"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 407: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 2 (ĐINH MÃO, 1087)

Từ tháng 11 năm Nguyên Hựu thứ 2 đời Vua Triết Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Tháng 11, ngày Nhâm Tý, Tri châu Vận, Long Đồ các Trực học sĩ Đằng Nguyên Phát được bổ nhiệm làm Tri châu Doanh; Tri châu Hàng, Tư chính điện học sĩ Bồ Tông Mạnh được bổ nhiệm làm Tri châu Vận; Triều tán lang, Giám đô Tiến tấu viện Vương Bá Hổ được bổ nhiệm làm Hiệu thư lang.

[2] Ngày Quý Sửu, Khánh Quan được mở lại. Việc này theo tấu xin của Trung thư thị lang Lã Đại Phòng.

(Sách biên lục có ghi chép, cần xem xét kỹ.)

[3] Ngày Giáp Dần, chiếu chỉ vận chuyển 40 vạn hộc thóc mua từ Hoài Nam và hai vùng Chiết để cứu tế Kinh Đông lộ.

[4] Ngày Ất Mão, Hữu bộc xạ Lữ Công Trước, Trung thư thị lang Lã Đại Phòng, Thượng thư tả thừa Lưu Chí, Hữu thừa Vương Tồn cùng dâng sớ rằng:

“Thần trộm nghĩ, triều đình đặt ra chức quan gián tránh là để mở rộng tầm nhìn, nghe rõ tình hình dưới dân. Tuy nhiên, các quan nói việc không phải lúc nào cũng đúng, cần triều đình xem xét kỹ lời nói của họ. Nếu lời nói không thể dùng, tự nhiên nên bỏ qua; nếu lại có ý đồ riêng, thì càng không thể không xét kỹ.

Thần thấy Gián nghị đại phu Khổng Văn Trọng nhiều lần dâng văn bản bàn về việc bổ nhiệm Tả ty viên ngoại lang Chu Quang Đình làm Thái thường thiếu khanh là không thích hợp, lời lẽ rất sai lầm. Thần đã từng tâu mặt đối mặt với bệ hạ, nay xin trình bày rõ ràng để bệ hạ rõ.

Khổng Văn Trọng nói Chu Quang Đình vốn không khác gì người thường, chỉ nhờ kết bè kết phái mà được tiến cử, nhanh chóng giữ chức quan thanh yếu. Xin xét: Khi Quang Đình được tiến cử, chỉ có Tư Mã Quang và thần Lữ Công Trước tiến cử. Lữ Công Trước vốn không quen biết Quang Đình, chỉ thấy Tư Mã Quang nhiều lần khen ngợi trước triều đình, bệ hạ đích thân phê chuẩn bổ nhiệm làm quan gián, chứ không phải do ‘kết bè kết phái’ mà được tiến cử.

Khổng Văn Trọng nói rằng Chu Quang Đình chưa từng dâng một lời nói công khai, bổ sung một việc nước. Kính xét: Quang Đình từ khi nhận chức Gián quan chỉ mới một năm rưỡi, trước sau đã dâng lên hàng trăm tờ sớ, được Vua ban cho đối đáp ở điện tiện cũng đến mấy chục lần. Phàm những phép tắc trong ngoài có gì bất tiện cho dân, các quan lớn nhỏ có điều gì không hợp với công luận, Quang Đình không tránh kẻ thù oán hận, chưa từng không nói, hơn nữa đã thường được thi hành. Đây đều là những điều bệ hạ vốn biết rõ, sao có thể nói là “chưa từng dâng một lời nói công khai, bổ sung một việc nước”?

Khổng Văn Trọng nói rằng trong hai năm, Chu Quang Đình được thăng cấp vượt bậc, danh vọng nhẹ, tư cách còn non, ân sủng quá lớn. Bề tôi chúng tôi nghĩ rằng triều đình dùng người vốn không nên chỉ xét về thời gian, hơn nữa từ trước đến nay việc bổ nhiệm các chức vụ từ hai tỉnh trở lên cũng không hẳn chỉ dựa vào thứ tự tư cách. Huống chi Quang Đình ban đầu được Vua tự tay phê chuẩn làm Tả Chánh ngôn, một năm sau từ Chánh ngôn thăng lên Ty Gián, đâu phải là “vượt cấp”. Sau này vì Quang Đình nhiều lần ở nhà chờ tội, một lần vì nói về Tô Thức, một lần vì nói về Trương Thuấn Dân, bị cách chức làm Hữu ty Viên ngoại lang, cũng không phải là “thăng cấp vượt bậc”.

Nay từ chức Đô ty được bổ làm Thái thường Thiếu khanh, tuy vị trí có tiến lên một chút, nhưng cũng không phải là thăng chức quá nhanh. Ví như cùng thời làm Gián quan với Quang Đình là Tô Triệt, xuất thân từ chức Tri huyện, nhậm chức sau Quang Đình, nay đã làm Trung thư Xá nhân; lại như Khổng Văn Trọng, được bổ dụng sau Quang Đình, đã làm Hiệu thư lang, hơn một năm sau làm Tả Gián nghị Đại phu. Vậy thì việc Quang Đình được bổ làm Thiếu khanh, đâu phải là “ân sủng quá lớn”?

Khổng Văn Trọng nói rằng chức Thái thường Nhị khanh là chức vụ nghiêm ngặt, địa vị quan trọng, nếu để Quang Đình giữ chức đó, thì thăng lên làm Gián nghị, nắm giữ chức vụ giám sát đều được. Bề tôi chúng tôi nghĩ rằng Chu Quang Đình lần này chỉ được bổ làm Thái thường Thiếu khanh, làm sao biết được sau này sẽ làm Đài Gián? Hơn nữa, nếu triều đình muốn dùng Quang Đình làm quan Đài Gián, chỉ cần từ chức Tả ty Viên ngoại lang mà bổ nhiệm, có gì không được?

Khổng Văn Trọng nói rằng Chu Quang Đình một ngày nào đó đắc chí, sẽ dẫn dắt Trình Di và đưa Giả Dị vào triều, việc này sẽ xảy ra rất nhanh. Kính xét: Trình Di và Giả Dị hoặc bị cách chức về quê, hoặc bị giáng chức ra ngoài làm quan, triều đình cũng chưa có ý định triệu họ về dùng. Tuy nhiên, Quang Đình lần này chỉ được bổ nhiệm làm quan ở các cơ quan tự giám, chức vụ còn nhẹ hơn cả Tả Hữu ty, làm sao có thể “dẫn dắt Trình Di và đưa Giả Dị vào triều”? Giả sử Trình Di và Giả Dị trở lại triều đình, đối với quốc gia có gì là hại? Chỉ là phe cánh của Văn Trọng tự cho là bất tiện mà thôi.

Chúng thần được bệ hạ trọng dụng, giữ chức vụ phụ tá, lấy việc tiến cử người hiền, loại bỏ kẻ bất tài làm nhiệm vụ, chỉ biết chọn người cho chức vụ, không dám vì tình riêng mà né tránh.

Về việc Chu Quang Đình, chúng thần cũng không cho rằng người này làm mọi việc đều tốt, nhưng nay đã biết Khổng Văn Trọng nói không đúng, nếu lại bãi bỏ mệnh lệnh bổ nhiệm Chu Quang Đình, thì e rằng từ đây lời đồn thổi sẽ ngày càng lan rộng, người ngay thẳng khó đứng vững, thế lực triều đình ngày càng suy yếu. Hơn nữa, bệ hạ đã dùng chúng thần làm quan chấp chính, mà lại không cho chúng thần nắm giữ việc chính sự, chúng thần biết xử trí thế nào?

Kính mong bệ hạ xét lại, đặc biệt xem xét kỹ lưỡng. Việc bổ nhiệm Chu Quang Đình làm Thái thường thiếu khanh, xin đợi đến ngày mai sẽ tâu trước rèm, hoặc nếu có quan lại nào khác ủng hộ Văn Trọng dâng tấu, cũng xin bệ hạ xét rõ thực hư, đừng để bị mê hoặc.” Rồi bãi bỏ tấu chương của Văn Trọng, Quang Đình cuối cùng vẫn nhận chức.

(Gia truyền của Lữ Công Trước lại chép: “Văn Trọng vốn nổi tiếng là ngay thẳng, nhưng lại ngốc nghếch không hiểu chuyện, nhiều lần bị bọn xấu xa sai khiến, làm hại người lương thiện. Từ khi Trình Di, Cổ Dịch lần lượt rời đi, những kẻ bàn tán ngày càng nhiều, vì thế Lý Thường, Đỗ Thuần, Phạm Thuần Lễ đều xin ra ngoài, Công cùng các quan chấp chính tâu rằng: ‘Người tốt sợ bị gièm pha mà không dám yên ổn, đó không phải là phúc của triều đình.’ Vua khen ngợi và nghe theo. Văn Trọng về sau mới tự nhận ra bị tiểu nhân lừa gạt, uất hận đến nỗi thổ huyết mà chết.”

Xét: Văn Trọng chết vào ngày Mậu Thìn tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ 3, chỗ này nói “uất hận thổ huyết”, cần phải xem xét kỹ hơn. Việc Lý Thường xin ra ngoài, trong thực lục và bản truyện đều không thấy chép, nay căn cứ vào tấu nghị của Thường phụ vào cuối tháng này. Đỗ Thuần ngày 28 tháng 7 đã nhận chức Tri Tương châu, Phạm Thuần Lễ ngày 28 tháng 10 làm Phát vận, cũng có lời tâu. Những điều ghi trong gia truyền, có vẻ không đáng tin.

Cựu lục chép truyện Khổng Văn Trọng rằng: “Vì dẫn kinh điển trái lý, lại mang ý khác để hợp ý quan khảo, Thần Tông biết được, nên bãi bỏ không dùng.” Tân lục biện rằng: “Căn cứ vào tấu chương của Phạm Trấn nói Văn Trọng đối sách thẳng thắn, mà sử quan cho là dẫn kinh trái lý, mang ý khác để hợp ý, e rằng không đúng sự thật. Từ chữ ‘Dĩ dẫn’ đến chữ ‘Toại’ gồm 18 chữ, nay xóa bỏ.”

Cựu lục chép: “Bàn về việc Trình Di, giảng quan ở Sùng Chính điện, hèn hạ xảo trá, vốn không có hạnh kiểm tốt, khi giảng ở kinh diên, nói năng vượt quá phận, đi khắp yết kiến quý thần, đến khắp các đài gián, nên đuổi về quê, để làm gương.” Tân lục biện rằng: “Trình Di là bậc danh nho một thời, được người đời kính trọng, nói ông hèn hạ xảo trá, vốn không có hạnh kiểm tốt, và đi khắp yết kiến quý thần, đến khắp các đài gián, e rằng không đúng sự thật. Xóa bỏ 25 chữ.”

