hồi. Mong được thương xét trả lại, bổ nhiệm Chiêm làm Phó tướng một cánh quân ở Hi Hà lộ.” Ngự sử Hà Chính Thần tâu: “Quyền bãi chức, ban thưởng là quyền riêng của bậc quân chủ để cai trị thiên hạ, ngay cả các đại thần chấp chính cũng không được can dự. Thế mà Lý Hiến, một hoạn quan, dám vượt phận xin xỏ, không chút kiêng dè, ban ơn làm phúc để lấy lòng người. Huống chi Vương Quân Vạn là hào kiệt biên cương, việc này há chẳng khiến đồng loại của hắn xao động sao! Kính mong trị tội Lý Hiến.” Chiếu chỉ gửi văn thư cho Lý Hiến.

(Ngày 27 tháng 5 năm thứ 2, ngày 4 tháng 6 năm thứ 6, có thể tra cứu.)

[52] Ngày Kỷ Dậu, chiếu chỉ cho Đồng Văn quán thiết lập cơ quan để kiểm tra tiền bạc, vật tư của Thị dịch vụ, giao cho Đồng tu khởi cư chú Thư Thiện đảm nhiệm việc này.

[53] Ngự phê: “Ngự sử điều tra việc Thái học bác sĩ Diệp Lệ trong thời gian nghỉ phép đã khai gian ngày tháng để được xét thăng chức. Trung thư xem xét, thấy điều tra không sai, đã truy cứu. Tuy Lưu nội tuyển cẩu thả hoặc có gian lận, nhưng đã nhận lệnh điều tra thì phải báo cáo thực tình cho cơ quan hữu trách. Chỉ vì sợ vi phạm điều lệ, không được cải chức, nên giấu giếm không nói. Hành vi như vậy, e không xứng làm thầy dạy người, nên tước bỏ chức vụ học quan trước, để chờ xử lý.”

[54] Vũ học dâng lên bộ sách mới tu chỉnh gồm Sắc, Lệnh, Cách, Thức, chiếu chỉ cho thi hành.

[55] Chiếu rằng: “Cơ quan Đề cử giáo tập mã quân sở[9] hiện đang huấn luyện con em các quan lại và các hạng người khác, hãy để quan Đề cử đợi đến khi thi thử. Hiện có người bắn cung bộ với lực kéo một thạch năm đấu, mười mũi tên bắn trúng năm mũi xa sáu mươi bước, bia cao tám thước, rộng năm thước, trúng năm mũi; bắn cung ngựa với lực kéo một thạch ba đấu trở lên, bắn thẳng và bắn ngược năm mũi trúng ba mũi bia, cùng với việc sử dụng lực tay chân trước sau, thực sự tinh thông đúng phép, hãy liệt kê tên tâu lên.”

(Thực lục chỉ ghi ngày 11 tháng 5 có tờ chiếu tay, nay thêm vào ngày 18 tháng 6, ngày 17 tháng 11 năm thứ 5 trong thực lục ghi trùng với điều này, cần tra cứu các ngày 19 tháng 9 năm Hi Ninh thứ 10, 23 tháng 9 năm thứ 10, 14 tháng 5 năm Nguyên Phong thứ 2, 11 tháng 3 năm thứ 3, 11 tháng 5, 18 tháng 6, 17 tháng 11 năm thứ 5, và 5 tháng 2 năm thứ 6.)

[56] Ngày Nhâm Tý, chiếu bãi bỏ chức Chủ phán quan của Trung thư, Môn hạ tỉnh, giao việc tỉnh về Trung thư.

[57] Lễ viện tâu: “Ngày Tân Tỵ tháng 9 sẽ có việc tế ở Minh đường, vì tang lễ của Từ Thánh Quang Hiến Thái hậu, dùng ngày thay tháng, tuy đã qua thời gian tang chế, nhưng vẫn trong vòng ba năm, nên các nghi thức lỗ bạ, nghi trượng, quan phục, âm nhạc nên theo như lệ cũ.” Chiếu theo lệ cũ của lễ Nam giao năm Hi Ninh thứ 9, sai Tri lễ viện, Bí thư thừa Dương Kiệt đến Cục Tường định lễ văn cùng bàn về nhạc lớn. Theo lời thỉnh cầu của Lưu Kỷ, Bí thư giám đã về hưu.

