"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 394: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 2 (ĐINH MÃO, 1087)

Từ tháng giêng năm Nguyên Hựu thứ hai đời Vua Triết Tông đến hết tháng đó.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Dần, mùng một. Ngày Ất Mão, xuống chiếu vì tuyết lạnh tạm ngừng các công việc xây dựng ở kinh đô trong ba ngày.

(Sách 《Ngự Tập》 ngày mồng 2 tháng giêng.)

[2] Ngày Tân Dậu, Hộ bộ tâu: “Lương của quan lại ở kinh đô mỗi năm tính ra cần 320.000 quan tiền, theo quy định phải lấy tiền thuế chợ phường cùng tiền miễn thuế hàng hóa, tiền lợi từ việc buôn bán của Ty Thị Dịch, tiền độ điệp của tăng đạo để chi trả. Nhưng năm Nguyên Phong thứ 7, số tiền thu được chỉ có 230.000 quan, lại phải dùng cả tiền dự trữ của bộ mới đủ chi. Nay bàn việc bãi bỏ Ty Thị Dịch, thì tiền lợi từ việc buôn bán cũng bị bỏ theo, sắp đến lúc thiếu hụt. Do đó xét các cơ quan có tiền lương quan lại dùng vào việc khác, vừa đúng bằng số thiếu hụt, Độ Chi xin tâu lên.” Xuống chiếu lấy tiền thuế chợ phường để chi trả đủ lương quan lại, không được dùng vào việc khác.

[3] Điện trung thị ngự sử Lã Đào tâu: “Thần thấy triều đình ban ân đức cho dân chúng đã nhiều, thói tụ họp bóc lột của bề tôi cũng đã cải đổi, chỉ có việc phường trường là gốc rễ vững chắc, điều ước rối ren, vẫn còn tệ nạn chưa dứt bỏ. Từ khi bắt đầu bán đấu giá đến nay đã mười lăm năm, ban đầu thì có việc niêm phong thực, tranh giành lợi ích, chiếm đoạt, tăng giá ảo, lừa dối bằng tài sản thế chấp; giữa chừng thì có việc tranh lợi quá nặng, thuế tháng không đủ, phạt tiền quá hạn, năm đầy không thay thế; cuối cùng thì có việc chính danh đã hỏng, tráng bảo nộp tiền quan còn nợ, cấm người lân cận mua tài sản.

Thời hạn gấp gáp, điều khoản phiền phức, không chỉ người buôn rượu vì thế mà khốn cùng, mà dân thường cũng bị bóc lột, hoặc bị giam cầm, hoặc bị đánh đập, hoặc phải lang thang trên đường, hoặc tự vẫn nơi khe suối, khắp các quận huyện trong thiên hạ không đâu là không có. Đại thể trong một huyện, hộ trung thượng đẳng vì mua phường trường và làm tráng bảo mà thất nghiệp phá sản, thường chiếm bốn năm phần mười, nợ nhiều đến vài chục quan, ít cũng ba năm trăm quan[1]. Tính chung cả thiên hạ, có mấy nghìn nhà chịu khổ cực này. Mỗi nhà lấy mười người làm mức, thì có mấy vạn người mất chỗ ở. Kính nghĩ Bệ hạ nhân từ rộng lượng, cũng nên vì thế mà động lòng.

Ngày xưa, Thần Tông hoàng đế thông hiểu tệ nạn này, chú ý cứu giúp, vào năm Nguyên Phong thứ ba khi làm lễ Minh Đường đã ban chiếu xá tội và năm thứ tám tháng giêng ban chiếu xá tội nhiều lần, ngoài ra còn gia hạn hai năm để nộp. Năm ngoái khi làm lễ Đại Hưởng, cũng có chỉ dụ tạm ngừng thúc giục, giao cho Giám ty xác minh tâu lên, sẽ bàn bạc theo thứ bậc mà miễn giảm. Ân đức ban ra, không phải không rộng rãi, nhưng tệ nạn này vẫn chưa dứt hẳn, một là do quan lại coi thường pháp lệnh, thấy có chút nghi ngờ liền không xác minh; hai là do vật giá rẻ, tiền tệ đắt, tiền bạc khan hiếm, hoặc bị thiên tai làm khốn đốn, hoặc binh dịch liên miên, chi phí ăn mặc còn chưa đủ, huống chi tiền quan, lấy đâu mà nộp? Vì từ giới thứ nhất đến nay đã mười lăm năm, giới thứ hai cũng đã mười hai năm, thường là sinh kế tiêu tan, con cháu ly tán, sổ sách ghi chép hư ảo, hình phạt đánh đập uổng phí, thời gian đã lâu, nặng nề không sống nổi, tiều tụy đến cùng cực, chắc chắn không thể thu được.

Thần ngu muốn Bệ hạ mở rộng chí hướng trước, ban ân huệ đặc biệt, không phân biệt xa gần, theo thứ tự nặng nhẹ, những người còn nợ ở giới thứ nhất, thứ hai đều được miễn trừ, giới thứ ba, thứ tư cũng xin lượng sức mà miễn giảm một phần. Như vậy thì pháp lệnh lớn đơn giản dễ hiểu, không bị quan lại ngăn trở, ân đức thánh thượng rộng rãi sâu xa, sẽ dứt được nỗi khổ của dân chúng.”

Lại tâu rằng: “Những nhà mua lại trường vụ, tài sản thế chấp nguyên giá cao lớn, do những năm gần đây hàng hóa rẻ, tiền tệ nặng, ruộng đất nhà cửa đã giảm giá, nay tuy bị thu về quan, khi bán ra, ắt không theo được giá ước tính ban đầu, quan lại vẫn bắt người thiếu nộp thêm tiền, rất phiền nhiễu. Ví như một tài sản thế chấp, nguyên ước tính một ngàn quan, nay chỉ đáng bảy trăm quan, lại bắt nộp thêm ba trăm quan.

Kính xin ban chỉ đặc biệt, những tài sản thế chấp bị tịch thu do phường trường, đều cho phép theo giá ước tính ban đầu để chiết khấu, nhằm giảm bớt gánh nặng cho dân. Giới thứ nhất, thứ hai giá hư mà cao, giới thứ ba, thứ tư giá thực mà thấp, nay giới thứ nhất, thứ hai tuy thiếu ba phần tiền, so với giới thứ ba, thứ tư đã là tăng thêm, huống chi không thể thu được, nên đặc biệt miễn bỏ. Nếu phải đợi giám ty bảo minh tấu lên, mới bàn việc miễn trừ, e rằng các lộ sẽ trì hoãn thời hạn, hoặc ý kiến không thống nhất, cùng với lại nhân cơ hội làm gian, sinh ra việc khác, khiến ân huệ thực sự của triều đình không thể lan tỏa đều. Chi bằng chỉ căn cứ vào thời gian xa gần của các giới mà miễn giảm, để ân đức sớm đến với dân nghèo.”

(Tờ tâu này không rõ thời gian, phụ vào ngày mồng 8 tháng giêng sau khi dùng tiền phường trường cấp lộc cho lại, việc theo hay không cần tra cứu thêm.)

[4] Trước đó, (ngày 27, 28 tháng 12 năm trước), Phó Nghiêu Dư và Vương Nham Tẩu liên tiếp dâng sớ bàn về việc Tô Thức không nên đưa tổ tông vào trong nghị luận, ý muốn cứu Chu Quang Đình. Nhưng đều không được trả lời. Hôm nay, (ngày Tân Dậu mùng 8 tháng giêng), Nghiêu Dư và Nham Tẩu lại dâng sớ bàn về việc này.

Nham Tẩu nói: “Gần đây, bề tôi cho rằng học sĩ Tô Thức soạn đề thi chức quan trong quán không nên bình luận về tổ tông, vì thế bị người khác bàn tán, ban đầu được tha tội, sau lại thu hồi, hình phạt không rõ ràng, làm tổn hại đại thể quốc gia, xin được biện chính, nhiều lần dâng tấu, đến nay vẫn chưa được thi hành. Thần nghĩ rằng việc thiên hạ tuy nhiều nhưng có thể nắm được chỉ một điều để trị, đó chính là lý lẽ.

Bệ hạ thiên tư cao minh, hiểu đạo trị nước, cốt yếu ở đây. Từ khi nghe chính sự đến nay, chưa từng vì yêu ghét vui giận mà thay đổi lẽ phải trái, nên lòng người yên ổn mà thiên hạ được an. Thần được ơn ban bổ, giao trách nhiệm nói thẳng, đâu dám không thể hiện ý của bệ hạ để báo đáp.

Mong bệ hạ đừng mê hoặc bởi hư danh, đừng bị lôi kéo bởi thiên kiến, mà bình tâm xem xét. Lẽ phải trái rõ như mặt trời mặt trăng, kính mong thánh từ sớm ban quyết đoán. Nếu còn nghi ngờ, xin hạ lệnh tập hợp bách quan ở triều đường để định nghị. Nếu cho rằng bình luận về tổ tông là đúng, việc đàn hặc Tô Thức là sai, thần xin chịu tội, không từ nan. Nhưng không thể để lẫn lộn phải trái, khiến thiên hạ hoang mang. Bệ hạ xét nhận, thật may mắn!”

[5] Ngày Nhâm Tuất, Hữu chánh ngôn Vương Địch tâu rằng: (Biên loại chương sơ ngày 9 tháng giêng năm thứ hai.) “Thần nghe rằng gần đây Tả ty gián Chu Quang Đình tâu rằng, đề thi sách vấn của Học sĩ viện có lời khinh suất bàn về Nhân Tổ và Thần Tông, cho rằng không thể noi theo. Ban đầu có chỉ dụ tha tội cho học sĩ, nhưng khi chỉ dụ truyền đến Thượng thư tỉnh thì bị thu hồi không ban hành. Quang Đình tiếp tục dâng sớ luận bàn chưa dứt. Thần tuy chưa từng tham dự việc này, nhưng nay phải trái đã lâu mà chưa quyết định, thần đâu dám im lặng, xin vì bệ hạ bàn một lời.

Việc ban đầu tha tội cho học sĩ, là triều đình cho rằng học sĩ vốn có tội; sau đó chỉ dụ không ban hành, là triều đình cho rằng học sĩ vốn vô tội. Nếu cho học sĩ vốn có tội, thì đại thần ắt có người cho lời Quang Đình là đúng; nếu cho học sĩ vốn vô tội, thì đại thần ắt có người cho lời Quang Đình là sai. Có người cho là đúng, có người cho là sai, thì ý kiến của đại thần đã khác nhau. Thần lại nghe rằng các chương sớ của quan ngôn sự, cũng có người cho lời Quang Đình là phải, cũng có người cho là không phải. Hoặc cho là phải, hoặc cho là không phải, thì ý kiến của quan ngôn sự lại càng khác nhau. Ý kiến của đại thần và quan ngôn sự đều khác nhau, thì bệ hạ sẽ theo bên nào?

Thần mong bệ hạ tạm gác các ý kiến, lấy đề thi sách vấn do học sĩ soạn ra xem xét kỹ, thì phải trái sẽ rõ ngay. Những nguyên nhân đồng ý hay khác biệt, không đáng để xét. Nếu bệ hạ cứ xét kỹ nguyên nhân khác biệt, đào sâu dấu vết hiềm nghi, thì hai phe sẽ phân rõ, luận bàn về bè đảng sẽ nổi lên. Việc học sĩ soạn lời có tội hay vô tội, chỉ là chuyện nhỏ; khiến sĩ phu mang tiếng bè đảng, mới là mối họa lớn.

Phàm kẻ tiểu nhân muốn hãm hại người quân tử, ắt lấy danh bè đảng để gán cho, sau đó quân tử có thể bị loại bỏ hết, mà tiểu nhân có thể đắc chí. Nay triều đình trong sáng, hiền tài tụ hội, không thể vì chuyện nhỏ mà sinh ra mối họa lớn, đó là điều bệ hạ nên thận trọng. Thần vì thế không dám im lặng, mà dâng lời trước khi sự việc xảy ra, mong bệ hạ xét đoán.”