Cựu lục chép: “Phàm chính sự triều trước, đều bị chê bai không chừa chỗ nào.” Tân lục biện rằng: “Quan gián quan bàn việc, ý kiến mỗi người mỗi khác, nói là chê bai, thì quá lời. Nay xóa bỏ.”

Cựu lục chép: “Sau tể tướng Lữ Công Trước nói rằng bị Tô Thức dụ dỗ uy hiếp, bàn việc đều theo ý Thức, thì nhân cách Văn Trọng có thể biết được.” Tân lục biện rằng: “Lời của Lữ Công Trước e rằng không có chuyện này. Hơn nữa, những điều Văn Trọng bàn về phép thanh miêu, miễn dịch, bảo giáp, bảo mã, diêm trà, lúc ấy các quan trong triều bàn luận không phải một người, ý kiến chung như một, lẽ nào đều bị Tô Thức dụ dỗ uy hiếp mà theo hết ý Thức sao? Rõ ràng không phải lời của Lữ Công Trước. 29 chữ trên nay xóa bỏ.”)

[5] Ngày Bính Thìn, Đái Vinh, Hữu thị cấm, tuần phòng trại Túc Viễn bị truất hai chức; Mộ Hóa, Đông đầu cung phụng quan, tuần kiểm, bị truất một chức và bãi nhiệm, vì tự ý vào địa giới Tây Hạ để cướp bóc.

[6] Xu mật viện tâu: “Triệu Xưng, Hoài Nam chuyển vận phó sứ tấu: ‘Thần trộm thấy sắc lệnh về tướng quan từ triều trước đã có các điều khoản sửa đổi, về sau cũng có sửa đổi, nhưng chưa từng được san định, trong đó có nhiều điều không thể thi hành, khó lấy làm căn cứ. Thần lo rằng các tướng là người võ, chỉ biết giữ theo sắc lệnh cũ, muốn làm trái thì sợ tội, muốn thi hành thì khó dùng, nếu có việc gấp sẽ lỡ việc lớn về quân luật. Mong ban chiếu cho các cơ quan hữu trách xem xét kỹ lưỡng, san định lại, rồi giao cho các tướng.’ Xét: Sắc lệnh về tướng quan năm Nguyên Phong, phủ giới và các lộ Kinh Đông, Kinh Tây có 256 điều, Hà Bắc lộ có 255 điều, Hà Đông lộ có 258 điều, Hà Nam lộ có 251 điều. Trong các sắc lệnh về tướng binh của các lộ, đã sửa đổi tổng cộng hơn 240 điều, tiếp đó ban xuống hơn 250 điều, cùng với sắc lệnh về tướng quan của năm lộ Thiểm Tây khoảng 64 điều, dùng chung với sắc lệnh của các lộ, về sau cũng chưa được san định, khi thi hành có nhiều chỗ nghi ngờ. Nay muốn lệnh cho Thừa chỉ ty lấy các điều khoản mới và cũ, tiến hành san định lại.” Được chấp thuận.

(Hành trạng của Xưng không chép việc này.)

[7] Ban chiếu cho Kinh lược ty lộ Phu Diên, nếu người Hạ muốn thông hòa, thì lệnh cho quan lại biên giới báo rõ, trước phải dâng biểu tạ tội và nộp hết những người bị bắt, phân định xong biên giới, mới dám tâu lên chờ chỉ thông cống.

[8] Khôi phục quân Liên Thủy.

(Theo hành trạng của Triệu Xưng: “Ban đầu, vào thời Nguyên Phong, để giảm bớt lao dịch, từng bãi bỏ và sáp nhập một số quận huyện, sau đó dần dần có sự thay đổi và khôi phục. Do đó, huyện Liên Thủy cũng xin khôi phục lại quân, còn trấn Linh Bích đã được nâng lên thành huyện. Xưng cho rằng việc bãi bỏ hay khôi phục quận huyện không phải là việc lớn có lợi hại gì cấp thiết, cần gì phải thay đổi? Nay khôi phục quân và lập huyện thì chắc chắn phải tăng thêm quan lại, thay đổi thuế má, gây ra nhiều phiền phức và tốn kém. Dân trong thành thị có lợi nhờ giao thương, nhưng nông dân thực sự bị thiệt hại. Ông bèn dâng tấu riêng, xin theo chiếu chỉ của tiên đế, tạm dừng việc lập huyện Linh Bích. Do đó, huyện Linh Bích lại bị bãi bỏ, còn Liên Thủy chỉ lập quân sứ.”)

[9] Ngày Canh Thân, đưa Quỷ Chương vào dâng ở điện Sùng Chính, tra hỏi về việc xâm phạm biên giới, và dụ rằng tội đáng chết, nhưng cho phép triệu tập con trai và thuộc hạ quy phụ để chuộc tội. Quỷ Chương nghe theo, được cởi trói.

[10] Thị lang Lại bộ Tôn Giác tâu: “Các triều đại trước đều kế thừa nhau, mỗi khi cử sứ giả đi để thực hiện việc thăng giáng chức vụ. Nay thiên hạ rộng lớn, sứ giả không phải là ít, nhưng từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, những sứ giả đi các nơi có ai có thể thực hiện ý chỉ của bệ hạ là bảo dưỡng dân chúng, không để chính sách bạo ngược xâm hại, quan lại lười biếng dung túng, như lời của Lục Chí đời Đường, có thể dùng ‘năm thuật xem xét phong tục, tám kế nghe việc trị quan, ba khoa tuyển chọn người tài, bốn phú kinh tài thực[1], sáu đức bảo vệ người bệnh[2], năm yếu giản việc quan’, như vậy, dù có người như thế, không báo lên là không được; không có người như thế, không cứu được cái hại càng không được.

Kính xin hoàng đế bệ hạ, thái hoàng thái hậu bệ hạ hạ chiếu cho các đại thần lập pháp, chuyên giao cho Ngự sử đài xem xét tâu lên. Nếu như quan lại dưới quyền tham ô phạm pháp hoặc lười biếng bất tài, cùng với người tài giỏi hơn người, sứ giả nên biết rõ, một người không biết còn có thể, đến hai ba người thì sứ giả là không làm tròn chức vụ. Xin đem lời thần giao xuống Tam tỉnh, ủy thác cho Ngự sử đài xem xét, lại hạ chiếu cho các lộ, để họ biết trước ý này.”

Tờ thiếp vàng nói: “Thần nghe nói các sứ giả bốn phương, từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, bãi bỏ việc thanh miêu, miễn dịch và thị dịch, cho rằng triều đình chỉ chuyên việc dung túng, dù có quan lại tham ô phạm pháp, không ai dám làm gì, vì thế dân chịu hại. Thần vì vậy dám xin lệnh cho Ngự sử đài tấu lên, nếu cách chức một người về lại Lại bộ, thì những người khác không ai là không sợ hãi.” Chiếu gửi các lộ và phủ giới giám ty, lại lệnh cho Ngự sử đài thường xuyên xem xét.

(Sách biên loại có việc này vào ngày 12 tháng 11 năm Nguyên Hựu thứ 2, nhưng không có tên. Nay theo sách cũ ghi ngày 4 tháng 5 năm thứ 3, xem xét thêm vào.)

[11] Ngày đó, ba tỉnh tâu: “Xét theo chỉ dụ ngày 22 tháng 2 nhuận năm Nguyên Hựu thứ nhất, khoa trường hiện nay tạm thi hành theo pháp cũ; chỉ dụ ngày 12 tháng 4, bãi bỏ luật nghĩa; chỉ dụ ngày 12 tháng 6, ‘Từ nay về sau, trong các kỳ thi khoa trường, không được dẫn dụng thuyết về chữ, cho phép dùng thuyết của các nhà Nho xưa nay hoặc ý kiến riêng, nhưng không được dẫn dụng sách của Thân, Hàn, Phật giáo, quan khảo thí không được ra đề trong sách Lão Tử, Liệt Tử, Trang Tử. Người được cử làm kinh minh hành tu: Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây mỗi lộ 5 người; Hoài Nam, Giang Nam, Giang Đông, Giang Tây, Phúc Kiến, Hà Đông, Lưỡng Chiết, Thành Đô phủ lộ mỗi lộ 4 người; Kinh Hồ Nam, Quảng Đông Tây, Tử Châu lộ mỗi lộ 2 người; Kinh Hồ Bắc, Quỳ Châu, Lợi Châu lộ mỗi lộ 1 người, giao cho quan chức đương nhiệm ở các châu huyện cùng làm tờ tâu bảo đảm lên Giám ty, Giám ty lại xem xét thêm, theo số người nói trên tâu lên, đồng thời trước khi phát giải, gửi văn thư báo cho bản châu, để bổ sung vào số người được giải của bản châu đi thi Hội, nếu không có người thì để khuyết.’

Các chỉ dụ triều đình nêu trên đều đã thi hành, nay muốn theo các điều sau:

Một, thi Tiến sĩ chia làm 4 trường, trường thứ nhất thi 2 bài nghĩa kinh bản và 1 bài nghĩa Luận ngữ hoặc Mạnh Tử, trường thứ hai thi 1 bài luật phú và 1 bài luật thi, trường thứ ba thi 1 bài luận, trường thứ bốn thi 3 bài vấn đáp về Tử, Sử và thời vụ sách. Lấy kết quả 4 trường để quyết định đỗ trượt và xếp hạng cao thấp.

Hai, khoa Minh pháp mới vẫn thi 3 bài đoán án và 5 bài nghĩa Hình thống, thêm 2 bài nghĩa Luận ngữ và 1 bài nghĩa Hiếu kinh, chia làm 5 trường. Vẫn thi hành từ kỳ thi mùa thu năm Nguyên Hựu thứ 5. Những người được cử làm kinh minh hành tu ở các lộ, nếu thi Hội không đạt, thì chưa bị đánh trượt, làm thành một hạng riêng tâu lên xin chỉ dụ.” Vua theo.

(Ngày 22 tháng 2 nhuận năm thứ nhất, chiếu cho Lễ bộ cùng các học sĩ, đãi chế của hai tỉnh, Ngự sử đài, Quốc tử tư nghiệp họp bàn về phép khoa cử do Lưu Chí nêu. Ngày 12 tháng 4, bãi bỏ luật nghĩa. Tô Triệt tâu là ngày 3 tháng 4, không phải ngày 12 tháng 4. Việc không được dẫn dụng thuyết về chữ, đã thấy ngày 12 tháng 6. Việc định ngạch kinh minh hành tu, cần xét. Ngày 24 tháng 4 mới có chỉ dụ[3], ngạch định ngày 16 tháng 6, ngày 5 tháng 6 năm thứ 3 cần gộp vào đây. Ngày 18 tháng 4 năm thứ 4, lại định riêng phép thi 4 trường.

