"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 51: NĂM HÀM BÌNH THỨ 5 (NHÂM DẦN, 1002)

Từ tháng giêng đến tháng tư năm ấy.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Dậu mùng một, Vua ngự điện Triều Nguyên nhận chầu.

[2] Trương Ngưng, quan bố trí đường Hoàn Khánh, dẫn quân từ trấn Bạch Báo tiến vào đất Thổ Phồn, đốt hơn 200 trại, chém 5.000 đầu, bắt sống hơn 900 người, phá hủy 8 vạn thạch lương thảo, thu được 2 vạn con trâu dê cùng khí giới. Các tộc Hồ Gia Môn ở châu Khánh vốn ngang ngược khó trị, Ngưng thừa cơ bất ngờ đánh phá được. Ban đầu, khi Ngưng xuất quân, chuyển vận sứ Lưu Tống sợ việc vận chuyển không kịp, hỏi kế sách, Ngưng đáp: “Nay nên tiến sâu vào, dựa vào lương thảo của địch, không cần lo lắng.”

[3] Ngày Nhâm Dần, Vua đến điện Thần Ngự Thái Tông ở viện Khải Thánh. Trước đây, mỗi dịp thượng nguyên, Thái Tổ và Thái Tông thường đến chùa chiền rồi mới lên lầu xem đèn. Vua từ khi mãn tang, vì viện Khải Thánh là nơi Thái Tông giáng sinh, có tượng Thánh, không muốn dùng làm nơi vui chơi, nên trước đó đến bái yết, đến tối ngày rằm mới đến chùa khác. Từ đó thành lệ.

[4] Ra lệnh cho 30 chỉ huy quân Quảng Nhuệ đóng ở Hà Bắc trở về Hà Đông, để giảm bớt việc cấp lương do giá gạo tăng cao.

[5] Ngày Giáp Thìn, lấy Hữu bộc xạ Trương Tề Hiền làm Kinh lược sứ các quân Bân Ninh, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, Nghi Vị, Trấn Nhung, kiêm phán châu Bân. Lệnh cho quân đóng ở hai đường Hoàn Khánh, Kinh Nguyên và Vĩnh Hưng quân đều chịu sự điều động của Tề Hiền.

(Chức Kinh lược sứ chuyên trách bắt đầu từ đây. Ngày Quý Tỵ tháng 9 năm Khai Bảo thứ 8, lấy Đinh Đức Dụ, Đô giám hành dinh Đông Nam lộ châu Thăng, Nội khách tỉnh sứ, làm Kinh lược tuần kiểm sứ các châu Thường, Nhuận. Tên chức không chuyên, nên không phải là khởi đầu.)

[6] Đinh Vị, chuyển vận sứ đường Quỳ Châu, Công bộ viên ngoại lang, Trực sử quán, được thăng làm Hình bộ viên ngoại lang, ban 300 lạng bạc, vì có công vỗ về khiến người Man yên ổn.

[7] Ngày Bính Ngọ, lấy Tây thượng các môn sứ Tôn Toàn Chiếu làm Kinh lược sứ hai châu Thạch, Thấp, đóng quân ở châu Tuy, lo việc sửa chữa thành trì, điều động hơn hai vạn binh lính và dân phu để phục vụ công việc này. Lúc đó, Quắc châu đoàn luyện sứ Mộ Hưng làm Bộ thự hai châu Thạch, Thấp. Toàn Chiếu bí mật tâu với Vua rằng: “Hưng tính cương trực, xin hạ chiếu bảo ông ấy phải tuân theo kế hoạch của thần.”

Vua thấy Toàn Chiếu vốn cứng rắn, còn Hưng khi làm việc thường tự ý quyết định, e rằng hai người không hợp tác được, nên giao việc cho Toàn Chiếu, rồi sai Khách tỉnh sứ, Lân Phủ phó bộ thự Tào Xán[1] đổi chỗ với Hưng.

Hưng là người châu Định.

[8] Ngày Đinh Mùi, lấy Hộ bộ viên ngoại lang, Trực sử quán Tăng Trí Nghiêu làm Kinh lược phán quan các lộ Bân, Ninh, ban cho áo tía, đai vàng.

Ban đầu, Trương Tề Hiền muốn dùng Trí Nghiêu để giúp mình. Trí Nghiêu nói với Tề Hiền: “Quân Tây có mười vạn, Vương Siêu đã làm Đô bộ thự rồi. Ông chỉ dẫn một hai vị quan triều đến đó, Siêu có chịu nghe lệnh của ta không? Ta có thể giao mưu kế cho Siêu, nhưng không thể tự mình chỉ huy được. Nếu không được quyền tiết chế các tướng, thì cũng vô ích.” Tề Hiền bèn tâu lên Vua, Vua hạ chiếu cho Kinh lược sứ được tự mình điều động quân các châu đóng ở nơi khác đến.

Trí Nghiêu vừa nhận mệnh, liền không muốn đi, bèn dâng sớ phản đối rằng: “Tể tướng Hướng Mẫn Trung được thăng chức không phải do công đức, thần cho rằng ông ta không thể dùng được. Nay thần nhận mệnh chưa có công trạng gì, không dám nhận lễ vật chương phục.” Triều đình chê Trí Nghiêu cuồng loạn, bèn hạ chiếu giao cho Ngự sử đại xét tội, giáng làm Hoàng Châu đoàn luyện phó sứ, tước bỏ kim tử.

(Theo 《Thực lục》: Trí Nghiêu được bổ làm phán quan, ngày vào tạ ơn, liền được ban kim tử, sau đó dâng sớ tự trình bày. Vương An Thạch trong bài minh trên bia mộ và Âu Dương Tu trong bài văn bia thần đạo đều nói Trí Nghiêu trước từ chối đi nhậm chức, được triệu ban kim tử, rồi mới có chuyện này, có vẻ như là lời nói khoa trương. Trí Nghiêu được ban kim tử vào ngày Đinh Mùi, ngày Mậu Thân thì bị tước bỏ, còn việc dâng sớ thì không rõ ngày nào.

Nhưng lúc Trí Nghiêu vào tạ ơn, thực ra chưa từng từ chối đi nhậm chức, sau khi nhận ban thưởng, mới hối hận, bèn dâng sớ. Có lẽ là muốn dùng cách này để gây chú ý và nổi tiếng. Đó là lý do triều đình chê ông cuồng loạn. Đại để các bài văn bia khen ngợi Trí Nghiêu quá đáng, còn quốc sử thì chê bai cũng quá lời. Nay tham khảo chỉnh sửa.

《Long Xuyên biệt chí》 chép: Sai Trí Nghiêu làm phó cho Ôn Trọng Thư đi an phủ Thiểm Tây. Trí Nghiêu ở cửa cáp dâng sớ, nói Trọng Thư không đủ để cùng làm việc. Những kẻ khinh bạc đều vỗ tay khen hay. Lý Hãng ở Trung thư không vui, bèn dùng người khác làm phó cho Trọng Thư và cách chức Trí Nghiêu.

Xét quốc sử và 《Thực lục》, thì người mà Trí Nghiêu làm phó là Trương Tề Hiền, không phải Trọng Thư. E rằng 《Long Xuyên biệt chí》 nghe nhầm. Nhưng chỗ nói Trọng Thư không đủ để cùng làm việc, có lẽ Trí Nghiêu thực sự chỉ Tề Hiền, nên quốc sử và 《Thực lục》 đều chê Trí Nghiêu lời lẽ cuồng loạn. Chỉ có Tề Hiền từng tiến cử Trí Nghiêu, không lẽ lại báo đáp như vậy. Đã nói là cuồng loạn, thì việc phản phúc vong ân cũng chưa chắc. Tề Hiền cuối cùng bị cách chức kinh lược, có lẽ cũng vì việc này chăng? Nhưng bài minh trên bia mộ của Trí Nghiêu chỉ bàn về Hướng Mẫn Trung, chưa từng nhắc đến Tề Hiền. Quốc sử và 《Thực lục》 đều không nói rõ việc này, nay chỉ theo bài minh trên bia mộ.)

[9] Ban đầu, quân ở Khánh Châu được điều động để hộ tống lương thảo đến Linh Châu. Điện trung thừa Trịnh Văn Bảo vốn am hiểu địa hình hiểm trở ở vùng biên giới phía tây, đã tâu lên rằng chắc chắn sẽ bị Lý Kế Thiên đánh bại. Sau đó, quả nhiên chuyển vận sứ Trần Vĩ bị giặc giết chết. (Sự việc xảy ra vào tháng 9 năm thứ 3.) Giặc tiến công chiếm được quân Thanh Viễn. (Sự việc xảy ra vào tháng 9 năm thứ 4.)

Lúc đó, Trịnh Văn Bảo đang để tang mẹ, chưa mãn tang. Triều đình lập tức sai tướng phủ triệu ông đến để hỏi kế sách. Trịnh Văn Bảo nhân đó dâng lên bản đồ Hà Tây – Lũng Hữu, đồng thời tâu rằng Linh Châu không thể bỏ. Do đó, triều đình cử Vương Siêu đi đánh dẹp phía tây. Sau đó, ban chiếu phục chức Công bộ viên ngoại lang cho Trịnh Văn Bảo, cùng kiêm nhiệm chức Đồng câu đương Thiểm Tây tùy quân chuyển vận sứ.

[10] Ngày Mậu Thân, Lại bộ lang trung, Trực tập hiền viện Điền Tích được quyền cán đương Thông tiến ngân đài ty[2], kiêm chức Môn hạ phong bác sự.