[58] Ngự phê gửi Hàn Tồn Bảo: “Trước đây đánh dẹp bọn Di họ La Cẩu ở Lô Châu, việc chiêu nạp các tộc Di chỉ khiến họ tự giữ thôn ấp, bắt giết bè đảng giặc, chưa từng dẫn họ đi theo quân. Nay dùng binh, khác với việc trước, nếu vẫn dùng lệnh cũ, thì đại quân tiến sâu, có thể gây hậu họa, nên thay đổi kế hoạch. Sau này tiến đánh, phàm các thôn ấp được chiêu an theo chiếu bảng, đều chọn thủ lĩnh có công, đưa thân nhân họ đến Lô Châu làm con tin. Hoặc ở các trại ngoài vẫn để lại một số quân phòng thủ, sau đó bắt họ điểm tập trai tráng khỏe mạnh trong tộc làm tiên phong cho đại quân. Rõ ràng thỏa thuận, nếu đánh giặc chém đầu có công, sẽ thưởng như quân Hán. Nếu không tuân mệnh, do dự hai lòng, bản thân và cả họ đều bị chém.”

[59] Ban cho Từ bộ Viên ngoại lang, Quyền phát khiển Đại Lý Thiếu khanh Dương Cấp áo mặc màu tía. Vợ của Nội thị Lý Hiến là Vương thị tố cáo việc trong nhà Hiến, Khai Phong xét hỏi con dâu, đã nhận tội oan[10], Vua thấy có oan, giao cho Đại Lý. Cấp dùng chứng cứ tìm ra sự thật, Vương thị càng khăng khăng, lấy sổ ghi chép trong Nội thị tỉnh để xét, thấy là nhận tội oan, tâu lên. Vua nói: “Hiến là người thân cận, nếu không được minh oan, hình phạt sai lầm sẽ bắt đầu từ đây, không có khanh thì ai có thể biện rõ được!”

(Việc này theo bản truyền của Cấp chép thêm, nên xét lại đúng hay không. Xét: trước đây Thái Diên Khánh vì vụ án này bị bãi chức Khai Phong, Thái Thừa Hi nói…, thì bản truyền của Cấp có lẽ chưa đáng tin. Ngày Nhâm Dần tháng 8 năm thứ 2, lần đầu giao cho Đại Lý.)

[60] Ngày Quý Sửu, chiếu cho Tri Hi Châu Triệu Tế bãi chức, lưu lại Tần Châu chờ chỉ. Lúc đó Tế vì tội dùng lính làm việc riêng và dùng tiền công mua con gái, bị Thiểm Tây Chuyển vận ty xét tội.

[61] Chiếu cho các Y quan sứ trở xuống khám bệnh cho Vua, và những người ứng việc ở Ngự dược viện thuộc về Ngự dược viện, còn những người vào nội ứng việc và khám nghiệm bệnh tình, các Y quan thuộc về Nội đông môn ty.

[62] Ngày Ất Mão, Tri châu Thương Châu, Đồn điền Lang trung, Trực Tập hiền viện Trương Giáp được thăng làm Từ bộ Lang trung, Trực Long đồ các, Tri châu Hi Châu. Ngự sử Mãn Trung Hành tâu: “Trương Giáp tính tình hẹp hòi, nóng nảy, thường hay nghi ngờ, trước đây ở Quảng Nam, đã tính toán việc riêng. Hi Hà là vùng biên giới trọng yếu, nên chọn người cẩn trọng, ổn định.” Bèn bãi chức Trương Giáp, dùng Tri châu Hùng Châu, Bộ quân Đô ngu hậu, Xương Châu Đoàn luyện sứ Miêu Thụ làm Tri châu Hi Châu.

(Lệnh bổ nhiệm Miêu Thụ vào ngày 2 tháng 7, nay ghi chung lại.)