Cựu lục chép: “Chiếu cho Tiến sĩ lấy kinh nghĩa, thi, phú, luận, sách để quyết định đỗ trượt, Minh pháp thêm nghĩa Luận ngữ, Hiếu kinh. Khoa trường sắp tới, người chưa quen thi phú vẫn theo phép cũ lấy, số người được giải không quá một phần ba số ngạch cũ, lệnh cho Lễ bộ định thể thức thi phú tâu lên. Tiên đế bãi bỏ văn chương chải chuốt, dùng kinh thuật để dạy, sĩ tử biết học lễ nghĩa. Đến nay, lại kiêm dùng thi phú.”

Tân lục biện rằng: “Thần Tông chán học văn chương chải chuốt, dùng kinh thuật để dạy sĩ tử, là việc rất hay. Sau đó, vì văn thần trả lời thư Cao Ly không vừa ý, sợ học giả đọc sách không rộng, không có ý tu từ thuật văn, cũng cảm khái nghĩ đến. Đến nay, lấy thi phú kiêm kinh nghĩa để kén sĩ, cũng là suy ý của Thần Tông. Lời sử thần không xét đầu đuôi, để lừa dối hậu thế, nên bỏ đi.”

Khoa trường sắp tới, là chỉ dụ ngày 5 tháng 6 năm thứ 3, Cựu lục gộp vào đây, Tân lục theo đó, nay vẫn thấy ngày tháng năm đó, lại có thể xét ngày 24 tháng 12 năm thứ 4. Chính mục ngày 24 tháng 11 năm thứ nhất, ba tỉnh tâu định lập hai khoa kinh nghĩa và thi phú, đưa xuống bàn, Vua theo, cần xét chung.)

[12] Tri Từ Châu, Thiên Chương các đãi chế Dương Hội làm Tri Hàng Châu.

[13] Ngày Nhâm Tuất, Thượng thư Hộ bộ Lý Thường chuyển đối, trình bày bảy việc, gồm: Đề cao sự liêm khiết và biết hổ thẹn, duy trì việc cử hiền ở làng, phân biệt chức thủ tể, bãi bỏ tham nhũng, xét lại các án nghi ngờ, chọn thầy Nho, sửa đổi phép dịch.

Về việc “duy trì cử hiền ở làng”, xin ban chiếu cho các châu quận trong thiên hạ, vào năm thi cử, cho phép trong số người được tiến cử, có một người không cần thi mà được tiến cử. Người trong làng chọn những người hiếu đễ, trung tín, thông thạo, báo lên thủ lệnh, thủ lệnh cùng xét và báo lên giám ty, giám ty xác minh lại rồi báo lên Lễ bộ, Lễ bộ tập hợp và xét lại, phân loại rồi báo lên triều đình, triều đình căn cứ vào loại mà tham khảo cùng những người được tiến cử khác để bổ nhiệm chức quan.

Về việc “phân biệt chức thủ tể”, xin chia chức thủ tể và duyện thừa tá nhị làm hai đường, người không đủ tài làm thủ tể thì suốt đời làm duyện thừa tá nhị; người có tài trị dân giáo hóa thì dù lâu làm thủ tể cũng được.

Về việc “bãi bỏ tham nhũng”, xin ban chiếu cho các cơ quan, phàm ai vì tham nhũng mà phạm tội, đều bãi chức không dùng lại; người có tài năng xuất chúng, không may mắc lỗi, cho phép hai vị khanh đại phu tiến cử, giao cho cơ quan xét lại tình trạng. Nếu có thể dùng lại, thì giáng cấp rồi bổ nhiệm; nếu không sửa đổi, thì khanh đại phu cùng chịu tội.

Về việc “xét lại các án nghi ngờ”, phàm các vụ kiện tụng không thể không có tình tiết đáng nghi hoặc đáng thương, quan lại sợ tội, có khi bắt người đáng nghi hoặc đáng thương phải nhận tội để xử tử.

Mong ban chiếu chỉ rõ, dẫn các vụ án đáng nghi hoặc đáng thương ở các quận đều phải báo lên với tình hình thực tế, xin giao cho cơ quan xét lại. Nếu có sai sót do nhầm lẫn, cũng như trước đây, tha bổng tội.

Về việc “sửa đổi phép dịch” nói: “Gần đây ban phép dịch xuống các nơi, giao sách cho Hộ bộ. Theo ý thần, suy nghĩ kỹ, thấy chưa chắc đã có thể lâu dài.”

Chiếu: “Bãi bỏ tham nhũng”, “Xét lại các án nghi ngờ” lệnh cho Hình bộ lập pháp.

(Lý Thường chuyển đối bảy việc, căn cứ theo bản truyện và tấu nghị của ông. Cựu lục chỉ chép hai việc “bãi bỏ tham nhũng”“xét lại các án nghi ngờ”, và nói rằng chiếu lệnh Hình bộ lập pháp, nhưng tân lục đều bỏ đi, chỉ trong tân truyện chép mục lục. Nay theo cựu lục ghi ngày này, vẫn chọn hai việc “duy trì cử hiền ở làng”“phân biệt chức thủ tể” để đưa ra. Còn “sửa đổi phép dịch” thì Lý Thường có tấu riêng, nay phụ chép vào.)

Thường lại tâu: “Thần thấy từ năm Hi Ninh trở lại đây, thay đổi pháp sai dịch, khiến các hộ nộp thuế đều đóng tiền để mộ dân nhàn mà sai khiến. Việc nộp tiền đã lâu, sức dân dần suy kiệt, nên lại bàn về pháp sai dịch, mong được gần với cổ chế. Nay đã soạn xong sách, giao xuống Hộ bộ để thi hành.

Thần nghĩ bốn biển rộng lớn, muôn dân đông đúc, phong tục tốt xấu đã khác nhau, mà hộ trên giàu yên, hộ dưới trống rỗng. Giàu yên thì cho rằng sai dịch là mối lo, trống rỗng thì xuất sức là hợp lý, thật không thể dùng một pháp để trị được. Nay trị bằng một pháp, không tránh khỏi lòng người còn có chỗ chưa yên.

Kính nghĩ Thái hoàng thái hậu bệ hạ, Hoàng đế bệ hạ lấy lòng thành thương xót mà cai trị muôn dân, chiếu lệnh ban ra, chỉ sợ một vật không được yên ổn. Nay pháp lớn như vậy, ban bố khắp nơi, nếu còn có chỗ chưa hoàn thiện, sao xứng với lòng nhân từ yêu thương rộng khắp?

Thần đang giữ tội ở Hộ bộ, lặng nhìn mà không nói, tội không thể tha. Ngày đêm suy nghĩ, thầm cho rằng pháp không phân biệt mới cũ, tiện lợi cho dân là pháp tốt; luận không phân biệt bên nào, có thể lâu dài là luận chắc chắn. Bèn chọn hai pháp sai dịch và trợ dịch, tùy theo tình hình trên dưới mà trình bày đại lược. Nếu tiện lợi cho dân và có thể lâu dài, kính mong Thánh từ giao cho các quan, lại thảo luận thêm, may ra có thể giúp ích được phần nào cho thánh chính, thật là may mắn vô cùng!”

(Sách về pháp sai dịch giao xuống Hộ bộ, thực lục không chép, nhân lời tâu của Thường mới thấy, ắt là vào mùa đông năm thứ hai. Tờ tâu của Thường trình bày về pháp sai dịch, tự nói không cho lại dịch chép lại, văn nhiều không chép hết. Lại có tờ tâu khác của Thường nói “Nhân chuyển đối mà nói pháp không phân biệt mới cũ, luận không phân biệt bên nào”, nay bảy việc chuyển đối, “Tu pháp sai dịch” không có lời này, chỉ tờ tâu này có, vậy tờ tâu này cùng tờ tâu trình bày về pháp sai dịch đều là nhân lúc chuyển đối mà dâng lên.)

[14] Khôi phục huyện Vĩnh Định thuộc châu Hoành.

[15] Chính nghị đại phu trí sĩ Trương Vấn mất.

[16] Ngày Giáp Tý, khôi phục các huyện Dĩnh Dương, Lạc Dương thuộc Tây Kinh.

[17] Ngày Bính Dần, tuyết lớn.

(Theo 《Tống sử》, tuyết lớn vào ngày Ất Hợi.)

[18] Ngày Đinh Mão, tiết Đông chí, Vua ban yến ở tư dinh của Lữ Công Trước. Ban đầu, các quan theo lệ cũ xin tổ chức yến tiệc mừng tiết Đông chí, nhưng được miễn. Đến lúc này, vì tuyết tốt đúng mùa, triều đình không có việc gì, nên Vua đặc cách cho Lữ Công Trước cùng các phụ thần và cận thần dự yến vui.

Hôm đó, Vua lại ban cho 70 nhạc công của giáo phường, sai trung sứ ban rượu quý cùng trái cây và hoa vàng chạm trổ từ cung cấm, đều là những thứ quý hiếm, gấp mười lần thường lệ; lại sai cận thần ban hương liệu, dùng đồ uống của Vua để khuyên rượu các quan, rất nghiêm khắc, chỉ riêng với Lữ Công Trước thì khoan dung hơn; lại xuất tiền của Vua ban cho 100 quan tiền cho nhạc công giáo phường, 50 quan tiền cho nhạc công nha môn Khai Phong, và 40 quan tiền cho các sứ thần quản câu; đến chiều, lại ban 20 cây nến lớn, và truyền lệnh thắp nến tiếp tục ngồi hưởng lạc. Đều là ân điển đặc biệt.

(Theo gia truyền của Lữ Công Trước, cần xem xét chỉnh sửa hoặc bỏ đi.)

[19] Ngày Canh Ngọ, Vua ban chiếu vì trời lạnh có tuyết, tạm dừng các công việc xây dựng ở kinh đô trong ba ngày, sai quan xét xử các tù nhân ở kinh đô và phủ giới.

(Chữ “quyết” nguyên bản là “thứ”, theo bản khác sửa lại.)

[20] Ngày Nhâm Thân, Vua ban chiếu rằng các quan thị độc gặp ngày không giảng kinh, phải trình lên hai điển cố từ thời Hán, Đường có ích cho việc chính sự, và mỗi tuần ghi chép lại một lần gửi lên Tam tỉnh.

Trước đó, Lại bộ Thượng thư kiêm Thị độc Tô Tụng tâu: “Điển chương triều ta phần lớn theo lệ cũ thời Đường, sử quan ghi chép đủ cả việc thiện ác. Xin Bệ hạ ra chiếu cho sử quan và học sĩ chọn lọc những việc làm của Vua tôi trong 《Tân Đường thư》, mỗi ngày trình lên vài việc để Bệ hạ xem xét.” Vì thế có chiếu này.

Tô Tụng mỗi lần trình lên những điều có thể làm khuôn mẫu răn dạy, bổ ích cho chính sự thời đó, đều trình bày theo ý mình, nhắc đi nhắc lại.