Ba ngày sau, Điền Tích tấu rằng: “Thần trước thấy sai Trương Tề Hiền làm Kinh lược sứ, Tăng Trí Nghiêu làm Kinh lược phán quan, Trịnh Văn Bảo làm Chuyển vận sứ. Thần đọc sách binh pháp của Tôn Tử, có câu ‘Không hiểu hết cái hại của dùng binh thì không thể hiểu hết cái lợi của dùng binh’, nay không biết Trương Tề Hiền, Tăng Trí Nghiêu, Trịnh Văn Bảo có hiểu hết lợi hại của việc dùng binh không? Nếu hiểu hết lợi và hại, hành động không sai sót, mới có thể giao phó việc kinh lược biên cương.

Thần đọc 《Hán thư》, Cao Tổ nói ‘Vận trù trong màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm, ta không bằng Trương Tử Phòng’. Nay Tể tướng, Xu mật sứ là bề tôi vận trù trong màn trướng của bệ hạ, không biết đã từng bàn bạc lợi hại nơi biên cương rồi mới quyết định sai Trương Tề Hiền hay chưa? Trước đây Dương Quỳnh không xứng với sự tin dùng của bệ hạ, khiến mất quân Thanh Viễn, lương thảo bỏ lại không ít, dân chúng bị giết hại và bắt đi cũng không ít.

Nay đang là mùa xuân, động binh khởi sự, tuy là để cứu nguy phòng lo, tự nhiên phải tùy cơ ứng biến, nhưng thánh nhân hành động tất thuận thời, thì trời sẽ giúp thuận. Huống hồ rợ Địch gây họa không nhỏ, bệ hạ nên triệu Tể tướng, Xu mật sứ, lại hỏi kế sách quyết thắng ngoài ngàn dặm, không được khinh địch coi thường giặc, khiến rợ Địch cho rằng Trung Quốc không có người.

Nếu Tể tướng, Xu mật sứ nói không hết, thì hãy cho họ viết thẳng kế sách lợi hại tất nhiên, trình bày rõ ràng dâng lên. Tất nhiên, nghĩa là người Phiên đến tháng nào tất lui, tháng nào tất đến, đến tất thắng, lui tất bại. Nếu Tể tướng, Xu mật sứ có ý kiến khác nhau, lại không dám quyết đoán trình bày kế sách tất nhiên, lại sợ đồng liệt, thì xin bệ hạ ở điện riêng cho một người vào, triệu riêng nói chuyện, để họ nói hết ý kiến.

Thần năm ngoái ngày 6 tháng 5 ở nội điện khởi cư dâng tấu chương chuyển đối, nói Tể tướng không am hiểu việc biên cương, nay xin bệ hạ xem lại; lại ở quyển thứ hai 《Ngự lãm》 dâng lên mùa đông năm ngoái, từng dẫn lời tựa chú sách binh của Đỗ Mục nói Tể tướng không biết binh pháp, mong bệ hạ cũng xem kỹ.

Huống chi 《Lễ》 nói: ‘Bốn phương lũy đắp nhiều, là nỗi nhục của khanh đại phu.’ Nay biên cương bị rợ Địch xâm nhiễu, Tể tướng, Xu mật sứ không biết đó là nhục sao? Không biết đó là sỉ nhục sao? Nếu không cho là nhục, lại không biết xấu hổ, thì là phụ lòng tin dùng của bệ hạ, là an nhiên trên miếu đường mà không biết nguy loạn sắp đến. Mong bệ hạ mau triệu tập Tể tướng, Xu mật sứ, từng người hỏi han, để họ nói hết ý kiến, tránh cho bệ hạ nỗi lo thức khuya dậy sớm. Lời thần nói ra, họa vào thân, bệ hạ nếu không giữ kín, thì sẽ mất thần vậy.”

(Theo chú thích trong tấu chương của Điền Tích, nói là ngày 15 tháng giêng dâng lên. Nay phụ vào đây. Ngày Mậu Thân là tháng 12. Tấu chương chuyển đối ngày 6 tháng 5 năm ngoái chưa thấy.)

Tích lại nắm giữ chức Ngân đài, mỗi khi xem xét các chương sớ từ khắp thiên hạ, nếu có ai nói về dân đói khổ, giặc cướp nổi lên, hoặc chiếu chỉ không thuận tiện, đều tâu trình rõ ràng. Vua đối với các tể thần khen Tích là người biết giữ phép của bề tôi can gián.

(Theo bản truyện.)

[11] Ngày Nhâm Tý, người Man ở châu Thiên Tứ là Hướng Vĩnh Phong cùng 29 người đến triều cống.

[12] Ngày Giáp Dần, thân lại của tướng quý tộc Khiết Đan là Tiêu Kế Viễn[3] là Lưu Trừng và Trương Mật đem cả gia tộc về quy thuận, đều được bổ làm Tam ban tá chức, ban cho áo bào, hốt và tiền.

[13] Tăng thêm năm chỉ huy quân Quảng Tiệp. Trước đây, Thái Tông nghe nói phương Nam thường dùng giáo và khiên làm vũ khí, bèn sai quan chức chế tạo. Vua lên ngôi, sai nội thần Tiêu Diên Hạo lấy quân Quảng Đức để dạy tập. Đến nay, thử nghiệm ở điện Tiện, thấy rất tinh nhuệ. Vua cho rằng có thể dùng để bắt giặc và giữ nơi hiểm yếu, nên tăng thêm quân số, lại chọn quân Thần Uy để bổ sung.

[14] Đô giám quân Thuận An là Mã Tế tâu: “Xin từ quân Tĩnh Nhung phía đông đắp đập sông Bào, đào kênh dẫn vào quân Thuận An, lại từ phía tây quân Thuận An dẫn vào quân Uy Lỗ để thuận tiện vận chuyển, đồng thời đặt đồn điền thủy lục bên kênh để ngăn quân địch.” Vua nói: “Kênh này nếu thành, cũng có ích lợi, có thể theo lời xin mà từ từ tính toán.”

[15] Lương Hạo đi sứ Hà Bắc trở về, nói dân chúng có người ăn đậu hoang dại, bèn đem dâng lên. Vua bảo các phụ thần: “Đậu này khô cứng, đắng chát, sao có thể ăn được? Lại nghe nói quân Can Ninh, Định Viễn có nước ngập ruộng đồng, cũng không có đậu này để hái. Dân đen thật đáng thương. Kho thóc Huệ Dân ở Can Ninh có hơn vạn hộc, có thể dùng để cứu đói.”

[16] Ngày Ất Mão, bộ thự châu Thạch, châu Thấp tâu rằng chỉ huy sứ dưới quyền Lý Kế Thiên là Ngọa Lãng Kỷ cùng 46 người đến quy phụ. Vua xuống chiếu bổ làm quân chủ, ban cho áo bào, đai lưng, trà và lụa, lệnh cho châu Thạch cấp ruộng để an trí.

[17] Ngày Bính Thìn, Hàn lâm Thị giảng học sĩ Hình Bính giảng xong sách 《Tả thị Xuân Thu》, Vua triệu tập tông thất, Thị độc, Thị giảng học sĩ, quan trong vương phủ đến dự tiệc ở điện Sùng Chính, ban cho Hình Bính và những người khác khí tệ, y phục, đai vàng, thăng Hình Bính làm Công bộ Thị lang.

Vua nói với các quan phụ chính: “Từ chức tướng quân ở Nam Bắc trạch trở xuống, có thể chọn những nho sinh thuần hậu, dạy họ kinh nghĩa, để họ biết đạo tam cương ngũ thường.”

[18] Ngày Kỷ Mùi, châu Cung báo rằng binh sĩ Trầm Hưng cùng 26 người mưu phản đã bị xử tử.

[19] Ngày Quý Hợi, đổi mệnh cho Trương Tề Hiền làm phán quan phủ quân Vĩnh Hưng kiêm Mã bộ quân Bộ thự, bãi chức Kinh lược sứ.

(Sử không chép rõ nguyên do, cần xem xét thêm.)

[20] Ngày Giáp Tý, Thiểm Tây chuyển vận sứ Lưu Tống tâu: “Nghe nói bọn giặc Thiên đặt các bộ lạc Phiên ở đường Xích Sa và Thác Đà để buôn bán, lo rằng chúng sẽ dụ dỗ các hộ thục phản loạn, xin cho bộ tướng ở địa phương đem quân đánh dẹp.”

Vua nói: “Việc buôn bán qua lại ở biên giới, nếu không cảnh cáo mà giết ngay là hành động bạo ngược. Nên trước hết dụ dân theo điều ước, nếu có kẻ vi phạm thì nghiêm trị.”

[21] Ngày Ất Sửu, miễn thuế nợ năm ngoái của Thiểm Tây.

[22] Vua gặp tể tướng Lữ Mông Chính và các quan ở điện Tiện, nói rằng: “Hàng năm phòng thủ mùa thu, toàn bộ quân đội tập trung ở châu Định, đó là chế độ cũ của quốc gia. Nếu phân tán quân mã, chia đường tiến đánh, lại sợ lực lượng không thống nhất, khó ngăn được mũi nhọn của giặc. Năm ngoái tập hợp quân đội dàn trận, áp sát biên giới, có người bàn rằng việc vận chuyển lương thảo khó khăn.

Trẫm mỗi lần gặp các tướng thần, không lần nào không bàn kỹ lợi hại, nhưng đa phần là những việc mọi người đều biết và đã làm, chưa có ai đề xuất được kế sách kỳ lạ. Số lượng binh lực của quốc gia, các khanh đều biết. Nay đã sang xuân, cần gấp rút chuẩn bị, đến lúc đó vẫn lo không kịp.

Trung thư và Xu mật viện hãy trình bày ý kiến, năm nay phòng thủ biên giới nên bố trí thế nào, soạn thành điều lệ tâu lên.”

