VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 375: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ NHẤT (BÍNH DẦN, 1086)
Bắt đầu từ ngày Bính Thân tháng 4 năm Nguyên Hựu thứ nhất đời Vua Triết Tông đến hết ngày Ất Tỵ cùng tháng.
[1] Tháng 4, ngày Bính Thân, Lại bộ tâu: “Các chức sứ thần lớn nhỏ khi xét duyệt, nộp văn bản, nếu trong đó có chỗ không đầy đủ, nhưng có bằng chứng xác minh, đều theo quy định của chức Thừa vụ lang trở lên, giao cho Thượng thư xem xét, và không yêu cầu bổ sung.” Vua đồng ý.
[2] Ty Chuyển vận Thiểm Tây tâu: “Trong những năm gần đây, giặc cướp ở địa phương này phần nhiều xuất phát từ Thương Sơn, xin cho dân cư ở vùng núi hai châu Thương, Quắc và huyện Can Hữu thuộc quân Vĩnh Hưng đều áp dụng theo quy định của khu vực áp dụng luật nghiêm khắc.” Chiếu rằng: “Đối với bọn cướp có từ ba người trở lên, đều áp dụng theo quy định của khu vực áp dụng luật nghiêm khắc.”
[3] Hữu ty gián Tô Triệt tâu: “Thần gần đây đã tấu xin chiêu mộ dân bảo giáp ở Hà Bắc sung vào quân cấm, nghe nói đã có chỉ dụ của triều đình, lệnh cho các châu quân trưởng lại ưu đãi cấp phát vật phẩm, gửi chiêu mộ quân cấm ở kinh thành. Thần cho rằng việc bảo giáp ở các huyện thuộc kinh kỳ cũng giống như ở Hà Bắc, mà số quân cấm thiếu hụt vẫn còn nhiều, xin chỉ đạo các huyện thuộc kinh kỳ, đều theo chỉ đạo đã ban cho Hà Bắc để chiêu mộ. Thần lại nghe nói ở Hà Bắc, Hà Đông trước đây có nghĩa dũng, hàng năm đều tập luyện vào mùa đông để phòng bị biên giới, dân đã quen, không lấy làm lạ. Dân trong kinh kỳ không thể so sánh với dân biên giới, nay bảo giáp tuy đã bãi bỏ việc duyệt binh, nhưng vẫn phải tập luyện vào mùa đông, lòng dân chưa yên, cũng xin đặc cách bãi bỏ.”
(Ngày 26 tháng 11 có thể xem xét. Tô Triệt tấu xin, việc đồng ý hay không nên xem xét, hai bản ghi chép không có. Vương Nham Tẩu trong triều tấu xin bãi bỏ việc tập luyện bảo giáp trong kinh kỳ rằng: “Trong kinh kỳ trước đây không có nghĩa dũng, nay tập luyện, lòng người không yên, không bằng bãi bỏ thì tiện hơn.” Nên xem xét cùng với lời tâu của Tô Triệt.)
[4] Ngày Mậu Tuất, Triều phụng đại phu, Tập hiền hiệu lý Trịnh Mục được bổ nhiệm làm Quốc tử tế tửu, Tập hiền hiệu lý.
[5] Ngày Kỷ Hợi, cơ quan xem xét việc tố cáo tâu: “Những việc công do nội giáng thám báo, theo pháp luật không được thụ lý, nếu trong đó có tình tiết đáng thương xót, thì lần lượt trình bày sự việc lên tấu.” Vua đồng ý.
[6] Triều phụng đại phu Phạm Thuần Lễ làm Lại bộ lang trung, (cuối tháng 6 năm thứ 8, Tư Mã Quang tiến cử Thuần Lễ.) Chức phương lang trung Lý Chu làm Thái bộc thiếu khanh, Thừa nghị lang, Hữu ty lang trung Trương Nhữ Hiền làm Trực Long đồ các, Giang Hoài đẳng lộ phát vận phó sứ, Câu đương hoàng thành ty, Nội thị áp ban Lưu Hữu Phương lệnh tái nhiệm.
[7] Chiếu Dương vương Hạo, Kinh vương Quần dời ra ngoại đệ, ban thưởng mỗi người 5.000 lượng bạc và lụa, mỗi năm thêm 5.000 quan tiền công sứ, và đặc biệt cấp số thực, lại cấp tiền mặt. Các quan trong phủ như đề cử quan, dực thiện, thị giảng, ký thất tham quân, nội tri khách, nhập vị sứ thần, y quan, trực tỉnh quan, khải thư, điện thị, thư biểu trạch án ty thông dẫn khách ty quản câu, thủ phân đẳng[1], đều được ban thưởng bạc, lụa, tiền tùy theo mức độ.
[8] Chiếu: “Các quan đãi chế trong ngoài, đại trung đại phu trở lên, tiến cử hai người có tư cách thông phán nhiệm kỳ thứ hai, từng trải qua sai khiển thân dân, có thể đảm nhiệm chuyển vận phán quan. Còn lại theo chỉ huy tiến cử giám ty ngày 2 tháng 2 năm nay[2]. Sau khi nhậm chức, nếu tài năng kém cỏi, chức nghiệp sa sút, tiến cử người tài, xét tội tùy tiện, vui giận tùy ý, thì tùy theo tội lớn nhỏ, cả người tiến cử đều bị trừng phạt.”
[9] Ngự sử trung thừa Lưu Chí tâu: “Thần thấy Địch Tư và Lưu Định đều được bổ nhiệm làm quan ngoại trấn, lại được hưởng bổng lộc hậu hĩnh ở chức vụ nhàn hạ, xin hạ lệnh trách phạt riêng.” Chiếu giáng Địch Tư làm Tứ phương quán sứ, Lưu Định giáng một bậc quan chức, nhưng vẫn giữ nguyên chức vụ cũ.
(Lần trách phạt đầu tiên vào ngày Ất Hợi tháng 3. Lời trách phạt Địch Tư và Lưu Định do Tô Thức soạn. Đại ý nói: “Các ngươi buông thả thuộc hạ, nhận hối lộ, thu gom của cải nhỏ nhặt, tranh giành lợi lộc với nông dân, khiến dân chúng oán hận đến mức muốn giết quan lại. Trẫm đã tha thứ, cho các ngươi làm chức nhàn, nhưng công luận vẫn chưa hài lòng.” Lữ Công Trước ghi chép: Địch Tư và Lưu Định cùng quản lý việc bảo giáp, nhưng Địch Tư không tệ như Lưu Định. Trước đây cả hai đều bị trách phạt làm quan ngoại trấn. Riêng Địch Tư vì nhà ở kinh thành nên được lệnh ở lại nơi cũ. Mọi người cho rằng trách phạt Địch Tư quá nặng, giáng chức Lưu Định quá nhẹ, và đề nghị cho Địch Tư được tùy ý chọn nơi ở.)
[10] Tam tỉnh tâu: “Các phòng thuộc Trung thư tỉnh nhận được văn thư từ Thượng thư tỉnh xin chỉ thị, nếu đã trình lên rồi mà chưa có văn thư trả lời, phải báo cáo Thượng thư tỉnh trong vòng ba ngày. Những việc cần xem xét thêm, phải báo cáo Thượng thư tỉnh danh sách các việc chưa giải quyết xong mỗi nửa tháng một lần. Mỗi phòng đều lập sổ ghi chép văn thư gửi Trung thư tỉnh, khi nhận được báo cáo thì ghi chú hoàn thành.” Chiếu chuẩn y. Trước đó, Thượng thư tỉnh tâu: “Lệnh cho các phòng Trung thư tỉnh lập sổ ghi chép văn thư Thượng thư tỉnh gửi đến xin chỉ thị, tùy theo mức độ khẩn cấp mà thúc giục xử lý.” Do đó mới có yêu cầu này.
(Phần “Trước đó” trở về sau, bản mới đã bỏ đi.)
[11] Chiếu: “Tất cả các chức Thừa, Bạ được bổ nhiệm thêm do việc thu nộp thường bình và miễn dịch đều bãi bỏ. Riêng các huyện Thừa nếu thực sự có nhiều việc khó bãi bỏ, cho Chuyển vận ty lưu lại, báo cáo rõ ràng lên triều đình.”
[12] Hữu gián nghị đại phu Tôn Giác tâu: “Từ mùa đông năm ngoái đến nay, trời hạn hán lâu ngày, không có mưa lớn, lúa mạch đã mất mùa, việc gieo trồng mùa xuân lỡ thời vụ, dân chúng đang thiếu ăn.
Bệ hạ lo lắng thương xót thiên tai, không gì là không làm đến nơi, thân ngự ở điện tiện, xem xét hỏi han tù nhân, những người phạm tội không đến mức tử hình, đều theo lệ được khoan giảm, lo lắng vất vả đến thế, nhưng ân trạch của thánh thượng vẫn chưa thấm nhuần khắp nơi, có lẽ là do còn tồn tại nguyên nhân nào đó. Ân điển giảm tội tuy xuất phát từ ý chỉ của thánh thượng, nhưng các ngục lại xét xử tù nhân, điều tra chưa thấu đáo đầu đuôi, hoặc có việc phải hỏi đến các châu, huyện xa xôi, đợi việc xong mới bàn định hình pháp, rồi mới dẫn đến việc giảm tội, được xử nhẹ.
Thần cho rằng ở kinh thành, các ty tuần tra tả hữu quân, ty lục nên cử một viên quan hai chế, các huyện trong kinh kỳ[3], cử một viên gián quan, ngự sử, phân công xem xét tù nhân. Những người đã giết người và gây thương tích nặng ngoài việc giữ tang chứng, đều nên xét tình hình mà ước định pháp luật, giảm tội và phân xử. Những người còn chứng cứ chưa đầy đủ, việc hỏi cung chưa đến nơi, đều cho phép bảo lãnh ra ngoài, biết rõ họ ở đâu, để tỏ rõ ý ân xá rộng rãi của thánh thượng.”
[13] Chiếu rằng: “Những tội nhân đang bị giam ở kinh thành và các huyện thuộc phủ Khai Phong, trong đó có những người điều tra chưa rõ đầu đuôi, hoặc việc hỏi cung chưa xong, ở kinh thành cử Tả ty gián Vương Nham Tẩu, các huyện thuộc phủ Khai Phong cử Giám sát ngự sử Tôn Thăng, thân hành đến từng nơi xem xét tù nhân[4], cùng với quan chức tại chỗ xem xét kỹ lưỡng, trừ những người đã giết người và gây thương tích nặng phải giữ tang chứng, còn lại đều xét tình hình mà ước định pháp luật, một mặt phân xử. Trong các huyện thuộc phủ, những người phạm tội đồ trở xuống không thuộc diện thích chữ và phối đày, cũng cho phép một mặt xử xong rồi tâu lên. Những người còn chứng cứ chưa đầy đủ, việc hỏi cung chưa đến nơi, đều cho bảo lãnh biết rõ chỗ ở, đợi lệnh xử phạt.”
(Tân lục chỉ nói thân hành đến xem xét tù nhân, ước định pháp luật xử phạt. Từ “cùng với quan chức tại chỗ” trở xuống đều bị lược bỏ.)
[14] Công bộ thị lang Vương Khắc Thần được cử làm người đề cử việc tu sửa điện thờ Thần Tông hoàng đế ở cung Cảnh Linh, do Tôn Vĩnh được thăng làm Lại bộ thượng thư.