[21] Quyền Phát khiển Kinh Nguyên lộ Kinh lược ty Công sự, Mã quân Đô ngu hậu Lưu Xương Tộ được làm Điện tiền Đô ngu hậu, Quyền Kinh Nguyên lộ Binh mã Kiềm hạt, Hoàng thành sứ, Vạn châu Đoàn luyện sứ Trương Chi Gián được làm Tây thượng Cáp môn sứ. Vì có công phòng ngự quân Hạ.

(Theo chí mộ của Lưu Xương Tộ do Trương Thuấn Dân soạn, đã chú thích ngày Kỷ Mùi tháng 9, cần tham khảo thêm.)

[22] Thái thường bác sĩ Khổng Bình Trọng, Bí thư giám thừa Diêu Miễn đổi chỗ cho nhau.

(Hai người đổi chức ắt có lý do, cần xem xét.)

[23] Lưỡng Chiết chuyển vận phó sứ, Triều thỉnh đại phu Hàn Tấn Khanh làm Tri châu Trừ, Lưỡng Chiết chuyển vận phán quan, Triều tán lang Diệp Thân làm Chuyển vận phó sứ.

(Người bàn tán sau này cho rằng Lã Đại Phòng có lỗi, cần xem xét.)

[24] Ngày Giáp Tuất, Hộ bộ thị lang Trương Giáp làm Bảo văn các đãi chế, Hà Bắc lộ đô chuyển vận sứ, Trung thư xá nhân Tô Triệt làm Hộ bộ thị lang, Thiên chương các đãi chế Cố Lâm làm Cấp sự trung, Tả gián nghị đại phu Khổng Văn Trọng làm Trung thư xá nhân.

[25] Giám sát ngự sử Triệu Đĩnh Chi tâu: “Năm ngoái các châu quận vùng biên giới phía bắc bị lũ lụt, triều đình giao cho Tả ty gián Chu Quang Đình phụng mệnh đi sứ, thăm hỏi và cứu tế. Nhưng Quang Đình làm trái ý pháp luật, từ hộ loại nhất đến hộ loại năm, đều bắt các châu huyện cho vay, không phân biệt mất mùa hay được mùa, không kể hạng mục, đổ hết kho lẫm, gọi là cho vay nhưng thực chất là ép buộc phân phối. Thần mong triều đình sớm bàn cách cứu tế, tới lúc thu hồi các khoản vay này, cũng xin gia hạn thời gian để ban ơn cho dân. Tội của Quang Đình làm trái pháp luật, gây hại cho dân, cũng xin giáng chức xử phạt.”

Lại có Giám sát ngự sử Phương Mông tâu: “Chu Quang Đình đi sứ một chuyến mà làm cạn kiệt tài sản dự trữ của Hà Bắc. Vật liệu của Thố trí ty, công sức tích lũy nhiều lắm, nếu phân phối đúng cách, dù gặp hạn hán lũ lụt cũng có thể dùng làm dự trữ nhiều năm. Một trận đói mà phân phát hết sạch, xin giáng chức để hợp với dư luận.” Chiếu cho Chu Quang Đình trình bày rõ ràng để tâu lên.

(Quang Đình trình bày, cần xem xét. Quang Đình đi sứ vào ngày 26 tháng 2, Giáp Tuất.)

[26] Ngày Ất Hợi, chiếu rằng: “Mùa đông năm nay lạnh hơn mọi năm, nhiều người chết, nên thêm sự cứu giúp, cấp tiền và lương thực; nếu không có người thân thu xếp việc chôn cất, thì quan phủ lo việc chôn cất.”

[27] Bãi bỏ pháp luật cho phép các chức vụ từ Nội điện thừa chế đến Sai sứ được thử đổi sang chức văn.

(Cựu lục chép: “Năm Nguyên Phong, hàng năm cho phép các võ thần dùng tài nghệ từ phú xin thi, lấy những người đỗ trung bình, tùy theo sở trường mà bổ dụng. Đến nay, bãi bỏ.”

Tân lục biện luận: “Pháp luật vốn không có gì không tốt, chỉ là người tự làm rối loạn mà thôi. Võ thần được dùng tài nghệ để đặt riêng chức văn, đãi ngộ rất hậu, lâu dần thì tệ nạn nhờ vả, may rủi nảy sinh, nên không thể không cải cách, không có lý do gì khác. Lời của sử quan nên xóa bỏ.”

Ngày 21 tháng 10 năm Nguyên Phù thứ nhất và ngày 26 tháng 4 năm thứ ba cần xem xét. Biên lục sách: Đô tỉnh gửi xuống chiếu ngày 29 tháng 11 năm Nguyên Hựu thứ hai, Trung thư tỉnh và Thượng thư tỉnh gửi đến tờ bạch tráp tử: “Xét lại lệnh năm Nguyên Phong, từ Nội điện thừa chế đến Sai sứ nếu muốn đổi sang chức văn, cho phép triệu tập người bảo lãnh để xin thi. Lại có điều khoản, người có chức quan đều được phép ứng cử. Xét lại từ Nội điện thừa chế đến Sai sứ, trước đây theo lệ của người tham gia tuyển chọn, chỉ thi về đoán án và đại nghĩa của Hình thống, đôi khi có ý kiến so sánh với việc đổi sang chức văn. Xem xét thấy võ thần đã có quy định riêng về việc thi cử, muốn từ nay về sau không cho phép hàng năm thử đổi sang chức văn.” Ngày 27 tháng 11, ba tỉnh cùng phụng theo thánh chỉ: đồng ý.)

[28] Ngày Bính Tý, ban chiếu vì trời lạnh có tuyết, thúc giục xét xử nhanh các tù nhân hiện có.

[29] Tháng này, Thượng thư Hộ bộ Lý Thường tự xin ra biên giới phòng thủ, và nói: “Trước đây, tiên đế vất vả nhiều năm, tích trữ lương thực phòng thủ biên giới, nay trong thiên hạ số tiền dư thừa từ thường bình, miễn dịch, phường trường tổng cộng hơn 56 triệu quan, tiền gạo muối ở kinh sư và tiền phong trang trong kho Nguyên Phong hơn 10 triệu quan, tổng số vàng bạc, lúa gạo, vải lụa lại vượt quá một nửa, việc phòng thủ biên giới không lo thiếu, đó là lý do thần dám từ chối trách nhiệm lớn mà xin ra biên giới phòng thủ.”

(Gia truyền của Lữ Công Trước chép: từ khi Trình Di và Giả Dịch lần lượt rời đi, Lý Thường, Đỗ Thuần, Phạm Thuần Lễ đều xin bổ nhiệm ra ngoài. Nhưng truyện của Lý Thường không chép việc này, vì trong tập của Lý Thường có tờ tráp tử này, nên phụ lục vào cuối tháng 11, cũng muốn lấy số tiền vật tích trữ từ năm Nguyên Phong để biểu thị rõ.)

[30] Tháng 12, ngày Canh Thìn, Thừa nghị lang, Điện trung thị ngự sử Phong Tắc được bổ làm Hữu ty gián, Triều phụng lang Dương Khang Quốc được bổ làm Giám sát ngự sử. (Theo chương hặc Hồ Tông Dũ của Lưu An Thế, Khang Quốc là người được Tông Dũ tiến cử. Tháng 5 năm thứ 5, lại được bổ làm quan ngoại. Sách 《Tống thánh chính ký》 chép, Khang Quốc từ chức Kiểm pháp quan của Ngự sử đài được bổ làm.)

Triều nghị đại phu Lý Cảo Khanh được bổ làm Thái phủ thiếu khanh, Triều thỉnh lang, Thái phủ thiếu khanh Vương Tử Uyên được bổ làm Kinh Tây lộ chuyển vận sứ, Thừa nghị lang, Tri Bắc ngoại đô thủy thừa công sự Trương Cảnh Tiên được bổ làm Kinh Đông lộ chuyển vận phán quan.

[31] Xu mật viện tâu: “Thủ lĩnh thành Tề Noãn của Tây Phiền là Ngột Chinh Thanh Diên đã đưa cha mẹ, vợ con vào nội phụ. Trước đây, A Lý Cốt nhiều lần muốn cử sứ giả đến triều cống, chi bằng nhân cơ hội này khen thưởng Ngột Chinh Thanh Diên, bí mật dụ bảo hắn chiếm giữ thành trì, vì nhà Hán cố thủ. Nếu có thể cùng Ôn Khê Tâm hợp mưu chung sức để chống lại Thanh Đường, trước hãy ước hẹn, ban cho tước vị, tự thông hiếu với triều đình. Giao cho Lưu Thuấn Khanh, người đang quản lý châu Hi, xử lý việc này, không để mất cơ hội, trước hãy ban cho y phục, đồ dùng để khích lệ người Khương. Những người thuộc hạ của hắn nếu có thể bổ nhiệm, có thể hợp mưu hành sự, thì hứa ban cho vàng bạc, chức quan để kết tình. Đồng thời cho phép Ngột Chinh Thanh Diên chiêu dụ các tộc cũ chưa quy phụ, cho phép đưa bộ tộc qua sông Hoàng Hà, quản lý đất cũ.” Triều đình đồng ý.

(《Tân lục》 và 《Thanh Đường lục》 có chỗ khác biệt nhỏ, ghi chép đầy đủ ở sau, cần xem xét. Ngột Chinh Thanh Diên trước đây chưa từng xuất hiện.

《Thanh Đường lục》 chép: “Đại thủ lĩnh Ngột Chinh Thanh Diên ở khu vực thành Tề Noãn thuộc đông giới Mạc Xuyên nghe tin Quỷ Chương đã bị bắt, bộ tộc hoảng sợ, cho rằng quân Hán sắp đánh tới, bèn xin với Văn Uất, người quản lý châu Lan, được đưa cha mẹ, vợ con cùng một vạn người trong bộ tộc vào nội phụ. Lưu Thuấn Khanh tâu lên, triều đình đồng ý, cho dời đến vùng phía nam châu Hà, ban cho Ngột Chinh Thanh Diên chức Cung bị khố sứ.”

《Tân lục》 sửa lại: “Xu mật viện tâu: ‘Thủ lĩnh thành Tề Noãn của Tây Phiền là Ngột Chinh Thanh Diên đã đưa cả gia đình vào nội phụ. Trước đây, A Lý Cốt nhiều lần muốn cử sứ giả đến triều cống, nên nhân cơ hội này khen thưởng Ngột Chinh Thanh Diên, bí mật dụ bảo A Lý Cốt, lệnh cho hắn cùng Ôn Khê Tâm hợp mưu chung sức để chống lại Thanh Đường; đồng thời cho phép Ngột Chinh Thanh Diên chiêu dụ các tộc cũ chưa quy phụ qua sông Hoàng Hà, quản lý đất cũ.’ Triều đình đồng ý.”

