VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 323: NĂM NGUYÊN PHONG THỨ 5 (NHÂM TUẤT, 1082)
Từ tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 5 đời Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Tháng 2, ngày Quý Sửu, mùng một, ban chiếu rằng: “Những việc Trung thư tỉnh tiếp nhận chỉ dụ trực tiếp, phải ghi chép riêng trên giấy vàng, sau khi Trung thư lệnh, Thị lang, Xá nhân tuyên phụng thi hành xong, sao chép gửi sang Môn hạ tỉnh gọi là Hoạ hoàng; những việc nhận được phê chuẩn hoặc xin phúc thẩm được chỉ, cùng những việc đã được duyệt trong bản tấu, cũng phải ghi chép riêng trên giấy vàng, sau khi tuyên phụng thi hành xong, sao chép gửi sang Môn hạ tỉnh gọi là Lục hoàng. Xu mật viện cũng theo quy định này, nhưng dùng giấy trắng sao chép gửi đi, những việc nhận được chỉ trực tiếp gọi là Lục bạch, những việc được phê chuẩn trong bản tấu gọi là Hoạ chỉ.
Môn hạ tỉnh nhận được Lục hoàng, Hoạ hoàng, Lục bạch, Hoạ chỉ, đều lưu lại làm bản lưu, kiểm tra kỹ lưỡng không sai sót, sau khi tâu lên được phê chuẩn, ghi chép trên giấy vàng, Thị trung, Thị lang, Cấp sự trung xem xét đọc xong, sao chép gửi sang Thượng thư tỉnh thi hành. Tam tỉnh nhận được sắc chỉ, cùng các văn thư nội giáng có niêm phong, đều phải ghi vào sổ. Các quan chấp chính Môn hạ tỉnh, Trung thư tỉnh kiêm lĩnh Thượng thư tỉnh, trước hết phải đến bản tỉnh làm việc, sau đó mới đến Thượng thư tỉnh. Những việc cần giải thích hoặc lập điều lệ, đều gửi sang Thượng thư tỉnh bàn định, rồi trình lên Trung thư tỉnh, nửa năm một lần tâu lên, ban hành xuống, những việc cần gấp thì thi hành trước.
Những việc công thưởng đều gửi đến cơ quan phụ trách, những việc không có quy định cụ thể thì gửi sang Tư huân. Quân công của Xu mật viện không thuộc phạm vi này. Các quan văn võ, Tam tỉnh, Xu mật viện đều lập sổ ghi chép đầy đủ. Trung thư tỉnh không phải việc của bản tỉnh, Xá nhân không ghi chép. Lại bộ đề cử bổ nhiệm quan chức, qua Môn hạ tỉnh, cùng Thị trung, Thị lang dẫn ra kiểm tra xong rồi tâu lên, chờ chỉ dụ gửi sang Thượng thư tỉnh; nếu quan chức già yếu không đảm đương được công việc, hoặc vi phạm pháp luật, thì trả về để bổ nhiệm lại, đồng thời ghi rõ nguyên nhân trong bản tấu trình lên. Các quan thuộc Lục tào, các ty, không phải việc bàn nghị thì không đến Đô tỉnh và qua các tào khác.
Những việc cần lập pháp, bản tào bàn định xong, gửi sang Hình bộ phúc định, nếu liên quan đến thưởng công thì gửi sang Tư huân, nếu không có ý kiến khác, thì gửi trả lại bản tào, đến Đô tỉnh bàn nghị, việc lớn thì họp bàn, bàn định xong trình lên Trung thư tỉnh, việc của Xu mật viện thì trình lên bản viện. Lại bộ bổ nhiệm quan chức, lập danh sách, từ Đô tỉnh trình lên Môn hạ tỉnh, nếu có vi phạm pháp luật thì trả về Lại bộ, ghi rõ nguyên nhân trong bản tấu. Những việc gọi là tấu: có quy định, trình lên Môn hạ tỉnh; không có quy định, trình lên Trung thư tỉnh; có điều lệ riêng, thì theo quy định đó. Việc biên phòng, cấm quân, đều trình lên Xu mật viện. Những việc thuộc Lục tào, các tự, giám, thì lập thành quy chế, chờ khi chính thức đặt tên quan chức thì thi hành.”
(Cựu kỷ chép: Chỉnh đốn chức vụ của Tam tỉnh, Xu mật viện, Lục tào, các tự, giám. Tân kỷ chép: Ban hành điều lệ của Tam tỉnh, Xu mật viện, Lục tào.)
[2] Chiếu rằng: “Các lộ Thiểm Tây, những người là nghĩa dũng, bảo giáp, nhân phu đã xuất giới và tử trận, nếu là chính thân trong hộ tịch, thì được miễn hai thuế hạ và thu trong hai kỳ[1].”
[3] Đề điểm Khai Phong phủ giới các huyện trấn công sự Diệp Ôn Tẩu tâu: “Các huyện nộp thuế hạ có thời hạn, vừa mới ra lệnh tạm hoãn, tiếp đó lại có chỉ lệnh cho ba hạng trên nộp bằng hiện vật. Vì hiện vật phần nhiều là tơ, lụa, gấm, lụa mỏng, nay đã quá thời hạn, tuy pháp luật cho phép nộp bằng tiền, nhưng giá ước tính của quan phủ cao gấp mấy lần, hầu như thành văn bản suông.” Chiếu rằng các loại thuế tơ, lụa, vải, lụa mỏng được phép nộp bằng tiền, đều theo giá thực tế cao nhất.
[4] Kinh Nguyên lộ kinh lược ty xin cho ty mua ngựa mua bốn nghìn con đưa về lộ này, cho phép mua ngựa của dân kết hợp, cấp cho các quân. Được chấp thuận.
[5] Chiếu đổi tên trại Cương Trá ở Khánh Châu thành An Cương.
[6] Chiếu cho chuyển vận ty Phu Diên lộ, những quân lính ốm yếu theo quân ra trận mà không thể trở về, ban cho gia đình họ mười tấm lụa.
[7] Ngày Giáp Dần, chiếu cho kinh lược ty Hoàn Khánh lộ: “Các tướng lãnh đã xuất giới, binh lính dưới quyền, trừ những người tử trận và vì thương tích mà chết, tính số lượng binh lính mất tích, nếu đạt hai phần, thì giáng một cấp; hai phần rưỡi, giáng hai cấp; ba phần rưỡi, giáng bốn cấp; bốn phần, giáng năm cấp; bốn phần rưỡi, giáng sáu cấp. Miễn cách chức, vẫn giữ nguyên chức vụ. Những người bị giáng chức đến Phụng chức, đều bãi chức tướng, phó. Lệnh cho Tăng Bố căn cứ vào thời điểm xuất giới, phân loại binh lính dưới quyền các tướng lãnh và số lượng mất tích, cùng danh sách những người bị tước chức tâu lên. Các lộ Phu Diên, Kinh Nguyên, Tần Phượng, Hi Hà, Hà Đông cũng làm theo cách này.”
[8] Chiếu rằng sông Đào ở Hi Hà lộ thông với sông Hoàng Hà, nếu có thể đóng thuyền chiến Mông Xung để vận chuyển lương thực và quân lính, lệnh cho Lý Hiến tính toán.
[9] Ty chuyển vận lộ Lưỡng Chiết tâu: “Tri châu Nhuận là Cúc Chân Khanh coi thường pháp luật, chuyên quyền, thuộc hạ không được tham gia bàn bạc; lại tư sai nha hiệu qua châu Dương hỏi giá chợ, dụ ty chợ tăng giá bán lúa ruộng chức; nhận em gái Lý Thành là nha tiền bản châu, trái phép cấp trước tiền trọng nạn cho Lý Thành, đã sai quan điều tra trị tội. Nhưng Chân Khanh kiêu căng tàn bạo[2], lại dân chịu uy thế lâu ngày không dám tố cáo; lại ỷ già, hành động bừa bãi. Xin bãi chức Chân Khanh và xét tội.” Vua nghe theo, cho cách chức. Vua nói: “Thứ sử, huyện lệnh là gần dân nhất, thời Hán có thứ sử được vào làm tam công, là vì coi trọng chức vụ đó. Nay các quận phiên trấn không quá vài chục, thường không có người tài, thì huyện lệnh cũng vậy. Từ nay nên cẩn thận lựa chọn.”