Dán tờ vàng: “Thần nghe nói Chu Quang Đình bàn về đề thi, người nói đã cho rằng vì Tô Thức và thầy của Quang Đình là Trình Di có hiềm khích mà phát ra; Lã Đào nói về Chu Quang Đình, người bàn luận lại cho rằng Đào cùng Tô Thức đều là người Thục nên mới nói về Quang Đình. Vì thế, bên ngoài dư luận xôn xao, cho rằng thế không thể dung hòa. Thần cho rằng hai người này đều không tránh hiềm nghi mà thôi, nếu bệ hạ bỏ qua không hỏi, chỉ xem xét kỹ lưỡng đúng sai của đề thi, mà có tội hay không, chỉ bàn về Tô Thức, thì danh đảng sẽ không nổi lên. Nếu vì dấu vết hiềm nghi mà thành danh bè phái, đó không phải là việc tốt của triều đình. Hơn nữa, các đại thần chấp chính đồng ý hay phản đối lời của hai người này chưa chắc đã giống nhau, thần mong bệ hạ nhân lúc các chấp chính tấu trình, mà quyết định theo ý thánh, đó là nguyện vọng nhỏ bé của thần.”

[6] Ngày Giáp Tí, Hữu chánh ngôn Vương Địch lại tâu: “Thần trước đây từng có bản tấu, nói rằng đề mục sách vấn do Tô Thức soạn có đúng sai, nhưng lâu ngày không quyết định. Các đại thần bàn luận đã không thống nhất, các quan ngôn sự bàn luận cũng không thống nhất, bệ hạ sẽ theo ai?

Mong bệ hạ tạm gác các ý kiến khác nhau, lấy đề mục sách vấn ra xem xét kỹ, thì đúng sai sẽ lập tức rõ ràng. Thần nay e rằng bệ hạ cuối cùng vì các ý kiến khác nhau mà chưa quyết định ngay được. Vì thần ban đầu không tham gia việc này, các sĩ đại phu nói chuyện với thần không có gì nghi ngại, nên thần nghe được công luận rất rõ, thêm nữa đề mục sách vấn do Tô Thức soạn, thần xem cũng đã quen, nay lại vì bệ hạ nói rõ thêm.

Thần cho rằng xét ý của Tô Thức, thì chỉ là đặt nghi vấn để nêu câu hỏi, nhưng xét lời của Tô Thức, thì lại mất cân đối. Đề mục sách vấn của Tô Thức nói: ‘Muốn noi theo sự trung hậu của Nhân Tổ, thì lo trăm quan có ty không làm tròn chức trách, mà có thể dẫn đến sự lười biếng; muốn noi theo sự chăm chỉ của Thần Khảo, thì sợ các giám ty, thủ lệnh không hiểu ý, mà dẫn đến sự khắc nghiệt.’ Lại dẫn chuyện Hiếu Văn, Hiếu Tuyên, cho rằng ‘không nghe nói họ có tệ nạn bỏ bê không làm việc, cũng không có sai lầm vì giám sát quá mức, làm sao có thể đạt được như vậy?’

Dùng điều này để xem xét ý ban đầu của Tô Thức, thì thực sự chỉ là đặt nghi vấn để nêu câu hỏi mà thôi, nhưng việc trị nước của Hiếu Văn, Hiếu Tuyên há chẳng có tệ nạn sao? Tô Thức nêu lên đã quá mức, lại lo ta có tệ nạn mà ngưỡng mộ họ không có tệ nạn, thì dường như chính sách của Nhân Tổ, Thần Khảo không bằng Hiếu Văn, Hiếu Tuyên, vậy thì cách dùng từ của Tô Thức, há chẳng phải là mất cân đối sao? Thần nên nói: ‘Xét ý của Tô Thức, chỉ là đặt nghi vấn để nêu câu hỏi, nhưng xét lời của Tô Thức, thì lại mất cân đối.’

Thần trong bản tấu trước nói ‘lấy đề mục sách vấn ra xem xét kỹ, thì đúng sai sẽ lập tức rõ ràng’[2], là như vậy, mong bệ hạ xem xét quyết định.”

[7] Ngày Ất Sửu, Triều tán lang Đỗ Thiên Kinh được quyền phát khiển Khai Phong phủ suy quan. Theo lời tiến cử của Tri Khai Phong phủ Tiền Hiệp.

[8] Xuống chiếu cho các phụ thần chia nhau đến các chùa miếu tạ mưa tuyết.

[9] Hữu Gián nghị đại phu Tiên Vu Sân tâu: “Năm Hi Ninh, lấy dân Di, Hán chủ khách ở các châu Nhung, Lộ làm nghĩa dũng, bảo giáp, hàng năm dạy tập võ nghệ vào lúc nông nhàn, lệnh cho các quan Đề điểm hình ngục xem xét, thưởng khuyến khích. Sau đó, người Di không tránh khỏi làm loạn, ruộng đất thu thuế cũng bị bỏ hoang, xin bãi bỏ.” Gặp lúc Tri châu Trịnh Châu là Sầm Tượng Cầu cũng tâu việc này, Vua xuống chiếu cho các ty Chuyển vận, Kiềm hạt ở bản lộ xem xét kỹ rồi tâu lên.

[10] Vua xuống chiếu cho nước Vu Điền, Vua Hắc Hãn cống phương vật, ngoài việc ban thưởng theo lệ, còn thưởng thêm 30 vạn tiền, không kể có tiến cống hay không.

[11] Vua nước Hạ là Bính Thường sai sứ mang vật phẩm đến cống. Vua xuống chiếu cho con ông là Càn Thuận làm Vua nước Hạ, theo lệ năm Minh Đạo thứ hai khi Nguyên Hạo được phong Tiết độ sứ, Tây Bình vương. Vua và Thái hoàng thái hậu ban chiếu ban thưởng vật phẩm, đều theo số lượng năm Khánh Lịch thứ tám là ba vạn lượng bạc, ba vạn tấm lụa và ba vạn quan tiền. Lấy Khởi cư lang, quyền Xu mật đô thừa chỉ công sự Lưu Phụng Thế giả chức Trực tập hiền viện, mượn tam phẩm phẩm phục, làm Sách lễ sứ, Sùng nghi phó sứ, đeo khí giới cung đình Thôi Tượng Tiên làm phó[3].

Sách văn viết: “Hoàng đế nói rằng: Than ôi! Vua Nghiêu dựng nên muôn nước, dân chúng được yên ổn; nhà Chu đặt ra năm bậc tước, xa xôi đều đến cống. Đó là điều mà các bậc đế vương đều giống nhau, và là phép tắc của quốc gia.

Nay xét ngươi là Càn Thuận: Các bậc thánh đế tiên vương của ta, xét đến miền tây của ngươi, ban đất dựng nước, bảo vệ nhà Vua, giữ họ nhận tên, giống như tông tộc, tước vị ban khen, ân lễ rất hậu. Nay ngươi nối dõi, kế thừa chức vị phiên trấn, mà biết kính cẩn phụng sự, sửa mình thành kính, sai sứ đến dâng vật phẩm, thấu đến tai Trẫm, thực đáng khen ngợi. Vì thế xét theo điển cố, ban tên hiệu vinh sủng, ban cho ngươi đất phong, thêm cho ngươi xe ngựa, ban bố sách lớn, để yên một phương.

Nay sai Triều phụng đại phu, Khởi cư lang, Trực tập hiền viện, Thượng khinh xa đô úy, ban tử kim ngư đại Lưu Phụng Thế, Sùng nghi phó sứ, Thượng kỵ đô úy, An Hỷ huyện Khai quốc nam, thực ấp ba trăm hộ Thôi Tượng Tiên, cầm tiết sách mệnh phong ngươi làm Vua nước Hạ, mãi mãi làm phiên phụ của nhà Tống. Người chuyên cần đức tốt, mới có thể rạng rỡ; trung thành phụng sự Vua, sẽ mãi hưởng phúc lành[4]. Hãy kính cẩn vâng mệnh, đừng làm hổ thẹn lời dạy của Trẫm.”

[12] Chiếu bãi bỏ việc quản lý thiết lập dưới quyền các tướng ở các lộ, từ nay các tướng mỗi năm được ban tiền công sứ năm mươi vạn, quân Đông Nam lộ ba mươi vạn. Mỗi khi công sứ mười vạn thì nấu rượu không quá mười thạch, cuối năm nếu còn dư thì dùng để sửa chữa khí giới.

[13] Hữu ty lang trung Phạm Thuần Lễ tấu: “Doanh châu phòng ngự suy quan Tiền Thế Hùng và những người khác dâng trạng xin xét lại việc bị phạt đồng sau vụ án văn tự châm biếm của Tô Thức. Trong án cũ, các quan bị liên đới là Hoàng Đình Kiên, Chu Bân, Nhan Phục, Thịnh Kiều, Vương Phần, Tiền Thế Hùng, Ngô Oản, Vương An Thượng, Đỗ Tử Phương, Thích Bỉnh Đạo, Trần Khuê, Vương Củng vì không nộp thơ chê bai của Tô Thức nên bị phạt hai mươi cân đồng; Vương Sân vì giấu giếm thư tấu không trung thực nên bị đi đày hai năm, truất hai chức, hợp lệ phục chức. Trước đây có chỉ dụ, văn tự kêu oan của Vương Sân không được nhận, nên chưa dám xem xét kỹ.” Tam tỉnh tiến trình: Vương Sân vì đã bị truất quan, khó được khoan dung; Hoàng Đình Kiên và những người khác đều được đặc cách xóa bỏ án phạt.

[14] Hôm đó, Vua ban chiếu rằng: “Phó Nghiêu Dư, Vương Nham Tẩu, Chu Quang Đình cho rằng Tô Thức soạn đề thi sách không đúng, đã nhiều lần dâng sớ tâu. Nay xét kỹ thấy không phải là chê bai tổ tông, chỉ là bàn về việc các quan chức thi hành có sai sót. Hãy để các quan chấp chính triệu tập mọi người đến để giải thích, không cần phải tấu trình nữa.” Ngày Bính Dần, ba người đến Đô đường, Hữu bộc xạ Lữ Công Trứ, Môn hạ thị lang Hàn Duy, Trung thư thị lang Lã Đại Phòng, Tả thừa Lý Thanh Thần, Hữu thừa Lưu Chí truyền đạt ý chỉ. Ba người này nói với Lữ Công Trứ rằng họ đều biết Tô Thức có lỗi, nhưng chỉ muốn dùng ý chỉ của Vua để hòa giải, nên không dám nhận chiếu.

Ngày Đinh Mão, ba người lại dâng sớ, Vương Nham Tẩu nói: “Thần thấy ý chỉ của bệ hạ uyển chuyển, khoan dung với bề tôi, chỉ sợ làm tổn thương, dù là trời đất cha mẹ cũng không hơn được. Thần phải báo đáp thế nào, chỉ biết không dám tiếc thân, vì bệ hạ mà giữ chức vụ. Nếu tránh tội phạm thượng mà a dua thuận theo, không hết lòng phụng sự bệ hạ, thì thần không nỡ làm.

Thần xét: Tô Thức như ý chỉ của bệ hạ không phải là chê bai tổ tông, nhưng chỉ đem tổ tông vào trong bàn luận, đã là tổn thương đại thể, sao có thể cho là vô tội? Nay bệ hạ không muốn trị tội Tô Thức, cũng không muốn trị tội bọn thần, mà định hòa giải cả hai bên. Về lòng nhân từ yêu thương, thì có thể nói là đến mức tột cùng, nhưng về việc triều đình muốn lập kỷ cương, chính điển hình, thì chưa được. Sau này nếu có việc khác lại phiền bệ hạ hòa giải, thì e rằng kỷ cương sẽ bị hủy, điển hình sẽ bị bỏ, mở ra cửa may mắn, khơi mào suy thoái, bắt đầu từ bọn thần, tội phụ bệ hạ không thể dung thứ.

Bệ hạ nghe chính sự đến nay, chưa từng có việc gì sai sót, việc này càng mong bệ hạ suy nghĩ kỹ, ắt sẽ có điều đắc, thần ngu si không hết lòng trung cáo.”

Tờ thiếp hoàng: “Thần nghe có người bênh vực Tô Thức, uốn nắn lời lẽ để giải thích, lừa dối bệ hạ, mong bệ hạ xét xem có phải xuất phát từ tư ý không, đừng để bị mê hoặc, thì việc sẽ xong.”