[63] Ghi chép việc cho một người con của cố Thái thường Bác sĩ, Bí các Hiệu lý kiêm Giám sát Ngự sử Đinh Chấp Lễ được bổ làm quan. Vì ông đã hai lần làm Ngự sử và từng giữ chức Tam ty Phán quan, Đề điểm Hình ngục, nên sau này không được lấy làm lệ.

[64] Chiếu chỉ các châu quân biên giới Hà Bắc, số gạo thiếu hụt của quân Cấm quân, giao về Quần mục ty phong trang.

[65] Tham tri chính sự Chương Đôn dâng sách 《Đạo Lạc thông Biện ký》, chiếu lấy tên là 《Nguyên Phong Đạo Lạc ký》, khắc vào bia đá tại miếu Lạc Khẩu.

[66] Quyền Phát khiển Kinh Đông lộ Chuyển vận phó sứ Lý Sát tâu: “Phép Bảo giáp là để phòng ngừa trộm cướp, khi cấp bách có thể triệu tập truy bắt. Lộ này đã sắp xếp nhiều năm, nhưng không dạy tập, cũng không có phép điểm duyệt, việc thêm đinh, mở hộ, sổ sách không rõ ràng, dần thành văn bản vô dụng. Xin mỗi năm vào lúc nông nhàn, giao cho Đề điểm Hình ngục ty chọn quan phân về các huyện, đến các làng xã đối chiếu sổ sách kiểm tra số đinh, những chỗ không đúng thì sửa lại.” Chiếu giao về Ty Nông tự[11].

[67] Đề cử Thành Đô phủ đẳng lộ Trà trường ty tâu: “Ty này tích lũy tiền hàng vạn, đã có chiếu ban cho các ty khác, nay xin lấy số vàng lụa còn lại đổi thành 30 vạn quan tiền, nộp vào Nội tàng khố.” Chiếu giao cho Kinh lược sứ tại châu gần đó phong trang[12], giao cho Trà trường ty quản lý, theo phép phong trang tiền vật. Từ nay về sau, nếu có tiền thừa cũng làm theo cách này, cuối năm báo số lên.

[68] Ngày Bính Thìn, ban chiếu: “Các huyện thuộc phủ Khai Phong thường xảy ra cướp bóc, các quan chức tại chức nghi ngờ có người lười biếng, không đủ năng lực, lệnh cho Ty Đề điểm thân hành đến các huyện bị cướp để đốc thúc bắt giữ, đồng thời xem xét các Tuần kiểm, Huyện úy không đủ năng lực để tâu lên.”

[69] Ngự sử Mãn Trung Hành tâu: “Trước đây, sông Tào Thôn bị vỡ đê, chỉ xử tội các quan chức đương nhiệm của Đô thủy giám. Thần cho rằng việc phòng chống sông ngòi vững chắc không thể hoàn thành trong một sớm một chiều, việc định tội và xử phạt nên căn cứ vào thời gian đảm nhiệm chức vụ lâu hay ngắn.” Chiếu lệnh Trung thư lập ra quy định về thời hạn nhậm chức.

[70] Quyền Phát khiển Kinh Đông lộ Chuyển vận phó sứ Lý Sát xin cho phép thông hành việc đặt trường mua bán muối biển ở các châu quân, và đặt Giám đúc tiền ở Từ Châu. Lại xin tăng thêm 20-30 vạn xấp lụa dự trữ, do bản lộ chuyển giao. Lại xin lệnh cho Ty Đề cử hai lộ Kinh Đông điều tra chi phí thực tế của nha quy để quy định lại. Lại tâu: “Bản lộ có nhiều thặng viên, tốn kém lương thực. Xin cho những người chưa đến 55 tuổi nhưng ốm yếu, nhút nhát đều được giảm bớt.” Đều được chấp thuận, thặng viên vẫn hỏi ý nguyện của họ, còn những người khỏe mạnh thì tuyển sung vào quân Sương.