[23] Ngày Bính Dần (30 tháng giêng. Theo tấu nghị của Điền Tích), Quyền quản cán Thông tiến Ngân đài ty, kiêm Môn hạ phong bác sự Điền Tích tâu rằng: “Thần vào ngày 25 tháng này đã dâng thư kín, nói về việc dân chúng ở châu Bá, quân Càn Ninh bị chết và bị thương. Từ ngày 26 đến nay, lại nhận được tấu của châu Mạc báo có 16 người chết đói, châu Thương báo có 17 hộ chết đói cả nhà. Tuy đã có chỉ dụ xuống cho Ty chuyển vận xem xét và giảm giá thóc để cứu tế, nhưng chưa thấy có chỉ dụ khác. Nếu các cơ quan chỉ xử lý như vậy, thực sự chưa xứng với tấm lòng lo lắng của bệ hạ.

Bệ hạ là cha mẹ của dân, để dân chúng chết đói, đó là bệ hạ đã phụ lòng dân. Tể tướng điều hòa âm dương, dẫn dắt thánh đức, nhưng ân huệ không thấm xuống dưới, vương đạo chưa sáng tỏ, đó là tể phụ đã phụ lòng bệ hạ. Nay bệ hạ sao không tự trách mình, như Vua Vũ, Vua Thang tự trách, hạ lời dụ nhân từ xuống các châu phủ có người chết đói, để dân chúng biết bệ hạ lo lắng thương xót, sau đó mở kho phát chẩn cứu giúp họ. Nếu kho lương trống rỗng, mà việc vận chuyển lương thực ra biên giới chưa đủ, thì ngay lập tức không có gì để cứu tế, đó là do chính sách trước đây không dụng tâm.

Xưa Y Doãn làm tướng, lấy làm xấu hổ nếu một người dân không được no đủ, nay người chết đói nhiều như vậy, thật đúng là ‘dùng tể tướng làm gì!’ Nay bệ hạ có thể lấy việc này mà trách cứ các tể thần, xem họ đối đáp thế nào, xem họ có xấu hổ không, có lo lắng không. Đợi ba ngày sau hoặc mười ngày, nếu họ không dâng biểu chịu tội, không xin từ chức, thì đó là kẻ nhẫn tâm, sao có thể gọi là lương tướng được? Đã không phải lương tướng mà vẫn dùng, thì đó là bệ hạ không lấy lòng dân làm lòng mình. Nếu không tiến cử hiền thần, thần e rằng mầm nguy loạn sẽ nảy sinh, tương lai sẽ khó kiểm soát.

Cổ nhân nói: ‘Mười nhà ắt có người trung tín.’ Huống chi nay hoàng gia giàu có vạn nước, há lại không có người tài! Có thể trong số các quan thường triều, cứ năm ngày một lần luân phiên tâu bày, xem ai có mưu lược lớn, tài năng kinh luân, thì có thể đặc cách bổ dụng. Nếu có lời nói mà không có thực tài, thì cho lui về theo lễ, cũng hợp lẽ. Nếu không, thần e rằng quốc gia khó sớm đạt được thái bình. Không chỉ thái bình khó đạt, mà loạn lạc không chỉ ở biên giới mà còn ở trong nội địa. Đây là việc cấp bách để bệ hạ kế thừa cơ nghiệp vạn đời của tiên đế.

Việc cấp bách nhất, không gì hơn việc này. Mong bệ hạ sáng suốt xem xét, hiểu rõ lời thần, trước hết hạ lời dụ nhân từ, lấy ý tự trách của Vua Vũ, Vua Thang để tạ trời, lấy tấm lòng nhân từ của Vua Nghiêu, Vua Thuấn để đối đãi dân chúng, khiến những nơi đói kém biết được tấm lòng lo lắng của bệ hạ.”

(Điền Tích tự chú rằng tấu vào ngày 30 tháng giêng. Nay phụ vào ngày này.)

[24] Tháng hai, ngày Mậu Thìn, sai trung sứ đến các châu Hùng, Bá, Doanh, Mạc, Thâm, Thương và quân Can Ninh nấu cháo để cứu tế dân chúng.

[25] Đường phố trong kinh thành chật hẹp, Vua xuống chiếu cho Hữu thị cấm, Cáp môn chi hậu Tạ Đức Quyền mở rộng.

Đức Quyền nhận chiếu, liền trước tiên dỡ bỏ các dinh thự của quý tộc, khiến dư luận xôn xao. Có chiếu lệnh dừng lại, Đức Quyền tâu rằng: “Những người ngăn cản việc này đều là bậc quyền quý, tiếc tiền thuê nhà mà thôi[4], không có gì khác. Thần thà chết chứ không dám nhận chiếu.” Vua đành phải nghe theo.

Đức Quyền bèn dâng sớ trình bày về việc mở rộng đường phố và quy định giờ giấc đánh trống cấm thành, đều theo chế độ cũ của Trường An. Vua bèn hạ chiếu cho ty đường phố phủ Khai Phong ước định khoảng cách, lập sổ sách và cột mốc, lệnh cho dân từ nay không được xâm chiếm.

[26] Khi ấy, có kẻ gian là Lưu Dục và nhà sư Trừng Nhã tố cáo các quan chấp chính cùng dân châu Hứa âm mưu với Tây Nhung làm phản. Vua sai Ôn Trọng Thư và Tạ Bí tra hỏi, Đức Quyền giám sát. Sau khi xét hỏi không có chứng cứ, hôm sau vào chầu ở điện, Đức Quyền tâu việc vu cáo. Tạ Bí tâu: “Phải bắt giam đại thần thì án mới thành.” Đức Quyền quát: “Ông nhất định muốn hãm hại đại thần sao! Nếu đại thần vô tội mà bị nhục, thì Vua dùng gì để sai khiến bề tôi, bề tôi dùng gì để thờ Vua?” Trọng Thư tâu: “Lời tâu của Đức Quyền rất phải.” Vua bèn nghe theo.

(Không rõ đại thần là ai, nay tạm theo bản truyện. Ôn Trọng Thư lúc đó làm Lễ thư, coi phủ Khai Phong. Tạ Bí tháng 12 năm ngoái làm Chủ khách lang trung, coi viện Đăng Văn, mùa xuân năm nay cùng coi việc thi cử, tháng 4 coi ty Ngân Đài. Trọng Thư và Tạ Bí tra án, lại sai Đức Quyền giám sát, chưa rõ lý do.)

[27] Ngày Canh Ngọ, Hộ bộ sứ, Hữu gián nghị đại phu Vương Tử Dư tâu việc ở điện Trường Xuân, bỗng lâm bệnh nặng, ngã xuống đất. Vua sai trung sứ đỡ ông về nhà, đến nơi thì mất. Vua rất thương tiếc, ban tặng nhiều hơn thường lệ, vì con ông là Đạo Tông còn nhỏ, xuống chiếu cho Tam ty phán quan Chu Đài Phù kiểm tra việc nhà ông.

Tử Dư chỉ có một con trai, còn ba con gái đều chưa đến tuổi cài trâm. Đạo Tông chẳng bao lâu cũng mất, gia quyến tạm trú ở Sở châu, vợ Tử Dư là Lưu trở về nhà cha mẹ, còn Tử Dư vẫn tạm quàn ở kinh đô. Năm năm sau, em họ ông dâng lời xin mượn thuyền quan để chở linh cữu về quê, bán nhà ở kinh đô, gửi tiền vào kho quan ở Sở châu để lo liệu việc gả chồng cho ba cô con gái. Vua thương tình đồng ý.

[28] Ngày Quý Dậu, xuống chiếu rằng: “Gần đây những người quản lý kho tàng thường thu thêm tiền thừa để lấy thành tích. Việc thu chi có chỗ nặng nhẹ khác nhau, điều này chỉ nên trách phạt chứ không nên khen thưởng. Nên sai các cơ quan nghiêm khắc răn dạy, không để tái phạm.” Tam ty từng tâu rằng Y khố phó sứ Tiêu Thủ Tiết giám sát Viện hương dược giác dịch[5], thuế khóa tăng hơn tám mươi vạn, nên thăng làm Các môn phó sứ.

Vua bảo các quan phụ chính rằng: “Thủ Tiết nhờ tiền lợi thừa mà thăng lên chức hoành hành, thì lấy gì để khuyến khích người ở biên cương liều mình?” Chỉ cho làm Cung uyển phó sứ.

[29] Tôn Toàn Chiếu đến Tuy châu, bèn nói việc xây thành là không tiện, triều đình cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Ngày Đinh Sửu, xuống chiếu cho Tri Thiên Hùng quân, Công bộ thị lang Tiền Nhược Thủy cùng Tịnh Đại kiềm hạt Trần Hưng đi ngựa trạm xem xét kỹ lưỡng. Nếu có lợi thì lập tức cho thi công, nếu không thì có thể bãi bỏ.

[30] Trước đó, quân Khiết Đan xâm lược, tiểu hiệu chiêu thu ở tiền trận Bảo châu là Giải Thứ, Dương Quang Mỹ, Tề Loan liều mình xông pha, phá vỡ hàng ngũ địch. Khi đại quân rút lui, họ vẫn dựa vào núi hiểm, mắng chửi giặc, đến khi bị giết. Vua thương xót, ban thưởng hậu hĩnh cho gia đình họ, lại cho con cháu họ làm quan.

[31] Ngày Kỷ Mão, vì việc điều hòa cỏ lương thực phức tạp, đặt thêm một viên Thông phán ở Nguyên châu.

[32] Tri Trấn Nhung quân Lý Kế Hòa tâu rằng: “Từ sau khi giết tộc Vệ Ly ở Thiên Ma Xuyên, các bộ lạc gần biên giới rất kinh sợ. Hiện nay, từ phía tây Lũng Sơn của quân ta trở ra năm trăm dặm, các tộc đều xin tập hợp quân mã, dựng trại sách ở biên giới để phòng thủ nơi hiểm yếu.