Xét: Thanh Đường chính là A Lý Cốt. Nay lại lệnh cho A Lý Cốt cùng Ôn Khê Tâm chống lại Thanh Đường, thật khó hiểu. 《Tân lục》 sửa đổi 《Cựu lục》, có vẻ mâu thuẫn, nay chỉ dùng 《Cựu lục》.)

[32] Phạm Thuần Nhân tâu: “Thần trộm thấy trước đây người Hạ ở Kinh Nguyên đem cả nước vào cướp, chỉ vì Hi Hà bắt được Quỷ Chương; lại nhờ các lộ đồng lòng chế ngự, nên giặc sớm rút lui. Trong đó có những người xuất quân tuy muộn, nhưng cũng chém giết lập công, cùng làm rạng rỡ uy vũ của triều đình. Thần tuy từng cùng An Đạo trình lên, được chỉ: ‘Những người bắt được từ năm phần trăm trở lên, đều ban thưởng trà thuốc, còn những người không đạt năm phần trăm thì không được ban thưởng.’

Thần lại suy nghĩ, những người mạo hiểm tiến sâu, chiến đấu ác liệt lập công, may mắn toàn mạng trở về, tuy bắt được không đạt năm phần trăm, nhưng vì sự gian khổ nguy hiểm, ắt mong được ơn Vua thương xót. Nếu hoàn toàn không được ban thưởng, họ sẽ cho rằng triều đình không biết đến công lao của họ, thì tấm lòng hy sinh vì nước sẽ thành vô ích.

Kính mong đặc biệt ban ơn Vua, đối với các tướng quan, sứ thần có công chế ngự xuất quân trước đây, đều ban thưởng trà thuốc theo thứ bậc, để tỏ rõ bệ hạ biết đến sự vất vả của họ, khích lệ họ lập công sau này.”

Thuần Nhân lại tâu: “Binh sĩ, quân hiệu đều có ban thưởng đặc biệt, chỉ có sứ thần người Hán và người Phiên hoàn toàn không được gì. Ở nơi an lạc của triều đình, đến cả âm nhạc, kỹ nghệ, dù chỉ dùng trong một ngày, cũng đều được ban thưởng, còn những người liều chết ra khỏi biên giới đánh giặc, đi lại thường mất cả chục ngày, lại không được gì, thật là thiếu sót. Hộp bạc chỉ từ năm lạng trở lên, chi phí rất nhỏ, được hay không được, chênh lệch không nhiều, nhưng vì là ơn Vua ban, nên rất được coi trọng, đó là lý do thần nhiều lần trình bày.” Chiếu cho các tướng quan chế ngự ở các lộ, tuy bắt được không đạt năm phần trăm, đặc cách giáng cấp ban thưởng trà thuốc. Đó là theo lời của Thuần Nhân. (Ngày 22 tháng này, Phạm Thuần Túy bàn việc ban thưởng hộp bạc cho Khúc Trân, có thể tham khảo.)

Thuần Nhân lại tâu: “Thần gần đây vì Lưu Thuấn Khanh dùng lệ của Lý Hiến, một mặt ban thưởng đai vàng, đồ bạc cho các tướng thần lập công, lại lỡ ban cho Tẩu mã thừa thụ, Xu mật viện cùng Văn Ngạn Bác, Tam tỉnh bàn định giáng chỉ răn đe. Hôm qua thần đã viết bản thảo trình lên, được phê ‘Y’ ban ra. Thần nhiều lần suy nghĩ, đang giao cho Thuấn Khanh lo việc A Lý Cốt và thành Giảng Châu cùng vùng sinh Khương ở Hà Nam, lẽ nên nới lỏng dây cương, để yên tâm làm việc. Nếu ràng buộc quá gấp, lại sợ y sợ tội rụt rè, làm hỏng việc được giao, xin bệ hạ xem xét.”

(Việc Lưu Thuấn Khanh không rõ thời gian, hành trạng ghi sau việc ban hộp bạc trà thuốc cho những người không đạt năm phần trăm, nay theo đó, còn việc có được nghe theo hay không cần xem xét.)

[33] Ngày Nhâm Ngọ, Vua Liêu sai Ninh Xương quân Tiết độ sứ Gia Luật Củng Thần, Khách tỉnh sứ, Hải châu Phòng ngự sứ Hàn Ý đến chúc mừng lễ Hưng Long.

[34] Ngày Ất Dậu, vì trời đại tuyết lạnh, ban tiền mua củi than cho các quân; lại lệnh cho Khai Phong phủ xét các phường chợ dân nghèo, lấy một trăm vạn tiền chia theo số người, tùy già trẻ mà cấp phát.

[35] Quyền Tri Khai Phong phủ Tiền Hiệp tâu: “Việc phủ này nhiều, có những việc gấp bất thường, không thể thiếu quan. Xin trong các buổi triều hội, khởi cư, luân phiên cử Thôi, Phán quan ở lại phủ, và ngày nghỉ luân phiên cử một viên ở Tả, Hữu sảnh. Nếu phòng ngừa sông, chữa cháy, thì miễn buổi triều hội ngày hôm sau.” Vua nghe theo.

[36] Ngày Bính Tuất, lễ Hưng Long, quần thần và sứ Liêu lần đầu dâng chúc thọ ở điện Tử Thần.

[37] Ngày Kỷ Sửu, vì trời rất lạnh, Vua uống thuốc, bãi bỏ yến tiệc ở điện Tập Anh.

(Vua uống thuốc, theo 《Lữ Công Trước gia truyền》.)

[38] Ngày Nhâm Thìn, Xu mật viện tâu: “Bộ tộc Ngột Chinh Thanh Diên có bảy trăm quân, một vạn phụ nữ, già trẻ vượt sông về phía nam, cần phải quản thúc cho ổn thỏa. Lệnh cho Lưu Thuấn Khanh xử trí, thường cấp lương thực, giữ thủ lĩnh và thân thuộc của những nhà cường hào trong thành, để phòng gian trá. Lại dụ Ngột Chinh Thanh Diên đừng để mất đất phía bắc sông, hoặc chiếm thành Giảng Châu, lý Cung Tông bảo, lệnh cho Hà châu tùy sức mà cứu viện, hoặc gặp cơ hội khó đợi báo cáo, thì được tùy nghi xử trí. Hiện người Hạ và Tây Phiên liên kết với nhau, nên tính toán nhiều phương, nghiêm răn lại biên, rõ ràng việc thám thính, lo liệu trước để phá mưu gian.” Vua nghe theo.

[39] Chiếu rằng: “Cấp năm trăm độ điệp cho Đô thủy giám. Dân hộ được miễn một nửa dịch, miễn đi phu; không đủ một nửa, thì đến nơi mình thuộc hoặc châu lân cận làm dịch công, sai phu phòng ngừa sông. Không đủ, thì lấy tiền thuê mướn sung vào.”

(《Tân lục》 bỏ đi.)

[40] Long đồ các Trực học sĩ, Tri Doanh châu Đằng Nguyên Phát đổi chỗ với Long đồ các Đãi chế, Tri Thành Đức quân Thái Kinh. Vì tên cha của Nguyên Phát trùng với tên phủ, nên tự xin.

[41] Chiếu tuyển bốn nội thị đề cử trường bán than cỏ.

[42] Ngày Giáp Ngọ, ban thưởng tiền củi than cho quân sương các ty ở kinh sư và những người dư thừa, những người già yếu, đói rét, sai quan đến doanh trại tính theo đầu người mà cấp phát. Những người nghèo khó ở các huyện thuộc kinh thành không thể tự nuôi sống bản thân, cùng với người già, trẻ nhỏ, người bệnh tật, kẻ ăn xin, nếu cần cấp gạo đậu thì không bắt buộc theo lệ thường.

[43] Chiếu rằng Lưu Nghị dám dâng sớ tâu bậy, bị giáng làm quan coi cung quán.

(Sự việc ngày 16 trong 《Chính mục》, cần tra cứu kỹ để bổ sung. Cuối tháng 2 năm thứ 3 có ghi chép, có thể thêm vào đây.)

[44] Ngày Bính Thân, chiếu rằng: “Các tướng quan khi mãn nhiệm, Xu mật viện xem xét, tuy tuổi đã 60 nhưng còn có thể làm tướng thì vẫn giữ chức cũ.”

[45] Các bề tôi dâng lời tâu: “Thần thấy rằng trong khoảng thời gian Hi Ninh, Nguyên Phong, việc bãi bỏ và sáp nhập các châu huyện rất nhiều, mục đích chính là để giảm bớt quan lại và giảm nhẹ sức dân. Gần đây, có người bàn rằng việc bãi bỏ và sáp nhập châu huyện tuy có thể giảm bớt quan lại và giảm nhẹ sức dân, nhưng cũng không tránh khỏi những tác hại: biên giới bị thiếu hụt, người nộp thuế có thể oán than trên đường; quan lại rời đi, kẻ trộm cướp có thể hoành hành công khai trong thành thị; cho đến việc kiện tụng, truy nã đều không thuận tiện, điều này triều đình không thể không lo lắng.

Vì vậy, ngày 9 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất có chiếu chỉ: ‘Việc bãi bỏ và sáp nhập châu huyện, lệnh cho các lộ Chuyển vận, Đề hình, Đề cử ty cùng nhau xem xét việc hợp hay không hợp để bãi bỏ và sáp nhập, trình bày lợi hại lên tấu.’ Do đó, các châu huyện đã bị bãi bỏ ở các lộ đều được khôi phục lại. Trong tháng 11 năm nay, có bốn nơi được khôi phục: huyện Lạc Dương, huyện Dĩnh Dương thuộc phủ Hà Nam, huyện Vĩnh Định thuộc châu Hoành, và quân Liên Thủy.

Thần nghĩ rằng việc khôi phục châu huyện, nếu không có lợi ích lớn nào khác, thì chỉ có lợi cho những hộ dân giàu có ở thành thị[4], còn những hộ giàu ở nông thôn lại chịu thiệt hại. Làm sao biết được điều đó? Châu huyện đã được khôi phục, thì thị trấn phồn thịnh và thương mại phát triển, lợi lộc đều về tay dân thành thị, đó là lý do tại sao hộ giàu ở thành thị cảm thấy thuận tiện; khôi phục một thị trấn nhỏ[5], thêm vài trăm người phục dịch, sức lao động đều lấy từ nông thôn, đó là lý do tại sao hộ giàu ở nông thôn chịu thiệt hại.

Từ ngày 9 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất ban chiếu xem xét, đã gần hai năm, những việc lợi hại rõ ràng không thể không khôi phục, khi chiếu chỉ ban ra, đều đã được khôi phục; những việc có thể khôi phục hoặc không, vẫn kéo dài đến nay. Những hộ giàu ở thành thị dẫn đầu những người cùng lợi ích, dụ dỗ những hộ nghèo ở nông thôn, cùng nhau kiến nghị, Chuyển vận ty không nghe thì kiện lên Đề hình ty, Đề hình ty không nghe thì kiện lên Chuyển vận ty, quan trước không nghe thì kiện lên quan sau, nhất định phải khôi phục mới thôi.

