III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 62: NĂM CẢNH ĐỨC THỨ 3 (BÍNH NGỌ, 1006)
Từ tháng giêng đến tháng tư năm Cảnh Đức thứ 3 đời Chân Tông.
[1] Tháng giêng, ngày Giáp Thìn mùng một, Vua không nhận triều, các quan Tể tướng dẫn đầu văn võ bá quan, nội chức, tướng hiệu và sứ giả nước Khiết Đan đến cửa khuyết dâng biểu chúc mừng. Theo chế độ cũ, các tướng hiệu trong quân đội cùng với Xu mật sứ trở xuống[1], đến điện Trường Xuân dâng biểu. Năm nay, vì sứ giả nước Khiết Đan có mặt trong hàng ngũ, nên tất cả đều theo hàng ngũ văn võ.
[2] Ngày Đinh Mùi, bãi bỏ việc mua cỏ khô ở các châu gần kinh thành, vì sắp đến mùa làm ruộng, lo ngại việc này sẽ làm phiền dân.
[3] Tạm ngừng thu thuế các châu quân bị thiên tai lũ lụt ở Kinh Đông, Kinh Tây và Hoài Nam.
[4] Ngày Kỷ Dậu, ra chiếu cho phép dân lưu vong từ Hà Nam đến Hà Bắc được xin cày cấy ruộng hoang.
[5] Địa hình các lăng tẩm thấp trũng, nước đọng, bắt đầu bàn việc tu sửa và ngăn chặn. Ngày Nhâm Tý, sai Tiết độ sứ Vũ Thắng, Phò mã đô úy Ngô Nguyên ỷ làm Đô bộ thự giám tu đường sông các lăng, Phó đô tri Nội thị tả ban Diêm Thừa Hàn làm phó. Trước đó, sai Công bộ thượng thư Vương Hóa Cơ đi báo cáo. Sau đó, theo lời thỉnh cầu của Ngô Nguyên ỷ, cấm dân không được đào bới đất gần lăng, lệnh cho bản trấn trồng thêm cây tốt, những nhà dân và công sở trong khu vực phía bắc phải dời ra ngoài 300 bước, việc này hoàn thành trong ba tháng. Lại sai sứ giả đi báo cáo với ba lăng và núi Tung Nhạc.
[6] Viện Thái thường Lễ nói: “Theo chiếu, lễ tế lớn ở Thái miếu định vào ngày Ất Mão, nhưng hôm đó là ngày di quan của Vận vương, việc tốt và việc xấu khác đường, theo lễ không được xen lẫn, xin đổi ngày.” Chiếu đổi sang ngày Tân Dậu.
[7] Ngày Giáp Dần, vì Khiết Đan nhiều lần cử sứ giả đến giảng hòa, sai cận thần đi cáo bạch với các lăng.
[8] Ngày Đinh Tỵ, sai sứ giả đến các huyện gần kinh thành mở kho phát chẩn cứu dân nghèo, thu nhặt và chôn cất những thi hài bỏ ngoài bốn cửa thành, thân hành tha cho hơn 60 tù nhân bị giam vì nợ thuế. Đây là do ân xá sau lễ tế Giao. Vua lo ngại các quan lại chậm trễ, nên ngự ở điện Tiện xử lý ngay, những việc khác cũng theo đó mà làm.
[9] Ngày Canh Thân, lệnh cho Ty chuyển vận Kinh Tây mở kho phát thóc cứu dân nghèo, lại sai sứ giả đến Nhữ Châu phát chẩn.
[10] Ngày Đinh Mão, sai sứ điều tra, xét duyệt các quân, Xu mật đô thừa chỉ Hàn Sùng Huấn cùng các quan đến Điện tiền, Thị vệ ty, Cung bị khố sứ, Đái ngự khí giới Kỳ Chính Mẫn chia nhau đi các châu ở Kinh Đông, Kinh Tây.
[11] Ban chiếu cho dân ở vùng biên giới trở về được miễn thuế ba năm.
[12] Trước đây, khi Cừu Tượng Tiên và những người khác bị tước chức, các quan pháp quan ở Khai Phong phủ đã định tội họ. Sau đó, Tượng Tiên và những người khác đến Đăng Văn viện kêu oan. Triều đình ban chiếu cho Công bộ Thượng thư Vương Hóa Cơ, Xu mật trực học sĩ Lý Tuấn, Ngự sử trung thừa Lã Văn Trọng, Cấp sự trung Đổng Nghiễm, Tri tạp ngự sử Vương Tế[2] xem xét lại. Tất cả đều nói rằng việc của Tượng Tiên và những người khác tuy có sai sót, nhưng theo pháp luật thì chưa đến mức phải truy tước quan chức. Ngày Mậu Thìn, ban chiếu cho họ được khôi phục chức vụ cũ, và trị tội các quan thuộc Khai Phong phủ.
[13] Dân chúng ở các châu Thanh, Tề, Truy, Duy, Đăng, Lai bị đói. Ngày Kỷ Tỵ, ban chiếu cho Kinh Đông chuyển vận ty cứu tế. Lại sai Đồn điền lang trung Dương Đàm đi ngựa trạm cùng với Hà Bắc chuyển vận ty cứu tế dân đói ở các châu Thiền, Tân, Đức, Lệ, Bác.
[14] Ngày Tân Mùi, lấy Công bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Vương Tế, Tỷ bộ viên ngoại lang Tôn Sùng Gián quyền phán Ty Nông tự, Sùng Gián được cấp bổng lộc theo chức vụ, mỗi tháng được thêm tiền trợ cấp 7.000 quan. Bắt đầu lập kho Thường bình. Trước đó, có người tâu rằng để phòng ngừa thiên tai lũ lụt, nên có biện pháp dự phòng, xưa có kho Thường bình, nay nên khôi phục lại. Xin ở các vùng Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Đông, Thiểm Tây, Giang Hoài, Lưỡng Chiết, căn cứ vào số hộ khẩu nhiều ít[3], lượng tiền thượng cung để lại, từ 1.000 quan đến 20.000 quan, lệnh cho Chuyển vận sứ mỗi châu chọn quan thanh liêm phụ trách, giao Ty Nông tự quản lý, Tam ty không được tùy tiện sử dụng. Hàng năm vào mùa hạ và mùa thu, căn cứ giá thị trường tăng thêm tiền để thu mua, khi giá cao thì giảm giá bán ra, đợi sau 10 năm có lãi thì trả lại vốn cho Tam ty. Chiếu cho Tam ty họp bàn, xin làm theo lời tâu, nhưng vùng biên giới không tăng thêm. Do đó, quan lại Ty Nông xây dựng trụ sở, lưu trữ sổ sách, Độ chi thiết lập riêng án Thường bình thương.