Tuy nhiên, tính người Nhung Địch vốn không có nhân nghĩa, đã nhờ ơn đức cũng cần dùng uy lực để thu phục. Nếu giặc chạy đến xông pha, quân ta tùy nghi giết chóc, thì uy lệnh tất được đề cao, bọn chúng càng nghĩ đến việc giúp thuận. Nếu lọt vào kế gian, bị vây ba năm ngày mà quân không kịp đến cứu, hoặc bị cướp mất năm mười tộc thục hộ, thì bọn chúng cũng sẽ tan rã, đâu còn có lòng liên kết.

Thần ngu muội cho rằng tình thế quốc gia nên khiến giặc biên giới mỗi lần đến, trăm dặm ngoài đã sợ hãi, một xá đã phải thua chạy, đâu nên để chúng nhìn thấy thành trì rồi lại tấn công phòng thủ.

Thần cho rằng nếu dời bộ thự Kinh Nguyên đến đồn thú ở quân ta, sẽ rất tiện lợi. Vì sao? Giặc phiên qua lại nhanh như gió, nếu quân số không đủ thì khó tiếp chiến. Nếu quân đông lực ngang, gấp giao chiến, nhân lúc chúng mệt mỏi, tất có thể thắng. Hơn nữa, nơi đồn quân, lương thảo nước củi là quan trọng nhất. Nay quân ta có đủ nước củi, hơn hẳn nơi khác.

Lại có ty bộ thự ở đây, thì các châu quận nội địa có thể giảm bớt quân đồn thú. Sau đó xin dời hai thuế của năm châu Kinh, Nguyên, Nghi, Vị, Lũng, cùng thương nhân các châu Bân, Ninh, Kinh, Nguyên, Nghi, Vị nhập trung, đều đưa về ba nơi Hoàn, Khánh và quân ta, để cung cấp lương thảo. Lại từ Hoàn Châu đến châu ta chỉ năm trăm dặm, xin mở đường từ thục hộ quân ta thẳng đến Hoàn Châu, không quá ba trăm dặm. Nếu hai đường có việc gấp, có thể ứng cứu lẫn nhau. Nếu giặc nhẹ đến cướp bóc, thì ty bộ thự đường ta cùng quân châu có thể cùng đánh úp. Nếu giặc đông hơn, thì không quá mười ngày, hai đường có thể hội quân. Dùng cách này, lý nào chẳng thắng.

Lại xin mở đường từ Hoàn, Khánh đến Diên Châu, thì ngang dọc ngàn dặm, có thể chiếu ứng lẫn nhau. Huống chi Diên Châu cách Thạch, Thấp, Lân, Phủ đều không xa, xin nay bí mật hẹn ước, lần lượt vào đất giặc, khiến chúng mệt mỏi chạy ngược xuôi, thì chúng tự cứu không xong, đâu còn dám xâm phạm biên giới, thôn tính các bộ phiên. Như vậy, trong hai ba năm, thêm thiên tai hạn hán, lòng người tất ly tán, nhân đó đánh dẹp, thì giặc nào chẳng tan, tặc nào chẳng diệt.”

Vua nói: “Kế Hòa tâu việc này, cũng rất tận tâm. Nhưng ý muốn mở các đường Hoàn Khánh ứng cứu lẫn nhau, e rằng xa xôi khó thực hiện.”

[33] Dân Lý Tự ở Đại Châu có tội, bỏ trốn vào địch cảnh, châu bắt gia thuộc của hắn đưa về kinh. Vua nói: “Nghe nói Tự vốn là dân biên giới, có khá nhiều của cải, nếu thi hành pháp tịch thu, thì Tự không có đường trở về, huống chi tội của hắn cũng chưa đến mức phải liên lụy.” Lập tức cho đưa về bản châu.

[34] Ngày Ất Dậu, chiếu rằng quân sĩ trấn thủ biên giới bị bệnh tật hoặc tử trận, quần áo xuân đông cho phép cấp cho gia đình họ.

[35] Bãi bỏ tiền thuê đất ngoài thuế chính ở các cửa hàng quan lại tại Quả Châu.

[36] Ngày Đinh Hợi, Cao Dương Quan đô bố trí, Điện tiền đô chỉ huy sứ, Bảo Tĩnh tiết độ sứ Vương Hán Trung đến triều. Ngày Kỷ Sửu, lấy Hán Trung làm đô bố trí hai lộ Bân Ninh Hoàn Khánh, Nghi Vị Châu Trấn Nhung Quân, Đông thượng các môn sứ Lý Doãn Chính làm kiềm hạt, Như kinh phó sứ Tống Hạng làm đô giám, dẫn hai vạn năm nghìn quân trấn thủ, giao cho Hán Trung chia đường kiểm soát.

[37] Chiếu bãi bỏ thuế rượu ở ba trấn Trường Lợi, Tạ Thị, Lâu Than thuộc hai huyện Xích Thủy, Ba Xuyên của Hợp Châu, vì bị giặc cướp tàn phá.

[38] Ngày Canh Dần, Tây diện bố trí ty xin đổi một nửa kỵ binh của Kinh, Nguyên, Hoàn, Khánh lấy bộ binh Hà Bắc. Vua nói: “Tây diện chỉ có Kinh, Nguyên, Trấn Nhung Quân là thung lũng hơi rộng bằng phẳng, còn lại đa phần là núi hiểm, không thích hợp cho kỵ binh.” Lập tức nghe theo lời xin.

[39] Ngày Giáp Ngọ, Thẩm hình viện dâng điều lệ về buôn lậu ngựa ở Tần Châu: “Từ nay một con đánh một trăm trượng, mười con phạt đi đày một năm, hai mươi con tăng thêm một bậc, ba mươi con tâu xin xử lý, ngựa thu về quan, lấy một nửa giá thưởng cho người tố cáo.” Nghe theo. Trước đó, Thị ngự sử tri tạp sự Phạm Chính Từ từng xin mua ngựa ở biên giới tây bắc, Xu mật viện nói vi phạm cấm lệnh không thể cho phép, chiếu đặc cách ban thưởng ngựa trong ngựa nuôi.

[40] Tháng ba, ngày Đinh Dậu mùng một, chiếu rằng những người được Lại bộ tuyển chọn, nếu có tang chế bị khuyết thì đều được bổ nhiệm, ghi thành lệnh.

[41] Ngày Kỷ Hợi, Kinh Tây chuyển vận sứ Trương Tốn nói việc đặt doanh điền vụ ở Tương Châu gây phiền nhiễu không đúng. Chiếu bãi bỏ, cho dân tự do cày cấy.

[42] Ngày Quý Mão, lấy Hữu gián nghị đại phu Tống Thái Sơ quyền quản câu Ngự sử đài sự, vì lúc đó Trung thừa Triệu Xương Ngôn và Tri tạp ngự sử Phạm Chính Từ bị hặc tội. Trước đây, khi xét án và hặc tội, đều phải xin chỉ dụ triều đình trước. Thái Sơ cho rằng như vậy là mất thể thống của người giữ chức phong hiến, nên đợi khi vụ án xong mới tâu lên, được dư luận khen ngợi.

[43] Ngày Giáp Thìn, Ngự sử đài tâu: “Hữu gián nghị đại phu Vương Hóa Cơ trước đây quyền Trung thừa, khi tham dự chầu thường ở chính nha thì đứng ở vị trí Trung thừa, còn khi vào nội điện khởi cư thì đứng ở hàng của bản quan. Nay Tống Thái Sơ lấy chức Hữu gián nghị đại phu quyền quản Ngự sử đài sự, xin định lại chế độ đứng hàng.” Vua xuống chiếu cho theo lệ của Hóa Cơ.

[44] Chuyển vận sứ Hà Bắc là Cảnh Vọng tâu rằng đã theo chiếu chỉ khai thông sông Nam Hà ở trấn Thường Sơn, châu Trấn chảy vào sông Hào đến châu Triệu, công việc đã hoàn thành. Vua xuống chiếu khen ngợi.

[45] Tả tàng khố sứ Tây Kinh là Thư Tri Bạch xin ở cửa biển Nê Cô và cửa Chương lập lại ty Hải tác vụ để đóng thuyền, cho dân ra biển đánh cá, nhân tiện dò xét việc cơ mật ở châu Bình, ngày sau quân triều đình chinh phạt cũng có thể từ đây tiến quân để phân tán thế địch.

Vua nói: “Việc này Trẫm đã nhiều lần hỏi han, trước đây đã lập ty này, nhưng đã nói là không tiện nên bãi bỏ. Vì dân nhỏ ở gần biển thường qua lại với người Nhung, mấy năm trước giặc dùng thuyền thẳng vào huyện Thiên Thừa, cũng nghi là có người dẫn đường. Tuy nhiên, Hà Thừa Củ gần đây cũng có kế hoạch này, nên giao cho ty Chuyển vận bản lộ trình bày lợi hại.” Sau đó cho là không tiện, cuối cùng bãi bỏ.

Tri Bạch là con của Nguyên. (Nguyên, xem năm Càn Hữu thứ nhất).

[46] Lý Kế Thiên tập hợp đông đảo các bộ lạc, tấn công và chiếm được Linh châu. Tri châu, Nội khách tỉnh sứ, Thuận châu Đoàn luyện sứ Bùi Tế tử trận. Bùi Tế ở Linh châu được hai năm, mưu tính ổn định tám trấn, phát triển lợi ích của đồn điền, dân chúng rất tin cậy. Khi bị vây, đường tiếp tế bị cắt đứt[6], thành cô lập nguy cấp, Bùi Tế lấy máu ngón tay viết biểu cầu cứu, nhưng quân cứu viện không đến kịp, thành bị hạ. Ngày Mậu Thân, Tây diện Bộ thự ty báo lên, các tể tướng dâng biểu chịu tội, Vua ban chiếu an ủi.