[15] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu rằng: “Từ nay trở đi, các thí sinh dự thi được phép sử dụng thuyết của các nhà Nho xưa nay, hoặc nêu ý kiến riêng, nhưng không được dẫn sách của Thân, Hàn và nhà Phật. Quan coi thi căn cứ vào kinh nghĩa[5], luận, sách để quyết định đỗ trượt, không được ra đề từ sách Lão Tử, Liệt Tử, Trang Tử. Cùng với việc tuyển chọn người thông hiểu kinh điển và tu dưỡng đạo đức, các lộ Kinh Đông Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây mỗi nơi năm người; các lộ Hoài Nam, Giang Nam Đông Tây, Phúc Kiến, Hà Đông, Lưỡng Chiết, Thành Đô phủ[6] mỗi nơi bốn người; các lộ Kinh Hồ Nam, Quảng Nam Đông Tây[7], Tử Châu mỗi nơi hai người; các lộ Kinh Hồ Bắc, Quỳ Châu, Lợi Châu mỗi nơi một người. Giao cho tri huyện và quan chức đương nhiệm cùng bảo đảm, trình lên Giám ty, Giám ty lại xem xét kỹ rồi tâu lên, vẫn tính vào số người được cử của châu đó, nếu không có người thì để trống.”

(Lã Đại Phòng viết trong 《Lữ Công Trước thần đạo bi》 rằng: “Từ năm Hi Ninh thứ 4, bắt đầu cải cách khoa cử, bãi bỏ thi từ phú, dùng kinh nghĩa của Vương An Thạch để tuyển chọn nhân tài, lại dùng thuyết nhà Phật để giải thích kinh điển của thánh nhân. Học giả không còn đọc rộng sách vở, không có ý tu dưỡng văn từ, hoặc lén chép sách của người khác để dự thi. Do đó, khoa cử ngày càng bị coi nhẹ, việc tuyển chọn quan văn ngày càng khó khăn. Tiên đế vì không hài lòng với thư trả lời Cao Ly, nên lúc đó có người đề nghị dùng thi phú thay kinh nghĩa. Lữ Công Trước bèn thêm thi phú bên cạnh kinh nghĩa, nhưng vẫn ưu tiên kinh nghĩa để phát huy tài năng của sĩ tử, lại cấm quan coi thi không được ra đề từ sách Lão Tử, Trang Tử, và cấm thí sinh không được dùng sách Thân, Hàn, Phật để làm bài. Kinh nghĩa phải tham khảo học thuyết của các nhà Nho xưa nay, không được chỉ dùng học thuyết của họ Vương.”)

[16] Lại đặt lại chức Thái quan lệnh một người, theo lời tâu của Quang lộc khanh Triệu Lệnh Thước.

[17] Ngày Canh Ngọ, Hàn lâm học sĩ Tô Thức tâu rằng:

“Thần gần đây vì bài sách vấn thi quán chức bị các quan đài gián nói đến, ban đầu thần không dám biện bạch sâu, vì tự biện mà xin từ chức, là không muốn từ chức vậy. Nay nghe nói thánh minh đã xét rõ sự thật, mà thần bốn lần dâng chương đều không được chấp thuận, nghĩa làm bề tôi, thân không phải của mình, lời cùng lý hết, không dám xin từ chức, nên lại kính cẩn trình bày một lần nữa.

Bài sách vấn do thần soạn, đầu tiên dẫn việc Chu Công, Thái Công trị nước Tề, Lỗ, đời sau đều không tránh khỏi suy loạn, để nói rõ con cháu không thể phụng hành, thì dù là pháp độ của bậc đại thánh đại hiền, cũng không tránh khỏi có tệ. Sau lại nói Văn Đế, Tuyên Đế nhân hậu mà việc không bỏ bê, xét thực mà chính sự không hà khắc, để nói rõ bề tôi nếu phụng hành đúng lý, không có lòng trông chờ khéo hợp, thì dù là Văn Đế, Tuyên Đế, cũng đủ để không có tệ vậy. Ở giữa lại nói sáu bậc thánh kế thừa nhau, cách trị nước khác nhau, nhưng cùng quy về nhân, chỗ gọi là lười biếng và khắc nghiệt, là chỉ nói rằng ngày nay các quan hữu ty cùng giám ty, thủ lệnh không hiểu ý bản ý của triều đình noi theo tiên đế, nên mới đến nỗi thế. Văn lý rất rõ ràng, sáng tỏ như trắng đen, há có chút gì nghi ngờ bàn đến tiên triều? Không chỉ triều đình biết thần không có tội để tha, thần cũng tự biết mình không có tội để tạ.

Tuy nhiên, thần nghe người xưa nói: ‘Người tin tưởng nhất là tâm và mắt; người thân thiết nhất là mẹ và con; người không mê hoặc là thánh hiền. Nhưng đến khi trộm rìu mà biết tâm mắt có thể bị loạn, khi ném thoi mà biết mẹ con có thể bị nghi ngờ, khi nhặt than mà biết thánh hiền có thể bị mê hoặc.’ Nay những người nói về thần không chỉ ba người, các chương tấu dâng lên không dưới vài chục, mà thánh đoạn của bệ hạ vẫn kiên định, sâu sắc hiểu rõ thần vô tội, điều này vượt xa sự tin tưởng của tâm mắt, sự thân thiết của mẹ con, và sự hiểu biết của thánh hiền.

Đức âm vừa truyền ra, thiên hạ đều ca ngợi, sử sách ghi chép. Những gì tai mắt nghe thấy, trí tuệ sáng suốt, thấu hiểu tình thật và giả dối, chưa từng có ai như bệ hạ. Không chỉ riêng thần khao khát dâng lên cái chết để báo đáp, mà tất cả những ai làm bề tôi trong thiên hạ nghe được, đều muốn tan xương nát thịt, hiến dâng trung nghĩa cho bệ hạ. Nếu không như vậy, cũng không chỉ riêng thần chịu tiếng oan mờ ám, mà tất cả những ai làm bề tôi trong thiên hạ nghe được, đều lấy thần làm gương, sùng bái kiêng kỵ, sợ hãi tránh né, quan sát theo đám đông, chỉ cầu được thoát thân, há phải là phúc của triều đình sao?

Thần từ khi nghe mệnh đến nay, một bữa ăn ba lần than thở, một đêm chín lần trở dậy, trong lòng lo lắng, không biết sẽ chết nơi nào. Tuy nhiên, những điều thần soạn trong sách vấn, xem ra cũng có tội, nếu không nói hết, tức là lừa dối bệ hạ. Thần nghe rằng thánh nhân trị thiên hạ, khoan hồng và nghiêm khắc phải đi đôi; giữa Vua tôi, nên có sự bổ sung lẫn nhau. Nếu trên chấp nhận điều gì mà không hỏi đúng sai, dưới cũng chấp nhận theo; trên phủ nhận điều gì mà không hỏi phải trái, dưới cũng phủ nhận theo, thì đó chính là điều Yến Tử gọi là ‘lấy nước mà thêm vào nước, ai có thể uống được’, và Khổng Tử gọi là ‘chỉ nghe lời ta mà không ai dám trái lời, đủ để mất nước’.

Thần trước đây dưới triều Nhân Tông, dự thi chế khoa, những điều thần dâng lên trong sách vấn và trả lời thánh hỏi, đại để đều khuyên Nhân Tông chăm lo chính sự, giám sát trăm quan, quyết đoán và thực hiện mạnh mẽ. Đến khi phụng sự Thần Tông, được triệu kiến hỏi han, lui về viết thư dài hàng vạn chữ, đại để đều khuyên Thần Tông trung hậu nhân từ, bao dung kẻ xấu, nhún mình để làm lợi cho người. Thần tuy nhỏ mọn, không tự lượng sức, nhưng thường muốn noi gương cổ nhân, bổ sung lẫn nhau, đại để như vậy.

Thần thấy từ khi hai thánh lên ngôi, chính sự ngày càng mới mẻ, xuất phát từ lòng trung hậu, phần lớn làm theo chính sách cũ của Nhân Tông, thiên hạ đều vui mừng mang ơn đức, thật không có gì đáng bàn. Nhưng thần lo lắng quá mức, thường sợ rằng trăm quan có thể uốn nắn quá mức, hoặc đến mức lười biếng, mà chính sách chăm chỉ xét thực của Thần Tông dần bị hủy hoại. Thần lo rằng vài năm sau, phép trị quan dần lỏng lẻo, chính sách tài chính dần sơ hở, kế hoạch phòng biên dần buông lỏng, mà những lo lắng ngoài ý muốn sẽ không thể kể xiết. Dù bệ hạ mở rộng đường ngôn luận, không kiêng kỵ gì, nhưng những người đài gián chỉ trích chỉ là người triều trước, những điều họ phản đối chỉ là pháp luật triều trước, đúng là ‘lấy nước thêm vào nước’, thần thật lo lắng.

Vì vậy, thần mới dùng ý này, soạn sách vấn trên, thực ra là để châm biếm triều đình hiện nay cùng tể tướng, đài gián, mong bệ hạ xem qua, có thể cảm động thánh ý, để có thể thực hiện cả hai chính sách trung hậu và chăm chỉ của hai đế. Nếu đài gián lấy lời này mà trách thần, triều đình lấy tội này mà trị thần, thì dù bị xử trảm, thần cũng cam lòng. Nay lại cho rằng thần châm biếm triều trước, thì cũng xa vời không hợp lý. Vả lại, không chỉ sách vấn này, nay thần không ngại phiền toái, xin trình bày hết đầu đuôi.

Năm ngoái, thần từ Đăng Châu được triệu về, gặp cựu tướng Tư Mã Quang, Quang liền bàn với thần về những việc cần kíp hiện nay, liệt kê những điều ông muốn làm. Thần liền đáp: ‘Những việc ngài muốn làm đều thuận theo ý trời, hợp lòng người, không có gì đáng nghi. Duy chỉ có phép dịch chưa nên bàn nhẹ, vì sao? Sai dịch và miễn dịch đều có lợi hại. Cái hại của miễn dịch là bóc lột tài sản dân chúng, khiến mười nhà chín nhà trống rỗng, tiền tụ về trên, mà dưới thì thiếu tiền. Cái hại của sai dịch là dân thường phải làm việc quan, không thể chuyên tâm làm ruộng, mà bọn tham quan lại nhân đó làm bậy. Hai cái hại này nặng nhẹ tương đương, nay đổi cái này lấy cái kia, dân chưa chắc đã vui.’

Quang nghe xong, ngạc nhiên nói: ‘Nếu như lời ngài, kế sách sẽ ra sao?’

Thần đáp: ‘Pháp luật kế thừa thì việc dễ thành, việc có từ từ thì dân không kinh hãi. Xưa pháp luật ba đời, binh và nông là một, đến Tần mới chia làm hai, đến giữa đời Đường, đổi hết phủ binh thành quân trường chinh. Từ đó đến nay, dân không biết binh, binh không biết nông, nông dân xuất lúa gạo để nuôi binh, binh xuất tính mạng để bảo vệ nông, thiên hạ đều thuận tiện, dù thánh nhân sống lại cũng không thể đổi.

Nay phép miễn dịch thực ra rất giống vậy. Ngài muốn bãi bỏ miễn dịch ngay mà thực hiện sai dịch, giống như bãi trường chinh mà khôi phục dân binh, thật không dễ. Tiên đế vốn muốn dân đóng tiền, chuyên tâm làm ruộng, dù có tham quan cũng không thể làm bậy. Phường trường, bến đò, quan tự bán, lấy tiền đó thuê người làm việc, dân không biết đến nạn phá sản vì vận chuyển kho tàng, đây là lợi ích muôn đời, quyết không thể đổi.

Chỉ có hai tệ: thu quá nhiều tiền dịch dư, để dùng vào việc khác; tranh mua phường trường, bến đò, làm giá ảo tăng cao. Đây là âm mưu của Vương An Thạch, Lữ Huệ Khanh, không phải ý của tiên đế. Nếu ngài bỏ hết hai tệ này mà không đổi pháp, thì dân vui mà việc dễ thành. Nay tiền dịch dư, danh nghĩa là thu hai phần, nhưng tính cả thiên hạ thì đến mười lăm phần, mà thực tế không dùng được. Nếu ngài bỏ hết năm phần này, lại cho dân được tùy tiện dùng vải lụa, gạo thóc để nộp tiền dịch, mà quan cũng lấy đó làm tiền thuê, thì nạn thiếu tiền cũng có thể bỏ hết. Như vậy mà thiên hạ thuận tiện, thì ngài còn cầu gì nữa? Nếu chưa được, từ từ bàn thêm, cũng chưa muộn.’ Quang nghe lời thần, cho là không đúng.