Đại khái mỗi vạn hộ mỗi năm dư ra một vạn thạch[4], tối đa là năm vạn thạch. Hoặc ba năm trở lên không bán ra[5], thì chuyển làm lương thực dự trữ, dùng thóc mới bổ sung vào. Sau đó, có chiếu rằng các châu quân bị thiên tai bán thóc, mỗi đấu không quá 100 tiền.
[15] Chiếu cho Ty Chuyển vận Thiểm Tây xem xét những nơi trong khu vực quản lý thiếu lương thực, lập tức cứu tế.
[16] Ngày Quý Dậu, ban thưởng cho các quan biên soạn sách “Quân thần sự tích” là Thái bộc thiếu khanh, Trực bí các Tiền Duy Diễn và những người khác cây thung dung. Theo chế độ cũ, việc ban thưởng phương vật chỉ dành cho các cận thần, đến nay, vì ưu đãi chức vụ này nên mới có lệ này.
[17] Tháng đó, ban chiếu phong cho Hợp Cùng Ba của tộc Giả Long và Nghiệp La của tộc Đảng Tông làm thủ lĩnh bản tộc, kiêm chức Kiểm hiệu Thái tử Tân khách, đều là ngoại thích của Tư Đạc Đốc.
[18] Ngũ Khê đô phòng ngự sứ Hướng Thông Hán dâng biểu xin truy tặng cha mẹ, được chấp thuận.
[19] Tháng 2, ngày Giáp Tuất mùng một, Thượng Khê châu thứ sử Bành Văn Khánh dẫn 62 người man ở động Khê đến triều cống và dâng phương vật. Vua nhìn Bành Văn Khánh nói: “Ngươi khéo cai trị, nên càng gắng hết lòng.” Lại bảo các người man rằng: “Từ nay đừng phạm lỗi nữa, kẻ phạm tội sẽ không tha.” Mỗi người được ban thưởng áo gấm, đai bạc khác nhau.
[20] Trước đây, từ niên hiệu Khai Bảo, các quan văn võ từ chức Lang trung, Thứ sử, Tướng quân trở lên, vào ngày kỵ riêng được nghỉ, sau đó, người biên soạn sách luật bỏ sót không ghi chép, các cơ quan cứ theo lệ cũ mà làm. Ngày Ất Hợi, bắt đầu ban chiếu cho quần thần từ nay vào ngày kỵ riêng đều được nghỉ một ngày, đêm trước ngày kỵ được về nhà riêng.
[21] Ban chiếu cho các vùng Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam, Hà Bắc cứu tế những hộ khách thiếu ăn.
[22] Ngày Bính Tý, Quyền Tam ty sứ Đinh Vị tâu: “Đường Vũ Văn Dung đặt chức Khuyến nông phán quan để kiểm tra hộ khẩu, ruộng đất gian lận, nay muốn đặt riêng, sợ thêm phiền nhiễu. Các châu trưởng quan vốn có chức trách khuyến nông, xin cho các chức Thiếu khanh giám, Thứ sử, Cáp môn sứ trở lên làm tri châu đều kiêm chức Quản nội Khuyến nông sứ, còn lại và Thông phán đều kiêm chức Khuyến nông sự, các lộ Chuyển vận sứ, Phó sứ đều kiêm chức Bản lộ Khuyến nông sứ.” Chiếu chuẩn y. Chức Khuyến nông sứ bắt đầu từ đây.
[23] Ban chiếu cho các Tiết độ sứ, Quan sát sứ, Phòng ngự sứ, Đoàn luyện sứ, Thứ sử cai quản các quận ở Quảng Nam, Xuyên Hạp không được bắt người công để làm việc riêng.
[24] Ngày Mậu Dần, châu Đại tâu rằng trại Đại Thạch nhận được công văn của phủ Nam Đại Vương Y Thực nước Khiết Đan, muốn từ thung lũng Đại Thạch đến vùng núi sâu trên biên giới để săn bắn, đã lệnh cho trại này và các tuần kiểm biên giới báo cáo công văn cấm chỉ. Chiếu rằng từ nay châu này gửi văn thư khuyên răn, không để các trại tự ý gửi công văn, vì lo ngại sự không thống nhất.
[25] Chiếu rằng các quan lại ở Trung thư và các ty phạm tội tham nhũng, nếu đã được xử lý ở các ty, thì vĩnh viễn không được bổ nhiệm làm quan ngoại.
[26] Ngày Kỷ Mão, đến yết kiến lăng Minh Đức hoàng hậu, theo nghi lễ như năm thứ hai.
[27] Ngày Canh Thìn, chiếu rằng các quan hành thượng thư, học sĩ Văn Minh điện, đại học sĩ Tư Chính điện, được cấp mười người tùy tùng; học sĩ, thừa lang sáu người; cấp gián, xá nhân năm người; các ty tam phẩm bốn người, do Khai Phong phủ và Kim Ngô điều động, mỗi quý thay đổi. Trung thư trước đây điều động tùy tùng từ Kim Ngô, từ nay cũng cho phép sử dụng thêm tán tòng quan của Khai Phong phủ.
[28] Chiếu rằng những người dự thi khoa cử bị đánh trượt vì vi phạm quy định hoặc bị cấm thi vĩnh viễn, nếu không bị đánh đòn, đều được phép thi lại.
[29] Ngày Tân Tỵ, lệnh cho Tri chế cáo Chu Tốn người Thiên Trường và Trực sử quán Trương Phục người Khai Phong, lấy nhật lịch, thời chính ký, khởi cư chú, hành trạng của hai triều Thái Tổ và Thái Tông từ Sử quán, biên soạn rồi tâu lên, lại lệnh Đại học sĩ Tư Chính điện Vương Khâm Nhược đứng đầu. Chiếu cho Trung thư, Xu mật viện, Tam ty kiểm tra các văn bản tuyên sắc, thánh chỉ của hai triều để tiến vào nội cung[6], vì chuẩn bị biên soạn quốc sử.