[15] Đô Thủy Giám tâu: “Sông Quảng Tế lấy sông Kinh, Sách làm nguồn, chuyển tải lương thực cho Kinh Đông hàng năm[5]. Nay muốn theo như cũ, đặt bến tàu ngoài cửa Tuyên Trạch[6], thông dòng chảy vào trong cửa Hàm Phong, theo dòng sông cũ khôi phục nguồn sông Quảng Tế, tiếp ứng việc chuyển tải lương thực.” Theo đó.
(Ngày 19 tháng 3, ngày 22 tháng 12.)
[16] Lễ bộ tâu: “Thái Thường Tự trình: Các công thần được phối hưởng cùng Chân Tông hoàng đế, Nhân Tông hoàng đế, Anh Tông hoàng đế, đều đã được định nghị theo hai chế trước lăng tẩm. Kính xét các công thần được phối hưởng thời Đường, như Túc Tông với Miêu Tấn Khanh, Bùi Miện, Hiến Tông với Bùi Độ, Cao Sùng Văn, Lý Tố, đều trải qua nhiều năm mới được chiếu chỉ phối hưởng. Đến các công thần được phối hưởng thời triều ta, Thái Tổ hoàng đế với Triệu Phổ, Tào Bân, Thái Tông hoàng đế với Tiết Cư Chính, Phan Mỹ, Thạch Hi Tải, đều được định vào năm Hàm Bình thứ hai.
Việc bàn định công thần phối hưởng cùng Thần Tông hoàng đế khi thần chủ hợp tế vào miếu sắp tới, nay tham khảo cố sự, trước đây việc định nghị công thần phối hưởng cùng Nhân Tông hoàng đế được quyết định theo hai chế trước lăng tẩm, công thần phối hưởng cùng Anh Tông hoàng đế được quyết định theo chiếu chỉ triều đình sau lăng tẩm, với Tư đồ Hàn Kỳ, Thái sư Tăng Công Lượng được phối hưởng.
Nay Thần Tông hoàng đế hợp tế vào miếu, việc bàn định công thần phối hưởng, nên từ các Thượng thư Lục bộ trở xuống, hoặc các quan Đãi chế trở lên, cùng các quan đứng đầu Thái Thường Tự, Bí Thư Tỉnh cùng bàn định.” Theo đó.
[17] Quyền phát khiển Tần Phượng lộ Kinh lược An phủ ty công sự Phạm Dục tâu: “Ngày 19 tháng 3 năm Hi Ninh thứ 8, theo chỉ dụ triều đình, Tri Tần châu Trương Sân tấu: ‘Các thành trại cung tiễn thủ, trại hộ phiên binh đều cảm thấy thiếu lương thực[7], xin mượn lương thực cũ từ kho tỉnh Tần châu để cứu tế, đợi đến mùa hạ thu thu hoạch, sẽ trả lại từ kho Thường bình.’ Hiện nay kho tỉnh ở các thành trại ngoài Tần châu còn dư lương thực, Kinh lược ty có công văn mua lương thảo từ kho Thường bình, cũng có số lượng dự trữ, xin cho phép nếu kho này không đủ lương thực cứu tế, được mượn lương thực cũ từ kho tỉnh, và dùng lương thảo mua từ kho Thường bình của Kinh lược ty, trừ phần dự phòng cho việc khẩn cấp, còn lại có thể cho vay hoặc bán giảm giá.” Triều đình đồng ý.
[18] Hộ bộ tâu: “Dân chúng kiến nghị, mỗi ba năm định lại hạng mục hộ khẩu ở thôn xóm và phường quách, nếu có hộ khẩu bỏ trốn, xin gia hạn thêm 10 ngày để tố cáo. Xét thấy nên theo quy định thời Nguyên Phong, sửa thời hạn một tháng trong biên sách Gia Hựu thành 60 ngày.” Triều đình đồng ý.
(Lã Đào từng bàn về phường quách, xem cuối tháng 5.)
[19] Tả Chánh ngôn Chu Quang Đình tâu: “Trước đây Tống Dụng Thần sai Tăng Hiếu Quảng điều tra đất đai của dân ven sông ở huyện Vĩnh An, Tây Kinh, thu về làm của quan, xin hạ lệnh cho Kinh Tây Chuyển vận ty trả lại đất đai cho dân như cũ.”
[20] Án sát ty các lộ Giang Tây, Hồ Nam tâu: “Kiển Chu Phụ bán muối Quảng, mỗi năm tăng hạn ngạch nhiều, nhưng lợi nhuận thu được chỉ là hư danh. Nay xin giảm hạn ngạch muối, số tiền thu được từ việc bán và tiết kiệm không nhiều, nhưng có thể bỏ được tệ nạn trước đây ở hai lộ.” Hộ bộ xin thi hành theo lời tấu. Triều đình đồng ý.
[21] Trước đó, Tư chính điện học sĩ, Tân tri Dĩnh Xương phủ Tăng Hiếu Khoan tâu: “Xin hạ lệnh cho Lại bộ, lấy số lượng quan chức được tiến cử trước khi có quy chế quan chức, giao cho quan viên xem xét quyết định, những điều có thể giữ nguyên thì ghi thành pháp.” Lại bộ xem xét và báo cáo: “Hiện nay các chức vụ bị bãi bỏ tiến cử và những chức vụ được phép tâu xin hoặc tạm thời tâu xin theo chỉ dụ triều đình, do không rõ tình hình công việc nhiều hay ít ở kinh đô và các địa phương, e rằng không thể bao quát hết, khó có thể lập thành pháp lệnh.”
Chiếu rằng: “Các chức vụ Tuần kiểm, Đô giám, Giám áp, Trại chủ, Tuần phòng ở các châu quân thành trại vùng biên giới, cùng các quan bắt cướp ở các lộ, và các trường vụ có lợi nhuận từ ba vạn quan trở lên, nếu trước đây thuộc diện được tiến cử quan chức khi có khuyết, thì cho phép tiếp tục tâu xin tiến cử như cũ. Những nơi hiện nay công việc ít, không cần tiến cử, hoặc những nơi công việc nhiều, cần tiến cử quan chức, phải trình bày rõ lý do và chức vụ, mỗi nơi hạn trong một tháng tâu lên.”
(Nguyên bản tấu xin của Hiếu Khoan vào ngày Bính Thân tháng nhuận hai[8], nay gộp vào đây.)
[22] Lại bộ tâu: “Các quan chức lớn nhỏ bị cách chức, sau ba lần đại xá giảm nhẹ, có người chỉ dùng một lần hoặc hai lần xá giảm đến mức nhẹ, vẫn còn bị kéo dài thời gian. Trước đây xin tùy theo mức độ giảm nhẹ mà kéo dài thời gian[9], nhưng lời tâu chưa rõ ràng, hiện đang cản trở việc xét duyệt. Nay muốn đối với các quan chức lớn nhỏ, trước ba lần xá phạm tội tham nhũng, tư tội công tội bị cách chức, việc hơi nặng hoặc tư tội nhẹ, dùng ba lần xá giảm đến mức có thể được bổ nhiệm, chỉ thêm thời gian kéo dài theo điều luật của bản tội, rồi mới xét duyệt. Những người bị cách chức do tư tội, thuộc diện ba lần xá này, không thể giảm nhẹ, cũng không thêm thời gian kéo dài.” Đều theo đó.
[23] Các quan dâng tấu: “Thần thấy quân phiên binh ở Kinh Nguyên lộ được phân chia cho các tướng, mỗi khi điểm tập, ứng phó tình thế khẩn cấp, đều cùng với chính binh xáo trộn trong đội ngũ, sử dụng chung một chỗ. Thần nghĩ rằng phiên binh vốn là tộc người ngoại di, tính tình vốn hay thay đổi, nếu để họ ở trong đội ngũ chiến đấu, e rằng không tiện. Hơn nữa, họ từ trước đến nay chưa được huấn luyện, khi gặp giặc, thường không hiểu rõ hiệu lệnh. Lại lo ngại họ sẽ làm rối loạn đội ngũ, dẫn đến sai sót. Xin từ nay về sau, mỗi khi điểm tập, sử dụng, giao cho tướng, phó tạm thời phân công một người, chuyên trách tổng lĩnh, lập thành một đơn vị riêng. Nếu gặp tình huống khẩn cấp cần sử dụng, thì giao cho tướng quản lý chọn cử các tướng, sứ thần hiểu rõ tình hình phiên binh, cũng lập thành đơn vị riêng để quản lý. Khi gặp địch, cho họ đi trước, đối mặt với giặc; khi rút quân, cho họ đi sau, để phòng ngừa địch truy kích. Như vậy sẽ không còn lo ngại về sự rối loạn.” Chiếu lệnh cho Kinh Nguyên, Hoàn Khánh, Phu Diên, Tần Phượng lộ kinh lược đô tổng quản ty xem xét tâu lên.
[24] Phạm Thuần Túy ở Hoàn Khánh tâu: “Sau khi xem xét, thấy rằng quân phiên binh và quân Hán không thể sử dụng lẫn lộn, cần phải có chế độ riêng. Tuy nhiên, nếu theo như lời tấu của các quan, mỗi khi điểm tập, sử dụng, tạm thời phân công tướng, phó, chọn cử sứ thần quản lý, thì e rằng do không quen biết nhau, khi gặp tình huống khẩn cấp, sẽ không phối hợp được. Nên chọn một hai sứ thần liêm khiết, dũng cảm, có tâm đảm, hiểu rõ tình hình phiên binh, chuyên trách làm bộ tướng phiên binh, để họ quản lý và huấn luyện hàng ngày. Mỗi khi xuất quân, liền giao cho họ chỉ huy, ngoài ra vẫn luân phiên cử một tướng, phó để thống lĩnh sử dụng. Khi gặp địch, hoặc cho họ đi trước, hoặc cho họ đi sau, khó có thể đặt ra quy định trước, đều do tướng súy thống lĩnh tùy cơ ứng biến. Làm như vậy sẽ rất thuận tiện.”
(Ngày 12 tháng 4, Phạm Thuần Túy tấu.)
Thuần Túy lại tâu: “Hôm qua nhận được văn thư của Binh bộ, xin xem xét và yêu cầu các quan lại người Hán và người phiên không thuộc quyền quản lý lẫn nhau, đều phải theo thứ tự quan chức mà xếp dưới. Các quan lại người phiên quản lý thành trại thì vẫn theo lệ cũ, xếp dưới các quan lại người Hán thuộc quyền quản lý. Chiếu chỉ y theo yêu cầu của Binh bộ. Xét các quan lại người phiên ở các lộ, không phân biệt chức vụ cao thấp, theo lệ cũ đều xếp dưới quan lại người Hán, điều này nhằm tôn trọng Trung Quốc và kiểm soát ngoại phiên. Thực hiện lâu dài, mọi người đã quen thuộc, dù là quan lại người phiên rất xảo quyệt cũng không dám có ý định so sánh với người cùng cấp. Bởi vì phân định nghĩa lý và thể chế, không thể không như vậy, trên dưới tuân thủ, tự nhiên không có tranh chấp.