Thần lại nói với Quang: ‘Năm Hi Ninh, từng thi hành phép cấp ruộng mộ dịch, phép này lấy ruộng của quan và tiền dư thừa từ thuế dịch để mua ruộng dân, dùng để mộ người làm dịch, đại thể giống như phép cung tiễn thủ ở các quận biên giới. Lúc đó thần làm Tri châu Mật Châu, thi hành phép này, trước hết mộ cung thủ, dân chúng rất thuận tiện. Đây vốn là ý kiến sáng suốt của Tiên đế, nhưng thi hành chưa được bao lâu thì bị tả hữu bàn cãi khác nhau nên bãi bỏ. Nay tính sơ bộ, tiền và thóc dư thừa trong thiên hạ khoảng ba mươi triệu quan, thạch, chi dùng cho việc binh đao chỉ tiêu hao một nửa. Đây vốn là sức dân, nên trả lại cho dân dùng. Nay kho nội phủ chất đầy như núi, nếu ngài gắng sức tâu lên, đòi lại số tiền này, khôi phục đủ ba mươi triệu quan, thạch, rồi thi hành phép mua ruộng mộ dịch của Tiên đế ở ba lộ Hà Đông, Hà Bắc, Thiểm Tây, vài năm sau, số người làm dịch ở ba lộ có thể giảm đi hơn một nửa, dân lực dư dả, để phòng khi biên cương có việc khẩn cấp, đây là cái lợi muôn đời, là phúc của xã tắc vậy.’ Quang vẫn cho là không thể.

Hai việc này, thần đã có văn bản trình bày rất chi tiết về lợi hại, nay không dám nói đầy đủ. Đến ngày 6 tháng 2 năm ngoái, chiếu chỉ ban xuống, bắt đầu thực hiện lời của Quang, khôi phục lại phép sai dịch. Lúc đó, em thần là Triệt làm quan gián, dâng sớ trình bày đầy đủ, xin lấy số tiền sai dịch dư thừa hiện có để thuê người làm dịch, lấy một năm làm kỳ hạn, lệnh cho trong ngoài bàn bạc kỹ, sau đó mới lập phép. Lại nói rằng việc nha tiền có thể dùng người cũ, vẫn chi trả theo số cũ hàng tháng; tiền trọng nan lấy từ tiền phường trường, tiền qua đò, tổng kết các lộ, thông dụng chi trả. Đều không được thi hành.

Đến khi thần được cử làm người tường định phép sai dịch, thần nhân đó trình bày lại ý kiến trước của em Triệt, trước hết bàn luận phản biện với các quan lại trong cục là Tôn Vĩnh, Phó Nghiêu Dũ, sau đó ở Tây phủ và chính sự đường bàn bạc với các chấp chính, đều không được chấp thuận, bèn dâng sớ nói rõ việc nha tiền có thể thuê chứ không thể sai, phép của Tiên đế có thể giữ chứ không thể thay đổi, nhân đó xin bãi chức tường định phép sai dịch. Lúc đó, các quan đài gián nhìn nhau, đều không ai nói một lời để quyết định đúng sai. Nay việc lợi hại của phép sai dịch không dễ nói ngay được, mà việc cung thủ không được phép thuê người là điều thiên hạ cùng lo lắng.

Triều đình biết điều đó, đã thay đổi phép cho phép thuê, thiên hạ đều cho là tiện lợi, nhưng các quan đài gián vẫn nhiều lần dâng sớ tranh luận. Xem đó thì biết ý của họ chuyên muốn thay đổi phép Hi Ninh, không còn xem xét lợi hại, dùng những điều hay nữa.

Thần làm Trung thư xá nhân, Hình bộ, Đại Lý tự liệt kê lên các điều luật về việc bãi chức không được ân xá từ thời Hi Ninh đến nay, tổng cộng mấy chục điều, đều muốn xóa bỏ. Thần cùng các quan chấp sự nhiều lần tranh luận, cho rằng tiên đế đã có ý sâu xa trong việc này, không thể thay đổi hết, nhờ đó mà giữ lại được rất nhiều. Mỗi khi thần soạn các cáo từ cho các quan giám ty, thủ lệnh, đều lấy việc tuân thủ quy định của tiên đế, không dám lơ là làm răn, văn án đều còn, có thể tra xét lại. Từ đó mà xem, thần há lại là kẻ báng bổ tiên triều sao?

Thần trình bày chi tiết như vậy, không chỉ để tự minh oan, mà thực sự thấy rằng các sĩ đại phu thích đồng tình ghét dị biến, đã thành thói quen, sợ rằng bệ hạ ở trong cung, không được nghe hết những lợi hại thực sự của thiên hạ. Mong nhân lời thần, cảnh tỉnh các quan tại chức, sửa chữa những thiên lệch, bớt đi những thừa thãi, bổ sung những thiếu sót, thì thiên hạ may mắn lắm. Nếu cho thần là cuồng vọng, không biết kiêng kỵ, dù bị xử tử, thần cũng chết mà không hổ thẹn.”

[18] Ngày Tân Mùi, Phó Nghiêu Dư và Vương Nham Tẩu vào chầu, bàn về việc đề thi của Tô Thức không đúng, nói: “Từ thời Hán, Đường đến nay, có bao nhiêu đề thi, chưa từng có ai so sánh tổ tiên với các đế vương đời trước về dài ngắn. Đề thi nói: ‘Muốn noi theo sự trung hậu của Nhân Tông, thì lo rằng trăm quan không làm tròn chức trách.’ Nếu lúc đó trăm quan đều không làm tròn chức trách, không biết Nhân Tông ở trên làm gì, mà lại hoàn toàn lơ là, khiến trăm quan như vậy. Nếu quả thật như vậy, sao lại có được bốn mươi hai năm thái bình, đến nay các bậc lão thành nhắc đến, vẫn thường rơi lệ? Nhân Tông có gì phụ bạc, mà lại nói không bằng Hán Văn [đế]?”

Nghiêu Du đọc xong tờ tấu, Thái hoàng thái hậu nói: “Việc nhỏ này, không cần phải như vậy, thôi đi.” Ông đáp: “Việc này tuy chỉ là vài câu nói, nhưng liên quan đến đại thể triều đình, không phải là việc nhỏ, cần phải xử lý hợp lý.”

Lại nói: “Tô Thức không phải là chế giễu tổ tiên.” Ông đáp: “Nếu là chế giễu tổ tiên, thì tội đáng chết, thần không chỉ bàn luận như vậy. Nếu chỉ là do suy nghĩ lời nói thiếu cân nhắc, làm tổn hại đến việc lớn, cũng nên có hình phạt nhẹ. Ví như lỡ vào cửa cấm, theo pháp luật tội cũng không thể nhẹ. Tại sao? Vì sự phân biệt trên dưới giữa Vua tôi không thể không nghiêm. Nay nếu không lấy việc này làm răn, ngày sau có người chỉ trích xa giá, mà nói là do lỡ lời, cũng có thể tha thứ sao? Bệ hạ dù muốn tha, nhưng uy linh của bảy miếu tổ tiên ở trên, há có thể dung thứ!

Hôm qua các quan chấp chính ở đô đường đều nói Tô Thức sai, đã biết là sai, sao lại để triều đình làm việc sai trái? Lại sao có chuyện triều đình biết là sai, lại bắt các quan giám sát phải thôi? Nếu là việc riêng của người thường thì có thể thôi, nhưng việc triều đình thì không thể như vậy. Thần là người giữ phong hiến cho triều đình, nếu mọi lời tấu trình đều bị bảo thôi, thì còn dùng vào việc gì? Như vậy là thần đã làm hỏng phong hiến, còn mặt mũi nào giữ chức.

Đời Chân Tông, quan chế cáo Trương Bỉnh soạn một tờ chiếu bổ nhiệm quan có câu: ‘Vì chút lỗi nhỏ, bị đày ra nơi hoang vu’, Chân Tông xem xong nói: ‘Như vậy là tiên đế thất chính.’ Rồi bãi chức ông ta. Nay bàn về Tô Thức, nếu là việc riêng của thần thì có thể thôi, nhưng việc liên quan đến tổ tiên, đến triều đình, thần sao dám thôi? Triều đình nếu không xử, bị ghi vào sử sách, đời sau sẽ nhìn triều đình thế nào? Truyền ra bốn phương, tất sẽ có lòng khinh nhờn triều đình, vạn nhất sứ Liêu hỏi đến, không biết trả lời thế nào.”

Thái hậu nói: “Các quan giám sát có bè phái. Đây là ý riêng của Chu Quang Đình, các khanh theo Quang Đình đó thôi. Khi Quang Đình chưa nói, sao không nói?” Đều đáp: “Có một người nói trước, xem triều đình xử lý thế nào. Trong lúc đó nếu có sai sót, mới tiếp tục nói. Hôm qua Chu Quang Đình mới nói, triều đình có lệnh tha tội, tức là triều đình xử lý đúng, tự không cần nói. Sau thấy đổi ý, lại đảo lộn phải trái, thần mới tấu trình.” Nham Tẩu liền lấy trong tay áo ra bài sách đề của Tô Thức, chỉ vào trước rèm trình bày.

Chưa dứt lời, trong màn bỗng có tiếng quát lớn: “Không cần xem văn tự nữa!” Nham Tẩu lại dâng tờ tấu lên đọc, trong màn tỏ ra rất không đồng tình. Nghiêu Dũ nói: “Như vậy, là Thái hoàng thái hậu bênh vực Tô Thức.”

Lại có tiếng quát lớn: “Thái hoàng thái hậu có cớ gì mà bênh vực Tô Thức, lại không phải là thân thích của Thái hoàng thái hậu!”

Nham Tẩu nói: “Bệ hạ không bênh vực Tô Thức, ắt phải bênh vực đạo lý, mong bệ hạ xử sự theo đạo lý. Vừa được tuyên dụ, nói rằng quan ngôn sự có bè đảng, thần không biết có bè đảng hay không, chỉ căn cứ vào việc đúng sai mà bàn luận. Bệ hạ cũng chỉ nên xem xét việc như thế nào, nếu trong lòng nghi ngờ có bè đảng, ắt sẽ mất đi sự thật, đã mất sự thật thì khó phân biệt đúng sai.

Từ xưa, kẻ tiểu nhân muốn hãm hại người quân tử, người quân tử không có lỗi, không có cách nào khác, chỉ có thể chỉ ra là bè đảng, Vua bèn nghi ngờ, Vua đã nghi ngờ thì có thể bài xích được. Bệ hạ không thể không xem xét kỹ. Việc này là do Tô Thức khinh suất không suy nghĩ, lời nói làm tổn thương đại thể, dẫn đến bàn luận. Nếu không trị tội, thì lỗi này thuộc về bệ hạ, bệ hạ cực khổ bênh vực người này làm gì, để rồi tự chuốc lấy tiếng chê cười của hậu thế? Chức trách của đài quan là chỉ ra điều tà ác, chỉ trích kẻ nịnh hót, há lại nên vì người khác giải quyết rắc rối? Ý này xin bệ hạ xem xét.”

Trong màn nói: “Đề sách là do bên trong chọn.”

Đáp rằng: “Nghe nói dâng lên ba đề sách, hai đề là do Đặng Ôn Bá soạn, đề cuối cùng là do Tô Thức soạn. Bệ hạ đã yêu thích hư danh của ông ta, nên chọn đề của Thức, ắt hẳn chưa xem xét kỹ. Dù đã chọn, thì có hại gì cho bệ hạ? Nay đã phân biệt rõ sự việc, bệ hạ đã biết hư danh của ông ta, không muốn trị tội, là điều mê hoặc. Bệ hạ nay không muốn người ta nói xấu Thức, giả sử Tư Mã Quang còn sống, chính sự có sai lầm, không biết có nên bàn luận hay không. Thần đây chức trách là can gián, bàn luận chỉ căn cứ vào đúng sai, không dám hỏi đến người. Hỏi đến người, ắt sẽ sinh tư ý.”

Nói: “Nay sửa đổi việc của tiên đế, sao không được hỏi?”