[47] Ngày Kỷ Dậu, lấy Mã bộ quân Đô ngu hậu Vương Siêu làm Vĩnh Hưng quân Trú bạc Đô bộ thự, Ký châu Đoàn luyện sứ Thạch Phổ làm phó. Điều Vĩnh Hưng quân Trú bạc Kiềm hạt, Lục trạch sứ, Thuận châu Thứ sử Khang Kế Anh làm Khánh châu Trú bạc Kiềm hạt, cùng với Tây Nam biên giới thay nhau ứng viện[7]; Nhập nội Phó đô tri Tần Hàn làm Hoàn Khánh, Kinh Nguyên hai lộ Kiềm hạt, cùng với Vương Hán Trung, Lý Doãn Chính cùng lo việc, phòng bị quân giặc xâm lấn. Ban đầu, Vương Siêu đến Hoàn châu, có người nói Linh châu[8] đã thất thủ, Trịnh Văn Bảo liền mặc y phục Hồ, dẫn một kỵ binh, vượt qua tuyết lớn, đi đường tắt đến thành Thanh Viễn cũ, nắm rõ tình hình. Sau đó tâu xin rút quân.

[48] Ngày Canh Tuất, Tỷ bộ Viên ngoại lang, Trực sử quán Hồng Trạm bị tước tịch, lưu đày đến Đam châu. Công bộ Thượng thư kiêm Ngự sử Trung thừa Triệu Xương Ngôn, Thiện bộ Lang trung kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự Phạm Chính Từ đều bị tước một chức, Triệu Xương Ngôn bị giáng làm An Viễn Hành quân Tư mã, Phạm Chính Từ làm Trừ châu Đoàn luyện Phó sứ. Suy trực quan Điện trung thừa Cao Đỉnh, Chủ bạ Vương Hóa đều bị tước hai chức, Cao Đỉnh bị giáng làm Kỳ châu Biệt giá, Vương Hóa làm Hoàng châu Tham quân.

[49] Trước đó, có người dân Hà Âm là Thường Đức Phương kiện Thừa tướng Nhâm Ý hối lộ để đỗ đạt, việc được giao xuống Ngự sử đài xét hỏi, lời khai của Ý nói: “Năm Hàm Bình thứ 3 bổ làm Thái học sinh, trọ tại nhà sư Nhân Nhã, Nhân Nhã hỏi Ý khi đi thi có quen biết ai không, Ý nói không. Nhân Nhã nói: “Trong chùa tôi có sư trưởng lão Huệ Tần, quen biết nhiều người quyền quý trong triều, sẽ giúp thông đạt.” Ý viết giấy hứa 7 thỏi bạc.

Nhân Nhã và Huệ Tần giấu đi 2 thỏi, đổi thành 5 thỏi. Huệ Tần vốn quen biết Vương Khâm Nhược, lúc đó Khâm Nhược đang ở Cống viện, bèn nhờ khách trọ của Khâm Nhược là Ninh Văn Đức và người hầu là Từ Hưng đưa tờ giấy hứa cho vợ Khâm Nhược là Lý thị. Lý thị bí mật gọi gia nhân là Kỳ Duệ, viết tên Ý lên cánh tay trái của Duệ, và truyền miệng số tiền hối lộ, vào tỉnh báo cho Khâm Nhược.

Khi Ý qua 5 trường thi, Duệ lại cầm nước uống đến tỉnh. Khâm Nhược sai Duệ nói với Lý thị, bảo lấy số tiền đã hứa. Ý chưa kịp đưa, nhưng Ý đã được tâu tên đỗ khoa, được bổ quan chưa đi nhận chức thì gặp tang mẹ phải về quê. Nhân Nhã bị Văn Đức, Huệ Tần thúc ép, gửi thư về Hà Âm, trong thư có lời nguyền rủa.” Đức Phương là người bán bói ở chợ huyện, bắt được thư của Nhân Nhã bèn tố cáo. Xương Ngôn nắm được sự việc, tâu xin bắt Khâm Nhược giao cho quan lại xét hỏi.

Trước đây, Khâm Nhược làm Phán quan ở châu Bạc, Duệ là người làm việc trong sảnh của ông. Khi Khâm Nhược được thay chức trở về, ông đưa Duệ đi theo. Tuy Duệ đã phục vụ Khâm Nhược lâu ngày nhưng chưa được xóa tên khỏi sổ dịch của châu. Sau khi việc thi cử kết thúc, có người châu là Trương Tục về quê chịu tang, Khâm Nhược nhờ Tục giúp Duệ xóa tên khỏi sổ dịch.

Đến lúc này, Khâm Nhược tự tố cáo, nói rằng Duệ sau khi nghỉ dịch mới đến làm thuê trong nhà ông, còn Huệ Tần chưa từng đến cửa. Khâm Nhược đang được Vua yêu quý, Vua nói với Xương Ngôn: “Trẫm đối đãi Khâm Nhược rất hậu, nếu Khâm Nhược cần tiền, nên đến xin Trẫm, sao lại khổ sở nhận hối lộ của cử nhân? Hơn nữa, Khâm Nhược vừa mới tham gia chính sự, sao có thể vội vàng bắt giam ông ấy?” Xương Ngôn tranh luận nhưng không thành.

Vua bèn hạ chiếu cho Hàn lâm Thị độc học sĩ Hình Bính, Nội thị Phó đô tri Diêm Thừa Hàn, cùng triệu gấp Tri châu Tào là Công bộ Lang trung Biên Túc, Tri châu Hứa là Ngu bộ Viên ngoại lang Vô Tân Cổ đến Thái thường tự xét hỏi riêng. Khi tra hỏi, Ý khai rằng: “Có anh vợ là Trương Giá thi đỗ Tiến sĩ, quen biết Trạm, Ý cũng cùng Giá đến nhà Trạm, từng biếu Trạm 200 quả lựu và 100 cân than củi. Khi Ý đưa tiền, chỉ nhờ hai nhà sư chuyển đến một chủ ty, thực sự không biết là ai.”

Đến lúc này, Bính và những người khác căn cứ vào việc Ý quen biết Trạm, cho rằng Trạm nhận tiền của Ý. Trạm đang đi sứ Thiểm Tây, giữa đường bị triệu hồi. Lúc đó, Trương Giá đã chết, Ninh Văn Đức và Từ Hưng đều bỏ trốn. Khâm Nhược vừa tham gia cơ vụ, người hầu dưới cửa phần lớn là mới tuyển, không biết Huệ Tần, nên không có ai làm chứng.

Hơn nữa, Khâm Nhược kiên quyết khẳng định lúc làm chủ khảo chưa có Kỳ Duệ, nhưng lời khai của Ý đã đầy đủ, nên cho rằng Trạm nhận tiền là sự thật, bàn xử tội chết, nhưng đặc cách tha tội. Ý bị đánh bằng gậy vào lưng, phối lưu đến quân Trung Tĩnh. Huệ Tần vì tội nhận thư và giấu tiền chưa vào tay mình, do tuổi đã hơn 70, nên phải chuộc tội bằng 8 cân đồng, đặc cách đánh 100 gậy, xăm mặt và phối lưu đến nơi khai thác mỏ ở châu Thương. Nhân Nhã vì tội chửi bới và đòi tiền Ý, bị đánh bằng gậy vào lưng, phối lưu đến lao thành châu Dĩnh. Trong vụ án này, Nhân Nhã tuy bị tội chửi bới và đòi tiền Ý, nhưng không truy xét nguồn gốc số tiền.

Ban đầu, Vương Đán và Khâm Nhược làm chủ khảo, sau đó Vương Đán được bổ làm Đồng tri Xu mật viện sự, còn Khâm Nhược được thay thế bởi Trạm. Khi Trạm vào viện thi, ý đã thi xong trường thứ ba. Khi quan lại thu tang vật của Trạm, trong nhà thực sự không có gì. Trạm vốn thân thiết với Lương Hạo, mượn đồ bạc của Hạo, nên lấy những thứ mượn của Hạo nộp cho quan. Xương Ngôn và những người khác đều bị kết tội cố ý nhận hối lộ và bị trách phạt.

(Đoạn này trong Thực lục được viết riêng để che giấu cho Vương Khâm Nhược. Nay dùng ghi chép của Tư Mã Quang và truyện mới của Khâm Nhược để sửa lại.)

[50] Ngày Giáp Dần, chiếu chỉ rằng các châu Trịnh, Tào, Hoạt năm nay thu thuế mùa thu và thuế còn nợ năm ngoái không được khấu trừ.

[51] Ngày Kỷ Mùi, Vua thân hành khảo thí các cử nhân của Lễ bộ, lấy được 38 tiến sĩ, đứng đầu là Vương Tăng ở Ích Đô, và 181 người đỗ cửu kinh và các khoa khác, đều được ban đỗ. Lấy Vương Tăng và bốn người khác làm Tướng tác giám thừa thông phán các châu, những người còn lại và những người đỗ cửu kinh làm Đại Lý bình sự tri các huyện lớn, những người đỗ các khoa khác làm phán, ty, bạ, úy.

Trước đó, số cử nhân tập trung ở kinh đô là 14.562 người, Vua sai Lại bộ thị lang Trần Thứ làm chủ khảo. Thứ lấy rất ít người, lấy Vương Tăng đứng đầu. Đến lúc này, thi theo cách hồ danh, Vương Tăng lại đỗ giáp khoa, được mọi người khen ngợi.

Theo chế độ cũ, thi kinh khoa phải thi lại trường cũ mới quyết định đỗ trượt. Thứ chỉ thi một trường, rồi căn cứ vào kết quả chung để quyết định đỗ trượt. Vì thế, các quan lại ở các châu đưa thí sinh đến đều bị cách chức và bị trách phạt, rất nhiều người bị liên lụy. Giang Nam là quê của Thứ, nên bị loại bỏ nhiều nhất. Người ta oán hận, đua nhau làm thơ châm biếm.