Hơn nữa, chức danh của quan lại người phiên tuy cao, nhưng chỉ quản lý bộ tộc và quân mã, mọi công việc của bộ tộc đều phải do quan lại người Hán đàn áp và xử lý, cũng như trong chiến đấu đều do quan lại người Hán chỉ huy và điều động. Vì vậy, trong ngày thường phải phân biệt rõ danh phận và thể chế, để khi có việc gấp không mất đi sự thống lĩnh.
Nay nếu vô cớ thay đổi chế độ cũ, đều theo pháp chế của quan lại người Hán, xếp ngang hàng với các quan không thuộc quyền quản lý, theo thứ tự phẩm cấp, thì các sứ thần ở biên giới và quan lại ở kinh thành sẽ có đến tám chín phần mười phải xếp dưới quan lại người phiên. Các tướng, phó tướng, sứ thần ở biên giới khi thay đổi chức vụ, hoặc gặp nhau ở nơi khác, ngồi cùng hàng, đều phải xếp dưới các quan lại người phiên mà họ từng quản lý, lòng người há có thể chịu được điều đó? Hơn nữa, tính cách của người ngoại di, hung hãn và kiêu ngạo, cần phải kiềm chế; lòng kiêu mạn há có thể dễ dàng khơi dậy?
Xét các sứ thần ở biên giới khi mãn nhiệm, phần nhiều được bổ nhiệm đến các thành trại lân cận, ngày sau nếu lại thuộc quyền quản lý, thì trong số các sứ thần người Hán, ắt sẽ có người oán hận báo thù, mà các thủ lĩnh người phiên, đã coi mình ngang hàng, ắt sẽ sinh lòng hiềm khích, khiến việc quản lý trở nên phiền phức, gây ra sự việc, hại không nhỏ. Phòng ngừa từ nhỏ, ngăn chặn từ sớm, thực sự ở chỗ này. Kính mong triều đình xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt ban chỉ thị, các quan lại người phiên ở các lộ đều theo lệ cũ, không được xếp ngang hàng với quan lại người Hán, và phải xếp dưới quan lại người Hán. Điều quý là không mất đi giới hạn tôn ti giữa Trung Quốc và ngoại di, dứt bỏ lòng kiêu mạn và ý định so sánh của các thủ lĩnh người phiên, duy trì sự thống lĩnh ổn định, không để lại hậu họa.”
Dán tờ vàng: “Chỉ dụ trên đây, nguyên do Binh bộ định ra, ban chỉ thi hành. Ty chúng tôi trước đây đã từng trình bày, được triều đình chỉ gửi xuống Binh bộ, không tâu lại. Triều đình chỉ huy cũng không bàn luận lợi hại, lại chỉ gửi xuống ty chúng tôi, lệnh theo chỉ dụ cũ thi hành. Thần cho rằng việc này liên quan đến biên phòng, không thể để kéo dài, cần phải kiên trì ý kiến. Kính xin gửi xuống bộ chúng tôi, hoặc dù gửi xuống bộ chúng tôi, cũng xin lệnh xem xét tâu lên Đô tỉnh, xin triều đình xem xét kỹ lưỡng chỉ huy.”
(Ngày 12 tháng 4 tấu việc này, ngày 10 tháng 10 được chấp thuận.)
[25] Ngày Canh Tý, xem xét lời tâu của Tố lí sở: “Hình bộ và các nơi gửi đến các án kiện của quan viên và người phạm tội xin xét lại, trong đó có một án liên quan đến nhiều người, trong đó có những người phạm tội giống nhau, nên xử lý đồng loạt. Vì những người này không phải là người đã tấu trình, nên chưa dám xem xét chung và tâu lên.” Chiếu lệnh xem xét chung và tâu lên.
[26] Hữu ty gián Tô Triệt tâu:
“Thần thấy ngày 15 tháng 2 nhuận có chỉ dụ, Tường định dịch pháp sở tâu rằng các lộ nha tiền, trước hết dùng tiền phường trường, hà độ, theo số người hiện cần để thuê mướn, nếu không đủ mới cho phép định ngạch. Thần nghe ý kiến trong ngoài, cho rằng pháp này khá ổn định và tiện lợi. Vì hiện nay các lộ mỗi năm thu được tiền phường trường, hà độ tổng cộng hơn 420 vạn quan, mà mỗi năm chi phí cho nha tiền và tiền thuê mướn áp cương tổng cộng hơn 150 vạn, chi phí chỉ bằng một phần ba thu nhập; dù giá tiền phường trường, hà độ có giảm, cũng chỉ giảm một phần ba so với hiện nay, thì chi phí cũng chỉ bằng một nửa thu nhập, mà lại miễn được việc nha tiền nặng nề nhất cho dân, lợi ích cho dân không cần nói cũng rõ.
Theo thánh chỉ ngày 27 tháng 2 nhuận, bản tường trình của cơ quan xét định pháp lệnh về việc thuê mướn, xin xét lại hai chữ “cố mộ” (thuê mướn), (đổi thành chữ “chiêu mộ”, xem thêm ngày 15 tháng 2 nhuận). E rằng các địa phương sẽ hiểu lầm, cho rằng vẫn dùng tiền để thuê người làm việc, xin đổi chữ “cố” thành chữ “chiêu”.
Mọi người cho rằng pháp lệnh này không dùng tiền thuê người, chỉ nói suông về việc chiêu mộ, chắc chắn sẽ không thực hiện được, mà phải áp dụng biện pháp phân bổ như cũ. Chưa rõ số tiền thu được hàng năm từ các bến bãi, phà đò là hơn 4.200.000 quan, sau khi trừ chi phí trả công cho các việc nặng nhọc của nha tiền và tiền thuê người vận chuyển[10], số còn lại sẽ dùng vào việc gì?
Trước thời Hi Ninh, các địa phương có nhiều người làm nha tiền lâu năm, như ở Tây Xuyên toàn bộ là người làm lâu năm, nên việc nha tiền không đụng đến dân thường. Ở Hoài Nam, Lưỡng Chiết, hơn một nửa là người làm lâu năm[11], các địa phương khác, số người làm lâu năm cũng không ít hơn một nửa. Nay các bến bãi đã thuộc về nhà nước, chắc chắn không ai muốn làm lâu năm, nên việc nha tiền đều do dân thường đảm nhiệm, tuy gọi là chiêu mộ, nhưng chỉ có hộ giàu muốn được miễn dịch mới chịu đăng ký, không khác gì phân bổ. Hộ giàu đã đảm nhiệm việc nha tiền được miễn dịch[12], các hộ khác phải đảm nhiệm các việc khác, như vậy thì hộ nghèo phải làm nhiều việc như trước thời Hi Ninh.
Hiện nay dân chúng đã lâu bị khổ vì thuế miêu, sức lực so với trước thời Hi Ninh đã khác xa giữa giàu nghèo, mà pháp lệnh phân bổ việc lại nặng hơn trước, đây là lý do mọi người chưa phục. Nhưng thần nghe nói ở biên giới phía tây, các châu Hi, Lan và các trại An Cương, Mễ Chi, hàng năm chi phí khoảng 3.600.000 đến 3.700.000 quan; số tiền này phần lớn lấy từ khoản dư ra của thuế miêu, nay thuế miêu đã bãi bỏ, nên có người muốn dùng tiền từ các bến bãi, phà đò để chi trả, khiến việc nha tiền phải phân bổ cho dân thường. Thần cho rằng việc triều đình nuôi dân và phòng thủ biên giới, tuy có khác biệt giữa trong ngoài, nhưng thực chất là việc của một nhà. Nếu chi phí phòng thủ biên giới chưa có kế hoạch cụ thể, thì số tiền từ các bến bãi để dành phòng khi cần[13], cũng là kế sách bất đắc dĩ. Nay kế sách phòng thủ biên giới, cơ quan xét định pháp lệnh chưa chắc đã biết rõ chi tiết, mà âm thầm dùng tiền từ các bến bãi để chi trả, thì kế sách nuôi dân cũng đã sơ hở. Thần xin triều đình ra lệnh bí mật cho Hộ bộ và các quan xét định pháp lệnh họp bàn, trước hết tính toán chi phí hàng năm của các thành trại mới xây dựng, bao nhiêu lấy từ tiền trà Tứ Xuyên, bao nhiêu lấy từ tiền của Kinh chế ty, bao nhiêu lấy từ tiền của quân cấm vệ thiếu người, bao nhiêu lấy từ tiền trong Nội tàng khố, trong các khoản thuế khóa như vậy[14], còn thiếu bao nhiêu. Nếu số tiền thiếu không quá nhiều, thần xin tính số thiếu trong ba năm, trích từ Nguyên Phong khố và Sùng Chính điện khố. Nghe nói số tiền trong các khố này chất cao như núi, vốn là tiền tiên đế tích trữ để phòng việc biên giới, nay dùng vào việc này, rất hợp với ý của tiên đế.
Thần nghe nói các nơi như Lan Châu đường sá hiểm trở xa xôi, quyết là khó giữ, triều đình đang bàn việc bỏ đi để yên lòng dân trong nước; ba năm sau, biên cảnh đã ổn định, tức là không phải khoản chi phí lâu dài vô hạn, tuy số tiền dùng nhiều nhưng cũng có hạn. Tiền từ các phường trường, bến đò v.v… vốn không dùng vào việc khác, xin theo chỉ dụ ngày 15 tháng 2 nhuận để chiêu mộ nha tiền thi hành. Nếu triều đình tiếc của cải trong hai kho, chưa muốn chi riêng, thì xin lấy tiền từ phường trường, bến đò v.v…, ngoài việc chiêu mộ nha tiền, còn dư bao nhiêu xin thêm vào chi phí biên giới. Như vậy vừa nuôi dân vừa phòng thủ biên giới, cả hai đều không thiệt.”
Tờ thiếp hoàng nói: “Triều đình đang bàn việc cho dân nghỉ ngơi, không nên vì chi phí biên giới mà lấy tiền phường trường, sai riêng nha tiền, làm khổ sức dân. Thần thấy các châu huyện các lộ tích lũy nhiều năm tiền lãi thanh miêu và tiền dư miễn dịch số lượng không ít, cũng có thể giúp chi phí hai ba năm cho các thành trại mới lập ở biên giới phía tây, như vậy giữ được tiền phường trường, bến đò để chiêu mộ nha tiền, khiến dân không bị nặng về phu dịch, thì ơn đức của triều đình thấm sâu vào dân vậy.”
[27] Tả ty gián Vương Nham Tẩu tâu: “Thần nghĩ rằng việc cấp bách của quốc gia là ở nhân tài, mà nhân tài khó kiếm, không thể vội vàng có được, phải đợi lúc nhàn rỗi, mở rộng trí tuệ để tìm kiếm, thì khi cần dùng, có thể lấy ngay, không lo thiếu hụt. Tìm được nhân tài rồi, nên ưu đãi, ban vinh hoa để phát huy tài năng, để họ có thời gian rèn luyện đức hạnh và nuôi dưỡng danh tiếng, khiến mọi người đều biết đến, rồi sau đó mới tiến cử sử dụng, như vậy triều đình sẽ được tôn trọng, danh vị sẽ được coi trọng, thiên hạ sẽ tin phục.
Thần thấy rằng tổ tiên ta xưa chọn lựa kỹ càng trong Nho quán, tập hợp hiền tài trong thiên hạ để nuôi dưỡng, đều là theo đạo lý này. Vì thế, các bậc đại thần danh tiếng đều xuất thân từ con đường này. Nay chức quan trong Bí thư hạn chế quá ít, không đủ để chọn hết anh tài trong thiên hạ, đáp ứng nhu cầu cấp bách của quốc gia, thần thật tiếc lắm.