Vì vậy, những việc kéo dài đến nay mới khôi phục, đều không phải là những việc lợi hại rõ ràng, không thể không khôi phục.

Hơn nữa, từ khi triều đình thi hành pháp sai dịch, trong ngoài đều cho là hợp lý, nhưng có người bàn rằng những huyện đất xấu dân nghèo, hộ phải đi phục dịch ở nông thôn không nhiều, khó có thể nghỉ ngơi luân phiên, đó là mối lo. Điều này tuy ở mỗi châu huyện có lợi hại khác nhau, nhưng cốt yếu là không thể tăng thêm người phục dịch, đó là điều chung của thiên hạ. Nay các lộ đang vin vào chỉ đạo tạm thời năm trước, không ngừng khôi phục huyện, tăng thêm sức lao động ở nông thôn để làm lợi cho thành thị, thần cho rằng không thuận tiện.

Thần mong Thánh từ đặc biệt ban chỉ đạo, chiếu chỉ ngày 9 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất không được thi hành nữa.” Triều đình đồng ý.

(Cựu lục chép: “Chiếu bãi bỏ việc khôi phục các châu huyện đã bị bãi bỏ. Thời Hi Ninh, cắt giảm và sáp nhập các châu quận huyện để giảm bớt quan lại và giảm nhẹ sức dân, đến đầu Nguyên Hựu, các quan đương nhiệm cố gắng thay đổi việc trước, nhiều việc bị khôi phục hoặc bãi bỏ, một huyện tăng thêm vài trăm người phục dịch, làm khổ nông dân để làm lợi cho thương nhân, người bàn luận đều cho là không đúng, nên bãi bỏ lệnh này.”

Tân lục biện rằng: “Chiếu bãi bỏ việc khôi phục các châu huyện đã bị bãi bỏ đã ghi rõ sự thật, lời của sử quan nên xóa bỏ.”)

[46] Ngày Đinh Dậu, Triều phụng lang Hàn Trị được bổ nhiệm làm Hiệu lý ở Bí các.

[47] Ngày Kỷ Hợi, Xu mật viện tâu rằng các động man ở Thiên Thôn xâm lấn cướp bóc dân biên giới, đã tiến quân đánh dẹp. Chiếu cho Hồ Điền nghe theo sự chỉ huy của Lý Mậu Trực, không được tự ý gây sự.

(Hồ Điền là Tri quân Cừ Dương, cáo từ của Tô Triệt, vào ngày 24 tháng 7. Lý Mậu Trực là Chuyển vận sứ lộ Hồ Bắc.)

[48] Ngày Canh Tý, chiếu rằng: “Các quận huyện có nhiều việc dịch, nơi nào dân hộ không đủ ba phiên, thì dùng tiền trợ dịch của hộ đơn đinh, hộ nữ để chiêu mộ dịch châu; nếu vẫn không đủ hai phiên, thì báo lên Hộ bộ.”

(Cựu lục chép: “Từ khi khôi phục pháp sai dịch, các hương ấp nhỏ hẹp có nơi không thể nghỉ phiên, nên ban chiếu này.” Tân lục biện rằng: “Pháp sai dịch có chỗ bất tiện, chiếu đã sửa đổi, không còn gì nghi ngờ. Lời của sử quan nên xóa bỏ.”)

[49] Xu mật viện tâu: “Lộ Hoàn Khánh sai Phó tổng quản Khúc Trân thống lĩnh tướng sĩ xuất biên giới, đánh dẹp và kiềm chế quân giặc gây loạn ở lộ Kinh Nguyên, tổng cộng hai vạn một trăm người[6], ngoài ra chém được một nghìn hai trăm mười sáu thủ cấp, thu được hơn năm phần mười chiến lợi phẩm.”

Chiếu rằng: “Phó tổng quản Khúc Trân được cấp một bộ hộp bạc bốn mươi lạng, Đô giám của lộ được cấp một bộ hộp bạc hai mươi lạng, các tướng quan mỗi người được cấp một bộ hộp bạc mười lăm lạng[7], Bộ đội tướng, Sứ thần mỗi người được cấp một bộ hộp bạc tám lạng, người không thu được chiến lợi phẩm mỗi người được cấp một bộ hộp bạc năm lạng, trà và thuốc theo lệ tùy kích thước hộp mà cấp, giao cho Suý thần của lộ ban tặng.”

(Thánh chỉ ngày 22, Phạm Thuần Túy tâu luận vào ngày 7 tháng giêng năm sau, nay gộp vào đây.)

[50] Kinh lược sứ Phạm Thuần Túy tâu rằng: “Thần trộm nghĩ, năm xưa tuy có pháp lệnh các lộ lân cận hỗ trợ ứng cứu lẫn nhau, nhưng phần nhiều là do các tướng lĩnh không chú trọng đến lợi ích chung, không coi việc lộ lân cận bị giặc cướp là trách nhiệm của mình, hoặc chỉ điều động một ít quân mã, hoặc cố ý làm chậm trễ, từ từ quan sát tình hình, chỉ làm cho có lệ mà thôi, nên chỉ tốn công hao binh mà chẳng giải quyết được việc gì.

Vì thế, giữa chừng triều đình đã bàn bạc và bãi bỏ hoàn toàn pháp lệnh hỗ trợ ứng cứu giữa các lộ, dẫn đến họa Vĩnh Lạc. Thần từ khi nhậm chức ở Quan Trung đến nay, nhiều lần dâng sớ trình bày, hai năm sau mới được triều đình chấp thuận, tái lập chế độ hỗ trợ ứng cứu.

Ngày mồng 5 tháng 9 vừa qua, nhận được công văn báo tin giặc của lộ Kinh Nguyên, thần lập tức sai Khúc Trân và các tướng khác điểm binh, chuẩn bị hành quân, chỉ trong vài giờ, ngày hôm sau đã tiến quân ra ngoài biên giới hơn 300 dặm, vượt qua vùng núi Hoành Sơn hiểm trở, đánh tan sào huyệt của giặc.

Thần cho rằng, quân giặc Kinh Nguyên đến biên giới nhà Hán vài ngày, các thành trại bị vây chưa lâu, chúng rút lui là nhờ công lao của Trân. Sau khi quân đội rút về hơn trăm ngày, từ Trân trở xuống vẫn chưa được triều đình ban thưởng gì. Thần nghe nói các sứ thần và tướng lĩnh bàn tán rằng: ‘Kinh Nguyên tuy bị giặc cướp, nhưng quân tướng tập trung trong thành chưa từng xuất quân, vẫn được triều đình sai sứ đến thăm hỏi, ban thưởng hậu hĩ. Chúng ta giải nguy cho lộ lân cận, máu đổ ngoài biên giới mấy trăm dặm, triều đình ắt không quên, hãy chờ đợi mệnh lệnh.’ Thần nghe lời ấy mà không biết trả lời sao.

Nay theo chỉ dụ của triều đình, chỉ cho phép thần ban thưởng trà thuốc. Thần nghĩ rằng, tướng sĩ mong đợi ân thưởng không phải chỉ là vài lạng bạc. Mong triều đình biết rõ công lao của họ, ban cho một lời khen ngợi, thì trong quân sẽ vinh dự hơn cả việc được ban áo cổn, tình người không xa, có thể suy ra được.

Nay nếu chỉ ban cho mỗi người vài lạng bạc từ kho của châu, thì so với lệ của Kinh Nguyên, e rằng chưa đáp ứng được nguyện vọng thầm kín của tướng sĩ, thần e rằng trên thì không thể hiện được ý triều đình ban thưởng quân đội trở về, dưới thì không khích lệ được lòng hăng hái lập công của tướng sĩ. Biên cương chưa yên, việc khuyến khích hay ngăn cản đều quan trọng, nên thần chưa dám nói ra chỉ dụ ban thưởng này, đã niêm phong cất giữ.

Mong bệ hạ xem xét kỹ, chỉ sai sứ thần theo lệ của lộ Kinh Nguyên, đến Khánh Châu thăm hỏi tướng quan Khúc Trân và các sứ thần đã xuất quân, ban thưởng trà thuốc và bạc, để tỏ rõ ý triều đình không quên công lao. Triều đình không tốn thêm chi phí, mà khí thế quân sĩ trong lộ được khích lệ, phần nào thỏa lòng người, không phải là việc nhỏ.”

Tờ thiếp hoàng: “Từ khi Khúc Trân rút quân về, chưa nghe triều đình có ban thưởng gì. Thần ngu muội đêm ngày suy nghĩ, muốn xin điều gì, nhưng thần là người cầm quân, e ngại việc mình xin, nếu im lặng thì tướng sĩ lại mong đợi.

Nay theo chỉ dụ của triều đình, đã quyết định ban thưởng riêng cho các tướng xuất quân, thần mới dám mạo muội tâu lên. Còn như ân điển ban thưởng công lao cho Khúc Trân và các tướng sau này, mong bệ hạ nghĩ đến việc biên cương chưa yên, pháp lệnh hỗ trợ ứng cứu mới được tái lập, Trân và các tướng đã tận lực trung thành, vượt hiểm nguy, giúp triều đình giải nguy cho lộ lân cận, không giống như việc tự vệ khi bị giặc cướp.

Xin bệ hạ đặc cách ban thưởng hậu hĩ cho Trân và các tướng, để từ nay các tướng lĩnh các lộ không phân biệt lộ này lộ kia, cùng biết vì lợi ích chung mà giải quyết việc cho triều đình.”

(Việc tâu xin của Thuần Túy được chấp thuận hay không, cần tra cứu thêm. Ngày 16 tháng 2 năm thứ 3, Khúc Trân được thăng chức Dao phòng.)

[51] Triều phụng đại phu, trực bí các Hoàng Liêm làm Tả ty lang trung.

Liêm từng nói với các con cháu: “Trước đây khi làm án sát xứ Xuyên, xem xét chính sự các đồn bảo, tùy việc mà đặt ra quy chế. Việc gì thuận lợi cho công, không vội bỏ đi để lấy tiếng; việc gì hại dân, không vội giữ lại để mưu lợi. Những người bàn luận chưa cho là phải. Năm nay, ta thay người trước đảm nhiệm việc trà mã, những điều trước đây dùng để răn dạy người khác, nay chính mình phải gánh vác. Tại chức hơn một năm, pháp lệnh không có gì trở ngại không thi hành được[8], các sĩ đại phu mới tỏ ra tin tưởng. Vì vậy biết rằng không có thành kiến để xử lý công việc, lợi hại thì tạm nghe theo, dù là việc của người hay của mình, đều không có gì ngăn trở.”