Có người khắc tượng gỗ đầu của Thứ, bôi máu ném vào sân. Lại có người bện cỏ làm hình người, đề tên Thứ, đặt ở đường lớn, ai đi qua cũng đánh.

[52] Ngày Tân Dậu, Vua xuống chiếu cho Vương Diên Thuận, chức Đô ngu hậu bộ lạc Phiên ở Hoàn Châu, làm chức Mã bộ quân Đô chỉ huy sứ bản châu. Diên Thuận rất hiểu biết việc trong các bộ lạc Phiên, nếu có việc kiện tụng, thường đến nơi ở của họ trước, các quan lại phần nhiều hỏi ý kiến ông, rồi sau mới quyết định. Đến lúc này, Thạch Phổ và các quan khác tâu xin cho ông làm chức Cung phụng quan kiêm Giám áp bộ lạc Phiên. Vua nói: “Diên Thuận vốn là dân trong bộ lạc, một sớm một chiều được đề bạt làm quan trong triều, khiến ông ta ngang hàng với quan châu, e rằng khó kiểm soát.” Vì thế chỉ phong cho ông làm Đô hiệu.

[53] Ngày Quý Hợi, sai sứ đến tế các tướng sĩ tử trận ở Linh Châu. Truy tặng Bùi Tế chức Trấn Giang tiết độ sứ, ban thêm tiền tuất, cho con ông là Đức Xương, chức Quốc tử Tứ môn trợ giáo, làm Thái tử Hữu tán thiện đại phu, Đức Cơ làm Trứ tác tá lang, Đức Phong làm Thái thường tự Thái chúc, lại cho anh ông là Tín làm chức Thái tử Tả nội suất phủ Phó suất rồi cho về hưu.

(Sách 《Thực lục》 chép là tướng sĩ tử trận ở Hoàn Châu, sai vậy, nay theo 《Bản kỷ》.)

[54] Trương Tề Hiền dâng sớ nói:

“Hiện nay vùng đất phía bắc đã bị mất, điều đáng lo là các tộc người ven biên giới có kẻ từ trước đến nay vẫn hai lòng, nhân đó càng thêm xúi giục các hộ đã quy thuận, khiến họ dao động, giặc Khiết Đan nhân cơ hội đó mà lợi dụng, mối họa không nhỏ. Vì vậy, các thành trấn trọng yếu ở biên giới cần phải để lại quân trấn thủ, để yên lòng người Hán và các tộc khác.

Từ Hoàn Châu đến Khánh Châu, khoảng giữa có Mộc Ba, Mã Lĩnh trở đi, các thành trại đều đã hư hỏng, trước mùa đông năm nay cần phải tu sửa. Phía nam Trấn Nhung quân, các nơi như Cao Điếm, Ngõa Đình tuy mới tu sửa gần đây, nhưng đều không phải là nơi có thể cố thủ. Trong khe Đạn Tranh, mong sớm xem xét, chọn chỗ có thể khống chế để xây dựng một trại. Nơi xây trại ở Triêu Na nếu có thể phòng thủ, xin đặc biệt cho tu sửa theo đúng phép tắc. Huyện Phan Nguyên nằm ngay trên đường giặc phiên từ Tiểu Lô Cốc đến, dân cư đông đúc, cũng xin đặc biệt phái binh dân đến tu sửa kiên cố, và đào đứt đường vào cửa khe. Nếu các thành trấn ven biên đều có quân đồn trú, các trại trọng yếu lại đều kiên cố, thì bọn giặc Khiết Đan tự nhiên sẽ nguôi lòng.

Lại nghe nói những năm gần đây, vùng biên giới Lân Châu, Phủ Châu do không khéo vỗ về, các tộc lớn đa số đã quy thuận Kế Thiên. Như vậy, trong hai ba năm tới, dân Hán và các tộc khác ở vùng biên giới Lân Châu, Phủ Châu sẽ dần suy yếu. Chỉ như việc triều đình mỗi năm mua ngựa, không bù được số ngựa chết. Phía tây bắc chưa yên, ngựa chiến là việc cấp bách.

Trước đây người Nữ Chân bán ngựa, mỗi năm không dưới một vạn con, nay đã bị Khiết Đan ngăn trở. Thần nghe giặc Khiết Đan nói với Tây Lương rằng: ‘Ta với ngươi từ trước đến nay vốn không có việc gì’, đó là vì Vạn Sơn đã bí mật phái người đến đó. Nếu chúng thực sự có lời nói đó, mà không khéo dụ dỗ Tây Lương để phòng hậu họa, thì e rằng năm nay vào mùa thu đông, chúng sẽ đến cướp phá Trấn Nhung quân. Nếu các tộc phiên chặn đường vào kinh của Lục Cốc, thì các tộc Đại Lương, Tiểu Lương sẽ không còn đường để hướng về triều đình, thậm chí các tộc phía sau núi Lũng cũng khó giữ được.

Thần trước đây trên đường đi thấy việc thu hồi vật phẩm ban cho Lục Cốc ở Vị Châu, không khỏi lạnh lòng. Vì sao? Các tộc phiên hùng mạnh, binh lực đông đảo, có thể kiềm chế giặc Khiết Đan, chỉ còn Tây Lương mà thôi. Không biết ai đã vạch kế, ân huệ đã ban ra rồi lại bỏ dở.

Hơn nữa, các tộc Tây Lương phần nhiều là con cháu người Hoa, đều biết nói tiếng Hán, khá thông thạo chữ nghĩa. Người Vị Châu qua lại thân thiết với các thông sự, há không biết việc ban thưởng này? Đã đến Vị Châu rồi lại thu hồi. Các tộc phiên tham của, lại càng coi trọng chữ tín. Triều lệnh ban ra rồi lại đổi, sao có thể coi thường được!

Kính mong suy nghĩ sâu xa về kế sách biên giới, quyết đoán từ nơi thâm cung, kết được lòng họ, dùng lợi lớn để dụ. Chỉ cần giá ngựa của Tây Phiền so với thường lệ được ưu đãi hơn, đến cả rượu thịt cũng đặc biệt chuẩn bị đầy đủ. Bên trong là kế hoạch chiến thủ, bên ngoài là ân huệ vỗ về. Tây Lương và các tộc nhỏ phía tây, chỉ trông vào việc bán ngựa để kiếm lợi, đã nhận ân tín của triều đình, dù bị giặc Khiết Đan chặn đường, ắt sẽ kết thù sâu, khiến chúng tự đánh nhau, lý lẽ rất rõ ràng. Nếu không sớm phòng bị, thì e rằng Trấn Nhung quân cũng khó mà giữ vững được.”

[55] Mùa hạ, tháng tư, ngày Đinh Mão, sứ Khai đạo tộc Mi Bộ, Thứ sử châu Phí là Nê Mai sai con là Thành Bô vào triều cống. Vua khen Nê Mai nhiều lần có công chiến đấu với quân Thiên, phong làm chức Đoàn luyện sứ châu Cẩm; cho em họ là Khuất Tử làm Hoài Hóa tướng quân, sung chức Chỉ huy sứ bản tộc, Thành Bô làm Quy Đức tướng quân, sung chức Đô Tuần kiểm sứ bản tộc. Lại lệnh cho Thành Bô ghi chép số lượng tù trưởng trong tộc để tâu lên, ban ra 15 đạo sắc chỉ Chỉ huy sứ không tên và 3 đạo sắc chỉ Quân chủ, giao cho Lý Kế Hòa, người coi quân Trấn Nhung, điền tên vào để ban cấp.

[56] Ngày Kỷ Tỵ, lấy Phụng Nhật tả sương đô chỉ huy sứ Chu Năng làm Đoàn luyện sứ châu Hoài, Hữu sương đô chỉ huy sứ An Uân làm Đoàn luyện sứ châu Bác; Thiên Vũ tả sương đô chỉ huy sứ Nguyên Trừng làm Đoàn luyện sứ châu Doanh, Hữu sương đô chỉ huy sứ Trịnh Thành làm Đoàn luyện sứ châu Bảo; Điện tiền chỉ huy sứ Tả ban đô ngu hậu Cảnh Bân làm Thứ sử châu Hùng, Hữu ban đô ngu hậu Chu Tự làm Thứ sử châu Tân; tất cả đều bãi bỏ chức vụ quân sự. Sau đó, lấy An Uân coi châu Bối, Chu Năng coi châu Minh, Nguyên Trừng coi châu Mạc, Trịnh Thành coi châu Triệu, Cảnh Bân coi châu Thâm, Chu Tự coi châu Ký, đều kiêm chức Bộ thự bản châu.

Trước đó, Vua nói với các phụ thần: “Nguyên Trừng, Trịnh Thành, Cảnh Bân, nhiều người khen ngợi. Trẫm từng triệu đến nói chuyện, xem khí phách của họ, dường như có chí khí. Chu Tự cũng khá nổi tiếng, nhưng chỉ ở trong cấm vệ, chưa thấy được tài năng, nên ban cho chức quận, thử thách ở biên cương, để phát huy hết sở trường. Chu Năng, An Uân đứng trên Nguyên Trừng, Trịnh Thành, vốn không có tiếng tăm gì, nhưng không muốn vội vàng cách chức, nên theo lệ thăng chức, nếu thực sự không đủ năng lực, cách chức sau cũng chưa muộn, nên đều bổ nhiệm.”

(Chu Năng, không rõ lai lịch.) An Uân, người Thái Nguyên. (Nguyên Trừng, không rõ lai lịch.) Trịnh Thành, người Yển Lăng. Cảnh Bân, người Tín Đô. Chu Tự, người Chân Định.