Kính mong bệ hạ noi theo chuyện cũ thời Trị Bình, hạ chiếu cho các quan chấp chính mỗi người tiến cử năm người có thể đảm nhận chức vụ trong quán, vừa để thu hút nhân tài, vừa để xem năng lực của đại thần. Nay bệ hạ đang chấn hưng chính sự, làm rạng rỡ nghiệp xưa, thần cho rằng việc tìm kiếm và nuôi dưỡng nhân tài là việc cấp thiết nhất. Kính mong bệ hạ lưu tâm xem xét.”
Nham Tẩu lại tâu: “Thần nghe Tuân Tử nói: ‘Bề dưới thờ Vua bằng của cải, bề tôi trung thờ Vua bằng thân mình, bề tôi trên thờ Vua bằng người.’ Vì vậy từ xưa đến nay, bậc minh chủ không ai không lấy việc cầu hiền làm gấp, bề tôi trung không ai không lấy việc tiến cử người tài làm trước. Thần tuy rất ngu, nhưng vẫn luôn ngưỡng mộ đạo lý này.
Thần kính đọc chiếu thư của Tiên đế trong tập ngự chế năm Trị Bình thứ 4, ngày 12 tháng 11, răn dạy hai phủ tiến cử người tài, ý chỉ khuyên răn đại thần phải cầu người tài và trách nhiệm thực sự, đã diễn đạt hết mọi tình hình, cũng không phải là mệnh lệnh mới, mà là theo lệ cũ của tổ tông. Sau này vì Vương An Thạch chuyên quyền, chỉ muốn tiến cử người của mình, nên lệ cũ này bị bỏ không dùng, đến nay công luận vẫn còn tiếc nuối.
Bệ hạ khôi phục điển chương, noi theo cái đẹp của tổ tông, có lợi cho quốc gia, không điều gì không bàn đến, chỉ riêng việc cấp bách này vẫn còn thiếu sót, thần thật lấy làm tiếc. Kính mong Thánh từ đặc biệt theo chiếu thư của Tiên đế, ra lệnh cho hai phủ theo lệ cũ, mỗi nơi tiến cử ba người mà họ biết, để mở rộng ý chỉ cầu hiền gấp gáp của Bệ hạ, và phần nào thỏa nguyện kính trọng phụng sự của bề tôi.”
Thiếp hoàng nói: “Thần trước đây dẫn chiếu thư năm Trị Bình, trong tập ngự chế của Thần Tông, quyển 6. Ngày Tân Sửu, chiếu viết: ‘Trẫm nghĩ rằng bậc quân tử thời xưa, có thể nuôi dưỡng nhân tài, thì thiên hạ vui mừng. Kinh Thi nói: ‘Đã gặp được quân tử, vui vẻ và có lễ nghi.’ Nay Lan Đài, Diên Các đều là nơi cất giữ sách vở bí mật, nhưng chức vụ hiệu duyệt, luận soạn còn nhiều khuyết. Trẫm luôn nghĩ đến việc tổ tông vui mừng nuôi dưỡng người hiền tài, từng ra chiếu cho hai phủ tiến cử người tài, đặt vào Bí phủ, nuôi dưỡng đức tính và tài năng của họ, để chờ đợi sử dụng, Trẫm rất ngưỡng mộ. Các đại thần chấp chính, là người mà Trẫm rất coi trọng, nên mỗi người tiến cử ba người có văn học, chính sự, hành nghĩa, có thể đảm nhiệm chức vụ trong quán các, gấp báo tên lên, Trẫm sẽ xem xét tài năng của họ mà thăng chức.'”
(Ngày 16 tháng 6, cử quan.)
[28] Thiếu phủ thiếu giám Hàn Tông Cổ được làm Chức phương lang trung.
(Ngày 14 tháng 9 năm thứ 8, làm Thiếu phủ thiếu giám.)
[29] Triều phụng lang, Thái thường thừa Trương Thương Anh được làm Khai Phong phủ suy quan, Triều phụng lang Giả Dịch được làm Thái thường thừa.
[30] Chiếu rằng: “Các tri châu ở ba lộ kiêm chức An phủ sứ được phép tiến cử hai viên quan trong châu; các tri châu ở các lộ khác kiêm chức An phủ sứ, các quan từ Đại trung đại phu trở lên kiêm chức Kinh lược sứ một lộ, cùng các tri phủ Hà Nam, Ứng Thiên, không kể thứ bậc quan chức, các tri châu Hùng Châu, đều được phép tiến cử một viên quan trong châu; các quan từng giữ chức Tể tướng hoặc Chấp chính, được thêm tiến cử một viên, dù không thuộc nơi được phép tiến cử quan, cũng được phép tiến cử một viên quan trong châu. Tất cả đều phải ký tên bảo đảm rồi tâu lên. Không được tiến cử Thông phán và các chức quyền thăng từ Thừa vụ lang trở lên, được phép thay thế các quan đương nhiệm đã mãn nhiệm kỳ, nếu đã có người thay thế được bổ nhiệm hơn nửa năm, cũng không được thay đổi.”
[31] Tam tỉnh và Xu mật viện tâu: “Từ trước đến nay, các Tể thần và Chấp chính quan khi đến hành hương vào ngày quốc kỵ ở Cảnh Linh cung, việc bưng hộp hương do các Cáp môn chi hậu và Khán ban chi hậu đảm nhiệm, cùng với các Tể thần, Thân vương, Chấp chính quan đến cung làm lễ cầu đảo. Việc mở cửa cung này theo giờ mở cửa nội cung, nên ngày hôm sau không kịp đến chầu tâu việc. Hơn nữa, từ trước việc trai giới cũng chỉ tạm dựng lều ở hành lang trong cung.” Chiếu rằng: “Từ nay về sau, việc bưng hộp hương vào ngày quốc kỵ chỉ chọn Thái thường khanh làm người tán lễ. Nếu gặp việc hành lễ ở cung này, cần trai giới, thì trai giới ở đạo viện, và ngày hôm sau mở cửa cung sớm hơn hai khắc.”
[32] Thượng thư tỉnh tâu: “Xin từ nay về sau, các việc quân cơ, phòng chống lũ lụt, cứu tế, tai họa, v.v., khi có lệnh Vua (họa, lục hoàng), đều do bản tỉnh trực tiếp ban hành tráp văn xuống các nơi thi hành xong, rồi mới giao họa, lục hoàng cho bản tào. Những việc khó ghi đầy đủ, nhưng cấp bách không thể chậm trễ, và những việc trọng yếu, cũng làm theo cách này.” Được chấp thuận. Lại tâu: “Việc bổ nhiệm quan chức, sai phái, do họa, lục hoàng đã qua Môn hạ tỉnh, nếu có từ chối ân mệnh, Trung thư tỉnh đã nhận được chỉ, nay ban chiếu không chấp thuận, xin chỉ do Trung thư tỉnh phê chuẩn gửi Học sĩ viện dâng chiếu, không cần xuất lục hoàng lại.” Được chấp thuận.
[33] Khôi phục huyện Định Đào, châu Tào làm quân Quảng Tế, huyện Cao Bưu, châu Dương làm quân Cao Bưu.
[34] Quân khí giám kế trí tài liệu Đậu Trưởng Dụ tâu: “Xin khôi phục lại việc cống nạp ngựa.” Chiếu cho Thiểm Tây lộ chuyển vận ty xem xét thực tế lợi hại như thế nào để thi hành, tức thì trình bày các việc cần sắp xếp thành điều khoản rõ ràng để tâu lên.
[35] Tả ty gián Vương Nham Tẩu tâu: “Ở kinh đô, giá muối giải giảm đột ngột so với giá thường, thương nhân lo lắng, mong xuất tiền để điều chỉnh giá, nhằm cứu vãn tình trạng tạm thời.” Chiếu lệnh Hộ bộ xem xét rồi tâu lên.
[36] Môn hạ tỉnh tâu: “Từ trước đến nay, Trung thư tỉnh và Xu mật viện soạn thảo văn bản, nếu được phê duyệt, đều ghi là phụng thánh chỉ, sao chép lại gửi qua Môn hạ tỉnh, rồi lại nhập văn bản để tâu lại. Được phê duyệt, mới bắt đầu thi hành. Xin từ nay về sau, Trung thư tỉnh và Xu mật viện, phàm là văn bản soạn thảo đã được phê duyệt, đều phải ghi rõ trong bản sao chép, ngày nào được phê duyệt, phụng thánh chỉ như thế nào. Môn hạ tỉnh xem xét, nếu không có sai sót gì cần bác bỏ hoặc thay đổi, thì không cần nhập văn bản để tâu lại, bỏ đi hai chữ ‘được phê’, theo mẫu ghi là phụng sắc, sao chép gửi đến cơ quan liên quan thi hành xong, mỗi ngày trình bày các việc, dùng đầu thiêm tráp tử để tâu lên.” Chiếu theo lời tâu, vẫn gửi đến Trung thư tỉnh để xin chỉ dụ.
[37] Quốc tử giám tâu: “Vũ học thượng xá sinh Lưu Quán thi công mã và sách nghĩa, nhiều lần đạt loại ưu, so với những người thi sách nghệ đều đạt loại ưu, tự thành một loại riêng. Xin xem xét kỹ để thi hành.” Chiếu cho Lưu Quán đặc cách bổ làm Tam ban sai sứ, đợi khi Vũ học dụ có khuyết thì bổ nhiệm.
[38] Hà Bắc chuyển vận ty thố trí địch tiện ty tâu: “Theo chiếu, căn cứ vào số lượng nhân viên cần giữ lại, chọn giữ lại quan quản câu văn tự Vương Địch và ba người khác, xin từ nay về sau đều được cử đi làm việc bên ngoài, tương lai nếu có khuyết, đều do bản ty tâu cử.” Chiếu theo lời tâu.
(Tân vô.)
[39] Tứ châu cùng bản lộ giám ty và Giang Hoài phát vận ty tâu: “Bản châu là nơi xung yếu nhất, quân tư khố xuất nhập tiền vật rất nhiều, so với các quận khác, việc có khác biệt. Xin theo lệ của Chân châu, thêm một viên chuyên giám quân tư khố, lệnh cho lục sự tham quân chuyên quản việc công của châu viện.” Chiếu theo lời tâu.
[40] Chiếu rằng: “Từ nay về sau, các Điện thị là người Dao quy thuận, tìm thuốc chữa bệnh và phụng dưỡng, không hạn chế thời gian, cho phép tham gia vào ban. Những người đã được bổ nhiệm chức vụ thấp hoặc đang tại chức, thì vẫn theo lộ cũ, được bổ nhiệm vào chức vụ phù hợp.”
[41] Ngày Nhâm Dần, Kinh Đông Lộ chuyển vận ty tâu: “Lộ này trước đây theo chỉ triều đình, dùng 10 vạn quan tiền hiện có, chiếu theo phép Thường bình để phân phát, và khi gặp thiếu thốn, không kể thời gian, cho phép dân chúng tự nguyện vay và thu lãi, dùng làm tiền thưởng bắt giặc. Nay lộ này phải chi tiền thưởng bắt giặc, thường phải dùng tiền khác để ứng phó, số tiền gốc phân phát thu lãi, mỗi năm thu được không nhiều, lại còn lấy danh nghĩa thu lãi, cũng không phải là việc có thể thực hiện lâu dài. Xin dừng lại, và đem số tiền gốc ban đầu, vẫn quản lý như cũ.” Triều đình đồng ý.