Trước đây, thời Lục Sư Mẫn, mỗi năm tính lợi tức từ trà được một trăm hai mươi vạn quan, bóc lột gây oán, không việc gì không làm, mỗi năm thu được hai trăm vạn quan. Đến khi Liêm đảm nhiệm việc này, dẹp bỏ hết những tệ nạn công tư, trong vài năm, cũng thu được một trăm hai mươi vạn quan.

[52] Công bộ lang trung Thịnh Đào làm Hữu ty lang trung. Triều phụng lang Tống Phỉ Cung làm Chính tự. Phỉ Cung là con của Tống Mẫn Cầu, được Văn Ngạn Bác tiến cử. (Ngạn Bác tiến cử, theo sách 《Tòng chính mục》.) Triều phụng lang Cừu Bá Ngọc quyền đồng quản câu Thiểm Tây đẳng lộ trà mã sự kiêm đề cử mua ngựa.

[53] Ngày Nhâm Dần, Tả ty gián Hàn Xuyên, Hữu chánh ngôn Đinh Chất vào chầu, Thái hoàng thái hậu nói: “Tuyết lớn, dân chúng khó khăn, đã lệnh phát tiền, đã phân phát đều chưa?” Xuyên đáp: “Thánh ân chu đáo, dân chúng rất may mắn!”

[54] Chiếu cho Kinh lược ty các lộ Thiểm Tây, Hà Đông răn dạy các tướng, thường chuẩn bị sẵn sàng xuất chiến, nếu trong vòng hai trăm dặm gần biên giới có quân địch tập trung, thì bất ngờ tiến đánh, dùng kế đến nhanh rút nhanh.

(Đây là dùng kế của An Đào, ngày 16 tháng 9.)

[55] Chiếu ban hành 《Nguyên Hựu tường định biên sắc lệnh thức》.

Trước đây, Tô Tụng và các người khác vâng chiếu soạn định, sau khi hoàn thành, dâng biểu tâu rằng:

“Chúng thần nay lấy các sắc lệnh, cách thức từ thời Nguyên Phong cùng các điều lệ hành chính ban hành trước cuối tháng 12 năm Nguyên Hựu thứ 2, tổng cộng 6.876 đạo, chọn lọc từ các biên sắc thời Gia Hựu, Hi Ninh, cùng các phụ lệnh sắc, nghiên cứu kỹ lưỡng nguồn gốc và diễn biến, tổng hợp những gì đã thực hiện trong hai kỷ, tóm tắt đại yếu của ba bộ sách, dành nhiều năm sưu tầm, suy nghĩ tận cùng, dần dần biên soạn, sơ lược thành cương lĩnh. Theo từng mục đặt tiêu đề, dùng theo chế độ cũ, lấy nghĩa đặt tên chương, noi theo luật nhà Đường. Trong đó, một điều cấm có thể có nhiều khoản, một khoản có thể bao hàm nhiều việc, đều được phân loại và gắn vào mục tương ứng. Ý nghĩa muốn rõ ràng, lý lẽ cần thêm bớt, văn trùng lặp thì cắt bỏ, ý thiếu sót thì bổ sung, làm cho đơn giản dễ theo, để lâu dài không có sai sót.

Lại xét theo biên chế trước thời Hi Ninh, các điều khoản được phân chia theo từng mục, sắp xếp theo loại, quy định về thưởng phạt, điều khoản cụ thể đều được ghi chép đầy đủ, nhờ đó các cơ quan dễ dàng tra cứu. Đến thời Nguyên Phong, các điều khoản được sắp xếp theo từng tội danh, chia vào các thiên, lấy quy định làm lệnh, hình phạt làm sắc, thưởng công làm cách, không còn phân chia theo mục nữa, do đó khi tra cứu thường bị thiếu sót. Nay thì căn cứ theo thể lệ trước thời Hi Ninh để biên soạn lại, không lập riêng các điều khoản thưởng.

Lại xét xưa kia khi bàn về hình phạt, ắt phải tham khảo ý kiến của mọi người. Thời Hán dùng 《Xuân Thu》 để xét xử các vụ án khó, bắt đầu từ Đổng Trọng Thư; thời Đường dùng lao dịch thay cho nhục hình, hoàn thành nhờ Bùi Hoằng Hiến[9]; lại có những điều khoản được lập ra do có người tấu trình, tùy theo sự việc mà đặt ra, việc xét xử báo cáo rất nhiều, việc bỏ bớt hay giữ lại càng phải thận trọng.

Trước kia biên soạn sắc lệnh thời Hi Ninh[10], chỉ dựa theo văn bản cũ thời Gia Hựu, sắc lệnh thời Nguyên Phong cũng chỉ dùng các điều lệ trước thời Hi Ninh để thêm bớt, biên soạn, không xét lại ý nghĩa của việc sáng lập và cải cách pháp luật trước đó. Nay thì bắt đầu từ thời Gia Hựu, đến nay đã hơn 20 năm, các sắc lệnh ban hành khắp nơi và những lời tâu trình về lợi hại từ các sĩ thứ bốn phương, đều được tham khảo, xem xét khả thi hay không, có chỗ theo, có chỗ bỏ.

Lại xét tình người thường có nhiều thiên lệch, ý pháp luật chưa được chu toàn, cần phải bổ sung thêm mới được chi tiết, kỹ lưỡng. Xét các nghị luận thời Đông Đô, Ứng Thiệu có câu ‘do thần sáng tạo’; xem sách thời Khánh Lịch, các quan có điều lệ tham khảo và lập mới. Nay trong các sắc lệnh và điều thức, nếu có việc chưa đầy đủ, cùng với các quan biên soạn bàn bạc và lập thành điều khoản, thì theo lệ cũ thời Khánh Lịch, chú thích rằng ‘do thần tham khảo và lập mới’.

Lại theo pháp lệnh quy định, sự việc không chỉ một loại, từ quận, huyện, tỉnh, đến các đài, kỷ cương rườm rà, những điều đã ghi chép trước đây đều có sách riêng. Luật thời Ngụy thì Thượng thư, châu, quận, đều có quy định riêng; quy cách thời Đường thì lưu lại ở các ty hoặc ban bố rộng rãi, tên gọi cũng khác nhau.

Tất cả đều nhằm thuận tiện cho việc quản lý, không để lẫn lộn. Sắc lệnh thời Nguyên Phong lấy từ sắc lệnh thời Hi Ninh, trong đó hợp nhất sáu bộ Thượng thư tại kinh đô để áp dụng chung, cùng với các việc của một lộ, một châu, một huyện đều được phân về các nơi tương ứng. Nếu thu hồi hết, e rằng sẽ gây rối rắm.

Nay hợp những điều liên quan đến năm lộ trở lên, theo sắc lệnh cũ mà tu chỉnh vào sắc lệnh mới; những điều còn lại có liên quan đến tiết mục, điều chế tương tự, có thể tùy việc mà đặt ra văn bản, không cần lập riêng điều luật, dù chỉ liên quan đến một lộ, một ty, cũng đều phụ vào điều khoản tương ứng để biên soạn.

Lại có những sách được lập riêng cho một việc cụ thể, như sách ‘Cảnh Đức Nông Điền’, ‘Khánh Lịch Cống Cử’, đều có điều sắc riêng, giao cho các ty quản lý. Nay sách ‘Nguyên Hựu Sai Dịch Sắc’ đã hoàn thành, cùng với những điều lệ được lập riêng cho việc cống cử, xuất sứ trong những năm gần đây, vì không thường xuyên áp dụng, chỉ dùng khi có việc, nên đã tách riêng, không để lẫn lộn.

Còn những quy định tạm thời, do ba tỉnh phụng hành, như việc bãi bỏ, thay đổi, miễn trừ, giảm bớt, đều liên quan đến thể chế trị nước, cần phải được thống nhất, việc lớn thì tấu trình lên hoàng đế, việc nhỏ thì thảo luận với các quan chấp chính, sau khi có quyết định, đều ghi vào sách.

Lại theo ‘Hình Thống’ trích ra những điều ‘Luật nội dư điều chuẩn thử’ phụ vào sau phần ‘Danh lệ’, liệt kê các điều khoản theo từng loại, nay cũng lấy 64 điều trong sắc lệnh có tính chất tương tự, biên thành một thiên riêng.

Tổng cộng đã sửa đổi và biên soạn thành 2.440 điều sắc lệnh, chia làm 12 quyển, trong đó có những điều khoản nhiều thì chia thành thượng hạ, tổng cộng 17 quyển, mục lục 3 quyển; 1.020 điều lệnh, tổng cộng 25 quyển; 127 điều thức, tổng cộng 6 quyển; mục lục lệnh thức 2 quyển, do minh 1 quyển, các điều còn lại chuẩn theo lệ này 1 quyển, sách xá và đức âm từ năm Nguyên Phong thứ 7 trở về sau 1 quyển. Tổng cộng 56 quyển, hợp thành một bộ. Sau đó được khắc in và ban hành.”

(Sắc lệnh thời Nguyên Hựu, đến ngày 10 tháng 7 năm Sùng Ninh thứ nhất được chiếu hủy bỏ, nay các châu pháp ty cũng thường không còn, sợ rằng sẽ bị thất lạc, nên chép lại lời biểu của Tô Tụng để ghi chép ở đây. Cả tân lục và cựu lục đều ghi là ban hành vào ngày Nhâm Dần, nay theo đó. Ngày 18 tháng 2 năm sau, Tô Tụng và những người khác được ban ân.)

[56] Giám sát Ngự sử Dương Khang Quốc tâu: “Thần trước đây ở triều đường thấy trăm quan tụ họp, cùng bàn về đề thi do Học sĩ viện soạn để triệu thí Liêu Chính Nhất vào chức quán, hỏi về việc Vương Mãng và Tào Tháo chiếm đoạt thiên hạ khó dễ thế nào, ai nấy đều kinh hãi nhìn nhau.

Lúc đó thần chưa có trách nhiệm tâu trình, không có cách nào để báo lên, chỉ tự cảm thấy kinh sợ và lạnh lòng mà không nỡ nghe. Điều này chắc chắn là do không có ai nói với bệ hạ về tình trạng không thể chấp nhận được, khiến triều đình còn chậm trễ trong việc trừng phạt [người soạn đề].

Thần nay may mắn được ơn thánh, được đặt vào chức vụ có quyền tâu trình, há dám sợ hãi im lặng, an phận hưởng lộc, làm phụ lòng bệ hạ giao phó? Huống chi Thạch Lặc chỉ là một kẻ tiếm ngụy, còn nói: ‘Ta quyết không học theo Tào Mạnh Đức và Tư Mã Trọng Đạt, dùng thủ đoạn xảo trá để đoạt thiên hạ.’ Thần là bề tôi, không nỡ nói hết lời của Thạch Lặc.” Người soạn đề thi là Tô Thức.