[10] Ngày Ất Mão, ra chiếu: “Các quân trong hành dinh chết vì bệnh, cho con cháu được thế chỗ hưởng lương. Quân viên dưới quyền từng tham gia hành dinh, cũng theo đó. Còn nhân viên, bố trí con cháu bổ làm hữu tướng ngu hậu bản chỉ huy.”
[11] Ra chiếu cho ty chuyển vận lộ Kinh Nguyên: “Việc xây thành và nhu cầu quân sự, đều do bản lộ lo liệu trước, nếu thiếu hoặc không có sẵn, thì lệnh cho đô chuyển vận sứ ứng phó.”
[12] Lý Hiến tâu: “Theo chiếu sai làm quyền kinh lược chế trí sứ lộ Kinh Nguyên, việc đô đại kinh chế lộ Hi Hà và tiết chế quân mã lộ Tần Phượng, có nên tiếp tục kiêm nhiệm không? Các kinh lược, chuyển vận sứ Thiểm Tây nên ứng phó quân nhu, lương thảo cho bản lộ, xin cho thần được đàn hặc các ty kinh lược, giám ty, quan chức tương ứng, xin cho thần được tùy ý sai quan trị tội. Các quan văn võ đương nhiệm Thiểm Tây, Hà Đông xin cho thần được không theo lệ thường tuyển chọn ứng phó, dù có trở ngại cũng lập tức điều động, nếu dám giữ lại, đều xử tội vi chế. Xin sai một chỉ huy cấm quân cận thượng làm nha đội.” Chiếu rằng: “Việc kinh chế Hi Hà và tiết chế lộ Tần Phượng vẫn kiêm nhiệm như cũ, xin nha đội sai thần vệ, còn lại đều theo lời tâu.”
[13] Chiếu cho mượn 40 vạn quan tiền của Ty trà trường để giao cho Ty kinh lược Tần Phượng mua lương thảo.
[14] Viện Tài tạo tâu: Việc thêu các vật dụng của Ty Nghi Loan, xin theo lệ thêu quạt của Viện Văn Tư, phân đều cho các chùa ni và cung viện trong kinh. Chiếu cho Tam ty: Trừ ba viện và việc thêu dưới Tây Xuyên, hãy chiêu mộ người nhận làm.
[15] Ngày Bính Thìn, Lý Thuấn Cử, chức Văn Tư sứ, Thứ sử Văn Châu, Nội thị áp ban, được cử làm người trông coi việc quân mã của Ty kinh lược chế trí lộ Kinh Nguyên kiêm tham nghị các việc lớn về quân lại.
[16] Quyền Tri Khai Phong phủ Vương An Lễ tâu: “Các án công của bản phủ đã tâu xin xử đoán, Ngự sử đài lại đòi lấy xét. Thần nghĩ rằng việc công đã phụng chỉ xử đoán, lại còn xét lại, không hợp thể thức. Xin từ nay không cho đòi lấy.” Theo lời tâu.
(Cùng ngày 15.)
[17] Chiếu: “Các quân Điện tiền, Mã bộ, những người đào ngũ rồi trở về đầu thú được miễn xử phạt. Những người đã từng ra khỏi biên giới, giảm lương, điền vào các tướng dưới quyền ở phủ Khai Phong và Kinh Đông Tây, tiết cấp giáng làm trưởng hành, vẫn áp giải đến quân tiền để lập công; quân Lục quân phân phối vào các doanh xe, ty Trí Viễn, ty Đông Tây Sằn. Những người chưa từng ra khỏi biên giới, đều phân phối đến nơi cách Thiểm Tây 500 dặm, cấm quân sung vào bản thành để lập công, Lục quân sung vào lao thành.”
[18] Chiếu: “Trước đây xuất quân đánh Khất Đệ, nay đã dẹp yên sào huyệt, tức là cùng công bắt Khất Đệ. Các sứ thần, quân binh, trừ những người ở lại phòng thủ, còn lại đều cho về. Lâm Quảng đợi sắp xếp xong các trại mới lập, trở về nhiệm sở.”
Ban đầu, Lâm Quảng đánh mất Khất Đệ ở sông Nạp, vào ngày Tân Mùi tháng 12 năm trước. Mười vạn quân đều mặt mày tái mét, quan lại nghẹn ngào không ăn được, bèn lệnh tiến vào trại truy đuổi giặc. Qua bảy ngày, đóng quân ở Bạch Nhai; (ngày 25 Bính Tý, quân đội đóng ở Bạch Nhai.)
Lại thêm năm ngày, ngày Nhâm Ngọ cuối tháng, đóng quân ở núi Lão Đại Nhân, hình núi như đao kiếm dựng đứng. Ngày mùng 1 tháng giêng Quý Mùi, lên núi Lão Đại Nhân; ngày Ất Dậu, đóng quân ở Hắc Nhai; ngày Bính Tuất, qua núi Nha Phi Bất Đáo; ngày Kỷ Sửu, mới đến châu Quy Lai. Nhà cỏ lớn nhỏ chỉ hơn trăm gian, chỗ ở của Khất Đệ thì làm bằng gỗ, cũng hơn trăm gian. Từ khi xuất phát từ sông Nạp, liền vào rừng rậm, không ngày nào không mưa tuyết, binh lính bị rét cóng rụng ngón tay chiếm hai ba phần mười, bệnh tật chết chóc không kể xiết, thường xẻ thịt xác chết để ăn.
Ở lại châu Quy Lai bốn ngày, tìm Khất Đệ không được. Mạch Văn Bính hỏi Lâm Quảng: “Việc quân sự nên làm thế nào?” Quảng đáp: “Đã theo chỉ dụ triều đình phá tan sào huyệt giặc, dù chưa bắt được tên đầu sỏ, cũng nên rút quân về chịu tội.” Văn Bính bèn đưa ra tờ chiếu mật nhận được tháng 6 năm trước, nói: “Sắp tới đại quân tiến sâu đánh giặc, kỳ vọng bắt được tên đầu sỏ; nếu đã phá được sào huyệt và các nơi phòng thủ trọng yếu, dù chưa bắt được Khất Đệ, vạn nhất đường lương không tiếp tục được, cũng cho phép rút quân.”
Trong quân đều hô vạn tuế, nói: “Thiên tử ở chín tầng trời, thấy rõ xa vạn dặm.” Bèn quyết định rút quân. Ngày Quý Tỵ, rời châu Quy Lai, theo trại cũ mà về. Tháng này, ngày mùng 1 Quý Sửu, đóng quân ở Giang Môn, Quảng cùng Miêu Thời Trung, Mạch Văn Bính cưỡi ngựa nhẹ cùng đến các nơi như Lạc Cộng để xem xét chỗ trọng yếu, xây dựng đồn trại, bèn lấy Lạc Cộng làm thành, Giang Môn làm trại, núi Mai Lệnh, khe Tịch Mạo đều làm đồn, phía tây thông Dục Tỉnh[3], Ninh Viễn, An Khê, để đến Giang Môn, phía đông ở Đại Châu Bá đặt đồn, để thông Nạp Khê, bao gồm các thôn Thượng Để Bồng, Hạ Để Bồng, đều nằm trong vùng trọng yếu: đều là nơi Thời Trung và Trình Chi Tài trước đây vì Hàn Tồn Bảo đã vạch kế hoạch trước.
Khi Quảng tiến vào trại truy đuổi giặc, trung quân đều chia ra bốn hướng, chỉ để lại ba trăm người già yếu trong trại, đêm khuya không nghe tiếng gì. Thời Trung hỏi Quảng thế nào, Quảng đáp: “Đã mất giặc, nên chịu chết, không kịp lo nghĩ gì nữa.” Thời Trung nói: “Ngài lầm rồi, triều đình giao cho ngài mười vạn quân, há có thể cùng tướng nhỏ liều chết để tỏ ra dũng cảm sao?” Quảng bèn lệnh ngừng truy đuổi, chỉnh đốn quân đội tiến lên. Lại muốn dời quân đánh bộ Lạc Mẫu, tìm Khất Đệ, Thời Trung nói: “Ngài dẫn mười vạn quân vào sâu nơi hiểm địa, tên đầu sỏ đã mất, há có thể tùy tiện đánh vào bộ tộc vô tội, khiến triều đình thêm việc sao? Nên tính kế để mười vạn quân này được sống trở về.” Quảng nghe theo lời ấy. Từ sông Nạp đến châu Quy Lai, quân đội hành quân hơn bốn mươi ngày, đường lương không bị đứt đoạn, phần lớn nhờ công của Thời Trung.