(Sách 《Thực hóa chí》: Năm Nguyên Phong thứ 3, Chuyển vận phó sứ Kinh Đông Lý Sát dâng tấu xin cho các châu Nam Kinh, Tế, Bộc, Tào, Đơn dùng muối Giải; còn 12 châu khác dùng muối biển, xin dùng thuế pháp hiện nay để đặt trường mua bán muối. Pháp này là thu hết muối do các hộ nấu, quan tự bán, nghiêm cấm buôn bán tư nhân. Mỗi năm thu được 27 vạn 3 ngàn quan tiền, lợi nhuận gần bằng một nửa. Ngô Cư Hậu làm Chuyển vận phán quan Kinh Đông, kế tục Lý Sát cải cách pháp muối, lợi nhuận càng nhiều. Năm thứ 6, so sánh với các trường mua bán muối ở bản lộ và Hà Bắc, từ khi cải cách pháp đến nay một năm rưỡi, thu được 36 vạn quan tiền lãi. Lý Sát, Ngô Cư Hậu đều được phong quan để khen thưởng công lao. Việc của Lý Sát xảy ra vào ngày 25 tháng 6 năm thứ 3.)

[71] Chiếu rằng binh lính bốn tướng do Hàn Tồn Bảo chỉ huy đều là tinh nhuệ, cũng đủ để hoàn thành nhiệm vụ, binh lính do Bành Tôn chỉ huy có thể không cần điều động. Tồn Bảo và Tôn cùng nhận mệnh, chưa từng qua lại riêng tư, triều đình biết hai người không hòa hợp, bèn bãi chức Tôn và chỉ dùng Tồn Bảo.

(Hai người chưa từng gặp riêng, theo sách 《Bình man lục》.)

[72] Tường định lễ văn nói: “Tư thiên Bảo chương chính Hồ Yến bàn về việc ở miếu Vũ Thành Vương, các vị Quản Trọng, Vi Hiếu Khoan, Uất Trì Kính Đức, Tô Định Phương, Quách Nguyên Chấn chỉ ghi chức hiệu và họ tên, xin đổi thành ghi tên. 《Lễ ký》 viết: ‘Phụ vào người chết non, gọi là Dương đồng mỗ phủ[13], không gọi tên thần.’ Nghĩa trong 《Xuân Thu》, bề tôi đã chết thì Vua không nỡ gọi tên. Đối với bề tôi của mình, khi họ chết và trở thành thần còn không gọi tên, huống chi là bề tôi đời khác? Vì vậy, khi tế thần Ngũ quan, không gọi là Trọng Lê mà gọi là Câu Mang, Chúc Dung cũng không gọi tên, đó là thần. Nên ghi chức tước, kèm theo thụy hiệu, nếu có tự thì không ghi tên, như Lưu Hầu Trương Lương thì gọi là ‘Hán Thiếu phó Lưu Hầu Trương Tử Phòng’. Nếu thụy hiệu và tự đều không rõ thì ghi họ tên.” Theo đó. Sau lại có chiếu rằng các bậc khanh sĩ đời trước được ghi trong điển tế đều không ghi tên.

[73] Ngày Đinh Tỵ, xuống chiếu cho các hộ nấu rượu ở kinh đô đang phải nộp tiền mua men cũ và tiền phạt gấp đôi được gia hạn thêm nửa năm; những hộ chưa được miễn tiền phạt thì giảm một phần ba.

[74] Chiếu cho Khai Phong phủ, Kinh Đông Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây, Hà Đông lấy hộ có tài sản nuôi ngựa, có thể theo số lượng ngựa phải nuôi mà các Ty đề cử ở các lộ đã trình bày để thi hành: Khai Phong phủ giới 4.694 con, Hà Bắc Đông lộ 615 con, Tây lộ 854 con, Tần Phượng đẳng lộ 642 con, Vĩnh Hưng đẳng lộ 1.546 con, Hà Đông lộ 366 con, Kinh Đông Đông lộ 717 con, Tây lộ 922 con, Kinh Tây Nam lộ 599 con[14], Bắc lộ 716 con.