[57] Ngày Canh Ngọ, Vua nói với Tri Xu mật viện Chu Oánh rằng: “Theo chế độ triều đình, khi quân chức có khuyết, chỉ tạm quyền lĩnh, đợi ba năm mới được thăng bổ một lần. Chưa đến kỳ hạn mà có công thì chỉ được thụ chức Phụng triều thỉnh mà thôi. Nay chỗ khuyết nhiều, thiếu người quản lý, cần phải kíp thăng bổ.” Liền sai Chu Oánh xem sổ sách mà thăng bổ lần lượt, những người đóng quân ở ngoài và quân ngạch ở ngoài vốn không được hưởng ân lệ, cũng đều được ban ơn. Việc này hoàn thành trong hai mươi ngày.

[58] Ngày Tân Mùi, châu Tân tâu rằng học cứu Khấu Tân Vương đem ba nghìn hộc thóc cứu đói dân, được thụ chức thí Đại Lý bình sự.

[59] Tiền Nhược Thủy tâu rằng: “Châu Tuy vốn là đất nội địa, dân đông của nhiều, còn phải nhờ các quận lân cận chuyển lương. Từ khi ban cho Triệu Bảo Trung, hộ khẩu suy giảm, nay muốn khôi phục thành ấy, ước tính cần hơn một trăm vạn công, lại phải tăng quân đóng giữ, gấp đôi trước kia.

Hơn nữa, lương thảo phải nhờ cả vào Hà Đông, đất ấy cách Hoàng Hà và hai núi Đại Thiết Kiệt, Tiểu Thiết Kiệt, dưới thành lại có sông Vô Định, khi cần dùng binh, việc vận chuyển rất khó khăn[9]. Lại nữa, đất ấy không có hiểm trở[10], nếu tu bổ chưa xong, giặc phiên xông vào, thì khó mà giữ vững. Huống chi thành ấp châu ấy bị đốt phá, không còn một cây cột, một viên ngói, qua núi rừng không có gỗ lớn, không thể dùng được, chỉ thêm phiền nhiễu, tuyệt không có lợi gì. Xin bãi bỏ việc này[11].” Nhược Thủy lại vào triều tâu việc ấy, Vua rất khen ngợi và chấp nhận.

Lúc đầu, Nhược Thủy dẫn quân vượt sông, phân bố quân ngũ, đều có quy củ, được các tướng lĩnh phương Bắc rất kính phục. Vua biết chuyện, nói với tả hữu rằng: “Nhược Thủy là bậc nho thần biết dùng binh vậy.” Sau đó lại sai Nhược Thủy đi tuần phủ các châu ven biên giới Thiểm Tây, được tùy nghi xử lý việc biên cương. Khi trở về, được phong làm Đặng Châu Quan sát sứ.

[60] Điều động Công bộ Viên ngoại lang, Đồng câu đương Thiểm Tây tùy quân chuyển vận sự Trịnh Văn Bảo làm Hà Đông Chuyển vận phó sứ, thay thế Thái thường Bác sĩ Thi Hộ. Lấy Thi Hộ làm Thiểm Tây Chuyển vận phó sứ. Lúc đó, Văn Bảo đề nghị tu sửa lại Thanh Viễn quân, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên Đô bộ thự Vương Hán Trung tâu rằng ông ta thích sinh sự, Vua cho rằng Văn Bảo không có biểu hiện rõ ràng về việc sinh sự, chỉ lệnh cho Thi Hộ đổi chức mà thôi.

(Thi Hộ, không rõ lai lịch.)

[61] Lấy Tri Trấn Nhung quân Lý Kế Hòa kiêm Kinh Nguyên Nghi Vị Trú bạc Kiềm hạt. Lúc đầu, Kế Hòa lo rằng khi có việc gấp, thống soái sẽ không ứng cứu, nhiều lần xin thêm quân. Vì thế lệnh cho ông kiêm quản quân bốn châu, quân trấn thủ Trấn Nhung cũng do bộ thự thống lĩnh.

[62] Chiếu rằng dân Thiểm Tây chở lương thảo đến biên giới được miễn một nửa thuế ruộng.

(Xét 《Tống sử》 bản kỷ chép: ngày Nhâm Thân, chiếu rằng dân Thiểm Tây chở lương thảo đến biên giới được miễn một nửa thuế. Ở đây chép vào ngày Tân Mùi, nghi là thiếu mất hai chữ “Nhâm Thân”.)

[63] Ngày Quý Dậu, lệnh cho Điền Tích lấy chức vụ hiện tại kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự, lại sai trung sứ truyền chỉ rằng: “Khanh mỗi lần dâng chương sớ, các cơ quan không dám trách cứ, Trẫm đều tự xem xét. Chức Tri tạp, triều đình rất khó chọn người, nên giao cho khanh. Vẫn có thể từ từ soạn thuật, nếu có điều gì thấy được, hãy tâu lên cho Trẫm biết.”

[64] Có người dâng thư lên Vua nói: “Các chức quan suy trực, suy khám của Ngự sử đài, quan tường đoạn của Đại Lý tự, đều do trưởng quan của bản ty tiến cử, giữ trọng trách xét xử án kiện, cần phòng ngừa việc kết bè kết đảng.” Ngày Bính Tý, Vua ra chiếu rằng: Nếu các quan thuộc của hai ty có khuyết, thì lệnh cho các quan ngũ phẩm trở lên của Lưỡng tỉnh tiến cử rồi tâu lên.

[65] Ngày Đinh Sửu, Tri Ích châu Mã Tri Tiết tâu rằng: “Có những binh lính trong châu không theo Vương Quân làm loạn mà còn giết được giặc, đã được ban tên là Trung Dũng, thăng làm cấm quân, nhưng lương tháng vẫn như cũ. Xin chọn lấy những người tài giỏi dũng cảm để lại, còn những người khác thì cho trở lại làm châu binh.”

Vua nói: “Những người này đã được gọi là trung thuận, sao có thể đuổi họ đi được?” Bèn ra chiếu tăng lương tháng cho họ, theo như lệ của cấm quân. Lại xin lệnh cho các quan lại ở Tây châu không được giữ lại người phương Đông, Vua đồng ý.

[66] Ngày Canh Thìn, Vua ra chiếu lệnh các quan ở biên giới mỗi ngày phải báo cáo tình hình về Khiết Đan bằng trạm dịch nhanh chóng, ba ngày một lần phải cử chỉ huy sứ thần vào tâu. Đây là để trừng phạt việc do thám của Uy Lỗ không rõ ràng.

[67] Ngày Nhâm Ngọ, Vua ra chiếu: “Từ nay Tam ty phải thu giữ sổ sách, không được để mất mát. Số tiền và lương thực lớn trong thiên hạ, mỗi năm phải so sánh, đến năm sau phải tâu lên từng khoản.” Trước đó, Vua ra chiếu lấy sổ dân trong thiên hạ, nhưng Hộ bộ không biết số lượng, đến khi kiểm tra số dư thiếu, lại nói là sổ sách bị mất, nên mới ra lệnh cảnh cáo. Lại lệnh lấy số hộ khẩu hiện có trong thiên hạ lập sổ để kiểm tra rồi tâu lên.

[68] Ngày Giáp Thân, lấy Điện tiền đô ngu hậu Vương Kế Trung làm Phó đô bộ thự của hành dinh Cao Dương Quan.

[69] Ngày Ất Dậu, thành Vận châu xây xong. Lấy Tri châu, Hữu ty gián Diêu Huyền làm Khởi cư xá nhân, Trực sử quán, Kinh đông chuyển vận sứ, để khen thưởng công lao của ông.

[70] Lúc đó, dọc biên giới đang đào sâu các kênh rạch, Khiết Đan thường quấy rối công việc, lại từ phía tây Uy Lỗ quân tiến vào cướp phá. Vua ra chiếu lệnh Hà Thừa Củ, người phụ trách Hùng châu, xuất quân để phân tán thế địch. Thừa Củ lo rằng nếu địch biết quân từ quận mình xuất phát, sẽ đến trả thù, bèn lấy cớ không có kỵ binh, chỉ tuân chiếu cử tiểu hiệu Dương Vạn Kim dẫn năm nghìn quân, từ Thuận An quân tiến về phía đông đến Hỗn Nê thành, rồi nói là quân ít không địch nổi nên rút về.

[71] Thượng nói với các quan tể tướng rằng: “Thời Thái Tông, quan Hàn lâm thiên văn là Tôn Sĩ Long từng xin đặt ruộng vuông ở biên giới phía bắc, và lệnh cho dân đào mương đắp bờ, có thể ngăn cản ngựa của quân Hồ, nhưng lúc đó bị mọi người phản đối. Gần đây có điện trực Ngưu Duệ lại nói về việc này, các khanh nghĩ sao?” Lữ Mông Chính đáp: “Thái Tông đã cử sứ phó ruộng vuông, nhưng trong ngoài đều cho rằng động chúng tốn kém, e không có lợi. Lúc đó các võ thần cũng xấu hổ về việc xây dựng, nên bỏ đi.”

Thượng nói: “Nay nếu làm việc này, cũng là kế sách lâu dài để chế ngự địch, nhưng Hà Sóc nhiều lần có sai dịch, không thể làm khổ dân thêm, nên bảo các cơ quan từ từ tính toán.”

[72] Ngày Bính Tuất, ban ơn giảm thuế cho dân chín châu Thâm, Bá vì lũ lụt. Thượng cho rằng việc kiểm tra làm phiền dân, chờ tâu báo chậm trễ, chỉ nên xét mức độ thiệt hại mà ưu đãi.

[73] Ngày Mậu Tý, Giang Nam chuyển vận sứ, Hình bộ viên ngoại lang, Trực sử quán Trần Tĩnh vào tâu, được ban áo vàng đai tía.