(Việc của Thời Trung có thể xem lại ngày 15 tháng 6 khi Thời Trung được thăng chức[4]. Lên núi Lão Đại Nhân, 《Bình man lục》 chép vào ngày mùng 1 tháng giêng Quý Mùi; đóng quân ở núi Lão Đại Nhân, là ngày Nhâm Ngọ cuối tháng 12 năm trước. 《Thực lục》 chép đóng quân ở núi Lão Đại Nhân vào ngày 28 tháng 12 Canh Thìn. 《Cựu kỷ》 chép ngày Bính Thìn, Lâm Quảng dẹp sào huyệt Khất Đệ, Khất Đệ chạy trốn, quân không tiến được. Quảng nhận chiếu mật cho phép rút quân, ba quân reo hò: “Thiên tử thấy rõ xa vạn dặm!” Quảng rút toàn quân về. 《Tân kỷ》 bỏ đoạn này.)
[19] Chiếu cấp cho Kinh Nguyên lộ kinh lược chế trí tư không danh các ty sứ đến nội điện sùng ban sắc cáo một trăm, đông đầu cung phụng quan đến tam ban phụng chức hai trăm, tam ban tá chức đến điện thị, quân đại tướng tráp tử ba trăm, độ tăng điệp tử y sư danh sắc một trăm, tam ty ngân khí hai vạn lạng, Thiểm Tây mua ngựa tư mã một ngàn con, các vật dụng cần thiết như chuyển trọng, lừa, lạc đà, lệnh cho Trí Viễn đảm bảo đầy đủ số lượng xuất phát. Thiếu phủ giám đúc ấn đồng chu ký và ấn tuần kiểm cho các bộ tộc, cùng các vật phẩm ban tặng như chiên trướng, cẩm bào, đai vàng bạc, đều chuẩn bị sẵn. Lại cấp thêm một ngàn binh mạc, năm ngàn giáo, ba ngàn cung, hai mươi vạn mũi tên. Chiếu cho Lý Hiến ngày 13 xuất phát.
[20] Ngày Đinh Tỵ, lệnh cho nội tàng khố sứ, Khánh Châu đoàn luyện sứ Tống Dụng Thần làm đô đại đề cử tu sửa Thượng thư tỉnh.
(Ngày 13 tháng 5 Quý Tỵ, cả sử cũ và mới đều ghi là Thượng thư tỉnh, cần xem xét.)
[21] Khai Phong phủ tâu: “Theo lệnh văn: những người già, trẻ, bệnh tật phạm tội phải nộp đồng mà cô độc nghèo khó không có tiền chuộc tội[5], thì bảo lãnh rồi tha. Bản phủ mỗi ngày xử án, nhiều người phải chuộc tội là kẻ cô độc nghèo khó, lại không có người bảo lãnh, không tránh khỏi phải bắt lính tuần tra làm giấy tờ, để thuận tiện cho việc bảo lãnh. Từ nay xin cho bản phủ xem xét, nếu thực sự nghèo khó thì trực tiếp tha bổng.” Được chấp thuận.
[22] Khai Phong phủ tâu: “Hai bên sương thu giữ nhiều tội nhân, nhà giam chật hẹp, xin được xem xét mở rộng thêm phòng giam, thêm khóa áp, giao cho tướng tác giám hoàn thành trong vòng một tháng.” Được chấp thuận.
[23] Sắc bảng hiểu dụ dân chúng Thiểm Tây: “Nghe nói trước đây khi điều động dân phu theo quân đánh phía Tây rất khó khăn, từ nay về sau việc biên giới sẽ không bắt dân phu ra khỏi biên giới nữa, để mọi người yên tâm làm nông.”
(Theo bản Chu, căn cứ vào ngự bút của trung thư mà ghi vào. Bản Mực không có, bản Mới đã ghi vào, ngày 5 tháng 6 Ất Mão cần tham khảo thêm.)
[24] Ngày Mậu Ngọ, Vua phê: “Hiện nay ở biên giới phía tây đang dùng binh chưa xong, các đền thờ linh thiêng trong vùng nên tu sửa cẩn thận để đón nhận phúc lành. Đền Tây Nhạc đã hư hỏng, và đền Đông Nhạc ở Hi Châu khi quân quan xuất chinh, nếu có sự trợ giúp linh thiêng, có thể sai Lã Đại Phòng, Miêu Thụ mỗi người chọn quan tăng cường tu sửa.”
[25] Chiếu cho Điện tiền, Mã quân ty, những binh lính đào ngũ ra đầu thú sau hạn định, những áo giáp bị mất và tiền lương, lương thực đã nhận không cần truy cứu, chỉ xét tội đào ngũ rồi tâu lên.
[26] Kinh lược ty Hà Đông tâu: “Ở Đại Châu nghe nói việc đào hào lũy cần khoảng 500 binh lính, cùng với địa giới phía bắc phân định ranh giới. Nếu phía bắc huy động nhiều người, tự khắc phải đối ứng điều động, cùng một lúc đào hào; nếu số người ít, thì dùng số binh lính tương ứng với số người phía bắc, nhưng chỉ ở các huyện, trại thuộc Đại Châu mà điều động ứng phó.”
(Ngày 12 và 25 tháng giêng.)
[27] Ngày Kỷ Mùi, Vua phê: “Diệp Khang Trực tính toán việc vận lương cần khoảng mấy chục vạn quân sương, các nơi huy động binh lính tạm thời đình chỉ, lệnh cho các lộ chuyển vận sứ điều động quân sương: Kinh Đông 6.000 người, Kinh Tây 3.000 người, Hà Bắc 8.000 người, Hà Đông 5.000 người, Hoài Nam 6.000 người. Và lệnh cho Đô thủy giám điều động quân Hà Thanh ở sông Hoàng, Biện cùng quân khách tổng cộng 13.000 người, đến Thiểm Tây tập hợp. Quân sương, Hà Thanh đều thuộc quyền Chế trí ty lộ Kinh Nguyên.”
[28] Chiếu cho Thừa nghị lang, Thiên Chương các đãi chế, Hà Đông đô chuyển vận sứ Triệu Tiết bãi chức Thiên Chương các đãi chế, truất hai cấp bậc, miễn cách chức, giáng làm Tri Hoài Dương quân. Vì tội cung ứng quân nhu không đúng pháp và trái lệnh triều đình.
Tiết bị điều làm Tri Tương châu[6], sau đó đến Lộ châu để chịu xét xử, trên đường trở về đến Thấp châu, gặp các tướng Triệu Tông Bản, Thượng Đức, Vương Tòng Phi, binh sĩ dưới quyền bị đói rét, nghe tin phải đi đóng quân ở Phu Diên lần nữa, đều nổi loạn, có kẻ bỏ giáp trốn chạy. Từ Thấp châu đến Lộ châu, Tiết ba lần dâng tấu xin khẩn cấp cứu tế, lời lẽ rất khẩn thiết. Người thân lo lắng, Tiết nói: “Ta vốn là kẻ hàn vi, được hoàng thượng đề bạt làm cận thần, cai quản một phương, nên lấy cái chết để báo đáp. Nếu giấu giếm tình hình để tránh tội, có thể gọi là trung sao?” Khi ở Hà Đông, Tiết đã dâng 24 tờ tấu, đều nói về việc quân đội quấy nhiễu dân chúng, cuối cùng hoàng thượng tỉnh ngộ, nên chỉ giáng làm Tri Hoài Dương quân, nửa năm sau lại được khởi dụng.