Đáp rằng: “Sửa đổi chính sự, hình thức khác với văn tự, hơn nữa những chính sự sửa đổi hiện nay đều là khôi phục pháp chế cũ của tổ tông. Huống chi bệ hạ đã hạ chiếu cầu những nỗi khổ của dân để sửa đổi, đó là để kế thừa cái đẹp của tổ tông, không biết đề sách có cần bàn luận hay không? Bệ hạ chủ trương như vậy, thần đây lại cứng rắn nói, trái ý bệ hạ, để chịu tội, không biết thần đây có ý gì, xin bệ hạ xem xét.

Huống chi thần đây với Thức quen biết, vốn không có thù oán, chỉ biết trung thành với bệ hạ, muốn làm cho việc triều đình ngay thẳng, để thiên hạ đời sau không thể chỉ trích bệ hạ, nên không hề né tránh. Bệ hạ chỉ nên trách thần đây không nói việc, không thể răn bảo thần đây không được nói, e rằng thiên hạ thấy ý bệ hạ, sẽ âm thầm ngó nhau, không dám hết lòng trung thành với triều đình, lại không phải là phúc của triều đình.

Hôm trước triệu thần đây đến đô đường, bên ngoài không biết, đều nói là phụng thánh chỉ triệu quan đài gián để răn dạy, rất kinh động. Thần đây bị đè nén thì không đáng kể, nhưng lại làm tổn hại phong khí của triều đình, xin bệ hạ yêu quý thể thống của triều đình. Bệ hạ tiếc nuối Tô Thức thì nhỏ, nhưng tổn hại đến đường lối ngôn luận thì lớn, không thể không suy nghĩ, nơi phong khí không phải là việc riêng của thần, mà là việc nhà của bệ hạ. Bệ hạ không đề cao, thì thần đây chỉ là một kẻ thất phu mà thôi.”

Trong màn nói nghiêm khắc: “Sẽ giáng trách Tô Thức!” Nghiêu Dũ, Nham Tẩu đều nói: “Việc này thuộc về bệ hạ. Giả sử tạm giáng trách, rồi triệu lại, cũng là cách xử lý.”

Bèn nói: “Đang chờ xem xét.” Nghiêu Dũ nói: “Yêu mà biết cái xấu, ghét mà biết cái tốt, đó mới là công bằng. Nay đối đãi Thức như vậy, Thức kiêu ngạo, thì làm sao sai khiến được?”

Nói: “Sẽ để đài gián quan quyết định.” Nham Tẩu nói: “Nếu lời nói của đài gián, bệ hạ đều nghe theo, tự đủ để làm nên cái đẹp của bệ hạ, đài gián có can dự gì?”

Lại nói: “Cứ nói không sao, làm hay không làm là do bệ hạ.” Nham Tẩu nói: “Như vậy, thì những lời thuận ý triều đình mới được thực hiện, e rằng không phải là phúc của triều đình. 《Thượng thư》 nói: ‘Lời nói trái với lòng ngươi, ắt phải tìm đạo lý; lời nói thuận với chí ngươi, ắt phải tìm cái phi đạo.’ Mong bệ hạ thường xuyên xem xét như vậy, e rằng những lời thuận ý bệ hạ có chuyện phi đạo.” Nham Tẩu lại nói: “Kẻ tiểu nhân muốn phá hoại đường lối ngôn luận nhiều, bệ hạ muốn cầu đường lối ngôn luận thì khó, muốn ngăn trở thì dễ. Một khi ngăn trở, thì người ta sẽ lấy việc nói làm điều răn, e rằng bệ hạ không biết hết việc bên ngoài, mong bệ hạ xem xét kỹ.” Nghiêu Dũ nói: “Thần hết lòng thành khẩn báo với bệ hạ, bệ hạ không xem xét, cũng đành chịu, mong vì quốc gia mà suy nghĩ sâu xa.”

Bèn xuống đến đài, Nghiêu Dũ cùng Nham Tẩu bàn việc chờ tội, bèn cùng tấu rằng: “Thần đây ngày 18 tháng này tấu việc ở điện Diên Hòa, được tuyên dụ nói thần đây bè phái với gián quan Chu Quang Đình, đàn hặc việc Hàn lâm học sĩ Tô Thức soạn đề thi quán chức không đúng, thần đây lầm lỡ nhận ơn sâu, trên phụ nhiệm sứ, không dám đến đài làm việc, xin chờ khiển trách.” Từ ngày 19, mỗi người ở nhà, sau đó lại giáng xuất tờ tấu của Nghiêu Dũ, Nham Tẩu giao cho tam tỉnh.

(Ngày 22 tiến trình. Vương Nham Tẩu bàn luận trong triều về việc ngày 18 vào chầu bàn việc thời sự[8]. Lúc đầu rất sơ lược, đến ngày 27 sau khi nhận chức, mới kể lại lời nói khi vào chầu lần đầu, mới thêm chi tiết, nhưng văn tự đổi chỗ, có nhiều chỗ khác nhau, nhưng thực chất không khác. Nay tham khảo, cắt bớt và sửa chữa, chỉ làm thành một đoạn, để dễ xem xét. Vì ngày 23 đã ban chỉ thị cho các chức vụ, ngày 25 ba người đều chờ đến lượt vào chầu, ngày 27 lại cùng vào tạ ơn, chưa chắc đã được vào chầu, cũng không có cơ hội nói lại nhiều như vậy nữa.)

[19] Tư phong viên ngoại lang Thịnh Kiều làm Quốc tử tư nghiệp. Quốc tử tư nghiệp trước đây chỉ có một người, đến nay lại tăng thêm một người, Kiều cùng Hoàng Ẩn cùng giữ chức vụ này.

(Tô Thức soạn chiếu thư rằng: “Tiên đế mở mang trường học mới để nuôi dưỡng nhiều kẻ sĩ, trải qua nhiều năm, học giả tụ tập như mây, nhiệm vụ của thầy Nho cũng rất quan trọng. Vì thế tăng thêm chức quan Lạc chính để chủ trì việc giáo dục.”)

[20] Điện trung thị ngự sử Lã Đào tâu: “Gần đây từng đàn hặc Quốc tử tư nghiệp Hoàng Ẩn học vấn nông cạn, tư cách gian tà, hành xử không biết nghĩa, việc làm không theo công đạo, chốn giáo hóa không phải nơi ông ta nên ở, xin bãi chức Hoàng Ẩn, nhưng chưa được thi hành. (Chương tấu trước của Lã Đào phụ vào cuối tháng 10.)

Thần xét: Hoàng Ẩn chiếm giữ chức vụ giáo dục, không thể dạy dỗ học trò, hành vi tư lợi khiến mọi người không phục, tiếng chê cười vang khắp trường học. Gần đây khảo hạch bài thi riêng, không bàn bạc với Tế tửu, Bác sĩ mà tự ý quyết định, đề bạt con rể là Trương Nhữ Minh lên hạng nhì. Việc thăng giáng phần nhiều do ý mình, đều là những việc như thế.

Kính nghĩ thời thịnh trị, chọn người làm quan phải xét danh thực, ai nấy đều xứng chức, dù là việc nhỏ như sổ sách gạo muối cũng không dám giao bừa, nếu có sai phạm ắt bị luận tội. Huống chi chức quan làm gương, là nguồn cội của phong hóa, lại để kẻ tư lợi gian trá chiếm giữ lâu ngày, thì sĩ tử noi theo gương nào? Thần dân khuyến khích điều gì? Xin xét lại chương tấu trước và lời tâu nay của thần, sớm ban hành để thỏa lòng công luận.”

Lại tâu: “Hoàng Ẩn bình ngày xu nịnh vô độ, đáng bãi chức, huống chi nay Thịnh Kiều đã được bổ làm Tư nghiệp, thì Hoàng Ẩn không thể tiếp tục ở chức vô dụng, làm nhục trọng trách giáo dục. Xin sớm thi hành.”

Lâu sau, Hoàng Ẩn bị giáng làm Hồng lư thiếu khanh.

(Chính mục ghi ngày 15 tháng 8 Hoàng Ẩn đổi làm Hồng lư thiếu khanh, nhưng Thực lục không chép. Tập của Tằng Triệu có chế từ nói: “Lời chê nhiều, sĩ tử không phục.” Chu Vô Hoặc trong 《Bình Châu khả đàm》 nói: “Hoàng Giáng trùng tên với tể tướng đương thời là Hàn Giáng, nên đổi tên thành Ẩn, bị dư luận chê trách.” Xét: Hoàng Giáng vào tháng giêng năm Nguyên Phong thứ 5 được bổ làm Giám sát, tháng 5 năm thứ 8 thăng Điện trung, ngày 25 tháng 12 đổi làm Tư nghiệp, đều không phải lúc Hàn Giáng làm tể tướng. Lại nữa, “Giáng”“Giáng” tuy đồng âm nhưng khác chữ, e rằng lời Chu Vô Hoặc chưa đáng tin. Ngày 15 tháng 8, Đinh Chất nói nên xét thêm. 《Đăng khoa ký》 chép: Hoàng Giáng, người Khai Phong, đỗ thứ tư khoa thi năm thứ 4 niên hiệu Trị Bình.)

[21] Triều phụng đại phu Chương Tiết được bổ nhiệm làm Lại bộ lang trung.

Ngự sử Tôn Thăng tâu rằng: “Chương Tiết từ chức Thành đô phủ lộ chuyển vận phó sứ được bổ nhiệm chức này. Xét: Tiết trước đây giữ chức Kinh Hồ Bắc lộ đề điểm hình ngục ty, nội thần Cam Thừa Lập tại lộ này làm nhiều việc tham bạo bất pháp, tàn hại nhân mạng gần nghìn người. Thần gần đây nghe nói tăng nhân Thanh Nguyện ở huyện Công An, đã đến Kinh Nam trình bày việc thu thập hài cốt của hàng trăm người thợ vô chủ bị Thừa Lập hành hạ đến chết tại nơi đúc tạo đồ dùng cung đình, đã chôn cất họ trong một ngôi mộ lớn. Người nghe chuyện trên đường không ai là không đau xót phẫn nộ. Lẽ nào có bậc nhân thánh ở trên mà kẻ tiểu thần như Thừa Lập lại dám tàn hại nhân mạng đến thế!

Thực ra là do Chương Tiết ở lộ này đã nịnh bợ Thừa Lập để mong được tiến cử, tùy ý thăng giáng, không gì là không làm. Quan lại trong bộ hơi trái ý Thừa Lập, Tiết liền lấy việc khác để hặc tội họ, nên Thừa Lập mới dám tùy ý hành hạ người, không chút kiêng sợ, đều là do Tiết gây ra. Thần nghĩ rằng chức trách của Chương Tiết là xét án oan khuất hình ngục của một lộ, thân là tai mắt của triều đình ở ngoại đài, lại ngồi nhìn Thừa Lập tàn hại tính mạng dân lành, dung túng cho hắn, tạo thành tội ác, không tâu lên trên, xét tội của Tiết còn nặng hơn Thừa Lập.

Nay Thừa Lập tuy bị đày đến Lĩnh Biểu, nhưng chưa đủ để đền một phần vạn mạng oan, mà Chương Tiết lại được bỏ qua không xét, lại còn được thăng chức tiến dụng, thì làm sao để trừng trị kẻ tiểu nhân ác độc, làm gương cho người sau? Kính mong Thánh từ xét kỹ, đặc biệt hạ chỉ bãi chức, để an ủi oan hồn kẻ sống và người chết.” Chương Tiết sau đó được bổ làm Tri châu Việt.

(Ngày 22 tháng 4, được bổ làm Tri châu Việt, có lẽ là chưa biết đã đổi mệnh lệnh.)

[22] Triều tán lang Hoàng Cảnh được bổ làm Chức phương viên ngoại lang. Trước đây, Văn Ngạn Bác tiến cử Sở Kiến Trung, Lý Chi Thuần, Đường Nghĩa Vấn, Phạm Dục, Đỗ Thuần và Hoàng Cảnh tổng cộng sáu người. Lúc đó Hoàng Cảnh đang làm Tri châu Hoài, Đỗ Thuần và những người khác đều được thăng chức, Ngạn Bác lại tiến cử Hoàng Cảnh, nên có mệnh lệnh này.