Giang Nam từ thời họ Lý đánh thuế nặng dân, có mười bảy khoản, gọi là “duyên nạp”, triều đình theo đó, dân khốn khó không nộp nổi. Tĩnh hết sức bàn về tệ hại, chiếu chỉ bỏ đi mấy khoản nặng nhất.

[74] Lại bộ Lang trung kiêm Thị ngự sử Tri tạp sự Điền Tích tâu:

“Thần trước đây được ơn Thánh, ban cho chức vụ Hiến ty. Theo 《Lục điển》 và 《Bách ty cử yếu》, cùng các điển lệ cũ của Ngự sử đài: từ chức Đại phu, Trung thừa trở xuống và các Ngự sử thuộc ba viện, đều có số người nhất định qua các thời kỳ. Nay sổ sách thiếu, không có định số. Hiện có ba Thị ngự sử, mười hai Điện trung Thị ngự sử, bảy Giám sát Ngự sử, trừ Thiệu Diệp đang ở cơ quan và Thi Vị đang nghỉ bệnh, còn lại đều được sai đi làm việc bên ngoài, thay vào đó là các quan khác ở đài.

Thần cho rằng các quan chức Suy trực hiện nay chính là các Tri suy Ngự sử thời xưa. Theo 《Đường hội yếu》: ‘Năm Hưng Nguyên thứ nhất có chiếu: Tri Đông suy và Tri Tây suy Thị ngự sử mỗi chức một người. Đài ty xin lệnh cho Điện trung thứ nhất cùng Tri Đông suy, Điện trung thứ ba cùng Tri Tây suy, và phân ngày nhận việc. Xin bãi bỏ hai chức Suy quan đã đặt trước đó.’ Lại có: ‘Năm Kiến Trung thứ ba, Đài ty tấu: Các Tri suy Ngự sử được sai đi làm việc hoặc thay đổi, theo lệ cũ có chức Suy trực quan, nay xin đặt hai người, cùng với các Ngự sử Suy bản tham gia xét xử. Chiếu chỉ: Chuẩn tấu.’ Đây là sự thay đổi tùy thời, việc bỏ hay làm tùy theo sự việc. Nay ba viện có tổng cộng hai mươi mốt người, hoặc được giao nhiệm vụ gần dân, hoặc được ủy thác công việc, chức vụ của Hiến ty dường như có mà không, triều đình dùng người như vậy chưa rõ ràng.

Lại theo chiếu gần đây, các quan Khám đoạn của Đài, Tự lệnh cho các quan Đại lưỡng tỉnh trở lên tiến cử. Thần cho rằng dù có lệnh tiến cử, cuối cùng vẫn là quan khác. Thần trước đây ở Ngân đài ty, thấy các Chuyển vận ty hoặc Tuần phủ sứ các đạo điều tra công trạng và lỗi lầm của các quan Kinh triều đang làm việc bên ngoài, ghi rõ tên họ tâu lên, có trát tử của Trung thư gửi xuống Thẩm quan viện.

Nay xin chỉ huy Thẩm quan viện kiểm tra các trát tử của Trung thư trước sau, trong hai mươi mốt Ngự sử của ba viện, nếu có ai từng phạm lỗi tham ô, không được để ở chức Hiến ty, có thể đổi sang chức khác. Còn những người thanh liêm, cẩn thận, siêng năng, không được để làm quan bên ngoài, có thể triệu về giữ chức cũ. Bỏ danh hiệu Suy trực nhân nhưng, bãi bỏ chiếu tiến cử của Lưỡng tỉnh. Điều quý là khôi phục điển lệ cũ của Đài ty, giữ quy chế cũ của triều đình, khiến trăm quan đều đúng chức vụ, các cơ quan đều gần gũi với công việc của mình.”

(Tích tự chú trong tấu nghị rằng: Tâu vào ngày 23 tháng 4, nay phụ vào ngày này. Xét Tích được bổ nhiệm chức Tri tạp Ngự sử vào ngày 12 tháng 3.)

[75] Ngày Kỷ Sửu, chọn các sứ thần tam ban thông thạo địa hình núi sông trọng yếu ở vùng biên giới phía tây, từ Tần châu tiến vào địa giới Phiên để chiêu dụ ngựa. Lúc đó, có người nói rằng dọc biên giới có đường có thể vào được các bộ lạc di địch, nên sai người đi xem xét.

[76] Chiếu rằng: “Gần đây, Thẩm hình viện, Hình bộ, Đại Lý tự mỗi khi liên danh tấu nghị, không thể giữ vững lẽ phải, phần nhiều a dua theo ý kiến. Hơn nữa, các cơ quan pháp luật, chọn người tài mà bổ nhiệm, giao phó việc tham gia xét xử, cần phải làm việc rõ ràng. Từ nay về sau, tất cả đều phải kết luận rõ ràng khi tấu trình.”

[77] Ngày Quý Tỵ, phong Kim Minh huyện đô giám kiêm Tân trại Giải Gia Hà Lô Quan lộ đô tuần kiểm, Cung bị khố sứ Lý Kế Chu làm Tây Kinh tác phường sứ, Vĩnh Bình trại giới Giao thôn quân chủ, Quy Đức tướng quân Lý Kế Phúc lĩnh Thuận châu thứ sử, Vĩnh Bình trại giới Tiểu Lực trấn sứ Lý Văn Trực, Thành Bình trấn sứ Diệp Lặc Văn Nghĩa đều làm Hoài Hóa tướng quân.

Kế Phúc đều là người tộc Đảng Hạng Phiên, cùng với Kế Chu đều hướng về giáo hóa, nên được ưu đãi.

[78] Đô giám Khiết Đan Tân Thành là Chủng Kiên gửi văn thư đến biên giới, xin khôi phục lại chợ biên giới. Triều đình bàn rằng tình hình địch thay đổi thất thường, nên chưa đồng ý.

Tri Hùng châu Hà Thừa Củ liên tiếp dâng sớ xin, và nói: “Việc thiết lập chợ biên giới, vốn là chế độ tạm thời của triều đình trước, để ban ơn cho người Nhung, dù họ phản bội xâm phạm biên giới, cũng không bãi bỏ. Khi quân Nhung rút lui, thương nhân vẫn hoạt động, như vậy là giữ được đại thể. Nay các chợ biên giới, vì quân địch xâm nhập, đã tạm ngừng.

Năm ngoái, vì thần dâng sớ, đã cho lập chợ bán trà ở Hùng châu, tuy hàng hóa vẫn lưu thông, nhưng dân biên giới chưa được lợi ích gì, mong triều đình tham vấn các đại thần, bàn xem có nên tiếp tục hay không.

Nếu trong văn võ có người kiên quyết giữ ý kiến riêng, ắt hẳn có mưu kế khác, xin giao cho họ trọng trách biên giới, để thi hành phương lược, đòi hỏi họ thành công. Nếu chỉ bàn suông, làm mê hoặc thánh thượng, thì như Linh châu đã chứng minh, huống chi kẻ địch phương bắc này còn không thể so sánh với Bình Hạ?”

Do đó, triều đình đồng ý cho Hùng châu khôi phục chợ biên giới.

(Bản truyện của Thừa Củ ghi việc Thừa Củ xin khôi phục chợ biên giới, cùng với sớ dâng năm thứ ba là một. Xét sớ này lấy Linh châu làm chứng cứ, nếu là năm thứ ba, thì Linh châu chưa thất thủ, sao có thể nói trước được? Nay đưa vào năm này, để tránh mâu thuẫn.)


  1. Nguyên bản chép là 'phó đô thự', căn cứ vào các bản khác và 《Tống sử》 quyển 258, truyện Tào Xán sửa lại.
  2. Lại bộ lang trung Trực tập hiền viện Điền Tích quyền cán đương Thông tiến ngân đài ty, chữ 'cán đương' trên nguyên có chữ 'Quản', theo Tống bản, Tống toát yếu bản đã bỏ. Xét thời Bắc Tống sơ, ty này có chức Câu đương, Đồng câu đương quan, đến Nam Tống vì kiêng húy Cao Tông (Cấu) nên đổi Câu đương thành Cán đương. Lại xem đoạn dưới quyển này ngày Bính Dần chép là 'Quyền quản cán Thông tiến ngân đài ty', Tống bản cũng giống, 'Quản cán' tức là 'Quản câu', danh hiệu Quản câu thời đó cũng thông dụng.
  3. Tướng quý tộc Khiết Đan là Tiêu Kế Viễn, chữ 'quý' nguyên bản viết là 'khiển', căn cứ theo bản trong các sách và 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di, mục 1, điều 25 mà sửa.
  4. Chữ 'lận' nguyên bản viết là 'các', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và truyện Tạ Đức Quyền trong 《Tống sử》 quyển 309 sửa lại.
  5. Tam ty từng tâu rằng Y khố phó sứ Tiêu Thủ Tiết giám sát Viện hương dược giác dịch 'giác dịch viện' nguyên bản là 'giác trường viện', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống hội yếu chức quan 27-50, thực hóa 55-23, Tống sử quyển 261 Tiêu Thủ Tiết truyện sửa lại.
  6. 'Đoạn' trong 'hướng đạo đoạn tuyệt' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, và 《Tống sử toàn văn》 quyển 5 thượng, 《Trị tích thống loại》 quyển 5 Chân Tông kinh chế Tây Hạ bổ.
  7. 'Tây Nam' nguyên bản là 'Tây diện', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và 《Tục thông giám》 quyển 23 sửa.
  8. Linh châu trong Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản đều ghi là 'Linh Vũ'.
  9. 'Tống' nguyên là 'đạo', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Trị tích thống loại》 quyển 5, phần Chân Tông kinh chế Tây Hạ sửa lại.
  10. 'Địa' nguyên là 'thành', theo sách trên sửa lại.
  11. 'Khất' nguyên là 'Dĩ', theo sách 《Trị tích thống loại》 sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.