[30] Ngày Nhâm Ngọ, chiếu rằng các quan lại ở các ty thuộc Lưu thủ ty Tây Kinh, nếu không qua thi cử để bổ nhiệm chính thức, thì không được xét duyệt để ra làm quan. Lúc đó đặc cách bổ nhiệm Lý Thủ Chính, quan Khu sử Thủ khuyết của Ngự sử đài, làm chính thức, nên ban hành quy định này.
[31] Ngày Quý Mùi, dân huyện Vũ Xương là Văn Nhân Nhược Chuyết sai cháu là Hàn Ninh đến đánh trống Đăng Văn, tố cáo dân huyện Vĩnh Hưng là Lý Uyển kết đảng hơn 30 người, mưu giết quan lại, chiếm thành làm phản. Triều đình sai Độ chi phán quan Lý Ứng Cơ và Cáp môn chi hậu Thị Kì Húc điều tra, bọn đảng phản nghịch đều bị xử tử. Lời khai của Uyển liên lụy đến mấy chục người mà Uyển không ưa, nhưng triều đình đều không hỏi tội. Trước đây, Húc từng lĩnh chức Đông Tây bài ngạn ty, cùng Tạ Đức Quyền coi sóc kho thóc và bãi cỏ ở kinh thành, thường chăn nuôi trâu bò trên đất trống của kho, bị Đức Quyền tố cáo. Vua hỏi Đức Quyền: “Trâu bò có ăn thóc trong kho không?” Húc nghe tin, tự nhận tội, Vua tha thứ và khuyên bảo[7]. Một hôm, Vua hỏi Húc: “Tài năng của ngươi so với Đức Quyền ai hơn?” Húc đáp: “Đức Quyền sợ pháp luật, làm việc cẩn thận[8], còn thần dám chăn nuôi trâu bò ở quan thương, là không bằng vậy.” Mọi người đều khen ngợi ông.
(Húc là con của Tả giám môn vệ thượng tướng quân Chẩn, không rõ quê quán.)
[32] Ngày Giáp Thân, đổi Tống Châu làm Ứng Thiên Phủ.
[33] Ngày Bính Tuất, phong cho cháu chín đời của Trương Cửu Linh đời Đường là Nguyên Cát làm chức Văn học ở Thiều Châu. Nguyên Cát đến kinh đô dâng bút tích của Minh Hoàng và bức chân dung cùng tờ cáo thân của Cửu Linh, nên được ghi nhận.
[34] Ngày Đinh Hợi, Xu mật sứ, Kiểm hiệu Thái phó Vương Kế Anh mất, Vua đến viếng khóc lâu, ban 5000 lạng bạc. Vua nói với tể tướng: “Kế Anh ở bên cạnh lâu ngày, cẩn thận, nay đột ngột qua đời, thật đáng thương.” Truy tặng Thái úy, Thị trung, thụy là Cung Ý. Sai nội thị lo việc tang, và chôn cất ông nội, cha của Kế Anh. Lại truy tặng vợ ông là Giả Thị làm Trưởng Lạc quận phu nhân, bổ nhiệm con trai, các con rể, môn khách và thân thuộc hơn mười người. Trước đây, Kế Anh mồ côi từ nhỏ, được ông ngoại nuôi dưỡng, các cậu có người chết xa quê, lúc đó đang tâu xin cho con về lo việc chôn cất, gặp lúc Kế Anh mất, Vua đặc cách sai quan lo liệu.
[35] Ngày Kỷ Sửu, ban chiếu rằng dân các châu Hà Bắc bị rơi vào tay Khiết Đan mà trở về, ruộng đất cũ của họ, không hạn chế thời gian theo quy định, đều được cấp lại.
[36] Ngày Quý Tỵ, ban chiếu rằng các doanh trại quân Hà Tây đóng tại Phủ châu, lương thảo cấp phát, từ nay tăng thêm thuyền vận chuyển, vẫn theo lệ cũ đến Bảo Đức quân để nhận. Nếu nước lên hoặc băng đóng, thì tùy nơi mà cấp phát, hoặc cho phép chở trước đến nơi, giao cho Chuyển vận sứ chuyên trách việc này. Trước đây, dân Hà Đông nộp thuế thường và lương thảo mua theo giá hòa đều phải chuyển đến Phủ châu, qua sông vượt núi, rất vất vả. Sau đó ban chiếu dời quân đến Bảo Đức quân Hà Đông, các doanh trại ở Phủ châu, cho phép giữ lại một phần, còn lương thảo đều cấp từ Bảo Đức quân. Từ khi có quy định này, việc công tư đều thuận tiện. Đến nay, có người dâng sớ nói[9]: “Lo rằng khi nước lên hoặc băng đóng, quân sĩ qua sông sẽ gặp khó khăn.” Vua có lòng thương dân, nên đặc biệt nhắc lại chiếu chỉ trước.
[37] Phùng Lượng, Ngu bộ viên ngoại lang, được thăng làm Độ chi viên ngoại lang, kiêm chức Chế trí trà diêm và Đô đại phát vận sứ ở Hoài Nam, Giang Chiết, Kinh Hồ. Chức Đô đại phát vận sứ từ cuối niên hiệu Chí Đạo đã bãi bỏ, đến nay lại đặt lại.
[38] Ngày Bính Thân, lệnh cho Khai Phong phủ đối với những người dự thi chế khoa nộp đơn, đều phải đối đãi theo lễ khách.
[39] Tư chính điện đại học sĩ Vương Khâm Nhược dâng sớ xin khôi phục lễ tế Tiên Tàm. Chiếu cho các quan Lễ bộ xem xét kỹ lễ cũ rồi tâu lên. Theo nghị của quan Lễ bộ, mỗi năm khi tằm sinh vào mùa xuân, cử quan đến tế ở phía đông ngoại thành, theo lệ như tế Tiên Nông.