(Điều này được thêm vào dựa trên tấu chương của Ngạn Bác.)

[23] Hiệu thư lang Hoàng Đình Kiên được bổ làm Trứ tác tá lang.

[24] Quyền Tri châu Thiểm Châu Trần Đồng được bổ làm Trực bí các, Tri châu Tử Châu, nhưng Đồng từ chối.

(Cuối tháng 6, Lã Đào có nói đến việc này, có thể tham khảo.)

[25] Chiếu cho xem xét Sở Tố Lý: “Những việc công do các cơ quan trong và ngoài triều xử đoán trước ân xá Minh Đường năm Nguyên Hựu thứ nhất, nếu tình tiết có thể thương xót, đều cho phép trong thời hạn quy định nộp đơn tố cáo, theo chiếu trước mà xem xét.”

(Chính mục nói, chiếu cho Sở Tố Lý kéo dài đến trước ân xá Minh Đường năm Nguyên Hựu.)

[26] Chiếu: “Tiền trợ dịch chỉ được dùng để chi trả phí tổn cho người làm dịch, cuối năm phải tâu trình số còn dư.”

(Chính mục ngày 18, Tân lục và Cựu lục đều không có, cần xem xét kỹ để bổ sung.)

[27] Ngày Nhâm Thân, chiếu: “Các điều khoản trong sách xá Minh Đường rất nhiều, đều nhằm khoan hồng cho dân chúng. Lo rằng quan lại thi hành chiếu chỉ không nghiêm, các Lộ Chuyển vận ty và Khai Phong phủ giới Đề điểm hình ngục ty phải phân công kiểm tra các địa phương thuộc quyền, xử lý những người không tuân lệnh. Nếu Giám ty vi phạm hoặc lơ là, phải giám sát lẫn nhau và tâu lên.”

(Cựu lục có việc này, Tân lục lại không chép.)

[28] Ngày Giáp Tuất, khôi phục trấn Tân Hương thuộc Vệ Châu thành huyện.

[29] Điện trung Thị ngự sử Tôn Thăng tấu:

(Biên loại chương sớ vào ngày 21 tháng giêng năm thứ 2.)

“Thần nghe người xưa có câu rằng: ‘Vũ Vương thẳng thắn mà hưng thịnh, Kiệt, Trụ im lặng mà diệt vong.’ Một kẻ sĩ thẳng thắn, há đủ làm nên sự hưng thịnh của nhà Chu? Một người im lặng, sao có thể khiến nhà Hạ, nhà Thương mau chóng diệt vong? Đó là do tích lũy lâu ngày vậy. Tại sao? Vì lời thẳng thắn được thông suốt thì nạn bưng bít che đậy được trừ bỏ. Nạn bưng bít che đậy được trừ bỏ thì lời trung ngày càng được nghe, lời trung ngày càng được nghe thì biến cố được ngăn chặn từ khi chưa xảy ra, họa hại tiêu tan từ khi chưa manh nha.

Kinh Thi nói: ‘Nhiều kẻ sĩ tài giỏi, Văn Vương nhờ đó mà yên ổn.’ Vậy sự hưng thịnh ấy, chẳng phải là đúng lắm sao? Phong khí im lặng kéo dài thì nạn bưng bít che đậy hình thành. Nạn bưng bít che đậy hình thành thì lời trung không được nghe. Lời trung không được nghe thì biến cố xảy ra bất ngờ, họa hại đến khi đã thành sự thật.

Kinh Thi nói: ‘Dù không có người già cả, còn có phép tắc, nhưng chẳng nghe theo, mệnh lớn đã nghiêng đổ.’ Vậy sự diệt vong ấy, chẳng phải là đúng lắm sao? Nạn bưng bít che đậy làm tổn hại quốc gia, mối họa như thế, nên nhà Tần dù hùng mạnh, thành trì kiên cố ngàn dặm, nghiệp đế vương truyền cho con cháu muôn đời, nhưng Triệu Cao chỉ trong gang tấc, lấy hươu làm ngựa, thì bốn biển chín châu xa xôi, lấy loạn làm trị, lấy yên làm nguy, lấy trắng làm đen, lấy hiền làm ngu, thật chẳng có gì lạ. Vì thế dân cùng khổ mà Vua không thương xót, dưới oán hận mà trên không biết, phong tục đã loạn mà chính sự không sửa, đó là cực điểm của nạn bưng bít che đậy, và cũng là lý do nhà Tần diệt vong.

Sự trị loạn của đời, hệ ở sự tiêu trưởng của quân tử và tiểu nhân trong ngoài mà thôi. Trong thiên hạ, quân tử ít mà tiểu nhân nhiều, quân tử thường lo ở ngoài, tiểu nhân thường lo ở trong, nên từ xưa đến nay, thời trị ít mà thời loạn nhiều. Vậy thì trong triều đình có quân tử, há chẳng quý sao!

Kính nghĩ rằng từ khi hai Thánh lâm ngự đến nay, mở đầu con đường ngôn luận, dùng người chính trực, những người trung tín đoan chính, hào kiệt tuấn vĩ trong thiên hạ đều được thu dụng, không bỏ sót ai. Sự thịnh vượng về nhân tài trong thời cận đại, chưa từng có như ngày nay. Người quân tử ngày càng tiến bộ, kẻ tiểu nhân ngày càng lui bước, đạo chính ngày càng lớn mạnh, tà ác ngày càng tiêu tan, trong triều đình đông đúc có phong khí như thời Thành Chu, đó là hiệu quả của việc mở đầu con đường ngôn luận. Thần ngu muội bất tài, gặp thời minh sáng, được giữ chức ngôn quan, từng được ban đối đáp, vâng theo đức âm, khiến thần được nói hết lời không ngại ngùng, dù có sai sót, Thánh từ vẫn bảo vệ. Thần kính phục lời dạy, cho rằng ý muốn cầu ngôn trị quốc của các bậc thánh đế minh vương xưa nay, không vượt quá điều này.

Kính nghĩ rằng Hoàng đế bệ hạ im lặng không nói, Thái hoàng thái hậu bệ hạ nghe chính sự qua rèm. Một ngày vạn việc bận rộn, bốn biển chín châu xa xôi, ở sâu trong cung cấm, những người cùng làm việc chỉ là các nguyên lão trong nước và các đại thần chấp chính. Nếu những người này đều công chính vô tư, xử lý mọi việc đều hợp lý, thì còn cần mở rộng tai mắt, ngăn ngừa từ nhỏ, huống chi họ chưa thể đều công chính vô tư, xử lý mọi việc đều hợp lý, mà bệ hạ lại đặt nghi ngờ về việc kết đảng, mở ra kẽ hở cho tiểu nhân. Một khi nghi ngờ nảy sinh, lời gièm pha tất nhiên xuất hiện, khiến người quân tử không thể tránh khỏi bị hại, và người nói không yên lòng với chức vụ của mình. Người nói không yên lòng với chức vụ, thì lời bàn về bè phải sẽ thắng thế, lời khoe khoang chiếm công sẽ len lỏi vào, dù Thánh thính cũng không thể không nghi ngờ. Thánh thính nghi ngờ, thì sự che lấp tất dẫn đến chán ghét lời nói. Chán ghét lời nói thì phong khí im lặng nảy sinh, tai họa bưng bít xuất hiện, lời trung không còn được nghe nữa. Thần e rằng đây không phải là phúc của triều đình.

Thần vô cùng lo sợ, mong bệ hạ suy nghĩ sâu xa về lời răn dạy của cổ nhân, không bỏ lời dạy trước đây, bỏ đi lòng nghi ngờ về kết đảng, đối đãi với người quân tử đoan chính, không để phong khí im lặng nảy sinh, tai họa bưng bít xuất hiện, thì thiên hạ thật may mắn. Kính mong Thánh từ lưu tâm nghe xem. Thần vô cùng khẩn thiết, bày tỏ hết lòng can đảm, kích thiết chờ tội.”

Dán tờ vàng: “Ngự sử trung thừa Phó Nghiêu Dũ trải qua bốn triều, đầu bạc một tiết, ngay thẳng đoan chính, trong ngoài đều biết, ắt không a dua với gián quan để phụ lòng bệ hạ, tự làm ô uế thanh danh cả đời. Thị ngự sử Vương Nham Tẩu cứng cỏi không khuất phục, được đề bạt sử dụng, đều do thánh ý, ắt không a dua với gián quan để phụ lòng bệ hạ, tự chuốc lấy sự ruồng bỏ.”

[30] Ngày Ất Hợi, Thừa nghị lang, Bí các hiệu lý Trương Thuấn Dân được bổ làm Giám sát ngự sử. Theo đề cử của Ngự sử phủ.

[31] Quốc tử giám thừa Trương Hối được bổ làm Chính tự.

[32] Tuyên đức lang Trần Liệt được miễn chức trí sĩ, sung vào chức Phúc Châu châu học giáo thụ. Quan giám ty bản lộ tâu rằng Trần Liệt tuy già nhưng còn khỏe, xin được giao thêm việc, nên có chiếu này.

[33] Kinh lược an phủ, đô kiềm hạt ty Quảng Nam Đông lộ tâu: “Tây nhiễm viện sứ, kiềm hạt bản lộ Dương Tòng Tiên thân chinh dẫn quân chiêu mộ, bắt được thủ lĩnh giặc Sầm Thám cùng đồ đảng.”

Chiếu rằng: “Người trực tiếp bắt được Sầm Thám được phong làm Tây đầu cung phụng quan, lại ban thưởng hai trăm vạn tiền, lệnh cho kinh lược an phủ ty báo tên lên; công trạng bắt giặc của các quan lại khác, nhanh chóng kê khai lên, sẽ xét mức độ ban thưởng. Dân chúng các châu Tân Châu, Nam Ân Châu, huyện Tân Hội vì đốt hương cầu phúc, vào núi tránh giặc bị giết hoặc trúng độc chết, thuế má và nợ nần chưa đóng năm Nguyên Hựu thứ nhất đều được miễn, lại lấy tiền gạo thường bình cứu tế gia đình họ. Những người khác vì bắt giặc mà bị giày xéo nhà cửa ruộng vườn, hoặc bị quấy rầy ảnh hưởng sinh kế, cũng được miễn một nửa, đều được cứu tế. Những việc trong chiếu chỉ chưa nói hết, lệnh cho so sánh thi hành xong rồi báo lên.”

(Truyện Tưởng Chi Kỳ đã ghi, xem ngày 22 tháng 11 năm thứ nhất.)

[34] Hình bộ tâu, xin lấy Nam Kinh, các châu Vận, Duyễn, Tào, Từ, Tề, Bộc, Tế, Đơn, Nghi, Hoạt, Thiền, Bác, Thương, Bạc, Thọ, Hào, Tứ, Túc, Nam Kiếm, Đinh, Kiến Châu, các quân Hoài Dương, Quảng Tế, Thiệu Vũ, các huyện Đông Minh, Khảo Thành, Trường Viên thuộc phủ Khai Phong, các huyện Cự Lộc, Bình Hương thuộc châu Hình, các huyện Kê Trạch, Bình Ân, Phì Hương thuộc châu Minh làm địa phương áp dụng luật nặng. Được chấp thuận.

[35] Ngày Ất Hợi, ba tỉnh dâng tấu chương của Phó Nghiêu Dũ và Vương Nham Tẩu bàn về Tô Thức. Có vị quan chấp chính muốn ban chỉ dụ nói rõ Tô Thức sai trái, nhưng Thái hoàng thái hậu không nghe, bảo rằng: “Tô Thức, Nghiêu Dũ, Nham Tẩu và Quang Đình đều bị đuổi.” Các quan chấp chính tranh luận cho rằng không nên.

[36] Ngày Bính Tý, ban chiếu: “Đề thi do Tô Thức soạn vốn không có ý châm biếm tổ tông, lại từ trước đến nay các quan ty thi cử cũng không có việc bình luận về chính thể của tổ tông. Đó là do Học sĩ viện sơ suất không kiểm tra kỹ. Tấu chương này cùng Học sĩ viện đều biết, lệnh cho Tô Thức, Phó Nghiêu Dũ, Vương Nham Tẩu, Chu Quang Đình mỗi người nhanh chóng trở lại chức vụ cũ.” Đây là theo ý kiến của Hữu bộc xạ Lữ Công Trước.