[42] Hộ bộ tâu: “Các Thị dịch vụ cùng Thị dịch Nam trường, bốn Để đương sở, các trường mua bán muối, trường vôi, đã có chỉ huy, lấy số tiền hiện có làm định ngạch. Nay việc lập định ngạch cần giữ lại, xin bộ này xử lý và tâu lên. Đã hạ lệnh cho Thái phủ tự và các trường vụ thu thập, căn cứ vào các nơi tham khảo, xử lý các việc cần giữ lại, xin được thi hành.” Triều đình đồng ý.
(Đã cắt bỏ.)
[43] Ngày Giáp Thìn, chiếu rằng khi Thái sư Văn Ngạn Bác đến triều kiến, chỉ lệnh bốn lạy chào, các lễ tạ đối y v.v., đều đặc miễn lạy.
[44] Hộ bộ tâu về việc binh sĩ các cương đào ngũ, chết, người áp cương bị xử tội. Triều đình đồng ý.
[45] Quốc Tử Giám tâu: “Học sinh Thái học phạm lỗi bị đuổi khỏi trường, nếu tội nhẹ đã đủ ba năm, hoặc xin nghỉ quá hạn bị xóa tên, trước nay đều được theo quy định thi bổ sung để nhập học lại. Nay gặp đại xá nhân lên ngôi, những người phạm quy trường chưa được nhập học, nếu tình tiết đáng thương, xin được triều đình chỉ đạo, cho nhập học lại như cũ. Điều khoản hiện nay không có quy định thi bổ sung, lại nhẹ hơn cả người xin nghỉ quá hạn bị xóa tên, chưa được công bằng. Lại vì trong số người phạm lỗi có người bị liên đới do cùng bảo lãnh[15], vốn không phải tự phạm, tình tiết rất nhẹ, hơn nữa luật liên đới nay đã bãi bỏ, nếu lại bắt thi bổ sung để nhập học, về lý không ổn. Xin chia làm hai loại: người tự phạm lỗi, vẫn theo quy định trường thi bổ sung để nhập học; người bị liên đới do cùng bảo lãnh, không phải thi bổ sung.” Theo đó.
[46] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu cho Tể thần Tư Mã Quang được đặc biệt nghỉ dưỡng bệnh, cấp bổng lộc như cũ. Vẫn ghi lệnh chỉ huy giao cho Quang.
Quang tâu: “Thần từ khi nghỉ đủ trăm ngày, từ tháng tư trở đi, không dám xin cấp bổng lộc. Nghe gần đây có thánh chỉ, đặc biệt lại cho thần nghỉ dưỡng bệnh, bổng lộc vẫn tiếp tục cấp.
Thần từ ngày 21 tháng giêng, vì bệnh mà nghỉ, lâu ngày không khỏi, cũng từng xin về nghỉ ở cung quán để dưỡng thân suy yếu; nhưng thánh ân không cho, lại bổ làm Tả bộc xạ. Thần hoảng sợ mất phương hướng, không dám nói gì thêm. Từ đó, ngày ngày mong khỏi bệnh, vào triều yết kiến, tâu bày lòng thành, mong được tận lực làm việc, giữ chức cũ để báo đáp muôn phần. Nhưng nội tạng tuy yên, vết thương chưa lành, thân thể gầy yếu, chân không còn sức, đi lại rất khó khăn, không thể lạy chào, vì thế không thể vào triều. Tính ra, thần nghỉ không xử lý công việc chính đã hơn 120 ngày, ngày vào triều chưa thể tự định. Thần nghĩ rằng, việc ngừng cấp bổng sau trăm ngày đã có trong điển chương cũ, huống chi thần đang làm gương cho trăm quan, há dám bỏ qua không thi hành!
Thần nghe Khổng Tử nói: ‘Làm việc trước, hưởng lộc sau.’ Kinh Thi cũng nói: ‘Không ăn lộc vô công.’ Nay dù thánh ân dày đặc, điển lễ thương xót, nhưng khiến thần trái với đạo nghĩa làm việc trước, mang tội ăn lộc vô công, bốn biển đều chỉ trích, thần sao yên lòng được? Kính mong thánh từ cho phép thần theo điều lệ, ngừng cấp bổng sau trăm ngày, đợi khi vào triều lại cấp như cũ. Như vậy, thần mới yên tâm dưỡng bệnh, bảo toàn thân thể nhỏ bé.” Không được chấp thuận.
(Ngày 19 lại có chiếu lệnh ghi lệnh chỉ huy giao cho Quang, ngày 23 Quang từ chối, không được chấp thuận. Nay ghi chép lại cùng ở đây.)
[47] Chiếu rằng: “Từ nay, các chức Thượng thư, Thị lang khi được bổ nhiệm hoặc thuyên chuyển sang bộ khác, được miễn vào triều tạ ơn và dâng ngựa, đồng thời không được hưởng các ân lệ dành cho người mới nhậm chức. Các chức Cấp sự trung khi thăng lên Thị lang, nếu trong vòng một năm, ngoài việc vào triều tạ ơn, các việc khác đều theo quy định này.”
[48] Lại chiếu rằng: Tám lộ tuyển bổ nhân viên vào chỗ khuyết, trừ những trường hợp có quy định riêng, hoặc do tâu xin bổ nhiệm, hoặc theo chỉ huy tạm thời, hoặc những nơi có thủy thổ độc hại, hoặc những nơi vốn do quan nhiếp chính đảm nhiệm, thì vẫn theo lệ cũ, còn lại đều do Lại bộ bổ nhiệm.
(Ngày 26 tháng 10 năm thứ 8, Lã Đại Phòng tâu; lại ngày 22 tháng 6 năm này, Lại bộ tâu; lại ngày 11 tháng 4 năm thứ 5, Lại bộ tâu.)
[49] Lại chiếu rằng: Ngoài chức Tả đoán hình thừa của Đại Lý tự, các chức Tự thừa, Chủ bạ còn lại, đều do Trung thư tỉnh bổ nhiệm.
[50] Chiếu cho Lại bộ Thượng thư Tôn Vĩnh sung chức Đoan Minh điện học sĩ, Binh bộ Thượng thư Vương Tồn sung chức Xu mật trực học sĩ, Lại bộ Thị lang Lục Điền sung chức Thiên Chương các đãi chế, Binh bộ Thị lang Triệu Ngạn Nhược sung chức Long Đồ các đãi chế, Trung thư Xá nhân Tiền Hiệp sung chức Thiên Chương các đãi chế, theo chiếu chỉ ngày Ất Dậu, các quan đương nhiệm đều được giữ chức cũ.
(Hiệp trước đây chưa từng giữ chức Thiên Chương các đãi chế, cần xem xét. Lời tâu của Vương Nham Tẩu ngày 21 tháng 5, ngày Mậu Tý mùng 1 tháng 6, cùng nội phê ngày Kỷ Sửu mùng 2, đều có thể tham khảo.)
[51] Tam tỉnh tâu: “Theo chỉ, các chức Chuyển vận sứ, phó, Đề hình từ nay phải chọn người đã từng làm Tri châu trở lên; Chuyển vận phán quan phải chọn người đã từng làm Thông phán, thực sự có kinh nghiệm làm việc dân sự, và có thành tích chính trị nơi từng đảm nhiệm.” Chiếu cho phép Giám ty được giáng một bậc để bổ nhiệm, nếu đã từng làm Giám ty, hiện đang ở ngạch Thông phán trở lên, cũng được phép bổ nhiệm.
[52] Hà Đông Chuyển vận ty tâu: “Trước đây đã chi tiền vật để ban thưởng, xin ban cho 20 vạn quan tiền mặt về bản lộ, để chuẩn bị cho việc ban thưởng trong tương lai.”
[53] Lại có Ty chuyển vận Quảng Nam Tây lộ tâu: “Lộ này thiếu tiền dự trữ, tiền mua thóc, tiền thưởng cho lễ Nam Giao năm nay, tiền may áo xuân cho các quân năm tới, tổng cộng hơn 15 vạn quan, xin theo lệ hàng năm, xuống hai châu Thiều, Huệ của Quảng Đông, trong số tiền đúc được hoặc trong số tiền dịch dư của lộ này chi trả ứng phó.” Chiếu cho lấy 15 vạn quan trong số tiền thường bình của lộ này cấp cho Ty chuyển vận.
[54] Sở Tường định Dịch pháp tâu: “Theo chiếu, quan viên được bổ nhiệm, trong vòng 90 ngày trước ngày 7 tháng 2 theo chiếu đến nhậm chức, đều được cấp tiền thuê người. Nếu sau hạn này không cấp tiền thuê nữa, thì các lộ người làm dịch lại khổ cực vì việc đón tiễn, rất bất tiện. Xin rằng các quan viên trước đây sai công nhân, hợp lệ được nhận tiền thuê đón tiễn, đều theo lệnh Nguyên Phong thi hành. Số tiền này lấy từ tiền dư miễn dịch chi trả, đợi khi sách dịch pháp hoàn thành, sẽ xét định riêng, trong số tiền bán phường trường ứng phó. Còn chỗ khuyết quan viên tuyển bổ của 8 lộ, đã có chỉ huy, trừ những nơi đất nước độc hại và có điều khoản riêng cùng chỗ sai nhiếp quan vẫn theo lệ cũ, đều về Lại bộ bổ nhiệm.” Chiếu cho tiền thuê đón tiễn của quan viên tuyển bổ 8 lộ, theo lời tâu của Sở Tường định Dịch pháp.
[55] Triều tán lang, Thái bộc tự thừa Ngô An Trì làm Hiệu thư lang.
[56] Tiến sĩ xuất thân Từ Tích làm Tư hộ tham quân Dương châu, sung chức Giáo thụ châu học Sở châu. Do Hữu chánh ngôn Vương Địch, Ngự sử Lâm Đán tiến cử.
(Cựu lục chép việc này vào ngày 18 tháng 4 năm Nguyên Phù thứ 3, sai lầm lớn. Năm Thiệu Thánh thứ 3, Tích lại được đổi làm Phòng ngự suy quan Hòa châu, năm Nguyên Phù thứ 3, mới lấy chức Phòng ngự suy quan Hòa châu làm Tri huyện Thọ Xuân. Tân, Giáo thụ châu học Sở châu, đổi làm Tuyên đức lang.)
[57] Lâm Đán tâu: “Nguyên là Ngự sử trung thừa Đặng Oản, tính tình hèn hạ, bản chất nịnh hót. Tiên đế thánh minh, thấu rõ tình trạng của Oản, xét đúng tội mà cách chức. Nay Uyển lại được phục chức Đãi chế, lại làm Long đồ các trực học sĩ, từ Đặng châu chuyển đến Dương châu, nhưng vẫn ngoan cố không biết hối cải, còn ôm lòng bất mãn. Kính mong bệ hạ đặc biệt ra quyết định, nghiêm trị tội ác.” Chiếu chỉ cho Uyển làm Tri châu Trừ châu.