(Lời của Khang Quốc, theo biên loại chương sơ[11] là tấu trình vào ngày 24 tháng 12 năm thứ hai. Ngày 28, Triệu Đĩnh Chi tâu; ngày 19 tháng giêng năm thứ ba, Vương Địch tâu.)

[57] Ngày Giáp Thìn, Vua Liêu sai Tiết độ sứ quân Thụy Thánh là Gia Luật Trọng Tuyên[12], Quan sát sứ châu Thái là Gia Luật Tịnh, Chính nghị đại phu, giữ chức Sùng Lộc khanh là Quách Mục, Trung tán đại phu, giữ chức Thái thường thiếu khanh, kiêm Tu soạn sử quán là Diêu Xí Trình, đến chúc mừng ngày Chính đán.

[58] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu cho Chuyển vận sứ Hồ Bắc là Lý Mậu Trực: “Những người ở các động Khê, nếu không phải là kẻ chủ mưu đầu tiên và những kẻ bị bắt ép theo, thì cho phép họ tự do ra vào, còn những kẻ chủ mưu thì bắt giải đến quan để nhận thưởng.”

[59] Ngày Bính Ngọ, ban chiếu cho các cơ quan không được nhận tờ tâu xin nghỉ hưu của Văn Ngạn Bác.

(Ngự tập ngày 28, chiếu ngày 13 tháng 9.)

[60] Giám sát ngự sử Triệu Đĩnh Chi tấu: (Theo biên loại chương sớ tăng nhập, ngày 28 tháng 12 năm thứ hai.) “Tô Thức chuyên môn dẫn dắt những kẻ khinh bạc, hư đản, giống như những kẻ hề nơi chợ búa vào cửa mình, chọn những kẻ phù phiếm nhất để tiến cử.

Trước đây, trong mười khoa, hắn tiến cử Vương Củng; khi tự tiến cử người thay thế, lại tiến cử Hoàng Đình Kiên. Hai người này khinh bạc vô hạnh, ít ai sánh được. Vương Củng tuy đã bị đuổi ra ngoài, nhưng tội ác của Hoàng Đình Kiên còn lớn hơn, vẫn đang ở trong sử cục. Xét học thuật của Tô Thức vốn xuất phát từ sách 《Chiến Quốc sách》 của Tô Tần, Trương Nghi, dùng thuyết tung hoành suy đoán.

Gần đây, trong viện học sĩ, khi thi sách vấn Liêu Chính Nhất để bổ nhiệm chức vụ, hắn lại dùng thuật soán ngôi của Vương Mãng, Viên Thiệu, Đổng Trác, Tào Tháo làm đề thi. Vương Mãng thời Nguyên Hậu lâm triều, âm thầm cướp ngôi nhà Hán; Tào Tháo lừa gạt cô quả, mưu cướp thiên hạ; hai họ Viên và Đổng Trác hung hãn ngút trời. Từ khi có loài người đến nay, chưa có bọn gian thần độc ác nào vượt qua mấy kẻ này, khiến bậc trung thần liệt sĩ căm giận mà không nỡ nói, học sĩ đại phu kiêng kỵ mà chưa từng nhắc đến.

Nay hai thánh đế ở trên, Tô Thức thay lời Vua, lại chuyên dẫn chuyện Vương Mãng, Đổng Trác, Viên Thiệu, Tào Tháo, và tìm cách soán ngôi nhanh chậm, đây là nghĩa gì! Công khai lừa dối trí thông minh của hai thánh đế, không chút sợ hãi, xét tâm địa của hắn, tội không thể tha. Tô Thức tâm địa bất trung bất chính, phụ ơn thánh, nếu để hắn đắc chí, sẽ không việc gì không làm.”

[61] Chiếu rằng: “Các văn thư hành khiển của Lục bộ, nếu đã có chứng cứ rõ ràng, sự lý minh bạch, mà cố tình làm sai, kéo dài ngày tháng, quá mười ngày trở lên, thì thủ phân bị đánh tám mươi trượng, chức cấp bị ghi vào sổ, ba lần ghi vào sổ thì bị đánh sáu mươi trượng. Lang quan bị ghi vào sổ nếu việc nặng, thủ phân bị giáng tư hoặc giáng danh, và phải báo lên Thượng thư tỉnh chỉ huy. Lại lệnh cho Tả Hữu ty và Lục sát kiểm điểm, các quan ty nếu gặp việc trên không hợp lý, không được trả lời, phải trình báo sự việc thẳng lên Thượng thư tỉnh.”

[62] Ngày Đinh Mùi, Kinh lược sứ Hoàn Khánh lộ Phạm Thuần Túy tâu:

“Nhận chiếu ngày 5 tháng 12: ‘Giặc Tây đánh phá Trấn Nhung quân, rút toàn quân về, lo rằng chúng có âm mưu khác, nên chiêu mộ nhiều tử sĩ đi sâu do thám, hoặc có thể dùng kế ly gián. Xét thấy Hoàn Khánh đánh dẹp Khúc Lục Luật, bắt được tù binh, gần đây có thủ lĩnh ra hàng, hãy cho Phạm Thuần Túy chọn người thân tín làm quan chức, giao thiệp với thủ lĩnh ra hàng, dùng sở thích dụ dỗ, xem xét người có thể sai vào Tây giới do thám, thì bí mật bảo lãnh một hai người, không để họ biết nhau, trao mật hiệu, dạy cách ly gián, và báo cáo tình hình bên đó, rồi tâu lên.’

Thần nghĩ rằng kế ly gián tuy là mưu hay của nhà binh, nhưng phải đúng thời mới thành công, nếu thế chưa thuận thì không những vô ích mà còn có hại.

Họ Lương nắm quyền trong nước đã lâu, những kẻ đối địch đều bị hại, nên dân chúng và các thủ lĩnh tuy oán hận nhưng vẫn phải nghe theo, chưa thấy ai dám hành động. Họ Lương tuy có ý chiếm đoạt, nhưng vẫn phải lập con cháu họ Uy Minh để trị dân, vì biết dân không phục, mà các thủ lĩnh còn đáng sợ. Họ có ý đồ nhưng chưa thực hiện được, còn e ngại và không được lòng dân. Vì thế, dù có lúc ngang ngược nhưng chưa dốc lòng chống Trung Quốc, hiện nay thực là lợi cho Trung Quốc.

Nay triều đình giao cho thần dùng kế ly gián, muốn như trường hợp Dã Lợi ngày trước, thần nghĩ Dã Lợi được lòng dân, giỏi chiến đấu, là tâm phúc của Nguyên Hạo, dùng kế ly gián trừ đi thực có lợi cho ta. Nay thủ lĩnh Hạ quốc chỉ còn họ Lương, thân thuộc trong ngoài đều nắm quyền, cùng đồng lòng làm ác, có âm mưu sâu xa, lời ly gián khó lọt vào.

Các thủ lĩnh khác tuy còn sống nhưng bị đẩy ra ngoài, không được dự vào việc nước và binh quyền, những kẻ có chút quyền lực, được cai quản binh mã, chỉ như Uy Minh Đặc Khắc Tế, Sa Khắc Tinh Đa, Bối Trung Triệt Thần, chừng ba bốn người, đều là kẻ họ Lương e ngại, ngày đêm tìm cách trừ khử, chỉ sợ không có cớ. Nếu lời ly gián lộ ra, thực là món hời cho họ Lương, ba bốn người đó không chết thì cũng trốn, chỉ giúp họ Lương trừ kẻ thù. Kẻ thù hết, họ Lương sẽ tự do gây họa biên giới.

Nếu muốn ly gián phe cánh Uy Minh, khiến họ oán hận họ Lương mà có ý đồ trong nước, thì phe cánh đó đã rất oán hận họ Lương, nhưng vì lực bất tòng tâm nên phải nép mình dưới quyền mà không làm gì được. Thần nghĩ như vậy, chưa biết triều đình nghĩ sao. Ngoài việc ly gián thần chưa dám thử, còn việc tuyển người ra hàng đi do thám, thần sẽ cẩn thận thi hành.”

(Thực lục ghi chiếu ngày 5 tháng 12 này vào ngày 25 tháng giêng năm sau, e là sai. Nay theo tấu nghị của Phạm Thuần Túy.)

[63] Mùa đông năm đó, bắt đầu đóng cửa sông Biện.

(Điều này căn cứ theo lời Thái Kinh vào ngày 27 tháng 12 năm Thiệu Thánh thứ nhất, cùng với lời Lý Trọng vào tháng giêng năm thứ ba mà thêm vào. Cuối mùa đông năm Nguyên Hựu thứ tư, Lương Đào có tấu nghị, cần xem xét.)

[64] Năm đó, có 8 người con trong hoàng tộc được ban tên và phong chức, xử tử 5.573 người.


  1. Bốn phú kinh tài thực: chữ 'kinh' nguyên là 'khinh', chữ 'thực' nguyên là 'phí', theo 《Tân Đường thư》 quyển 157, truyện Lục Chí sửa lại.
  2. Sáu đức bảo vệ người bệnh: chữ 'đức' nguyên là 'thính', theo sách trên sửa lại.
  3. Ngày 24 tháng 4 mới có chỉ dụ 'Tháng 4' nguyên bản là 'Tháng 6', căn cứ vào quyển 376 năm Nguyên Hựu thứ nhất ngày Tân Hợi tháng 4, quyển 380 năm Nguyên Hựu thứ nhất ngày Nhâm Dần tháng 6 sửa lại.
  4. chỉ có lợi cho những hộ dân giàu có ở thành thị 'thượng' nguyên văn là 'nhân', theo bản sửa
  5. khôi phục một thị trấn nhỏ 'nhất' nguyên văn là 'dĩ', theo bản sửa
  6. 'Hai vạn' nguyên bản viết 'một vạn', căn cứ theo các bản khác và ý văn dưới mà sửa.
  7. 'Mỗi người' nguyên bản viết 'cùng nhau', căn cứ theo các bản khác mà sửa.
  8. 'Pháp lệnh không có gì trở ngại không thi hành được', chữ 'ngại' nguyên bản là 'điền', căn cứ theo bản trong các các mà sửa.
  9. 'Hoằng' nguyên bản là 'hoành'. Xét theo 《Tân Đường thư》 quyển 46 và 《Cựu Đường thư》 quyển 50, 'hoành hiến' tức Bùi Hoằng Hiến, người đời Thanh kiêng húy của Thanh Cao Tông Hoằng Lịch nên đổi, nay đổi lại
  10. 'Sắc' nguyên bản là 'chỉ', căn cứ theo bản trong các kho lưu trữ mà sửa
  11. Chữ 'loại' trong 'biên loại chương sơ' nguyên bản thiếu, theo các bản khác bổ sung.
  12. Vua Liêu sai Tiết độ sứ quân Thụy Thánh là Gia Luật Trọng Tuyên, chữ 'Thụy' nguyên bản là 'Đoan', căn cứ theo bản trong các kho lưu trữ mà sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.