[40] Ngày Đinh Dậu, ban chiếu rằng: “Gần đây, Nội thị ban viện phân phái sứ thần đến các nơi như Nội Đông môn, lo việc thiết lập các chức vụ, danh mục chi tiết và rất cụ thể, những việc quản lý có thể bỏ bớt. Ty Thủ sách Nội Đông môn có thể sáp nhập vào Ty Nội Đông môn, còn lại nhập vào Đô tri ty; Ty Đô tri Nội Đông môn và Nội thị tỉnh Nội thị ban viện hợp thành Nội thị tỉnh, các việc cũ đều thuộc về đó.” Sau đó lại đổi Nội thị ban viện thành Nội thị tỉnh.
[41] Chiếu rằng các quan chức mạc phủ, châu huyện từng giữ chức ở kinh triều, nếu được ân xá nên thăng chuyển hoặc được tiến cử cần xét duyệt, thì Lưu nội tuyển không được tự ý điều động.
[42] Khiết Đan đã giảng hòa, triều đình không còn việc gì, Khấu Chuẩn tỏ ra tự mãn với công lao của mình, dù hoàng thượng cũng đối đãi với Chuẩn rất hậu. Vương Khâm Nhược rất ghen ghét ông.
Một hôm vào chầu, Chuẩn lui ra trước, hoàng thượng nhìn theo, Khâm Nhược liền tâu: “Bệ hạ kính nể Khấu Chuẩn, có phải vì ông ấy có công với xã tắc không?” Hoàng thượng đáp: “Đúng vậy.” Khâm Nhược nói: “Thần không ngờ bệ hạ lại nói như vậy. Trận chiến Thiền Uyên, bệ hạ không cho là nhục, lại bảo Chuẩn có công với xã tắc, là sao?” Hoàng thượng ngạc nhiên hỏi: “Vì sao?” Khâm Nhược đáp: “Hòa ước dưới thành, dù nước nhỏ thời Xuân Thu còn cho là nhục, nay bệ hạ là bậc vạn thặng tôn quý mà làm việc Thiền Uyên, chính là hòa ước dưới thành, còn gì nhục hơn thế!” Hoàng thượng buồn bã không trả lời được.
Trước đây, khi bàn việc thân chinh chưa quyết, có người hỏi Chuẩn, ông đáp: “Chỉ cần có máu nóng là được.” Do đó, kẻ gièm pha nói Chuẩn không có lòng yêu Vua, lại bảo: “Bệ hạ có biết đánh bạc không? Kẻ đánh bạc khi sắp hết tiền, liền đem hết của cải ra đặt, gọi là ‘cô chú’. Bệ hạ chính là ‘cô chú’ của Khấu Chuẩn, thật nguy hiểm thay!” (Theo 《Tống sử·Khấu Chuẩn truyện》, đoạn này cũng là lời của Vương Khâm Nhược.) Từ đó, hoàng thượng đối với Chuẩn dần lạnh nhạt.
Khấu Chuẩn ở Trung thư, thích dùng người nghèo khó mà có tài năng, mỗi khi chức Ngự sử khuyết, thường chọn những người dám nói thẳng, những việc cử dụng khác phần nhiều tự quyết định, các đồng liêu đều ghen ghét. Một lần bổ nhiệm quan chức, các đồng liêu nhiều lần ra hiệu cho lại viên đem sổ ghi lệ đến, Chuẩn nói: “Tể tướng là để dùng người, nếu cứ theo lệ, thì không phải là tiến cử người hiền, loại bỏ kẻ bất tài.” Bèn gạt đi không xem.
Ngày Mậu Tuất, Trung thư thị lang, kiêm Công bộ thượng thư, Bình chương sự Khấu Chuẩn bị bãi chức, giáng làm Hình bộ thượng thư. Lấy Thượng thư tả thừa, Tham tri chính sự Vương Đán làm Công bộ thượng thư, Bình chương sự. Vương Đán vào tạ ơn, ngồi ở chỗ thường ngồi, Vua nói: “Khấu Chuẩn dùng tước thưởng của quốc gia để cầu hư danh, không có tư cách đại thần, bãi chức trọng quyền của hắn, mong giữ được trọn vẹn tốt lành.” Sau đó lại sai Khấu Chuẩn ra làm Tri châu Thiểm Châu, sắp đi, lại sai cận thần truyền chỉ dặn dò.
(Khấu Chuẩn làm Tri châu Thiểm Châu vào tháng 3 ngày Canh Thân, nay ghi chung lại. Từ khi Tất Sĩ An chết, Khấu Chuẩn một mình làm tể tướng hơn 5 tháng, bản truyện nói đồng liêu, có lẽ chỉ Vương Đán, Phùng Chửng chăng? Vương Khâm Nhược trước đây đã bãi chính sự, cách thời điểm Tất Sĩ An chết đã 6 tháng. Vương Kế Anh, Trần Nghiêu Tẩu thực sự ở Xu phủ. Cần xem xét thêm.)
[43] Ngày Kỷ Hợi, Hình bộ thị lang, Tham tri chính sự Phùng Chửng làm Binh bộ thị lang, Tư chính điện Đại học sĩ, Binh bộ thị lang Vương Khâm Nhược làm Thượng thư tả thừa, Hình bộ thị lang, Thiêm Xu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu làm Binh bộ thị lang, cùng làm Tri Xu mật viện sự. Hàn lâm học sĩ, Công bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Triệu An Nhân làm Hữu gián nghị đại phu, Tham tri chính sự. Xu mật đô thừa chỉ Tứ phương quán sứ Hàn Sùng Huấn, Đông thượng các môn sứ Mã Tri Tiết cùng làm Thiêm thự Xu mật viện sự, Sùng Huấn làm Kiểm hiệu Thái phó, Tri Tiết làm Kiểm hiệu Thái bảo. Chiếu định thứ tự xếp hàng là Khâm Nhược, Chửng, Nghiêu Tẩu, An Nhân, Sùng Huấn, Tri Tiết, lệnh ngay hôm đó nhận việc.
[44] Vua nghe tin Bối Châu điều dân sửa thành, lo ngại làm phiền nhiễu dân, hạ chiếu lập tức bãi bỏ, chỉ dùng quân châu để dần dần thay thế.