(Ngày 28 tháng 2, ngày 22 tháng 8, lại ngày 27, bản chí chép: Lại có lệnh cho hộ có tài sản nuôi ngựa, từ năm Nguyên Phong thứ 3 chiếu rằng vì ngựa quốc gia chưa đủ, nên lệnh cho Khai Phong phủ giới, Kinh Đông Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây, Hà Đông lộ các châu huyện, hộ có tài sản đều tính tài sản mua ngựa, nhà ở phường quách có tài sản từ 3.000 quan tiền trở lên, nhà ở thôn quê từ 5.000 quan tiền trở lên, hoặc cả phường quách và thôn quê đều từ 3.000 quan tiền trở lên, đều nuôi một con ngựa, mỗi khi tăng gấp đôi thì thêm một con, tối đa đến ba con. Ngựa phải cao từ 4 thước 3 tấc trở lên, tuổi từ 8 tuổi trở xuống, đến 15 tuổi thì lại mua như lúc đầu, Ty đề cử ghi chép lại. Ngày 7 tháng 2 năm thứ 7 bãi bỏ.)

[75] Ty đề điểm hình ngục Kinh Đông Tây lộ tâu: “Vì Ty thừa Đô thủy giám ở đê Ngô Thôn, châu Thiền mở cửa xả nước, khiến nước sông lớn chảy vào châu Bộc, dòng sông cạn chảy xuống, tiếp nối với cửa Hoành Lũng trở xuống, châu Bộc, châu Vận tu sửa đê đạo.” Trên phê: “Nên lệnh cho Đô thủy giám khám xét. Mùa hè năm nay nước sông lớn không dâng cao, vốn không nguy cấp, Đô thủy vì sao lại có việc này, vào lúc nông vụ khiến dân cư ven sông kinh động lao nhọc, phải tâu lên.”

[76] Thái thường tự thừa Uông Phụ Chi quyền phát khiển Khai Phong phủ suy quan.

(Tháng 8, ngày Đinh Dậu, vì Phong Tắc có lời tâu, nên đặc biệt ghi chép.)

[77] Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu cho Ty Đề điểm hình ngục lộ Quảng Nam Tây đặt trị sở như cũ ở Quế Châu. Trước đó định dời đến Tượng Châu.

[78] Ban chiếu cho các châu Chân, Sở, Tứ đóng mỗi nơi 100 chiếc thuyền đáy nông[15], chia thành 10 đoàn, đưa vào sông Biển để vận chuyển.

[79] Lưu Kỷ, chức Bí thư giám đã về hưu, tâu rằng: “Nhạc chương tế Minh Đường, số chữ và số thanh âm của nhạc khúc không khớp nhau[16], làm mất hẳn phép “ca vĩnh ngôn” trong sách Ngu thư. Xin tuân theo nhạc chương do nhà Vua soạn[17], giao cho bản cục căn cứ vào phép luật lã thất quân, xét định thanh âm theo số chữ của nhạc chương, lấy một thanh hát một lời, tám âm theo đó. Lại nữa, chuông và khánh biên chế thời xưa đều có 16 chiếc. Đó là vì ngoài 12 luật còn có bốn thanh trong là Hoàng chung, Đại lã, Thái thấu, Giáp chung. Nay đại nhạc của thánh triều, chuông và khánh cũ đều có 16 chiếc, từ khi Lý Chiếu bàn về nhạc đến nay không còn đánh nữa, làm mất hẳn phép xưa. Huống chi chú giải của Trịnh thị trong 《Chu lễ》 nói rõ biên chế khánh đủ 16 chiếc. Lý Chiếu không hiểu bốn thanh trong giúp thành bốn luật, tuyên đạo hòa hợp âm dương. Nay nếu không dùng thì sẽ làm mờ mịt đạo lý xướng họa. Xin theo phép xưa, đủ bốn thanh trong.” Ban chiếu cho Viện Lễ xét thử, sau đó làm theo lời Lưu Kỷ tâu.

[80] Sở Tường định lễ văn tâu rằng: “Đàn thiêu của Hoàng địa kỳ và Thần châu địa kỳ không nên đặt, xin hủy bỏ. Phàm tế Hoàng địa kỳ, Thần châu địa kỳ, Đại xã, Đại tắc, chúc bản cùng sinh tệ, đồ cúng đều chôn ở huyệt.”