(《Cựu kỷ》 chép: Ngày Kỷ Mùi, Hà Đông đô chuyển vận sứ Triệu Tiết trái lệnh triều đình, làm thiếu quân nhu, bãi chức Thiên Chương các đãi chế, giáng làm Tri Hoài Dương quân. 《Tân kỷ》 không chép.)
[29] Đề cử ty Bảo giáp hai lộ Hà Bắc Đông, Tây tâu rằng, các hộ Bảo giáp bị lụt xin đợi khi trở về quê mới điểm danh tuyển chọn. Chiếu rằng: “Những người ở cách sông, vẫn cho tham gia huấn luyện gần đó, không để họ phải đi lại vất vả, ăn uống không đúng giờ.”
[30] Ngày Canh Thân, Triều phụng lang, Bảo Văn các đãi chế Lý Thừa Chi và Thừa nghị lang Đổng Đường Thần dâng sách biên soạn về pháp chế muối. Thừa Chi được ban 50 lạng bạc và 50 tấm lụa, Đường Thần được giảm một năm khảo khóa.
[31] Ngày Tân Dậu, hoàng thượng phê: “Hà Chính Thần vừa được bổ làm Phán Hình bộ, từ khi được đề bạt vào triều đình, chưa từng đảm nhiệm chức vụ về hình ngục, nên đổi làm Phán Binh bộ kiêm Tri Thẩm quan đông viện.”
[32] Chiếu rằng: “Thủ lĩnh Đổng Chiên là Kết Lăng đã chết, vật phẩm triều cống dành cho ông ta được trao cho con trai là Đổng Nạp Chi Lâm Chiếm, tăng thêm 100 tấm lụa.”
[33] Ngày Quý Hợi, ban chiếu cho Thẩm Quát: “Nghe nói gần đây bản lộ tâu lên công trạng, dưới quyền tướng thứ tư có nhiều người có công bị bỏ sót, lòng người rất không yên. Nay đúng lúc cần dùng người, công tội không rõ ràng như vậy, sao khiến người ta hết lòng? Trước đây vì Chủng Ngạc bao che trong bản tâu đầu tiên, bản tướng không dám trình bày rõ, nay Ngạc đã rời khỏi bản lộ, có thể thẳng thắn trình bày. Khanh hãy xem xét kỹ những người có công rõ ràng nhưng chưa được ban thưởng xứng đáng, bảo đảm tâu lên, không được chậm trễ.”
[34] Bãi bỏ Ty Liễn vận Quảng Tế hà và Ty Bài ngạn Kinh Bắc, dời vật phẩm cung ứng lên đặt ở địa phận Hoài Dương quân để tính toán đưa vào Biện, đặt tên là Ty Liễn vận Thanh hà, lệnh cho Triều phụng lang Trương Sĩ Trừng làm Đô đại đề cử. Trước đó, Chuyển vận sứ Kinh Đông lộ tâu: “Quảng Tế hà dùng nước từ các ao hồ không có nguồn, thường đắp đập để thông vận tải, hàng năm cung ứng 62 vạn thạch. Có năm hạn hán, đáy sông khô cạn không thể đi lại, muốn dời thuyền bè đến địa phận Hoài Dương quân, Thượng Ngô trấn, Hạ Thanh hà và Nam Kinh, Cốc Thục, Ninh Lăng, Hội Đình, gần sông Biện, cùng xây 300 kho, do bản ty tính toán cung ứng 70 vạn thạch; đặt Ty Liễn vận, thuộc Chuyển vận ty, mỗi năm giảm 350 thuyền, 2.700 binh công, 33 cung quan điển, 11 sứ thần, tiết kiệm được 82.000 quan tiền.” Giao cho Ty Đề điểm hình ngục xét thực, thấy đúng như lời Chuyển vận ty. Ty Bài ngạn Kinh Bắc đặt dọc Quảng Tế hà, nên cũng bãi bỏ luôn.
(Ngày 20 tháng 7, ngày 19 tháng 8 năm thứ 7, ngày 19 tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ nhất.)
[35] Sùng Tín quân Tiết độ sứ, Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Hoa Âm quận vương Triệu Tông Đán mất. Xa giá đến viếng, ngừng triều hai ngày, truy tặng Thái úy, Đằng vương, thụy là Cung Hiếu, cho phép dùng cờ tiết và ấn tín để chôn cất. Đến khi an táng, lại ngừng triều. Tang lễ xong, lại có chiếu rằng: “Tông Đán từng hầu giảng sách cho Nhân Tông, sau đó quản lý tông tịch suốt mười sáu năm, kính sợ pháp luật, ít phạm lỗi. Đã ban ơn cho các con, đứa con nhỏ là Hữu Nội suất phủ Phó suất Trọng Ái được thăng làm Hữu Giám môn vệ Suất phủ Suất.”
(《Tân kỷ》 chép việc Hoa Âm quận vương Tông Đán mất. 《Cựu kỷ》 không chép.)
[36] Lý Hiến tâu: “Diêu Lân từ lâu đảm nhiệm biên chức, lại có tài võ nghệ, xin bổ làm Hi Hà Lan Hội lộ Kiềm hạt, đóng quân ở Lan Châu. Nếu Tri Lan Châu Lý Hạo đến Chế trí ty, thì cho Lân quyền Tri Lan Châu.” Theo lời tâu.
(Ghi chép bí mật ngày 11. Việc Lân đổi làm Kinh Nguyên Kiềm hạt vào ngày 22 tháng giêng.)
[37] Ngày Ất Sửu, chiếu cho Kinh lược Đô tổng quản ty của Hi Hà lộ đến Lộ phân Đô giám đều thêm hai chữ “Lan Hội”.
(Ngày Kỷ Hợi tháng 8 năm Nguyên Hựu thứ 4, đổi chữ “Hội” thành “Dân”.)
[38] Chiếu cho Lý Hiến xem xét những người có công lớn trong quân đội nhưng được thưởng ít để tâu lên.
[39] Kinh lược An phủ ty Hi Hà tâu: “Thành Định Tây liên tục có giặc cướp giết hại thương nhân và tuần tra quân lính, lại nghe nha đầu chỉ huy cho phép vào đất Hán[7], tùy ý cướp bóc.” Chiếu cho Lý Hiến: “Tính người Khương sợ mạnh hiếp yếu, nếu không lệnh cho tướng giữ thành xem xét cơ hội đánh trả, sẽ khiến chúng coi thường, khinh nhờn mãi, thì mưu kế giặc đắc thế, đường sá càng thêm nguy hiểm. Nên nhanh chóng ra lệnh.”
[40] Ngày Bính Dần, Thẩm Quát, Tri Diên Châu, Long Đồ các Đãi chế, và Lã Đại Phòng, Tri Vĩnh Hưng quân, Long Đồ các Đãi chế, đều được thăng làm Long Đồ các Trực học sĩ. Thẩm Quát vì đã xuất quân từ bản lộ để giữ yên biên giới, ứng phó việc biên cương có công; Lã Đại Phòng vì đã ổn định bộ thuộc, hiệp lực trong việc biên cương.
[41] Xuống chiếu rằng các hộ bảo giáp ở các châu quân dọc biên giới Hà Bắc liên kết với hộ hai nguồn thuế thì không phải tập luyện nữa, còn những nơi dọc biên giới nhưng không có hộ hai nguồn thuế thì không áp dụng lệnh này.
[42] Xuống chiếu phạt bổng một quý của Trọng Phi, Hưng Châu Phòng ngự sứ, vì tội đốt mặt người vô cớ.
Trọng Phi có người thiếp tên Khiên, mới mua về, giá trị đến mấy chục vạn, bị Trọng Phi say rượu đốt hỏng mặt, bị đuổi về quan, bắt phải trả lại tiền. Vương An Lễ, Tri Khai Phong phủ, nói: “Người thiếp này giá trị mấy chục vạn là vì có nhan sắc đẹp. Nay bị đốt hỏng mặt thì không thể tự bán được nữa, việc này khác gì tra tấn bằng lửa nóng?” Bèn tâu lên Vua, xin không phải trả lại tiền, và nghiêm trị để răn đe.