[45] Tháng đó, Thượng thư Tả thừa Hướng Mẫn Trung và các quan khác tâu rằng: “Kính vâng chiếu chỉ cùng với các quan phụ trách việc tuyển chọn bàn định kỹ lưỡng về việc tuyển dụng. Chúng thần xét thấy số người được tuyển chọn rất đông, hiện có những người đang tại chức được một năm, nhưng cơ quan tuyển dụng trước đây đã bổ nhiệm người thay thế, khiến họ không thể hoàn thành hai kỳ khảo sát, điều này chưa thật hợp lý. Nay xin quy định rằng các hạng người đủ điều kiện nộp đơn xin tuyển chọn, từ nay về sau, mỗi khi đến mùa đông sẽ tổ chức một kỳ tuyển chọn, đợi khi người đang tại chức được hai năm rưỡi thì mới được bổ nhiệm người thay thế. Nếu chưa có chỗ khuyết, sẽ thông báo cho họ chờ đợi, và cho phép tổ chức tuyển chọn vào bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, lần lượt bổ nhiệm theo thứ tự, không để xảy ra tình trạng chỗ khuyết kéo dài qua mùa. Đối với các quan đang tại chức ở hai xứ Lưỡng Xuyên, Quảng Nam, Chương Tuyền, cũng cho phép bổ nhiệm người thay thế khi họ hoàn thành nhiệm kỳ.” Triều đình đồng ý.
[46] Cơ quan Phong bác tâu rằng: “Trung thư và Xu mật viện thường đến giờ Ngọ hoặc giờ Mùi mới gửi văn thư đến. Việc thiết lập cơ quan này là để xem xét kỹ lưỡng, hơn nữa văn thư từ các nơi đều có thời hạn nhất định, có khi phải bàn bạc trong mười ngày hoặc một tháng mới thi hành. Nếu cơ quan chúng thần không xem xét kỹ mà vội gửi đi, thì chỉ là cơ quan phát hành, chứ không phải là chức trách của Phong bác. Mong rằng từ nay về sau, ngoại trừ những văn thư khẩn cấp, những văn thư khác nếu số lượng nhiều, chưa kịp xem xét, xin cho phép gửi đi vào ngày hôm sau. Gần đây còn có nhiều văn thư được gửi đi mà không thông qua cơ quan chúng thần[10], mong rằng những văn thư không liên quan đến cơ mật, đều tuân theo chế độ cũ.” Triều đình đồng ý.
[47] Quân Giao Chỉ nổi loạn, Lê Minh Đề và những người khác bị lưu lại Quảng Châu không thể về nước. Ngày Giáp Thìn tháng 3, triều đình ban chiếu cấp thêm 15 vạn tiền, 100 hộc gạo, và cấp giấy thông hành.
[48] Ngày Ất Tỵ, sai Binh bộ viên ngoại lang, Trực sử quán Nhiệm Trung Chính làm sứ sang chúc mừng sinh thần mẹ Vua nước Khiết Đan, Tây thượng các môn sứ, Thứ sử châu Tưởng Lý Kế Xương làm phó sứ. Triều đình mỗi khi cử sứ đi, đều ban cho Vương Kế Trung áo mặc, đai vàng, khí giới, trà thuốc. Kế Trung mỗi khi gặp sứ giả đều khóc. Khi Hàn Quốc Hoa về nước, Kế Trung lại dâng biểu xin được gửi thư cho quốc chủ, triệu mình về. Vua cho rằng theo lời thề ước, hai bên không đòi hỏi gì nhau, nhân dịp Nhiệm Trung Chính đi sứ, ban chiếu dụ cho Kế Trung, nói rằng nếu quốc chủ cho phép khanh về, thì sẽ đem nhiều lễ vật để tạ ơn. Nhưng Vua Khiết Đan đối đãi Kế Trung rất hậu, nên cũng không đồng ý.
[49] Ngày Đinh Mùi, lấy Xu mật trực học sĩ Lý Tuấn quyền Tri Khai Phong phủ, Lưu Tống cùng coi việc Tam ban viện. Tuấn là người cần mẫn, giỏi phát hiện những việc kín đáo, được người kinh sư khen ngợi. Tống kiến nghị: “Số lượng ngự sử ở ba viện quá ít, mỗi khi dự triều, xét án, thường phải nhờ quan khác thay thế, làm rối loạn chế độ. Xin chiếu cho các quan từ chế trở lên tiến cử người có tài năng làm ngự sử. Ba viện đặt mười người. Nếu đi sứ xét án, có thể xem xét năng lực quan lại các châu quận đi qua, lợi hại của dân, án oan sai trái, đều được xem xét cử lên.”
[50] Ngày Tân Hợi, miễn cho dân huyện Quang Hóa, châu Tùy hai ngàn thạch lương đã vay, những người đã nộp rồi thì trả lại.
[51] Ngày Giáp Dần, ngày giỗ Nguyên Đức hoàng thái hậu, Tri Xu mật viện Vương Khâm Nhược tâu: “Theo chế độ cũ, vào ngày giỗ lớn, Xu mật sứ theo lệ các ty trong cung, chỉ tiến tên chứ không đi hành hương, như vậy là thiếu cung kính. Từ nay xin cùng với Trung thư môn hạ đến chùa hành hương.” Vua đồng ý. Từ đó, các học sĩ giữ chức Tam ty sứ phó, Hàn lâm, Xu mật, Long đồ đều đi hành hương.
[52] Ngày Kỷ Mùi, Thái thường thừa, Trực tập hiền viện Nhâm Tùy dâng lời tâu rằng: (Nhâm Tùy, chưa rõ lai lịch.) “Thần nghe rằng cái gốc của việc lập nước là ở chỗ được người hiền tài, mà cái then chốt của việc được người hiền tài là ở chỗ thấu hiểu tình người. Vì thế, Khổng Tử cho rằng tình người là ruộng của bậc thánh vương, từ đó sinh ra đạo trị nước. Như vậy, thời thế thịnh suy, việc được mất, muôn việc biến hóa đều liên quan đến tình người. Người thấu hiểu tình người trong thiên hạ, không ai sáng suốt bằng bậc thánh nhân, mà người giúp thánh nhân hoàn thiện đức độ, thực sự là nhờ vào các bậc lương phụ.