Đán lại tâu: “Công luận là của thiên hạ. Người đại diện công luận của thiên hạ là Gián quan và Ngự sử. Nay thần nêu lên công luận để vạch trần kẻ gian ác, bệ hạ sao lại tiếc một Đặng Oản, không dùng để an ủi lòng mong mỏi của thiên hạ? Trước đây thần đã tâu về tội trạng của kẻ gian tà, xin trị tội, chính là tuân theo chiếu chỉ của Tiên đế, để làm sáng tỏ sự thánh minh của Tiên đế. Giả sử ngày nay cách hết chức vụ, đày ra biên ương, cũng chưa đủ để dẹp yên dư luận, huống chi chỉ cách chức Dương châu mà thôi! Hơn nữa, Tiên đế biết Uyển là kẻ gian tà, từ chức Ngự sử trung thừa, Hàn lâm học sĩ, đều bị tước hết chức vụ và đuổi đi.
Sau đó, các đại thần chấp chính đã che chở và dùng sức kéo Uyển lên, không phải chỉ một người, nhưng Tiên đế thánh minh, thấu rõ mọi việc, cuối cùng không cho phép bọn họ âm thầm thực hiện mưu đồ. Vì vậy, lúc đầu phục chức Đãi chức, bị Gián quan Đặng Ôn Bá tấu bác mà bãi chức; khi quan chế mới ban hành, lại muốn bổ nhiệm Uyển làm Thị lang, Tiên đế không cho; sau đó, lại tiến cử làm Cấp sự trung, Hàn Trung Ngạn giữ lại không thi hành; năm ngoái bổ nhiệm làm Sứ Vĩnh Hưng, lại bị các quan tấu hặc, đổi làm Tri châu Đặng châu.
Nay triều đình đang tiến cử người hiền, loại bỏ kẻ bất tài, thưởng người tốt, phạt kẻ ác, sao có thể để kẻ gian tà tiểu nhân vẫn được làm quan, nắm giữ phương diện? Huống chi Uyển không biết xấu hổ, chỉ biết a dua quyền lợi, xử lý công việc đều sai lầm. Nay vì bị đàn hặc, chỉ đổi đến một quận nhỏ, dân quận nhỏ có tội gì? Xin cách hết chức vụ, đày ra nơi xa, suốt đời không được dùng, để tạ lỗi với thiên hạ.” Chiếu chỉ vẫn giữ nguyên chức vụ của Oản. Uyển chưa rời Đặng châu thì mất.
(Oản mất ngày 28, Ất Mão, nay ghi chung vào đây. Uyển từ Đặng châu đổi đến Dương châu là ngày mồng 4.)
[58] Đồng tri Xu mật viện Phạm Thuần Nhân tâu rằng: “Thần trước đây từ trước rèm tâu trình, vì quan ngôn sự đàn hặc tâu việc Đặng Uyển bị giáng chức. Thần cho rằng Đặng Uyển bị biếm ra ngoài, sau này nhiều lần được ân xá, được phục chức đến đây. Nay từ Đặng Châu chuyển đến Dương Châu, là do bị Tăng Hiếu Khoan chèn ép, và không phải là thăng tiến, nên những người tâu trình không cần phải tâu nữa, triều đình cũng không cần phải giáng chức nữa. Huống chi từ khi Bệ hạ lên ngôi, các cựu thần triều trước dù có lỗi lầm trước đây, đều được ân điển của trời bao dung, lẽ nào chỉ có Đặng Uyển bị trừng phạt nặng? Chỉ khiến lòng người bất an, không thể yên chức, không có lợi cho sự giáo hóa thanh tịnh.
Kính mong Thánh từ đặc biệt ban chỉ dụ, việc Đặng Uyển đã bị triều trước giáng chức, nay các văn bản của đài quan không cần thi hành nữa. Như vậy, thì đức độ của Thánh thượng bao la như trời đất, những người có lỗi lầm trước đây đều được sửa đổi, những người bất an đều được yên lòng, việc này liên quan lớn đến thể chế trị nước của triều đình. Kính mong Thánh từ lưu tâm xem xét, thiên hạ sẽ rất may mắn.”
Lại tâu rằng: “Sau khi Đặng Uyển bị bãi chức, trong ngoài đã lâu không có lời bàn tán, mà các quan đột nhiên lại tâu trình, cũng mong Bệ hạ thận trọng khi nghe xét, e rằng việc không có hồi kết, khiến triều đình ghi nhận lỗi lầm của người quá sâu, làm tổn hại đức chính. Thần ở triều trước, từng được bổ làm Tri Tương Châu, vì Đặng Uyển tâu bãi, sau đó bị giáng làm Tri tiểu quận. Nay thần tâu trình, không phải vì Đặng Oản, mà thực sự tiếc cho thể chế triều đình, kính mong Thánh từ xem xét kỹ. Hôm qua đã được Thánh huấn khen ngợi, nhưng e rằng khi các quan chấp chính trình bày, có ý kiến khác với thần, không tránh khỏi phải tâu lại, mong được xem xét kỹ.”
Vua sai trung sứ ban chiếu thư riêng rằng: “Xem khanh tâu việc Đặng Oản, thực là hợp lý. Triều đình đã xử lý những kẻ phụ họa bóc lột nổi bật nhất, vì lúc đó có nhiều kẻ xu nịnh, nói lợi để tiến thân, nếu triều đình cứ trách phạt từng người, thì việc không có hồi kết, không phải là cách giữ yên. Muốn ban một chiếu thư, tỏ rõ ân điển khoan hồng, không xử phạt nữa, để mọi người yên chức, sửa lỗi tự mình. Khanh hãy suy nghĩ kỹ, tâu rõ được hay không, viết kín đệ trình.”
Phạm Thuần Nhân tâu rằng: “Thần ngu muội không đáng, bỗng được tiến cử, đặt vào Xu phủ, tham dự việc cơ mật, nên phải hết sức suy nghĩ, mong báo đáp chút ít. Việc trước đây thần tâu, chỉ là triều đình nên khoan hồng với công lao, nhẹ nhàng với lỗi lầm, lại thấy lòng người ai cũng muốn yên ổn, Bệ hạ nên nhân đó mà ban ân điển rộng rãi. Thần không lượng sức mình, dám tâu lên một phần nhỏ, may được Thánh từ khen ngợi, đã là may mắn cho thiên hạ. Lại được Thánh ý muốn ban chiếu thư, tha thứ lỗi lầm cho những người liên quan, để họ tự sửa mình. Đó là đức lớn của Thánh thượng, dù Nghiêu, Thuấn tha thứ lỗi lớn, Thành Thang khoan dung nhân từ, cũng không hơn được. Thần đọc chiếu chỉ, vui mừng cảm kích không ngớt, lẽ nào còn có ý kiến gì giúp Thánh minh? Xin chỉ lấy ý này giao cho từ thần, để họ diễn giải thêm, làm thành lời huấn cáo đẹp đẽ, lưu truyền muôn đời, mãi là khuôn mẫu cho đế vương. Thần ngu muội vô cùng may mắn.”
(Cuối tháng 6 mới ban chiếu, các quan tâu trình nhiều, hoặc phụ theo lúc đó, không phải lúc này đã muốn ban chiếu, vì các quan tâu trình nhiều, đến lúc đó mới thi hành. Cần xem xét kỹ. Ba tờ tâu của Lưu Chí có thể phụ theo đây, Lâm Đán, Thượng Quan Quân, Vương Địch.)
[59] Chiếu rằng: “Đồng, thiếc, thau đá, vẫn cấm như cũ, nếu có ai phạm tội tư tạo hoặc cùng người khác chế tạo đồ dùng, thì tội và thưởng đều theo luật định trong 《Gia Hựu Biên Sắc Pháp》. Ngoại trừ các đồ dùng của quân đội, yên cương, và các đồ cổ của chùa chiền, nhà dân, tượng Phật, công đức, chuông, khánh, nao, bạt, linh xử, tương luân, gương soi được phép giữ lại, còn lại các đồ đồng phải nộp lên quan trong vòng 100 ngày, mỗi cân được trả 200 đồng. Nếu quá hạn không nộp, sẽ bị đánh 100 trượng, đồ vật bị tịch thu.” Đây là theo đề nghị của Tả Chánh ngôn Chu Quang Đình.
(《Tân Lục》 chép: Ngày Ất Tỵ, cấm dùng đồng và thau đá làm đồ dùng. Cuối tháng 7, Lưu Chí nói… Ngày 24 tháng giêng năm thứ 5 lại ban lệnh cấm.)
Quang Đình lại tâu: “Xin chọn quan lập cục, thu thập số liệu thu chi trong một năm của Hộ bộ, cùng với khoản thưởng tế giao ba năm, lễ vật hàng năm cho tứ di, và các khoản chi phí khác, đều phải tính toán kỹ. Những khoản có thể tiết kiệm thì nên cắt giảm, lấy thu làm chi, lập thành quy định.” Chiếu rằng: “Triều đình đã nhiều lần răn dạy, các quan coi về tài lợi trong ngoài không được tự tiện thu thuế xâm hại dân. Thuế má trong nước vốn có quy định, nếu không cắt giảm chi phí không cần thiết, lấy thu làm chi, e rằng sẽ ảnh hưởng đến đại kế quốc gia. Nên lệnh cho Thượng thư và Thị lang Hộ bộ cùng bàn bạc cắt giảm, trình bày rõ ràng lên triều đình.”
(《Tân Lục》 chép[16]: “Chiếu cho Hộ bộ cắt giảm chi phí thừa, lập thành quy định.” Ngày 8 tháng 12 nhuận năm thứ 3.)
[60] Môn hạ, Trung thư hậu tỉnh tâu: “Các điều khoản của Lục bộ có thể hoàn thành việc biên soạn trong thời hạn quy định. Còn các điều khoản của các tự, giám thì xin tuân theo chỉ đạo của triều đình, vì vậy các điều khoản của Tam tỉnh, Bí thư tỉnh, Điện trung tỉnh, Lý kiểm viện, Thượng y khố[17], xin được tập hợp tại một nơi để tham khảo. Các điều khoản của Lục bộ, hạn trong một quý biên soạn xong, còn các điển lệ đã soạn thảo để trình lên, vì được lập cục sau, xin được gia hạn thêm.” Chiếu rằng: “Các điều khoản của các tự, giám, Bí thư tỉnh và các điển lệ đã soạn thảo để trình lên, giao cho Môn hạ, Trung thư hậu tỉnh hạn trong nửa năm biên soạn xong, các điều khoản khác không cần sửa đổi nữa.”
[61] Tường định Dịch pháp sở tâu: “Chuyển vận phán quan Thành Đô phủ lộ là Thái Mông tâu trình việc sai hương hộ làm nha tiền và thu tiền trợ dịch. Bản sở xem xét, các châu Miên, Hán vốn không phải là nơi theo pháp cũ từng sai hương hộ làm nha tiền, nay căn cứ vào điều khoản nào, dùng bao nhiêu người làm định mức, rồi sai hương hộ làm nha tiền, khiến cho những hộ đơn đinh, nữ hộ phải nộp tiền? Chỉ đạo rằng, Tư Mã Quang trước đây tâu rằng nếu có điều gì trở ngại, thì phải trình bày rõ lợi hại và đề xuất kế hoạch. Các châu, huyện cũng nhiều người nói rằng việc này không công bằng. Riêng Mông không hiểu rõ ý chỉ của chiếu thư, liền ra lệnh cho dân tùy theo mức giàu nghèo mà đóng tiền dịch đều nhau. Xét Mông là người giữ chức Giám ty, biết triều đình rất coi trọng việc dân, tham khảo ý kiến rộng rãi, nhưng lại mang lòng ngờ vực, dẫn nhiều văn bản vô dụng, gượng ép suy diễn[18], để tạo thành tà thuyết, làm trái chiếu chỉ rõ ràng. Xin triều đình đặc biệt xử phạt nặng.” Chiếu rằng Thái Mông được bổ làm Tri quân Quảng Tế, và đem tờ tâu của Dịch pháp sở gửi xuống các lộ.