Vua nói: “Trọng Phi là dòng dõi Lỗ Vương, ỷ thế lộng quyền, ít tuân theo lễ nghĩa, Trẫm vì là thân thích nên thường dung thứ. Gần đây nghe bị tra xét, tỏ ra lo sợ như không chịu nổi, lại còn dặn nhau không dám phạm đến khanh. Nay Trẫm vì khanh mà phạt bổng của hắn, thì còn hơn cả bị khiển trách.”
(Đoạn này thêm vào dựa theo 《Hành trạng của Vương An Lễ》. Hành trạng chép “Trọng Phi” là “Lệnh Phi”, sai vậy. Ngày 2 tháng 11 sẽ gộp cả đoạn này.)
[43] Ngày Đinh Mão, xuống chiếu phong Tông Huệ, Vũ Xương quân Lưu hậu, Đồng tri Đại tông chính, làm Giang Hạ quận Vương, Tri Đại tông chính; Tông Thịnh, Vũ Thắng quân Lưu hậu, làm Đồng tri Đại tông chính.
(《Tân kỷ》 chép việc phong Tông Huệ làm quận vương, 《Cựu kỷ》 không chép.)
[44] Xuống chiếu: “Trước đây đã sai quân hỏi tội nước Hạ, Tây Phiên Đổng Chiên cũng sai thủ lĩnh thân tín dẫn quân đến giúp uy thế quân ta, công lao đáng ghi nhận. Đổng Chiên đang được bàn việc ban thưởng, các thủ lĩnh lập công cũng nên được khen thưởng. Giao cho Miêu Thụ sai người nhân dịp chuyển vận đến báo cho Đổng Chiên, A Lý Cốt, Quỷ Chương biết.”
[45] Chiếu rằng: Đề cử Hi Hà đẳng lộ cung tiễn thủ doanh điền phiên bộ hợp làm một ty, thuộc Kinh Nguyên lộ chế trí ty, cho phép tấu cử một viên quan câu đương công sự, ba viên sứ thần chuẩn bị sai sứ, cấp một ngàn quan tiền công sứ.
[46] Chiếu rằng: Quan phẩm thấp mà nhậm chức sự quan phẩm cao, nếu bàn xin giảm, cách một bậc thì theo phẩm cao; cách hai phẩm trở lên, người nên bàn thì xin, người nên xin thì giảm.
[47] Sử quán tu soạn Tăng Củng tâu: “Thần xét sử cũ, Cao Câu Ly từ thời Chu Mông chiếm được thành Hột Thăng Cốt rồi ở đó, đặt hiệu là Cao Câu Ly, nhân đó lấy họ Cao. Trải qua các đời Hán đến thời Đường Cao Tông, Vua nước ấy là Cao Tàng mất nước, dời vào trong. Thời Thánh Lịch, con Cao Tàng là Đức Vũ làm An Đông đô đốc, sau đó dần tự lập thành nước. Cuối thời Nguyên Hòa, từng dâng nhạc công, từ đó không thấy xuất hiện ở Trung Quốc nữa.
Thời Ngũ Đại, vào khoảng niên hiệu Đồng Quang, Thiên Thành, chúa nước Cao Ly là họ Cao lại đến cống, nhưng không rõ tên. Năm Trường Hưng thứ 3, mới xưng là Quyền tri quốc sự Vương Kiến, sai sứ đến cống, nhân đó phong Kiến làm Vua. Con Kiến là Vũ, con Vũ là Chiêu, con Chiêu là Trụ, em Trụ là Trị, em Trị là Tụng, em Tụng là Tuân, nối tiếp nhau lên ngôi. Từ Chu Mông đến Cao Tàng, có thể khảo cứu được một họ truyền 900 năm, 21 đời Vua rồi mất nước, sau đó lại tự lập thành nước, nhưng tên tuổi, thứ tự các đời cùng nguyên do hưng phế, và việc Vương Kiến khởi đầu[8], đều không thể khảo cứu được.
Họ Vương từ Kiến đến Trụ, bốn đời Vua đều truyền cho con; từ Trị đến Tuân, ba đời Vua đều truyền cho em. Tuân từ năm Thiên Thánh thứ 8 đến cống, đến năm Hi Ninh thứ 3, Vua hiện nay là Huy đến cống, khoảng thời gian không thấy xuất hiện ở Trung Quốc là 43 năm.
Nay bệ hạ nhân thánh văn vũ, thanh giáo hưng thịnh, lan đến tận biển đông, sứ giả do Huy phái đến đang tập trung ở cửa khuyết. Vì Cao Câu Ly là nước có văn tự, sứ giả của họ hẳn biết rõ về quân trưởng nước ấy, nguyên do hưng phế, tên tuổi và thứ tự các đời, xin hạ chiếu cho quan Điển khách hỏi: ‘Từ khi Đức Vũ về đông, sau đó làm sao khôi phục được nước? Lại làm sao mất nước? Đã truyền được mấy đời Vua? Tên tuổi và thứ tự các đời có thể kể được không? Nguyên do Vương Kiến hưng khởi là gì? Sự hưng khởi ấy bắt đầu từ Kiến hay trước Kiến đã có người hưng khởi? Từ năm Thiên Thánh đến năm Hi Ninh, khoảng 43 năm[9], mà Huy lại xuất hiện ở Trung Quốc, có phải là người kế vị Tuân không? Hay trong khoảng thời gian đó lại có người kế vị Tuân? Huy với Tuân là quan hệ gì?’
Nếu lời họ có thể luận bàn, đủ để bổ khuyết cho sử cũ, chứng tỏ đức của bệ hạ vươn xa vạn dặm, phương xa tuyệt vực mà đời trước không thể đến được, nay đều mộ nghĩa đến triều, nên mới biết rõ được việc của tứ di, nếu không phải thanh giáo lan xa thì không thể được như vậy.”
Chiếu hạ cho Tất Trọng Diễn[10].
Trọng Diễn đem lời nói chuyện với sứ giả Thôi Tư Tề, Lý Tử Uy tâu lên, nhưng những điều họ biết không chi tiết như những gì Củng đã luận. Những điều có thể ghi lại là: Tân La, Bách Tế nội loạn, Vương Kiến bèn hợp nhất Tam Hàn, đổi họ Cao; Tụng với Trị là họ xa, Vương Huy là con của Tuân[11]. Lại nói: “Việc của họ Cao thời Thánh Lịch, Nguyên Hòa đều có ghi chép, Tam Hàn tự có sử. Thời Nguyên Hòa, dâng hai bộ nhạc, là Đường nhạc và Hương nhạc.”
Vua nói: “Man di quy phụ Trung Quốc vốn cũng không ít, như Cao Ly tục thượng văn, quốc chủ khá hiểu lễ nghĩa, tuy ở xa ngoài biển, nhưng tôn sự triều đình, chưa từng lơ là, triều đình ban thưởng lễ ngộ đều hơn các nước khác. Gần đây dâng mười mấy người nhạc công, lại nói di nhạc không đáng lấy, chỉ muốn tô điểm cho quốc sử mà thôi.” An Đào đi sứ nước ấy, quan quán bạn cùng người tiết thượng từ dưới sân chào nhau, vì quốc chủ nước ấy coi Đào ngang hàng.
[48] Ngự sử đài tâu: “Việc án xét hình ở Khai Phong phủ lấy hồ sơ công án, bản phủ nói đã theo chỉ triều đình, án đã tâu xin xử quyết thì không cho Ngự sử đài lấy hồ sơ. Xem xét công việc chưa kết án, dù có người kiện tụng, cũng không được lấy hồ sơ; đã kết án mà thuộc loại tâu xin xử đoán, bản phủ lại tâu xin không cho lấy hồ sơ công án, thì việc ở nơi quan ty mà làm trái phép, cho người đến đài kiện tụng, chỉ là văn bản suông. Nếu nghe nói quan ty bức cung bẻ tội, xử án sai lệch, không có hồ sơ, thì không thể tra xét, e rằng phép xét sáu điều chỉ còn hình thức mà mất thực chất.” Chiếu lệnh Khai Phong phủ giao hồ sơ công án cho Ngự sử đài.