[37] Đồng tri Xu mật viện Phạm Thuần Nhân cũng tâu: “Tô Thức chỉ là khi viết văn tình cờ sơ suất, vốn không có tội. Nghe nói người bàn luận chưa dừng, lo sợ làm phiền thánh thượng, e rằng bệ hạ sẽ có cách xử lý khác. Thần vì được ơn sâu, tuy không phải việc của mình, nhưng không tránh tội vượt quyền, dám tâu trình. Việc này nếu nghe vì lời nói nhỏ mà dẫn đến việc công kích lẫn nhau, tệ hại sẽ ngày càng lớn, kính mong thánh thượng xem xét kỹ. Ý chỉ triệu đến tuyên dụ, chỉ mong rằng triều đình vốn đặt chức gián quan là để bổ khuyết cho triều đình và ngăn chặn gian tà hại chính, nay bề tôi có lỗi nhỏ, vốn không có ác tâm, quan ngôn chức không cần bàn luận sâu. Nếu họ tự nhận lỗi xin từ chức, thì nói rằng triều đình không muốn vì việc nhỏ mà để mất người nói thẳng, các ngươi nên cùng nhau hoàn thành việc tốt của triều đình, thì họ chắc chắn không dám nói gì khác. Với sự thông minh của bệ hạ, suy nghĩ chắc đã thấu đáo, mà thần dám mạo muội trình bày, cũng vì lòng thành lo lắng, không thể tự kiềm chế.”

[38] Ngày Bính Tý, Điện trung thị ngự sử Tôn Thăng dâng tấu:

(Biên loại chương sớ năm thứ hai, tháng giêng, ngày 23.)

“Thần trộm xem xét thời kỳ trị vì cực thịnh của Vua Nghiêu, Vua Thuấn, lòng trung hậu đến mức cao nhất, nên nói rằng ‘tha thứ lỗi lầm dù lớn đến đâu’, mà Mạnh Tử cho rằng ‘lỗi lầm của bậc quân tử, giống như nhật thực, nguyệt thực. Khi phạm lỗi, mọi người đều thấy; khi sửa đổi, mọi người đều ngưỡng mộ.’ Bậc quân tử không may mà phạm lỗi, còn kẻ tiểu nhân thì không đi đâu mà không làm điều ác. Lỗi lầm dù lớn, cũng không làm hại đến bản chất quân tử; việc ác dù nhỏ, cuối cùng vẫn thuộc về kẻ tiểu nhân. Sửa lỗi mà không tiếc, thì sẽ trở thành người có đức; tích tụ điều ác mà không che giấu, thì sẽ trở thành kẻ đại gian. Lỗi lầm có thể tha thứ, nhưng việc ác thì không thể dung thứ.

Thần thấy Hàn lâm học sĩ Tô Thức trước đây soạn đề thi cho kỳ thi tuyển chức quan, trong đó có câu ‘muốn noi theo lòng trung hậu của Nhân Tổ, nhưng lo rằng trăm quan và các cơ quan không làm tròn chức trách, mà có khi trở nên lười biếng’, tuy nỗi lo nằm ở trăm quan và các cơ quan, nhưng đoạn sau lại nói ‘Hiếu Văn là bậc khoan hậu trưởng giả, đến mức trong triều đình, người ta xấu hổ khi nói đến lỗi lầm của người khác, mà không nghe thấy có tình trạng lười biếng, sa sút không làm tròn chức trách’, như vậy là chính sách của Nhân Tổ có vấn đề.

Lại có câu ‘muốn noi theo sự tinh tế của Thần Khảo, nhưng lo rằng các giám ty, thủ lệnh không hiểu ý, mà dẫn đến sự khắc nghiệt’, tuy nỗi lo nằm ở các giám ty, thủ lệnh, nhưng đoạn sau lại nói ‘Hiếu Tuyên xét kỹ danh thực, đến mức các bậc văn nhân đều tinh thông năng lực của mình, mà không nghe thấy có sự giám sát quá mức’, như vậy là chính sách của Thần Khảo có sai sót.

Hơn nữa, vừa muốn noi theo tổ tiên, lại khen ngợi hết lời chính sách của Hiếu Văn, Hiếu Tuyên là không có vấn đề và sai sót, như vậy là nói rằng bên kia không có vấn đề, thì bên này ắt có vấn đề, khen bên kia không có sai sót, thì bên này ắt có sai sót, như vậy thì lời lẽ của Tô Thức há có thể nói là không có lỗi lầm sao?

[39] Tô Thức từng ứng thí khoa Phương chính trực ngôn, văn từ sắc sảo, viết nhanh như chảy, không né tránh điều đáng ngờ, nên để lại dấu vết. Nếu cho rằng Thức có ý châm biếm, thì Thức đâu phải kẻ mất trí điên cuồng, sao lại đến mức ấy? Thần trộm nghĩ Tô Thức tự nhận lỗi về cách dùng từ, đó là đức tính quân tử sửa lỗi không ngại, noi theo đức của Thành Thang. Bệ hạ vì lỗi dùng từ của Tô Thức mà hạ lệnh tha tội, đó là lòng nhân hậu tột bậc, tha lỗi lớn, thực hành nhân đức của Nghiêu, Thuấn. Đức của Vua tôi, há chẳng tốt đẹp sao! Thể thống triều đình, há chẳng chính đáng sao!

Thần nghe nói Tô Thức ở nhà không ra, xin từ chức đến bốn, năm lần. Lại tự biện hộ cho lỗi của mình, không tự nhận là sai, thì trái với đức tính sửa lỗi không ngại. Bệ hạ nhân từ yêu kính, thu hồi lệnh tha tội, để chứng minh Thức không có lỗi, nếu chỉ bao dung trong nhất thời thì được, nhưng sao tránh khỏi sự bàn tán của thiên hạ sau này? Thần ngu muội, rất lấy làm tiếc cho triều đình.

[40] Thần ngu bất tiêu, đãi tội ngôn chức, là bề tôi tai mắt của bệ hạ, ở nơi kỷ cương triều đình. Đang lúc thị phi nổi lên, mà không nói một lời, không phải là mưu tính im lặng để cầu an. Thần cho rằng lỗi về văn từ, người quân tử ai cũng có, không cần biện bạch nhiều, mà lẽ thị phi rõ ràng như trắng đen.

Bệ hạ rất sáng suốt, thấu hiểu mọi việc, mà các bậc nguyên lão trong nước, các đại thần chấp chính, đều là người mà thiên hạ cho là công trung chính trực, ắt không có lời bàn yêu ghét riêng tư để mê hoặc thánh thính. Còn Tô Thức vì lỗi thông minh sắc sảo, mắc lỗi về lời nói, cũng không hại gì đến việc làm người quân tử, thì thần còn nói gì nữa.

Nay thì không phải vậy. Ngự sử trung thừa Phó Nghiêu Dũ, thị ngự sử Vương Nham Tẩu vì tâu bàn về việc tha tội, mà bệ hạ nghi ngờ cho là bè đảng với các quan gián, lại cho Tô Thức là không có lỗi. Nghiêu Dũ, Nham Tẩu ở nhà chờ tội, mà các bậc nguyên lão, đại thần không có lời bàn cứng cỏi để phân biệt thị phi, chỉ hạ chiếu bảo Nghiêu Dũ, Nham Tẩu trở lại làm việc. Việc đi ở của hai người này thực hệ trọng đến quốc thể, nếu lệnh tha tội còn lưu lại chưa ban xuống, thì hai người ấy còn mặt mũi nào mà ra? Thể thống triều đình lấy đâu mà chính đáng?

Thần trong lúc này, há lại ngồi yên lặng nhìn, để phụ sự ủy thác làm tai mắt kỷ cương của bệ hạ sao? Kính mong bệ hạ xét kỹ lời nặng nhẹ của Hán Văn, Hán Tuyên, xem xét đức độ tha lỗi sửa lỗi của Nghiêu, Thuấn, Thành Thang, sớm ban xuống lệnh tha tội trước đây, để trọn vẹn cái đẹp của Vua tôi, để chính đáng thể thống triều đình, thì thiên hạ may mắn biết bao!”

(Tuy Thăng có tấu này, nhưng Nghiêu Dũ, Nham Tẩu đã vâng chiếu liền ra làm việc, đến ngày 27 mới vào tạ ơn, nay phụ chép việc này, không chép riêng.)

[41] Ngày Đinh Sửu, Triều tán đại phu, Tri Từ Châu Dương Hội được phục chức Thiên Chương các đãi chế. Hội trước đây từ chức Hàn lâm học sĩ bị giáng tội, đến nay nhờ đại xá mà được khôi phục.

[42] Binh bộ lang trung Đỗ Thường làm Quang lộc thiếu khanh. Thái thường thừa Cổ Dịch làm Binh bộ viên ngoại lang.

[43] Chiếu lấy Hữu bộc xạ kiêm Trung thư thị lang Lữ Công Trước làm Lễ nghi sứ phụng an ngự dung Thần Tông hoàng đế ở Cảnh Linh cung, Đô tri Nhập nội nội thị tỉnh Trương Mậu Tắc làm Đô đại quản câu.

[44] Long Đồ các Trực học sĩ, Chính nghị đại phu Trương Sân mất.

[45] Ngày Mậu Dần, Đoan Minh điện học sĩ, Lại bộ Thượng thư Tôn Vĩnh được bổ làm Tư chính điện học sĩ kiêm Thị độc, Đề cử Trung Thái Nhất cung kiêm Tập Hi quan công sự, lập ban đeo ngư bài theo lệ của Tư chính điện Đại học sĩ Hàn Duy. Ba ngày sau, Tôn Vĩnh mất, được tặng chức Ngân Thanh Quang Lộc đại phu, thụy là Khang Giản.

(Tôn Vĩnh mất ngày 28, nay phụ chép. Cựu lục truyện Tôn Vĩnh chép: “Khi ấy Tư Mã Quang thay đổi pháp lệnh miễn dịch, Tôn Vĩnh có tham gia. Trước đó, Tạ Cảnh Sơ làm Đề điểm hình ngục phủ lộ Thành Đô, vì tội thông dâm với kỹ nữ bị miễn chức. Năm Nguyên Hựu, lập Tố lý sở, Tôn Vĩnh cho rằng tội của Cảnh Sơ là bị vu cáo, nên minh oan cho ông ta, được thăng làm Lại bộ Thượng thư. Theo phép tuyển chọn đời Nguyên Phong, dựa vào số lượng người tiến cử nhiều hay ít để xếp thứ bậc. Đến lúc này, Tôn Vĩnh xin đổi lại không dựa vào số lượng người tiến cử, mà căn cứ vào thứ tự đến tuyển chọn, sĩ luận không đồng tình.”

Tân lục biện rằng: “Xét: Tôn Vĩnh trải qua nhiều chức vụ trong triều ngoài nội, việc ông làm Lại bộ Thượng thư là do thứ tự tuyển chọn, không phải vì minh oan cho Tạ Cảnh Sơ. Phép tuyển chọn dựa vào số lượng người tiến cử sẽ làm tăng thói cạnh tranh, nên Tôn Vĩnh xin đổi phép.” Nay xóa bỏ từ “Khi ấy Tư Mã Quang” đến “sĩ luận không đồng tình.”)

[46] Hình bộ Thượng thư Tô Tụng được bổ làm Lại bộ Thượng thư.

[47] Ngày Kỷ Mão, Tả Gián nghị đại phu kiêm Quyền Cấp sự trung Tiên Vu Sân tâu: “Ty Đốc Thôi Cương Bát Phát Thái Hà đốc thúc việc vận lương từ Kinh Tây, Hoài Nam về cung ứng trong kinh, nửa năm không thể hoàn thành một chuyến vận chuyển. Xin lệnh cho Ty Thôi Cương thống nhất xét các huyện đạo, đặt ra phép thưởng phạt, để mọi người tự gắng sức.” Theo lời tâu.

[48] Công bộ Thị lang Vương Khắc Thần được bổ làm Đề cử Vạn Thọ quan, vì Khắc Thần xin về hưu.

[49] Tuyên Đức lang Dương Quốc Bảo được bổ làm Thái thường Bác sĩ.

(Lưu Chí nói thêm.)

[50] Ngày Tân Tỵ, chiếu cho Trung thư Xá nhân Tô Triệt, Lưu Ban biên soạn ngự chế của Thần Tông hoàng đế.