Vì thế, sách 《Hán thư》 có viết: ‘Bậc minh chủ không ghét lời can gián thẳng thắn để mở rộng tầm nhìn, bậc trung thần không tránh né hình phạt nặng để dám nói thẳng, đó là cách để thông suốt tình hình dưới mà cầu trị, đưa đạo làm Vua đến chỗ vô cùng.’ Làm bề tôi có danh là ‘năm lần can gián’, đời trước có ghi bảy người vào hàng ấy.
Bệ hạ kế thừa ngôi báu, nắm giữ kim giám, phong tục tốt đẹp đã hình thành, giáo hóa vô biên cũng đã dần đạt được. Thế mà vẫn nghe nói Bệ hạ lo lắng trăm việc, sớm tối lo việc triều chính, đọc khắp sách vở, đến đêm khuya vẫn quên ngủ, lại ban chiếu cầu hiền, tìm kiếm bề tôi trung trực. Lòng thánh nhân noi theo cổ nhân, vượt qua điển chương của các đời Vua trước, tuy đường lối cầu can gián đã mở rộng, nhưng chưa nghe nói đến việc công khai tiến cử người giữ chức can gián.
Hiện nay, chức Gián nghị đại phu, Tư gián, Chánh ngôn tuy có vài người, nhưng chỉ là giữ chức vị hưởng lộc mà thôi. Vì thế, trống Nghiêu tuy đặt ra, nhưng vắng lặng không tiếng, chén Đỗ dù bày ra, nhưng lời thẳng thắn nào có hiệu quả. Hòm sách chứa đầy giấy can gián, quan lại đều im lặng không nói lời ngay thẳng, ít nghe theo phong khí thẳng thắn, không thấy ai dám kéo áo can ngăn.
Xin Bệ hạ chọn người hiền, bãi bỏ kẻ vô dụng, treo rõ văn thưởng phạt, lập ra đạo lý răn dạy. Các chức gián quan ở Lưỡng tỉnh, nên theo lệ cũ đời Đường, định rõ số lượng, tăng lương bổng, quy định thời gian thăng chức, trách nhiệm hoàn thành công việc.
Nếu ai tận tâm hiến kế, bổ khuyết khuyết điểm, lời nói có ích cho thời chính, dâng sớ không sợ trời trừng phạt, tiến lên hết lòng trung thành, không giấu giếm lỗi lầm, thì xin được đề bạt để khuyến khích mọi người. Nếu ai chỉ lo hưởng lợi, không chịu sửa sai, chỉ biết đổ lỗi cho người khác, thường nịnh hót mặt dày[11], không mở lòng dạy bảo, không dám nói lời ngay thẳng, thì xin bãi chức để răn dạy mọi người. Như vậy, người hiền sẽ được khuyến khích, kẻ lười biếng sẽ bị kích thích, kẻ tầm thường sẽ bị loại bỏ, kẻ nhút nhát sẽ đứng lên, khiến cho quan lại trong triều đều muốn hết lòng trung thành để báo đáp quốc gia.”
Vua xem xong khen ngợi, bèn ban chiếu rằng: “Quốc gia đặt ra chức quan can gián, mở rộng đường lối tìm kiếm ý kiến, là để bổ khuyết thiếu sót, khai sáng trí tuệ. Nhưng người giữ chức chỉ lo làm theo lối cũ, ít nghe lời thẳng thắn, như vậy chỉ là giữ chức hưởng lộc, sao xứng với lòng mong mỏi của Trẫm. Từ nay, nên hết lòng khuyên răn, tận tâm hiến kế, phép thưởng phạt[12], phải thực hiện nghiêm minh.”
[53] Ngày Ất Sửu, miễn thuế tiền vật 28 vạn mà dân huyện Giang Ninh, châu Thăng còn nợ từ năm Hàm Bình thứ 4 trở về trước tại sở Sài Địch.
[54] Trước đó, việc chôn cất các quan theo chiếu chỉ, chi phí công tư không có quy định cụ thể. Long Đồ các Đãi chế, Phán Hồng Lư tự Thích Luân dâng sớ tâu việc này. Ngày Bính Dần, sai Hàn lâm học sĩ Triều Huýnh, Tri chế cáo Chu Tốn, Cung uyển sứ Lưu Thừa Khuê và Thích Luân xem xét sự khác biệt về phẩm trật, định ra chế độ để thi hành.
[55] Lệnh cho các châu quân ở các lộ không được sai Đô giám, Giám áp xét tù. Khi đó, Đô giám châu Hoàn là Điền Tuấn tâu rằng địa phương nằm ở vùng biên giới xa xôi, gần kề đất phiên, mà Viện Suy khám gửi văn thư yêu cầu xét lại án ngục, lo rằng khi có việc khẩn cấp, bản chức sẽ bị thiếu vắng, nên quy định điều này.
[56] Ngày Mậu Thìn, miễn thuế tiền 430 quan mỗi năm mà dân châu Giản phải nộp khi làm nhà bằng tre gỗ.
[57] Ngày Kỷ Tỵ, Thái thường tự tâu: “Trong đàn Thần châu có hố rãnh và dấu vết xe ngựa, lại hai bên đàn bước đi chật hẹp, không hợp lễ văn. Xin cho chọn lại vị trí đàn, và theo lệnh thức phong tiêu, cấm người cày cấy, đốn củi, chăn thú ở ngoài đàn.” Tâu được chấp thuận, bèn dời đàn về phía tây Phương Khâu.
[58] Tháng đó, bắt đầu sai triều thần làm Đề điểm công sự các huyện trấn thuộc phủ Khai Phong. Sau đó, lại thêm một viên, lấy Cáp môn Chỉ hầu sung vào.
(Lần đầu đặt Đề điểm phủ giới, sách 《Hội yếu》 chép vào năm Cảnh Đức thứ 3, thêm viên nữa vào tháng 12 năm thứ 4, nhưng 《Thực lục》 không chép, 《Bản chí》 cũng rất sơ lược, nay tạm chép vào đây, đợi sau khảo cứu thêm. 《Thực lục》 tháng 12 năm thứ 2 có chép việc sai Cao Kế Trung làm Đề điểm hình ngục, tiền bạch phủ giới, nghi rằng đây là lúc bắt đầu đặt chức quan, nên khảo thêm.)