[49] Đề điểm hình ngục lộ Tần Phượng là Khang Thức tâu: “Cung thủ bốn châu quân ở lộ Hi Hà, lúc mới khai khẩn, mượn tiền mua trâu, giống và trợ giúp, cùng số nợ nhận đất, gần đây các châu quân theo lệ kiểm tra đòi nợ. Vì những người này lâu ở nơi quân ngũ, vừa mới nghỉ ngơi, xin cho hoãn lại, đợi năm được mùa sẽ theo thứ tự nộp.” Chiếu cho gia hạn thêm hai năm.
[50] Ngày Kỷ Tỵ, chiếu rằng các quan lục tào ở Khai Phong phủ mãn nhiệm kỳ, giảm một năm khảo khóa.
[51] Sở Tường định biên tu chư ty sắc thức tâu: “Đại lễ của quốc gia, gồm Nam Giao, Minh Đường, Hợp Hưởng, Cung Tạ, Tịch Điền, Thượng Miếu Hiệu. Nay nếu chỉ lấy Minh Đường, Hợp Hưởng, Nam Giao ba việc chung làm đại lễ thức, thì e chưa bao quát hết, lại Minh Đường, Hợp Hưởng, Nam Giao dù gộp làm một tên, vẫn phải dùng văn cũ tách ra làm thức. Cung Tạ, Tịch Điền, nhiều năm không cử hành, hồ sơ các ty tản mát, nay nếu so sánh đại lễ mà châm chước tu định, lại vì điển lễ rất trọng, quy cách có chỗ chưa đủ, thì khi thi hành, e có chỗ sai sót, vì thế chưa dám tu định.” Chiếu rằng Cung Tạ, Tịch Điền, căn cứ vào văn tự có thể khảo cứu được thì tu định.
[52] Cơ quan Tường định biên tu chư ty sắc thức tâu rằng: “Triều đình ta mỗi khi gặp đại lễ, đều theo lệ cũ, phân chia nhiệm vụ cho các quan. Tể tướng làm Đại lễ sứ, hai chế và hai tỉnh chia nhau làm bốn sứ. Nay các chức quan chính thức đều đầy đủ, xin không bổ nhiệm thêm năm sứ nữa.” Vua nghe theo.
(Sách 《Cựu kỷ》 chép: Ngày Kỷ Tỵ, giao việc đại lễ cho các cơ quan, mỗi nơi lo phần việc của mình, bãi bỏ năm sứ.)
[53] Vua phê rằng: “Các bảo đinh được cấp cung nỏ, nhưng chưa đủ khắp, dẫn đến tập trung tại nhà bảo chính, việc canh giữ làm cản trở nhân lực, nghe nói rất khổ sở. Vậy việc huấn luyện bảo đinh về cung, nỏ, dây cung và tên, hãy lệnh cho Quân khí giám cấp đủ số lượng một cách nhanh chóng.”
[54] Chiếu rằng: Số lượng thiếu hụt của dân binh Thiểm Tây, hãy nhanh chóng bổ sung bằng những người trẻ khỏe trong gia đình; nếu không có, thì chọn từ khách hộ để bổ sung. Những người tử trận được thay thế, cứ theo phép cũ.
[55] Có cận thần tâu rằng triều đình nên thi hành chính sách tiết kiệm, Vua nói: “Làm chính trị có đạo, xem xét việc quản lý tài chính thế nào. Tiết kiệm không phải là việc của đế vương. Tiết kiệm là việc của gia đình mà thôi. Vì vậy, Vua Vua cần cù trong việc nước, tiết kiệm trong việc nhà. Chư hầu tiết kiệm mà không hợp lễ, còn bị chê trong thơ. Người trị vì thiên hạ, lẽ nào lấy tiết kiệm làm việc chính?”
(Theo 《Chu sử》. 《Chu sử》 tự chú rằng lấy từ 《Trung thư thời chính ký》. Không rõ tên cận thần là ai, cần tra cứu thêm.)
[56] Ngày Canh Ngọ, chiếu cho Thẩm Quát: “Hiện đang dùng binh chưa dứt, cần phải tiết kiệm tài vật. Các thành trại mới thu phục, càng phải tìm mọi cách giảm chi phí, mới có thể bảo toàn vẹn, giữ vững không lo ngại. Khi không có việc, chớ tùy tiện tăng thêm binh mã phòng thủ, một là hao tổn tài vật, hai là làm quân sĩ mệt mỏi. Nay việc biên phòng một phương đều giao cho khanh, nếu có sai sót, ắt sẽ trị tội, mọi việc phải thận trọng, đừng làm kế thoái thác trách nhiệm.”
[57] Chiếu rằng: “Dân sinh Lê ở Chu Nhai quân xin quy thuận, hãy lệnh cho Trương Giáp xem xét việc nên làm, không được gây sự.”
[58] Chiếu cho Kinh lược ty lộ Phu Diên: “Nghe nói binh sĩ dưới quyền các tướng phòng thủ biên giới có nhiều kẻ đào ngũ. Hãy điều tra xác thực, nghiêm ngặt bắt giữ, kẻ cầm đầu xử lăng trì, những người còn lại đều chém hết, rồi báo cáo số lượng lên triều đình.”
[59] Đề cử ty đê ngạn sông Biện tâu: “Thuyền rỗng xuôi dòng chở hàng lậu, Đại Lý tự dẫn luật không xử tội, gây thiệt hại cho thuế khóa của bản ty. Xin từ nay thuyền xuôi dòng chở hàng lậu đều xử theo luật chở hàng lậu.” Triều đình đồng ý.
(Bản Chu bỏ đi, nói việc nhỏ không ghi.)
[60] Ngày Quý Dậu, ân xá đặc biệt cho các châu quân lộ Tử Châu. Tất cả quân sương, quân cấm liên quan đến việc quân ở Lộ Châu đều được cấp tiền đặc biệt; những người làm việc công dịch liên quan đến việc quân đều được miễn thuế hạ thu năm nay và một khoản tiền dịch; gia đình những người tử trận được cấp phát tùy theo tình hình. Các tướng tá, binh sĩ ở bản lộ và các lộ lân cận bị điều động hoặc bị phân bổ liên quan đến việc quân mà có công, cùng các quan văn võ tùy quân ứng phó việc quân có lao động, đều được bảo đảm và báo cáo lên triều đình. Những người bị thương không thể tiếp tục tham gia chiến dịch được cấp đủ lương thực và quần áo; nếu là gia đình những người tử trận hoặc chết vì bệnh, chính binh và người được tuyển mộ có nợ nần hoặc thiếu hụt, quan chủ quản thiếu hụt hoặc làm hư hỏng tài sản quân sự, nếu không phải là hành vi tham ô đều được miễn trừ.
(Tháng 10 ngày Bính Dần có thể tham khảo. Cựu kỷ ghi ân xá lộ Tử Châu, những người bị điều động liên quan đến việc quân được miễn thuế. Tân kỷ cũng ghi tương tự.)
[61] Chiếu: “Thủ lĩnh Tây Phiên Mạc Xuyên, Tiết độ sứ Tây Bình quân, Áp Phiên lạc Đổng Chiên phong làm Vũ Uy quận vương, ban thưởng một đai vàng, hai nghìn lạng bạc, ba nghìn tấm lụa màu, mỗi năm tăng thưởng năm trăm tấm lụa lớn, năm nghìn cân trà; A Lý Cốt làm Đoàn luyện sứ Túc Châu, Quỷ Chương làm Đoàn luyện sứ Cam Châu, Tâm Mâu Khâm Chiên làm Thứ sử Y Châu, mỗi người được ban một đai vàng, hai trăm lạng bạc, ba trăm tấm lụa; Sứ giả tiến cống Lý Sất Lạp Khâm làm Thứ sử Khuếch Châu, tăng thưởng trà và lụa theo thứ bậc. Thanh Nghi Kết Quỷ Chương chỉ gọi là Quỷ Chương, A Lệnh Cốt gọi là A Lý Cốt.”
(Tân kỷ ghi phong Đổng Chiên làm Vũ Uy quận vương. Cựu kỷ không ghi.)