Lại xin: “Khi làm lễ trai giới ở Nam Giao, hoàng đế từ nội cung ra, ngự ở Đại Khánh điện, thay y phục trong màn, các quan tâu xin nghiêm cấm trong ngoài, xong, hoàng đế ngồi hướng nam ở Đại Khánh điện, trăm quan quay mặt về hướng bắc lạy hai lần, tâu xin hoàng đế xuống trai thất, bỏ vị trí phía tây và ngự tháp hướng đông. Khi làm lễ trai giới ở Minh Đường, Văn Đức điện cũng theo như thế.”

Lại tâu: “Sách văn tế thần ở Giao, Miếu, Minh Đường, sai Trung thư thị lang đọc là không đúng, xin đổi lệnh cho Thái chúc.” Lại tâu: “Khi hoàng đế thân hành tế lễ ở Giao, Miếu, các quan chấp sự đều tạm thời lấy người để lấp chỗ, tông thất và các quan bồi tế thì không tham gia chấp sự, không hợp với nghĩa xưa. Xin khi hoàng đế thân hành tế lễ ở Nam Giao, việc dâng và dọn các đồ tế như biên đậu, phủ quỹ, trở soạn, dùng các quan triều đình; ở Thái Miếu, dùng các tông thất từ chức Thứ sử các quận xa trở lên.” Lại tâu: “Nay lễ Đế, Hiệp dùng công thần phối hưởng, nhưng lễ Đông Chưng thì không, không hợp với kinh điển. Xin mỗi khi làm lễ Đông Chưng, dùng công thần phối hưởng, còn lễ Đế, Hiệp phối hưởng thì đều bỏ.”

[81] Chiếu rằng việc đọc sách văn do sử quan kiêm nhiếp Thái chúc, các quan chấp sự ở Giao, Miếu chọn người không có lỗi lầm, lễ Đông Hưởng, Đế, Hiệp và khi hoàng đế thân hành tế lễ đều dùng công thần phối hưởng, còn lại đều theo lời tâu.

(Sách Cựu Kỷ chép chiếu ngày Kỷ Mùi lễ Đông Chưng dùng công thần phối hưởng, sách Tân Kỷ bỏ đi.)

[82] Quyền Phát khiển Kinh Đông Lộ Chuyển vận Phó sứ Lý Sát tâu: “Những năm gần đây cho dân mua chức giám tửu vụ[18], nếu lợi tăng thì vào tay tư nhân, nếu lỗ thì nợ thuế quan, do đó mất đi khoản thu hàng năm. Xin những người mua tửu vụ nợ lãi ròng, hoặc tuy không nợ nhưng lợi nhuận cao có thể do quan giám thì đều khôi phục lại[19]. Lại xin không theo lệ thường mà tâu cử giám quan[20], để tăng thêm tài chính.” Theo lời tâu.

[83] Ở Nhiêu Châu, núi Trường Sơn có mưa rơi xuống nhiều hạt cây, trải rộng vài mẫu, hình dạng giống hạt khoai môn, mùi thơm và vị cay, người địa phương cho là hạt quế, cũng gọi là “hạt Bồ đề”. Trong niên hiệu Minh Đạo từng có việc này. Năm đó được mùa lớn.

[84] Tháng đó, thăng thành Kiềm Giang thuộc Nguyên Châu thành huyện Kiềm Dương.

(Sách 《Cựu kỷ》 chép việc đặt huyện Kiềm Dương vào ngày 13 tháng này, bản Chu chép: Chiếu lệnh cho dân hộ ở trại An Giang và Trấn Giang thuộc Nguyên Châu sáp nhập thành huyện Kiềm Giang. Nay gộp vào đây. 《Thực lục》 lại chép việc này vào cuối tháng 12, có lẽ là chép trùng.)