[59] Mùa hạ, tháng 4, ngày Quý Dậu, xuống chiếu cho các châu quân ở Hà Bắc, nơi nào thuế chợ, thuế rượu không đạt mức thường lệ, thì đặc cách gia hạn thêm 3 tháng.
[60] Ngày Ất Hợi, xuống chiếu cho các quan ở Xuyên Hạp, người nào có cha mẹ mất, thì trừ Trưởng lại châu quân phải tâu xin, còn lại đều cho phép giải chức.
[61] Ngày Bính Tý, Vua ngự đến Sùng Văn Viện xem sách vở trong tứ khố và các sự tích của Vua tôi đã biên soạn, xem khắp các môn loại, hỏi về thứ tự sắp xếp. Vương Khâm Nhược và Dương Ức đều trả lời rõ ràng[13]. Những chỗ nào về luân lý chưa hợp lý, Vua lập tức sai sửa chữa. Vua nói với các quan hầu cận rằng: “Trẫm soạn sách này là muốn ghi chép sự thật các đời, làm khuôn phép cho tương lai, khiến người mở sách ra đều có ích lợi.” Vua ban thưởng cho các quan biên soạn vàng lụa khác nhau.
[62] Vào niên hiệu Đoan Củng, dân châu Định là Lưu Tri Hữu bị người em họ là Chí Nguyên giết chết. Tri Hữu có hai con trai là Lưu Bân và Tứ Ca, đều còn nhỏ, theo mẹ đi lấy chồng khác. Mẹ thường bảo chúng rằng: “Lớn lên phải báo thù cho cha.” Sau đó, Chí Nguyên được tha tội và trở về. Lúc đó mẹ của Bân đã chết, hai anh em mang dao đâm Chí Nguyên trên đường, không chết, liền đến quan tự thú. Châu làm án tâu lên. Ngày Đinh Sửu, Vua hạ chiếu cho Chí Nguyên bị xăm mặt và đày đi Nhữ Châu, tha tội cho Bân và Tứ Ca.
(《Thực lục》 chép: Lưu Bân được miễn xăm mặt, đày đi Lao Thành bản châu, tha cho Tứ Ca. Nay theo 《Quốc sử Lưu Bân truyền》.)
[63] Ngày Kỷ Mão, đổi huyện Chương Khâu châu Tề làm quân Thanh Bình, huyện Cao Uyển châu Truy làm quân Tuyên Hóa.
[64] Ngày Ất Dậu, đặt chức An phủ sứ, Phó sứ, Đô giám ở vùng biên giới phía bắc Hà Bắc tại Hùng Châu, lấy Hùng Châu Đoàn luyện sứ Hà Thừa Củ, Tây thượng các môn sứ Lý Doãn Tắc, Tác dịch phó sứ Dương Bảo Dụng làm các chức đó, kiêm chức Đề điểm các châu quân Tác trường. Trước đây, cấm Tác trường buôn bán các vật lạ, nhưng quân tuần tra bắt được ngọc đai và đồ trang sức của đàn bà đem đổi. Doãn Tắc nói: “Đây là lấy vật vô dụng của ta đổi vật hữu dụng của họ.” Rồi tha cho.
[65] Thứ sử Bảo Châu là Đổng Thiệu Trọng chết, Vua cho con ông là Bá tập chức Tri châu sự.
[66] Ngày Bính Tuất, cho con trai của Khang Tiển, nguyên là Kinh Tây Chuyển vận sứ, Công bộ Lang trung, là Hi Linh làm chức Phụng lễ lang, cấp lương đến hết tang. Tiển là người nước ngoài, nhiều lần dâng sớ tâu việc, lấy sự hết lòng làm trách nhiệm, nên được ưu đãi về lễ nghi, không theo chế độ thường.
[67] Sai Xu mật trực học sĩ Lưu Tống, Tây thượng các môn sứ Lý Doãn Tắc đến Tam ty, Công bộ thị lang Đổng Nghiễm, Long đồ các đãi chế Thích Luân, Cung uyển sứ Lưu Thừa Khuê đến Khai Phong phủ, Tri chế cáo Chu Tốn, Long đồ các đãi chế Trần Bành Niên, Đông thượng các môn sứ Tào Lợi Dụng đến Ngự sử đài, Điện tiền thị vệ ty, biên soạn và xét xử tù nhân. Hôm sau, Vua ngự điện Sùng Chính xét xử, kẻ giết người xử theo luật, các tội tạp phạm tử hình, lưu đày, đồ làm giảm một bậc, tội trượng trở xuống được tha. Xong việc, lại sai quan Quân đầu dẫn kiến ty tâu lên các án đã xử, xem xét kỹ rồi mới thi hành. Từ đó về sau, mỗi năm vào tháng nóng, Vua đều thân hành xét hỏi, trở thành lệ thường. Ngự sử đài dẫn Đô quan viên ngoại lang Đậu Nhân, trước làm Tri huyện Trường An, thường hà khắc tàn bạo, chiếu xét tội của ông. Vua nói: “Quan cai trị dân mà không theo đạo lý, dùng hình phạt tàn khốc, nên bỏ đi.” Bèn sai làm quan Phân ty Tây Kinh.
[68] Ngày Tân Mão, tha cho các sứ thần và chủ điển ở trường mua bán dê, những người thiếu hụt hơn mười vạn ba nghìn sáu trăm cân dê.
[69] Ngày Nhâm Thìn, sai sáu sứ thần đi tuần phủ các lộ Ích, Lợi, Tử, Quỳ, Phúc Kiến, đến nơi nào thì thăm hỏi, khao thưởng quan lại, tướng hiệu, phụ lão, xét xử tù nhân, trừ những tội tạp phạm đến chết và quan điển phạm tội tham nhũng phải xử theo luật, còn các tội lưu đày trở xuống đều giảm bậc. Lại xét xem quan lại có tài năng hay không, lợi hại của dân, tâu lên. Bấy giờ Đồn điền viên ngoại lang Tạ Đào đi sứ các lộ Ích, Lợi, khi về tiến cử hơn ba mươi người thuộc bộ mình, tể tướng cho là nhiều, Đào bèn kể rõ công trạng của họ, và xin chịu tội liên đới. Việc sứ thần tiến cử quan lại phải chịu tội liên đới bắt đầu từ Đào.