(Cựu lục chép: “Lúc đó Quang đổi pháp miễn dịch thành pháp sai dịch, dân không cho là tiện. Mông nhân đó bàn luận, nên bị trách phạt.” Tân lục biện rằng: “Thái Mông vì Tường định Dịch pháp sở tâu rằng Mông không hiểu rõ ý chỉ của chiếu thư, liền ra lệnh cho dân tùy theo mức giàu nghèo mà đóng tiền dịch đều nhau, nên mới có mệnh lệnh này, không phải vì bàn luận dân không cho là tiện. Từ chữ ‘Lúc đó Quang’ đến chữ ‘nên bị trách phạt’ tổng cộng 20 chữ, đều xóa bỏ.”)
[62] Tuyên đức lang, Tri An Hóa quân Chư Thành huyện sự Lưu Vĩnh Tích, cha là Nguyên, năm nay 104 tuổi, đặc cách ban cho chức Thừa phụng lang để nghỉ hưu.
[63] Vĩnh Hưng quân lộ Đề điểm hình ngục ty tâu: “Theo chỉ triều đình, xem xét việc mua bán và thu thuế ở hai xưởng luyện bạc Loan Xuyên thuộc huyện Lô Thị, châu Quắc, và Ngân Tiên Bách Gia Xuyên thuộc huyện Chu Dương, nay xin vẫn thu thuế hai phần, mua ba phần, lấy năm phần trả cho chủ. Còn việc thu thuế ở các xưởng luyện bạc Ngân Tiên Bách Gia Xuyên và các nơi khác, xin được thu như xưởng Loan Xuyên, và xin giữ nguyên như cũ.” Triều đình đồng ý.
[64] Điện tiền Mã bộ quân ty tâu về việc sắp xếp quân cấm, xin tạm thời áp dụng theo biên sắc năm Hi Ninh. Triều đình đồng ý.
[65] Chiếu rằng: “Lý Hiến đặc cách giáng một bậc từ chức Tiết độ quan sát lưu hậu, giữ chức Đề cử Minh Đạo cung; Vương Trung Chính đặc cách giáng hai bậc từ chức Dao quận Đoàn luyện thứ sử, giữ chức Đề cử Thái Cực quan, và vẫn ở tại nơi cư trú. Thạch Đắc Nhất giáng làm Tả tàng khố sứ, Quản câu Sùng Phúc cung; Tống Dụng Thần giáng làm Hoàng thành sứ, giữ nguyên chức vụ như cũ. (Đắc Nhất, Dụng Thần, ngày 4 tháng 6 năm thứ 3 được gia hạn một kỳ xét thăng. Dụng Thần, ngày 14 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ 8 từ chức Tuyên chính, Đăng phòng giáng làm Hoàng thành, Trừ tửu, nay lại bị bãi chức Đăng phòng, vẫn giữ chức Trừ tửu.)“
[66] Trước đó, Ngự sử trung thừa Lưu Chí tâu rằng:
“Thần trộm nghĩ rằng từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, vận dụng chính sách, nới lỏng hay siết chặt đúng thời, kế thừa ý chí của tiên đế trong việc trị nước và lập pháp, khiến cho ánh sáng rạng rỡ khắp thiên hạ, lợi ích được phát huy, tai họa được loại bỏ, bốn phương đều phấn khởi. Đến việc làm trong sáng triều đình, phân biệt kẻ tà người chính, xua đuổi bọn gian nịnh, trừ bỏ kẻ cường bạo, đều là do sự suy xét thần thánh và quyết đoán sáng suốt của bệ hạ, ung dung nhàn hạ, không vì vui giận mà bộc lộ ra sắc mặt, thế mà thiện ác trong thiên hạ đã được phân biệt, phải trái đã được xác định, thật là thịnh vượng biết bao!
Thế nhưng, thần lại lấy làm lạ rằng khí hòa của trời đất vẫn chưa ứng nghiệm, luận bàn của bậc trung thần nghĩa sĩ vẫn chưa được bình ổn, nguyên nhân là do đâu? Thần từng suy xét kỹ. Có lẽ là vì kẻ đại ác trong thiên hạ vẫn còn chưa bị trừng trị, kẻ đại gian trong thiên hạ vẫn còn lọt lưới, mà quốc pháp vẫn chưa được chính đính, đó là lý do khiến trong ngoài vẫn chưa được thỏa mãn. Sự thất chính của quốc gia, không gì lớn hơn việc để cho kẻ gian ác may mắn thoát tội, nay nói về việc lớn, thì bốn năm tên hoạn quan trước đây chính là như vậy.
Thần đang mang tội ở ngạch giám sát, dù biết rằng đụng chạm đến quyền thế sẽ gặp họa, nhưng thần có trách nhiệm phải nói, vì muốn báo đáp ân tình, thì đâu dám tiếc thân mình gặp nguy hiểm? Xin kính cẩn trình bày với bệ hạ.
Vương Trung Chính năm Nguyên Phong thứ tư dẫn hai mươi vạn quân từ Hà Đông tiến vào biên giới[19], tính cả dân phu và lính vận chuyển theo quân, tổng cộng lên đến hàng trăm vạn người. Trung Chính dừng lại ở biên giới gần nửa tháng rồi mới xuất quân, lảng vảng ngoài cương giới, đóng quân giữa sa mạc mà không tiến lên, công khai vi phạm chiếu chỉ, không đến hội quân với Hưng Linh như đã hẹn. Trời lạnh tuyết lớn, binh sĩ đói rét, khiến hơn bảy tám phần mười chết vì bệnh tật.
Xưa nay các tướng lĩnh dù có kẻ thất bại trở về, nhưng vẫn phải bảo toàn lực lượng, về báo cáo với triều đình; nay tinh binh mãnh tướng chẳng làm được gì[20], tự chuốc lấy thất bại, quân sĩ chết gần hết, xét theo quân pháp, đáng bị xử tử ngay. Trung Chính không tự giác dâng sớ tạ tội, mà Tiên đế với lòng khoan dung vô hạn, không trách phạt gì, lại còn sai sứ ban thưởng an ủi, sau đó Trung Chính từ từ xin về hưu với bổng lộc hậu hĩ, an nhàn mà đi. Đây là điều thứ nhất quốc pháp chưa được chính đính.
Lý Hiến ở Hi Hà, tham công sinh sự, toàn là lừa dối. Quyền uy của triều đình nằm trong tay hắn; bổ nhiệm hay cách chức quan lại đều do hắn quyết định. Từ Giám ty, Suý thủ trở xuống, đều phụng sự Hiến như cha anh, còn Hiến thì sai khiến họ như nô lệ. Tài sản của triều đình, hắn muốn lấy bao nhiêu tùy ý. Vàng bạc trong kho tàng chuyển đi vạn dặm, máu mỡ của dân chúng bị vắt kiệt trăm đường. Đổ vào tay Hiến như đổ xuống vực thẳm, ra vào nuốt chửng, thần quỷ không thấy, mà không hề báo cáo với các cơ quan hữu trách. Trong chiến dịch Hưng Linh, Hiến đầu tiên vi phạm quy ước, tránh né hẹn hội quân, lại đóng quân xây thành Lan Châu, để lại họa hại đến ngày nay. Đến khi quân địch vây Vĩnh Lạc, Hiến lại do dự, không kịp thời ứng cứu, khiến mười mấy vạn quân chết thảm. Tội ác chất chồng, nhưng hắn vẫn không mất chức Tổng binh một lộ. Đây là điều thứ hai quốc pháp chưa được chính đính.
Tống Dụng Thần dùng trí riêng của mình để truy cầu công việc, cướp đoạt con đường sinh kế của dân nghèo[21], từ những việc nhỏ nhặt đến tận cùng, không gì là không làm[22], khiến chính sách của triều đại hưng thịnh gần như tệ hại hơn cả thời Đường suy tàn. Những việc như thuế trừ mạch, thuế gian giá, thuế tháp địa, làm tổn hại quốc thể, không màng đến lời oán trách.
Việc ra vào thi hành mệnh lệnh của ông ta nhanh như gió lửa, cốt sao dùng mưu mẹo để lấy lòng, việc gì cũng thành công, động tay là có mật chỉ, nên tự ý lộng quyền, xâm phạm cơ quan, tham lam của cải, không còn sổ sách ghi chép. Kinh đô vì thế mà tiều tụy, thương nhân không dám hoạt động, nỗi đau và tệ nạn đến nay vẫn hỗn loạn không thể giải quyết, nhưng ông ta vẫn được hưởng bổng lộc ở nơi tốt đẹp. Đây là điều thứ ba về quốc pháp không chính đáng.
Thạch Đắc Nhất nắm giữ Hoàng thành ty. Việc Hoàng thành ty có thám tử tuần tra, vốn là để nắm bắt bí mật quân sự và những kẻ gian ác ẩn náu. Nhưng Đắc Nhất lại lợi dụng sự tàn nhẫn để gây ra việc bắt bớ, tung người đi do thám khắp nơi, giăng bẫy và lưới, đến từng nhà từng hộ, biến không thành có, biến hư thành thực, từ quan lại đại phu triều đình đến những gia đình giàu có nhỏ bé, lời đồn lan truyền buổi sáng thì buổi chiều đã bị tống giam. Cơ quan không có tấm lòng công bằng chính trực như người xưa, cho rằng đây là “chiếu ngục”, làm thành thì có công, chống lại thì có tội, nên nhục mạ tra tấn, tàn độc đến cùng cực, không hỏi han gì, khiến các quan lớn nhỏ bị hại ngầm không đếm xuể. Vì thế, từ trên xuống dưới, ai nấy đều lo sợ, ngày đêm không dám tự bảo vệ mình, nhìn nhau bằng ánh mắt e dè suốt gần mười năm, đều do Đắc Nhất gây ra, nay ông ta vẫn được hưởng bổng lộc dày và ngồi yên. Đây là điều thứ tư về quốc pháp không chính đáng.
(Việc Thạch Đắc Nhất nắm giữ Hoàng thành ty, xem ngày 4 tháng 6 năm Nguyên Phong thứ 5, và ngày 4 tháng 2 năm Thiệu Thánh thứ 2.)
Bốn người này, quyền thế rực lửa, chấn động trong ngoài, độc hại lan tràn đến dân, oán hận quy về quốc gia. Tể tướng, chấp chính biết mà không dám tâu lên trên, gián quan, ngự sử sợ mà không dám bàn về lỗi lầm của họ. May mà xuất hiện vào thời thánh nhân trị vì, nhờ thần vũ anh khí của tiên đế mà trấn áp được gian tà. Nếu không, họa hoạn gây ra, há chẳng giống như hoạn quan thời Hán, Đường sao! Dù là bậc thánh như Nghiêu, cũng không tránh khỏi bốn kẻ hung ác trong triều, đến khi Thuấn lên ngôi mới trừng trị. Khổng Tử làm Tư khấu nước Lỗ, bảy ngày liền giết Thiếu Chính Mão.