  1. 'giáo' nguyên văn là 'số', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 191, Binh chí và 《Tống hội yếu》 Binh 2-17 sửa lại
  2. Chữ 'tang' trong 'phản tang phục' vốn thiếu, theo 《Lễ Ký - Tạp Ký》 bổ sung.
  3. Chữ 'khất' trong 'khất cấp tiền thu mãi' vốn thiếu, theo các bản khác bổ sung.
  4. Chữ 'kỷ' trong 'Lưu Kỷ' nguyên bản viết là 'kỷ', căn cứ vào các bản khác và 《Tống hội yếu》 quyển 5 phần 10, 《Tống sử》 quyển 128 phần Nhạc chí, quyển 262 phần Lưu Kỷ truyền mà sửa lại.
  5. Hai châu Phú, Cát, chữ 'Phú' nguyên bản viết là 'Lôi', theo bản trong các bộ sửa lại. Xét: Ở lộ Kinh Hồ Nam nhà Tống có châu Phú thuộc các châu động người Man ở phía tây nam, xem 《Tống sử》 quyển 493, truyện các Man ở Tây Nam Khê Động, và 《Vũ kinh tổng yếu》 tiền tập quyển 20, phần Biên phòng; năm Hi Ninh thứ 5, Chương Đôn làm Sát phỏng sứ hai lộ Kinh Hồ Nam, Bắc, kinh lý việc Nam, Bắc Giang, xem 《Tống sử》 quyển 471, truyện Chương Đôn.
  6. Vua cắm đại khuê, cầm trấn khuê để triều nhật, sách 《Chu lễ - Điển thụy》 chép 'cầm trấn khuê' dưới có sáu chữ 'tảo tạ ngũ thái ngũ tựu'.
  7. Chiếu cho lộ Kinh Nguyên chiêu mộ dũng cảm theo lệ lộ Phu Diên lấy 100 người làm định ngạch 'Dũng cảm' hai chữ nguyên đảo, căn cứ 《Tống sử》 quyển 190 Binh chí sửa lại
  8. Văn tự kêu oan 32 tờ, chữ 'tam' trong 《Tống hội yếu》 phần Hình pháp 3-19 viết là 'nhị'.
  9. Chữ 'Tập' trong 'Đề cử giáo tập mã quân sở' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào quyển 304, ngày Quý Dậu tháng 5 năm Nguyên Phong thứ 3 trong sách này để bổ sung.
  10. 'Oan' nguyên là 'Chương', theo các bản và bản hoạt tự sửa.
  11. Chiếu giao về Ty Nông tự: chữ 'Chiếu' nguyên bản thiếu, chữ 'Tự' nguyên bản viết là 'Sự khích dĩ biến duyệt', theo 《Tống hội yếu》 Binh 2-17 sửa lại.
  12. Chiếu giao cho Kinh lược sứ tại châu gần đó phong trang: chữ 'sứ' nguyên bản thừa chữ 'ty', theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 30-17 bỏ đi.
  13. Dương đồng mỗ phủ, 'Dương' nguyên là 'Thương', theo 《Lễ ký - Tạp ký》 sửa.
  14. 599 con, 《Tống sử》 quyển 198, 《Binh chí - Mã chính》 chép là '590 con'.
  15. 'Thuyền đáy nông', chữ 'nông' nguyên bản viết là 'tiền', căn cứ vào bản trong các các và 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 50, mục 64 sửa lại.
  16. 'Số chữ và số thanh âm của nhạc khúc', chữ 'khúc' nguyên bản viết là 'điển', căn cứ vào bản trong các các và 《Tống hội yếu》 thiên Nhạc 3, mục 20 sửa lại.
  17. 'Xin tuân theo nhạc chương do nhà Vua soạn', chữ 'soạn' nguyên bản viết là 'tuyển', căn cứ vào 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 80, thiên Định nhạc khí sửa lại.
  18. 'Giám' nguyên là 'diêm', theo các bản và 《Tống Hội Yếu》 Thực hóa 20-10 sửa.
  19. 'Giám' nguyên là 'diêm', theo sách trên sửa.
  20. Chữ 'giám' nguyên thiếu, theo sách trên bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.