(Bản truyện của Đào chép: Sao Hỏa hiện ở phía tây nam, nên sai Đào đi sứ. Nhưng sứ thần được sai khi ấy còn đến cả Phúc Kiến, Giang, Chiết, e không phải vì sao Hỏa hiện ở tây nam, nên không chép.)
[70] Ngày Ất Mùi, lại ban chiếu cho quần thần chuyển đối, những người tại ngoại kinh triều quan nội điện sùng ban trở lên[14], sau khi được thay thế, trước tiên phải trình bày những lợi hại trong dân gian, dâng lên thực phong tại cửa Cáp, mới được vào triều kiến.
(Năm Hàm Bình thứ ba, tháng 11, ngày Nhâm Ngọ, lần đầu ra lệnh cho các quan thường tham chuyển đối theo lệ cũ, chưa thấy thời điểm bãi miễn, nay lại ra lệnh chuyển đối, chưa rõ thời gian. Cuối tháng 10 năm thứ 5, có thể tham khảo sớ của Điền Tích.)
[71] Hữu Gián nghị đại phu Chủng Phóng có tang anh, được ban cáo về Chung Nam, yến tiệc tại Long Đồ các, Vua làm thơ ban cho Phóng, các thị thần đều làm thơ phụ họa. Mỗi khi Phóng đến kinh sư, học trò vùng Tần, Ung thường đến xin thụ nghiệp, Vua khen ngợi, Phóng lạy tạ.
[72] Ngày Kỷ Hợi, sai sứ sáu người đi tuần phủ các lộ Giang, Chiết, Độ chi lang trung Bùi Trang đi sứ Lưỡng Chiết, khi trở về, tâu lên 20 người là quan lại có năng lực, 5 người là quan lại lười biếng, nhiều người được thăng giáng.
[73] Ban lệnh nghiêm cấm việc tư tàng sách thiên văn, binh pháp, những người giỏi về tinh toán thuật số, đều phải đưa về kinh.
[74] Cháu của cố Chương Đức tiết độ sứ Vương Nhiêu là Vĩ Đức không ra gì, không thể tự lập, sống lưu lạc ở Tây Lạc, xin ăn để tự nuôi thân, Vua nghe thấy thương xót, ngày Canh Tý, sai Vĩ Đức làm Tư sĩ tham quân ở Nhữ Châu[15].
- Các tướng hiệu trong quân đội cùng với Xu mật sứ trở xuống, chữ 'sứ' nguyên bản là 'lại', căn cứ theo bản trong các và 《Tống hội yếu》 chương Nghi chế 7 phần 17 sửa lại. ↵
- Tri tạp ngự sử Vương Tế, chữ 'Sử' nguyên bản viết là 'Sự', căn cứ theo các bản khác và 《Tống hội yếu》 chức quan 1-7-36, 《Tống sử》 quyển 304 bản truyện, và quyển 61 năm Cảnh Đức thứ 2 tháng 12 ngày Ất Hợi sửa lại. ↵
- Xin ở các vùng Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Đông, Thiểm Tây, Giang Hoài, Lưỡng Chiết, căn cứ vào số hộ khẩu nhiều ít, các bản đều giống nhau. Xem 《Tống hội yếu》 Thực hóa 53-6, 《Thông khảo》 quyển 21 Thị địch khảo, 《Tống sử》 quyển 176 Thực hóa chí, ở trên chữ 'Hà Đông' đều có thêm chữ 'Hà Bắc'. ↵
- Đại khái mỗi vạn hộ mỗi năm dư ra một vạn thạch, các bản đều giống nhau. Xem 《Thông khảo》 và 《Tống sử》, 'Tuế dư vạn thạch' đều viết là 'Tuế địch vạn thạch'. 《Tống hội yếu》 cũng viết: '(Năm Thiên Hi thứ 2 tháng giêng), chiếu cho các châu kho Thường bình thương hộc (đấu), những nơi không đủ một vạn người, cho phép mua một vạn thạch,…… bốn vạn hộ trở lên mua năm vạn thạch.' ↵
- Hoặc ba năm trở lên không bán ra, chữ 'thiếu' nguyên bản viết là 'địch', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu, các bản và 《Tống sử》 sửa lại. ↵
- Chiếu Trung thư Xu mật viện Tam ty kiểm tra các văn bản tuyên sắc, thánh chỉ của hai triều để tiến vào nội cung. 'Tuyên sắc' nguyên bản là 'Tuyên giáo', theo Tống bản và Tống toát yếu bản sửa. ↵
- 'miễn' nguyên là 'miễn', theo các bản khác và 《Tống sử》 quyển 326, 《Thị Kì Thự truyện》 sửa lại. ↵
- 'pháp' nguyên là 'thượng', theo sách trên sửa lại. ↵
- 'Phong' nguyên là 'Đối', theo bản trong các sách và 《Tống hội yếu》 Thực hóa 46-3 sửa lại. ↵
- gần đây còn có nhiều văn thư được gửi thẳng, không thông qua cơ quan chúng thần, theo 《Tống hội yếu》 chức quan 2-43, 'gửi thẳng' có nghĩa tốt hơn. ↵
- 'Thường nịnh hót mặt dày' chữ 'thường' nguyên là 'trí', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tục thông giám》 quyển 26 sửa lại. ↵
- 'Phép thưởng phạt' chữ 'thưởng' nguyên là 'thường', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, các bản khác và 《Trị tích thống loại》 quyển 5 Chân Tông thánh chính sửa lại. ↵
- 'Điều đối' nguyên là 'Điều ước', theo bản trong các sách và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 16 về việc Vương Khâm Nhược biên soạn 《Sách phủ nguyên quy》 sửa lại ↵
- chữ 'quan' nguyên bản thiếu, theo bản Tống toát yếu bổ sung ↵
- 'Vĩ Đức' nguyên bản viết là 'Duy Đức', theo các bản và văn trên sửa lại ↵