Tiên đế chưa kịp xử tội họ trước triều đình, mà để lại cho bệ hạ, bệ hạ nên lấy việc của Thuấn làm trách nhiệm của mình, nay đã qua nhiều năm, vẫn chưa nghe lệnh cho Hữu ty xử tội theo pháp luật, thần thật không hiểu nổi. Kính mong bệ hạ từ bi, đem chương tấu của thần giao xuống, bàn xử bốn tội, công bố cho thiên hạ biết mà trừng trị, để làm sáng tỏ quốc pháp, để phục lòng thiên hạ.”
Chí lại tâu: “Thần gần đây vì bọn nội thần Vương Trung Chính, Lý Hiến, Tống Dụng Thần, Thạch Đắc Nhất bốn người đại tội chưa bị xử, đã từng dâng sớ đàn hặc, nhưng chưa được chiếu chỉ. Kính xét tội trạng của Trung Chính đã liệt kê trong tờ tấu trước, đều là những kẻ mà cổ nhân gọi là nguyên ác đại đỗi[23], lưu độc đến nay, trong ngoài đều than oán phẫn nộ.
Ngự sử lấy việc chống tà sửa lỗi làm chức trách[24], thần mà không nói, thì ai dám trái ý kẻ quyền thế, chuốc lấy oán thù, để tâu lên bệ hạ? Bốn người này tội ác, bệ hạ vốn đã biết rõ, nay nếu chỉ cách chức một hai chức vụ, hoặc bãi chức sai khiển, thì họ vẫn có của cải nhà cửa lớn, chí đắc ý khí thảnh thơi, dù cho về hưu ở nhà, cũng chỉ là thỏa mãn dục vọng của họ mà thôi.
Thần thấy nội thần Cam Thừa Lập trước đây ở Kinh Hồ nhiễu hại dân, gần đây bệ hạ sáng suốt quyết đoán, không xét xử, đày ra nơi xa xôi, lòng người gần xa đều vui mừng. Bệ hạ cho rằng Trung Chính đẳng giết người hại của, tàn hại dân chúng, tội của họ so với Thừa Lập, ai nặng ai nhẹ? Nếu không đem bốn người này xử phạt như Thừa Lập, thì đó là pháp luật công bằng của quốc gia chỉ thi hành với một tiểu quan Thừa Lập, mà lại bất công với bốn quý thần Trung Chính đẳng.
Việc này liên quan đến chính thể, kính mong bệ hạ noi theo cách trị tội bốn hung của Vua Thuấn, thi hành việc lưu đày, để hoàn thành chí nguyện của tiên triều, làm sáng tỏ quốc điển mà tạ lỗi với thiên hạ.” (Ngày 18 tháng 4 năm Nguyên Hựu thứ nhất).
[67] Điện trung thị ngự sử Lâm Đán cũng nói rằng Lý Hiến và những người khác làm việc bừa bãi, nên bị trách phạt.
(Cựu lục chép: Lý Hiến và những người khác đều từng được tiên đế sử dụng[25], ngự sử trung thừa Lưu Chí và điện trung thị ngự sử Lâm Đán nói rằng họ làm việc bừa bãi, nên bị trách phạt. Tân lục biện luận: “Lưu Chí bàn về tội của Lý Hiến, Vương Trung Chính, Thạch Đắc Nhất, Tống Dụng Thần, tội không thể tha thứ, nếu để lộ ra vào thời kỳ Phong, Hi, thì làm sao có thể trốn tránh được? Nếu cho rằng họ từng được tiên đế sử dụng, thì những người từng được sử dụng, dù có tội, cũng đều không nên hỏi tội sao? Nay xóa bỏ bảy chữ, cần xem xét. Lý Hiến và những người khác vẫn giữ chức vụ, tân lục dựa vào cựu lục, quá sơ lược. Chính mục chỉ chép Thạch Đắc Nhất giáng làm Tả tàng khố sứ, Sùng Phúc cung, Tống Dụng Thần giáng làm Hoàng thành sứ[26], không chép về Lý Hiến và Vương Trung Chính, cần xem xét. Ngày 4 tháng 6 năm thứ 3, Vương Trung Chính, Tống Dụng Thần kéo dài thời gian xét xử một kỳ.”)
[68] Hữu chánh ngôn Vương Địch tấu: (Theo biên loại chương sơ, vào ngày 18 tháng 4 năm nguyên niên.) “Thần thấy việc triệu Văn Ngạn Bác, dư luận bên ngoài đều cho rằng sẽ để ông ấy giữ chức tể tướng, thần cho rằng không nên. Nếu lại bắt ông ấy lo việc cơ mật, thì không chỉ là lễ nghĩa suy giảm, mà còn có thể khiến chính sự bị trì trệ. Nếu quyết định có chút sai lầm, mà đồng liệt thuận theo, thì sẽ làm hại triều đình; nếu tranh cãi, thì sẽ tổn thương quốc thể. Người có trách nhiệm giữ im lặng, thì sẽ bỏ qua nghĩa vụ trung thành của bề tôi; nếu đàn hặc, thì sẽ trái với lòng quý trọng người già của bệ hạ. Thần mong bệ hạ tham khảo câu chuyện thời xưa, để Văn Ngạn Bác giữ chức Thái sư, vài ngày một lần đến giảng diên, hỏi về kinh thuật, vào ngày sóc, vọng đến điện tiện, hỏi về đại chính.”
[69] Xu mật viện tấu: “Các châu, huyện bắt lính cấm quân ngồi, mỗi ngày chia một nửa đi tập, người ngồi lớn thì thay hàng tháng, tuần kiểm ở biên giới châu thay nửa năm, các huyện, trấn phòng thủ thay theo mùa, gặp khi đi tuần, đều thay ngay trong ngày để về doanh.”
[70] Xem xét lời tâu của Tố lý sở: “Các lại viên trong sở tuy đã thi hành pháp kho, nhưng vẫn lo có việc truyền đạt lộ bí mật, xin đều theo điều lệ xét án lộ bí mật mà thi hành.” Đều theo lời tâu.
[71] Khôi phục trấn Phúc Xương ở Tây Kinh thành huyện Phúc Xương.
- Thư biểu trạch án ty thông dẫn khách ty quản câu thủ phân đẳng 'Thông' nguyên tác 'đạo', theo các bản và tham khảo 《Tống sử》 quyển 169, 《Tống hội yếu》 chức quan 48-94 sửa. ↵
- Còn lại theo chỉ huy tiến cử giám ty ngày 2 tháng 2 năm nay 'Tháng 2' nguyên tác 'Tháng 3', theo các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 98 sửa. ↵
- Các huyện trong kinh kỳ, chữ 'huyện' nguyên bản là 'hậu', theo các bản và văn dưới sửa lại. ↵
- Xem xét tù nhân, chữ 'ngục' nguyên bản là 'tuần', theo các bản và văn trên sửa lại. ↵
- Sông Quảng Tế lấy sông Kinh, Sách làm nguồn chuyển tải lương thực cho Kinh Đông hàng năm, chữ 'vi' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 94, 《Hà cừ chí》 bổ sung. ↵
- Nay muốn theo như cũ, đặt bến tàu ngoài cửa Tuyên Trạch, chữ 'dục' nguyên bản là 'nhược', xét 'kim dục' là cách nói trong công văn của người Tống khi có kiến nghị hoặc thỉnh cầu, viết 'nhược' không có nghĩa, nay căn cứ theo 《Tống sử》 dẫn trên mà sửa. ↵
- Trại hộ phiên binh cảm thấy thiếu lương thực 'phiên binh', Tống hội yếu binh 4-13 chép là 'phiên hộ'. ↵
- Nguyên bản ghi 'nhuận ba', nhưng năm này chỉ có nhuận hai, nay căn cứ vào bản trong các để sửa. ↵
- Theo Tống hội yếu chức quan 76/18-19 không có chữ 'trọng'. ↵
- Trừ chi phí trả công cho các việc nặng nhọc của nha tiền và tiền thuê người vận chuyển, xem 《Lộc Thành tập》 quyển 37, bản tường trình xin lệnh cho Hộ bộ và cơ quan xét định pháp lệnh họp bàn, chữ 'vật' được viết là 'ngoại'. ↵
- Ở Hoài Nam, Lưỡng Chiết, hơn một nửa là người làm lâu năm, chữ 'giảm' thừa dưới chữ 'trưởng danh', căn cứ theo 《Lộc Thành tập》 và 《Tống sử》 quyển 177, 《Thực hóa chí》 đã bỏ. ↵
- Hộ giàu đã đảm nhiệm việc nha tiền được miễn dịch, hai chữ 'sung miễn' đảo lộn, căn cứ theo bản các và 《Lộc Thành tập》 sửa lại. ↵
- Số tiền từ các bến bãi để dành phòng khi cần, chữ 'chi' nguyên là 'phạp', căn cứ theo bản các và 《Lộc Thành tập》 sửa lại. ↵
- Trong các khoản thuế khóa như vậy, chữ 'nội', 《Lộc Thành tập》 viết là 'ngoại'. ↵
- lại vì trong số người phạm lỗi có người bị liên đới do cùng bảo lãnh 'vì' nguyên là 'nói', căn cứ vào bản trong các và 《Tống hội yếu》 chức quan 28-11 sửa. ↵
- 《Tân Lục》 chép 'Tân Lục', các bản khác và bản hoạt tự chép là 'Tân Kỷ'. ↵
- Chữ 'y' trong 'Thượng y khố' nguyên bản viết là 'y', căn cứ theo các bản khác và 《Tống hội yếu》 chức quan 52-25 sửa lại. ↵
- Chữ 'phó trí' trong 'gượng ép suy diễn' các bản khác viết là 'phó hội'. ↵
- Vương Trung Chính năm Nguyên Phong thứ tư dẫn hai mươi vạn quân từ Hà Đông tiến vào biên giới, 'tiến vào biên giới', trong sách 《Trị tích thống loại》 quyển 20, phần Triết Tông ủy nhiệm đài gián chép là 'xuất giới'. ↵
- Nay tinh binh mãnh tướng chẳng làm được gì, chữ 'kị' nguyên bản là 'địch', theo bản khác sửa lại. ↵
- cướp đoạt con đường sinh kế của dân nghèo, 'cướp đoạt' trong 《Trị tích thống loại》 viết là 'nhương đoạt' ↵
- không gì là không làm, trong 《Trị tích thống loại》 viết là 'không gì là không lấy' ↵
- Nguyên ác đại đỗi: 'đỗi' nguyên là 'truỵ', theo bản các sửa lại. ↵
- Ngự sử lấy việc chống tà sửa lỗi làm chức trách: 'thằng khiên' nguyên đảo ngược, theo bản các sửa lại. ↵
- 'Từng' nguyên bản là 'cũ', căn cứ vào các bản khác và văn bản sau sửa lại. ↵
- 'Sứ' nguyên bản là 'ty', căn cứ vào các bản khác, Tống sử quyển 467 bản truyền và Trị tích thống loại quyển 20 Triết Tông ủy nhiệm đài gián sửa lại. ↵