[62] Chiếu cho các chức vụ: Tri Xu mật viện, Môn hạ Trung thư thị lang, Đồng tri Xu mật viện, Thượng thư Tả Hữu thừa định thứ tự ban chầu, thứ tự ban chầu theo như vậy.
[63] Chiếu giáng chức Thừa nghị lang, Tập hiền hiệu lý Hoàng Liêm, Đề điểm hình ngục lộ Hà Đông xuống một bậc. Vì tội không xét lại số vàng lụa mà các ty trong lộ và triều đình ban tặng, lại tâu rằng năm ngoái khi xuất quân, hao tổn tài vật, khí giới, quân lính không kể xiết, thêm việc phô trương, xin giáng các sắc chỉ về việc tiến nạp và cho dân nộp thóc để chuộc tội.
(Ngày 12 tháng 10 năm thứ 4, Liêm tâu xin như vậy. Hành trạng của Liêm do Đình Kiên soạn, cần xem xét thêm để bổ sung.)
[64] Khai Phong phủ tâu: “Các lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng đang thực hiện việc đo đạc ruộng đất, xin theo lệnh triều đình chọn huyện nào thuế má bất công nhất để làm trước, mỗi năm không quá một huyện, nếu một châu có năm huyện thì không quá hai huyện. Vì phủ giới có 19 huyện, so với một châu thì việc thể khác nhau, nếu làm như vậy thì phải mười năm mới xong. Xin từ năm nay mỗi năm đo đạc năm huyện.” Giao cho Ty Nông tự xét, thấy là tiện cho dân, bèn theo lời tâu.
[65] Ngày Ất Hợi, chia mệnh cho các phụ thần cầu mưa.
[66] Chiếu rằng: “Nghe nói lộ Kinh Tây có nhiều quân lính đào ngũ từ Hà Đông, Thiểm Tây, các quan châu huyện đều không xét hỏi. Có thể ủy cho Giám ty bản lộ chuyên trách việc lùng bắt, theo pháp đã xử ở kinh đô mà phối lưu tại bản lộ. Phủ giới Khai Phong sai Vương Đắc Thần, Kinh Tây sai Mã Lưu, lại ban chỉ huy về việc xử phối lưu ở kinh đô.”
[67] Ty Đề cử đê phòng Hà Bắc tâu[12]: “Sông lớn từ huyện Lâm Thanh, châu Ân chảy xiên về phía đông vào sông Ngự, xói lở lòng sông, sâu đến dưới thành châu Ân, nước chảy xiết mạnh, đê sông Ngự phía dưới rộng không thể chứa được nước. Nay xét thấy nên nhân lúc nước chưa lên, tiến hành đắp đập[13], dồn nước về sông lớn.” Chiếu rằng nếu không trở ngại việc vận tải và tưới tiêu, thì theo lời tâu mà thi hành.
(Cùng ngày 27 tháng 3.)
[68] Ty Đề cử bảo giáp Hà Bắc lộ tâu: “Hai lộ cần dùng 60 vạn quan tiền để xây dựng trường tập luyện, xin chi từ tiền khuyết ngạch cấm quân và tiền dịch của kỳ mục, hộ trưởng.” Chiếu cho Ty Đề cử bảo giáp trình bày rõ các khoản chi tiêu.
[69] Kinh lược ty Phu Diên lộ tâu: “Theo chỉ triều đình, Chế trí ty Kinh Nguyên lộ tấu: Xin hạ lệnh cho các lộ tập hợp, biên chế quân mã và nghe theo điều động. Phu Diên lộ có 25.000 thổ binh và cung thủ, trong đó 20.000 bộ binh, 5.000 kỵ binh, cùng 1.000 kỵ binh phiên, cần 10.000 ngựa. Lộ này không đủ ngựa, xin triều đình cấp 5.000 ngựa.” Chiếu: “Quân lính theo số điều động, trong đó kỵ binh và phiên binh mỗi loại chọn 3.000 người có ngựa, số còn lại thiếu ngựa, đợi đến Kinh Nguyên lộ sẽ do Chế trí ty bổ sung.”
Lại tấu: “Chín tướng của lộ này cần người vận chuyển, nếu cho phép điều nghĩa dũng, bảo giáp, xin sớm ban chỉ huy; cùng áo giáp, khí giới, trước đây quân trở về mất mát, hư hỏng rất nhiều, triều đình cấp cho Ty Chuyển vận 20.000 cung sơn đen, 20.000 nỏ khiêu đăng, 14.000 áo nạp, 5.000 cờ, xin chuyển về lộ này.” Chiếu: “Người vận chuyển do Chế trí ty Kinh Nguyên lộ điều phát, các khí giới xin cấp theo tấu.”
[70] Đô đại kinh chế ty Hi Hà lộ tâu: “Xem xét thấy đường từ Thông Viễn quân đến thành Định Tây thuận tiện, xin từ trại Nhữ Già về phía tây thuộc Thông Viễn quân, từ trại Kham Cốc về phía bắc thuộc Lan Châu.” Theo lời tâu.
[71] Trương Thế Củ xin không theo chế độ thường, chọn sứ thần có tâm lực thay thế các tuần kiểm không đủ năng lực. Theo lời xin.
[72] Chiếu: “Các lộ Thiểm Tây gần đây thường có giặc Tây xâm phạm, nên lệnh cho các Kinh lược ty nghiêm ngặt phòng thủ, theo dõi sát địa điểm giặc xuất hiện, tiến hành tiêu diệt, không được khinh suất để tránh mắc mưu giặc.”
[73] Ngày Bính Tý, Lương Đào, chức Thừa nghị lang, Tập hiền hiệu lý, Kiểm tường Xu mật viện Hộ phòng Hình phòng văn tự, được bổ nhiệm làm Tri châu Tuyên Châu, nhưng chưa đi nhậm chức, lại được đổi làm Đề điểm hình ngục Kinh Tây lộ. Việc này là do có chỉ của Vua rằng: “Đào có thể giao cho một chức Giám ty ở Đông Nam.”
(Chỉ của Vua căn cứ theo Ngự tập ngày 13 tháng 3.)
[74] Chiếu rằng: “Các lộ Thiểm Tây gần đây thường xuyên có giặc Tây xâm nhập cướp bóc dân biên giới, giao cho các Kinh lược ty của Phu Diên, Hoàn Khánh, Tần Phượng, Hi Hà Lan Hội lộ tuyển chọn tướng sĩ, sứ thần, tùy theo mức độ nặng nhẹ mà trả đũa thích đáng.”
[75] Chiếu rằng: “Hàn Đảo, nguyên Tri châu Thiền Châu; Trương Thứ Sơn, Tô Dịch, chức Đô thủy giám thừa; Trần Hữu Phủ, chức Bắc ngoại đô thủy thừa; Trương Đường Dân, chức Phán đô thủy giám; Lý Sĩ Lương, chức Chủ bạ; Tiền Diệu, Trương Nguyên Khanh, chức Câu đương công sự Đô thủy giám, đều bị phạt đồng với mức độ khác nhau; các sứ thần ở đại tiểu Ngô Tảo đều bị truất một chức và cách chức; Thông phán, Mạc chức quan của Thiền Châu, cùng các Lệnh tá huyện Lâm Hà, Bộc Dương đều bị thay thế; Giám ty bản lộ bị xét tội.” Do năm ngoái sông Hoàng Hà vỡ đê mà không thể cứu hộ kịp thời.
[76] Chiếu cho Thẩm Quát: “Nghe nói giặc Tây tập trung binh lính ở châu Hựu, tuyên bố sẽ đến biên giới Tắc Môn, Bảo An quân để đón tiếp người Khương từ phương Nam chạy sang, chưa rõ hư thực. Có thể từ những người Khương vốn quản lý và mới quy phụ, dùng nhiều cách kiểm soát, không để xảy ra gian tế, xuất nhập bất ngờ, gây hại cho dân biên giới.”
[77] Phủ Dĩnh Xương tâu: “Theo chỉ triều đình, những người đào ngũ trước quân ngũ, trong hạn một tháng tự thú sẽ được miễn tội. Xét thấy những người đào ngũ từ Thiểm Tây lộ trở về phía đông đều vượt qua Đồng Quan hoặc Hoàng Hà trái phép, theo pháp luật không được phép tự thú.” Chiếu rằng những ai tự thú trong hạn sẽ được miễn tội vượt qua cửa ải.