[51] Điện trung thị ngự sử Tôn Thăng tâu rằng:

(Lời tâu của Thăng không rõ thời điểm, xin cân nhắc ghi chép vào đây. Chỉ dụ ngày 18 tháng 9 năm Nguyên niên, cùng với việc gần đây có đề xuất thu tiền dịch từ các làng xã, hai việc này cần xem xét.)

“Thần trước đây vâng theo chỉ dụ triều đình ngày 6 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất, Tư Mã Quang dâng tấu trình bày năm tác hại của việc miễn dịch đối với thiên hạ, lời lẽ khẩn thiết, khiến Thánh ý cảm động, lập tức thi hành, bãi bỏ toàn bộ chính sách miễn dịch trong thiên hạ, và thực hiện theo quy định về sai dịch trước năm Hi Ninh thứ nhất. Ngày ban lệnh, người dân khắp nơi đều vui mừng, lại còn đày Lữ Huệ Khanh đến Mân, cáo buộc ông ta là người đầu tiên đề xuất chính sách thanh miêu, sau đó thực hiện trợ dịch. Như vậy, tác hại của miễn dịch đối với thiên hạ, Bệ hạ đã biết rõ, chiếu lệnh đã tuyên bố rõ ràng, vì dân chúng mệt mỏi mà thay đổi, há chẳng phải là điều cần thiết sao?

Thần từng tâu trình, cho rằng Bệ hạ dựa vào lời bàn chính đáng của bậc lão thành, khôi phục lại pháp chế sai dịch trăm năm của tổ tông, an ủi dân chúng, cứu giúp kẻ khốn cùng, trong ngoài đều vui mừng, trên dưới đều hoan hỷ. Thần lại nói: Hiện nay sức dân đã kiệt quệ, không thể so với mười lăm năm trước, cần phải linh hoạt tùy nghi, cân nhắc thi hành, thì mọi người sẽ không có ý kiến khác.

Thần trộm nghĩ rằng, tổ tiên hơn trăm năm đức trạch sâu dày, thấm nhuần trong lòng dân, không gì khác ngoài việc biết cách làm cho nước giàu bằng cách tích trữ của cải nơi dân mà thôi. Dân không có của cải thì không thể sống, nước không có của cải thì không đủ để giàu, mà tiền là phép tắc tròn trịa, lưu thông của cải giữa trên dưới, lại không phải là thứ sinh ra từ đất, cũng không phải là thứ dân có thể làm ra được.

Hàng hóa trăm vật sinh ra từ núi rừng, đồng ruộng, bán ra ở thành quách, tích trữ trong kho tàng, rồi lưu thông bằng tiền, không thể làm no cơn đói, ấm cơn lạnh cho người được. Kẻ trị nước không lấy sức dân, mà lấy của dân bằng tiền, thì hàng hóa trăm vật không có chỗ tiêu thụ, mà dân sẽ lâm vào cảnh cùng cực. Dân thành quách và dân làng quê cùng nuôi sống lẫn nhau, thành quách có của cải dư thừa thì hàng hóa trăm vật có chỗ tiêu thụ, làng quê có sức lực dư thừa thì hàng hóa trăm vật không thiếu thốn, thành quách giàu thì nước giàu.

Tiền lưu thông ở dưới, thì có thể cùng nuôi sống lẫn nhau; tiền tích trữ ở trên, thì cuối cùng không sinh sôi nảy nở gì. Kẻ trị nước không tích trữ của cải nơi dân, mà gom về kho tàng, đó là lý do khiến của cải hao kiệt, trên dưới oán hận lẫn nhau.

Tổ tiên hơn trăm năm, các bậc thánh hiền đã vạch ra kế hoạch kinh tế, tài chính để nuôi dưỡng đất nước, cung cấp cho quân đội, phòng bị biên giới, chính sách rất chi tiết. Tuy nhiên, pháp luật về sai dịch chỉ áp dụng ở nông thôn mà không áp dụng ở thành thị, không phải vì không biết rằng người thành thị sống thoải mái còn dân nông thôn thì vất vả. Khi đất nước yên bình, người thành thị ngày đêm kinh doanh không ngừng, lưu thông hàng hóa, bán các loại sản phẩm để nuôi sống dân nông thôn, họ làm việc mà không biết mệt, vui vẻ mà không chán.

Tuy nhiên, mọi tấc đất đều thuộc về nhà nước, mọi người dân đều là thần dân của triều đình. Triều đình đối với dân chúng như cha đối với con, tài sản của cha con không nên chia cách, vì thế người xưa nói chưa từng nghe con giàu mà cha nghèo. Khi triều đình gặp khó khăn, sẽ tính toán chi phí nhiều ít, tùy theo mức tích lũy mà thu đều từ dân. Dân chúng trong thiên hạ đều biết rằng việc sử dụng tiền không phải vì tư lợi, việc thu thuế không phải vô cớ, nên vui vẻ nộp thuế mà không oán hận. Đó là cách tổ tiên ta tích trữ của cải trong dân. Người xưa nói: “Thà có kẻ trộm còn hơn có kẻ tham ô.” Vì kẻ trộm lấy của người còn có lúc dừng, may ra còn tránh được, còn kẻ tham ô thì không bao giờ dừng, nhất định sẽ đến lúc cạn kiệt mới thôi.

Nay theo chỉ dụ ngày 18 tháng 9 năm Nguyên Hựu thứ nhất, các thành thị từ hạng năm trở lên, cùng với hộ đơn đinh, hộ nữ, chùa chiền từ hạng ba trở lên, theo luật cũ nộp tiền miễn dịch năm phần, từ tháng giêng năm nay trở đi, số tiền thu được, nếu như tiền từ các chợ, bến đò ở các nơi, dùng để chi trả cho các việc nặng nhọc của nha dịch và tiền ăn cho nhân viên vận chuyển, nếu thực sự không đủ, mới được phép dùng số tiền trên để bù đắp, còn lại đều phải để dành phòng khi cấp bách. Thần từ khi nhận chỉ dụ này, ngày đêm suy nghĩ hết sức, không dám khinh suất bàn luận. Thần nghe nói từ khi ban hành chỉ dụ này, dân chúng khắp nơi đều lo lắng, cho rằng mệnh lệnh triều đình thay đổi không ổn định, mà những kẻ tham lam bóc lột lại lợi dụng cơ hội, chờ có kẽ hở để tiếp tục gây hại, đó là lý do thần không dám im lặng.

Thần nghĩ rằng bệ hạ ban đầu vì lời của Tư Mã Quang mà cảm ngộ thánh ý, khôi phục lại pháp luật sai dịch của tổ tiên, bãi bỏ việc nộp tiền miễn dịch, và cách chức những quan lại đầu tiên đề xuất việc này, tuyên bố khắp nơi, khích lệ thiên hạ, nhưng lại ra lệnh cho thành thị giảm một nửa tiền miễn dịch, dân thành thị từ xưa đến nay không phải chịu sai dịch mà chỉ chịu thuế khoá, thuế khoá có danh mà không có số lượng cố định. Nay ra lệnh cho thành thị miễn dịch, tức là thu thuế vô danh. Dùng tiền bù đắp còn dư, để dành phòng khi cấp bách, tức là tiếp tục tham ô. Dấu vết của việc thu thuế vô danh vẫn còn tiếp diễn, thì những quan lại bị cách chức trước đây chắc chắn sẽ chê cười sau này, thần thực sự lo lắng cho triều đình.

Thần cho rằng thà rằng không thu thuế vô danh từ dân, để dành trong kho phòng khi cấp bách, sao bằng tích trữ trong dân, để họ cùng nhau sinh sống, đợi khi cấp bách mới thu? Kính mong bệ hạ xem xét kỹ lời tấu của thần, tuyên bố với các nguyên lão trọng thần, các đại thần chấp chính bàn bạc kỹ lưỡng được mất, sớm ban quyết định, để yên lòng dân chúng khắp nơi, thì thiên hạ thật may mắn!”

Tờ thiếp hoàng nói: “Thầy thuốc giỏi chữa bệnh, ắt phải loại bỏ tận gốc, thì mới không còn lo về sau. Triều đình đã biết việc miễn dịch gây hại cho dân mà bãi bỏ, lại tiếp tục theo lối cũ khiến họ phải nộp tiền, thì tức là độc hại vẫn còn. Độc hại chưa trừ, bệnh ắt sẽ tái phát. Vì vậy, gần đây có người đề nghị, lệnh cho các hộ ở nông thôn trước đây nộp tiền dịch trên 300 quan thì không phải đi phục dịch, vẫn giảm một nửa số tiền nộp. Đều là dân nông thôn, sao lại chỉ có người có tiền phải nộp? Nếu cho rằng họ có tài sản nhiều, sức khỏe tốt, thì có thể bắt họ đi phục dịch nhiều lần, hoặc tăng thêm thời gian phục dịch, để giảm bớt gánh nặng cho hộ nghèo.

Từ khi có lệnh miễn dịch nộp tiền, các hộ khá giả ở nông thôn đã kiệt quệ gần hết, còn lại rất ít. Nay lại tiếp tục theo lối cũ thu tiền, coi như hình phạt, thì chỉ vài năm nữa, những hộ có tài sản nhiều cũng sẽ kiệt quệ hết, đó đâu phải là tấm lòng nhân từ?

Thần gần đây hỏi ý kiến Đề hình Dự Trắc ở Phúc Kiến lộ, ông nói một lộ Phúc Kiến có tám châu, hiện còn tiền dư có thể chi trả cho việc thuê người phục dịch trong mười năm. Mà Điện trung thị ngự sử Lã Đào từ Thành Đô phủ lộ trở về, nói rằng tiền phường trường ở Tây Xuyên mỗi năm đủ chi dùng trong một năm. Hoặc các lộ khác cũng đều như vậy. Vậy thì sao nỡ làm khổ dân, bắt họ nộp tiền để tích trữ?

Hiện nay, tiền tiêu dùng trong dân gian ở Đông Nam đều là tiền cũ, thiếu rách, còn lúa gạo, vải vóc ở nông thôn sản xuất ra thì rẻ mà không ai mua. Các hộ ở thành thị so với mười lăm năm trước, nhà tan cửa nát đã chiếm bảy tám phần mười, đều do nạn nộp tiền miễn dịch, điều này trên dưới đều biết, không phải là lời riêng của thần. Có người nói rằng gần đây việc mở mang biên giới, chi phí không như trước, thì xin mỗi năm tính toán số thiếu hụt chi dùng biên giới là bao nhiêu, rồi đánh thuế các hộ ở thành thị các lộ theo thứ bậc để ứng phó, không cần định thành chế độ, thì việc thu thuế có danh nghĩa, không thành nạn vơ vét.”

(Cuối tháng hai, Thăng có tờ tấu bàn về việc mua ruộng thuê người phục dịch, nội dung trùng với tờ tấu này, nên giữ lại cả hai.)


  1. Nợ nhiều đến vài chục quan, ít cũng ba năm trăm quan, các bản đều giống nhau. Xét theo văn nghĩa, nghi ngờ chữ 'thập' là sai, nên là 'thiên'.
  2. Chữ 'lập' trong 'đúng sai sẽ lập tức rõ ràng' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản trong các bản khác bổ sung.
  3. Chữ 'Thôi' trong 'Thôi Tượng Tiên làm phó' nguyên bản là 'Trạch', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 486 truyện nước Hạ, 《Tống đại chiếu lệnh tập》 quyển 236 văn sách phong Vua nước Hạ là Càn Thuận mà sửa. Các chỗ sau cũng vậy.
  4. Chữ 'Chỉ' trong 'hưởng phúc lành' nguyên bản là 'Xã', căn cứ theo các bản khác mà sửa.
  5. Kinh nghĩa, chữ 'nghĩa' nguyên bản là 'nghị', theo bản trong các và chú văn sửa lại.
  6. Lộ Thành Đô phủ, chữ 'lộ' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 tuyển cử 11-42 và 《Thái bình trị tích thống loại》 quyển 28 bổ sung.
  7. Quảng Nam Đông Tây, chữ 'Đông' nguyên bản là 'lộ', theo bản trong các và sách trên sửa lại.
  8. Chữ 'sự' trong 'bàn việc thời sự' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản trong các kho lưu trữ mà bổ sung

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.