[78] Nước Bột Nê cử sứ sang cống.
(Sách 《Tân kỷ》 chép việc này, căn cứ theo 《Thực lục》; 《Cựu kỷ》 chép phụ vào cuối năm.)
[79] Tri Tần châu Lữ Công Nhụ tâu: “Tiền thóc của ty Kinh lược thường bình, theo phép là để cứu giúp dân phiên thuộc như cung tiễn thủ, nay còn lại rất ít, xin tạm mượn tiền thóc của ty Đề cử[14] để cùng chi phát, và gia hạn đến tháng ba.” Chiếu cho tạm mượn 5000 quan tiền và thạch thóc.
[80] Nhạc châu phong Chiêu Liệt Linh phi làm Hiếu Linh phi. Vì Tri Nhạc châu Lý Quan tâu: “Linh phi là con gái họ La, cha làm quan coi sắt ở Tần chết đuối, xác không tìm được, con gái nhảy xuống nước chết theo, dân làng thờ cúng, đời Hậu Đường năm Thiên Thành đã từng được sách phong tặng” nên có lệnh này.
[81] Ngày Đinh Sửu, Vua ban chiếu đáp lại Văn Ngạn Bác rằng: “Từ xa gặp nhau, chợt đã hai năm. Xuân ấm, khanh vẫn bình an. Trước đây xem qua những điều khanh bàn về việc Quan Trung, rất đầy đủ và chân thành, không phải là bề tôi tâm phúc nhiều đời, lo nước như nhà sâu sắc, thì sao có thể tha thiết như vậy? Trẫm ngày đêm nghĩ đến lòng trung thành tốt đẹp của khanh, không quên trong lòng.
Trẫm bước vào đạo còn nông cạn, mờ mịt về việc biết người, không thể mưu tính dùng tướng soái, nhân thời cơ trời ban, trên là vì tổ tiên tiêu diệt kẻ thù truyền kiếp một phương, thật hổ thẹn sâu sắc. Từ khi sáu quân[15] trở về biên ải, tướng sĩ đã mệt mỏi, dân chúng đã than bệnh, tình thế hiện nay, há có thể lại tiến xa đánh sâu được nữa, chỉ có thể giữ vững biên giới để tự toàn mà thôi.
Gần đây đặc biệt sai người ở Kinh Nguyên lo việc phòng thủ, chỉ là khiến họ xây dựng một số đồn lũy, ngăn chặn giặc xâm phạm mà thôi, không còn có kế hoạch như trước đây nữa. Việc tuyên truyền rầm rộ như thể sắp tiến đánh, là vì binh pháp có nói, dùng mà tỏ ra không dùng, không dùng mà tỏ ra dùng.
Mong rằng có thể làm chúng kinh sợ, nhân uy thế tìm cách giảng hòa[16], thì triều đình nhân đó có thể lại khống chế chúng. Trẫm nghĩ khanh có lòng thành lo nghĩ chung vui buồn, hẳn đã hiểu rõ đại thể sắp xếp của Trẫm. Nay nhân Di Khánh đi, nên ban chiếu này để báo cho khanh biết.”
Ngạn Bác liền dâng tờ tâu tạ ơn rằng: “Thần kính được ơn thánh, vì thần tâu việc phía Tây, đặc biệt sai con thần là Di Khánh mang chiếu tay ban cho một đạo, cùng truyền lời hỏi thăm. Kính vâng lời dạy thánh, thêm cảm động và lo sợ. Thần nghĩ mình già yếu không tài, được bệ hạ đối đãi ân cần, cả triều không ai sánh bằng, chỉ biết hết lòng trung thành, mong báo đáp phần nào.
Trước đây vì Tây Hạ quấy nhiễu biên giới, quân vương đi đánh tội, các bộ tộc Khương đã rút lui, đại quân vẫn đóng ở biên ải, ý chí tốt của quân đội, đúng lúc nên rút về, nhân đó thần mới tâu lên, làm phiền đến thánh thính, mong rằng lời ngu muội của thần có thể giúp ích được chút ít. Há ngờ thần tính toán quá mức, khó lòng hiểu được mưu kế thánh minh của bệ hạ, thiên cơ vốn sâu xa, kế hoạch thánh định sẵn, mệnh trời bí mật, kế sách xa rộng vững chắc, đây là điều may lớn cho sinh linh, thật là phúc lớn vô cùng của tông miếu. Lại thêm ánh sáng thánh chiếu rọi, đức lớn bao dung, lời thô thiển của kẻ hèn mọn cũng được xét đến, thần vô cùng cảm kích và vui mừng!”
(Đoạn này theo 《Văn Ngạn Bác tập》 thêm vào. Việc Ngạn Bác bàn về việc Quan Trung, xem ở cuối tháng 12 năm thứ 4. Chiếu đáp rất quan trọng, không rõ vì sao sử quan không chép, nên xem lại. Ngày 5 tháng 6 và cuối tháng 9 có thể chứng minh điều này.)
- Hai kỳ 'kỳ' nguyên bản là 'Khoa', theo bản trong các kho lưu trữ mà sửa ↵
- Kiêu căng tàn bạo 'căng' nguyên bản là 'sung', theo bản trong các sách sửa lại. ↵
- Dục Tỉnh, chữ 'tỉnh' nguyên là 'cộng', căn cứ 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 88 chương Thảo Lô Châu man, 《Tống hội yếu》 phần Phiên di 5 chương 29 sửa lại. ↵
- Việc của Thời Trung có thể xem lại ngày 15 tháng 6 khi Thời Trung được thăng chức, chữ 'sự' nguyên là 'thư', xem 《Trường biên》 quyển 327 ngày Ất Sửu tháng 6 năm Nguyên Phong thứ 5 chép việc Miêu Thời Trung được thăng chức, Lý Đào chú: 'Ngày Bính Thìn mùng 4 tháng 2, việc của Miêu Thời Trung có thể xem lại ở đây', chữ 'thư' rõ ràng là sai, nên sửa lại. ↵
- chữ 'ứng phạt đồng' ba chữ nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 Hình pháp 6-17 bổ sung ↵
- Chữ 'Tương' trong 'Tương châu' nguyên bản là 'Sương', căn cứ theo bản trong các bộ sách và 《Tống sử》 quyển 332, truyện Triệu Tiết sửa lại. ↵
- Nguyên văn có chữ 'bất' sau 'chỉ huy', nhưng theo 《Tây Hạ thư sự》 quyển 26 chép: 'Lương thị lệnh nha đầu thủ lĩnh cho người ngựa vào cướp bóc thương nhân và quân lính', nên chữ 'bất' là thừa, xóa bỏ. ↵
- việc Vương Kiến khởi đầu 'khởi đầu', sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 89 chép là 'trị'. ↵
- Từ năm Thiên Thánh đến năm Hi Ninh, khoảng 43 năm, chữ 'năm' dưới chữ 'tứ' nguyên có thừa, căn cứ theo văn trên và 《Tống sử》 quyển 487 truyện Cao Ly mà bỏ. ↵
- Chiếu hạ cho Tất Trọng Diễn, chữ 'chiếu' nguyên thiếu, căn cứ theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 89 mà bổ. ↵
- Vương Huy là con của Tuân, 《Văn hiến thông khảo》 quyển 325 và 《Tống sử》 quyển 487 truyện Cao Ly đều chép là 'cháu của Tuân là Huy'. ↵
- 'Đê' nguyên là 'đề', theo các bản và 《Tống hội yếu》 phương vực 15/8 sửa lại. ↵
- 'Bế' nguyên là 'khai', theo sách trên sửa lại. ↵
- 'Cử' nguyên là 'Học', theo các bản và 《Tống hội yếu》 binh 4-11 sửa. ↵
- Sáu quân, chữ 'quân' nguyên là 'năm', theo 《Văn Lộ Công văn tập》 quyển 25 đáp chiếu sửa lại. ↵
- Nhân uy thế tìm cách giảng hòa, chữ 'nhân' nguyên là 'lai', theo sách trên sửa lại. ↵