VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 442: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 5 (CANH NGỌ, 1090)
Từ tháng 5 năm Nguyên Hựu thứ 5 đời Triết Tông đến hết tháng đó.
[1] Tháng 5, ngày Bính Dần, xuống chiếu: “Địa giới Thiểm Tây, Hà Đông gần đây đã định xong, lấy Tri phủ Dĩnh Xương[1], Quan Văn điện học sĩ Phạm Thuần Nhân làm Tri phủ Diên An; Tri phủ Diên An, Xu mật Trực học sĩ, Trung đại phu Triệu Tiết làm Đoan Minh điện học sĩ, thăng lên Thái trung đại phu, Tri phủ Thái Nguyên, đặc biệt ban thưởng bạc và lụa mỗi thứ một nghìn tấm.”
[2] Ngự sử Trung thừa Lương Đào tâu: “Thần nghe việc bổ nhiệm Phạm Thuần Nhân làm Tri phủ Diên An. Diên An là vùng biên cương xa xôi, tiếp giáp với đất Khương, tuy trước nay đều lựa chọn kỹ tướng lĩnh, nhưng gần đây chưa từng dùng cựu tướng đến đó. Đột nhiên bổ nhiệm Thuần Nhân, thần e rằng việc này quá trọng đại, không phải để tăng uy quốc gia, mà chỉ khiến giặc khôn ngoan ngờ vực, cho rằng triều đình không còn người tài; lại cho rằng cựu tướng nắm quyền lớn, ắt sẽ có mưu đồ gì, từ đó sinh nghi ngờ gây họa. Bản ý triều đình là coi trọng Diên An, nhưng không biết rằng lại khiến người Khương thêm nghi ngờ. Thần lo nghĩ, không dám im lặng, mong bệ hạ xét lại.”
Lại tâu: “Từ khi Thiểm Tây tứ lộ đặt chức tướng, đời Chân Tông, các cựu tướng Trương Tề Hiền, Hướng Mẫn Trung đều từng trấn thủ Diên Châu. Lúc đó Triệu Đức Minh tuy quy phụ, nhưng hiệp ước chưa vững, nên cử Hướng Mẫn Trung kinh lược; Lý Kế Thiên làm phản quấy nhiễu biên ải, nên cử Trương Tề Hiền kinh lược. Nay đã hơn 70 năm, người Hán – Phiên không còn nhớ chuyện cũ, lại đang trong thời gian quy phụ triều cống, đột ngột cử tướng đến, e rằng sẽ gây nghi ngờ sinh sự. Mong bệ hạ sớm xem xét.” Sau đó đổi lệnh, cho Phạm Thuần Nhân làm Tri phủ Thái Nguyên, Triệu Tiết vẫn giữ chức Tri phủ Diên An.
(Ngày 24 đổi lệnh.)
[3] Tri Thái Nguyên phủ, Long Đồ các Trực học sĩ Đằng Nguyên Phát được bổ làm Long Đồ các Học sĩ, Tri Dương châu; Tri Dương châu, Long Đồ các Đãi chế Thái Kinh làm Tri Dĩnh Xương phủ.
[4] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu rằng: “Cố Đồn điền Viên ngoại lang Trần Chu, năm Gia Hựu giữ chức Điện trung Thị ngự sử Lý hành, từng dâng sớ xin chọn người tông thất lập làm Hoàng tử, đặc cách bổ nhiệm một người con hoặc cháu của ông làm Giao Xã Trai lang.”
(Tư Mã Quang có nói vào cuối tháng 8 năm đầu tiên.)
[5] Ty Chuyển vận Thiểm Tây tâu: “Các lộ cử quan tạm quyền từ nơi khác đến, không được theo lệ chính quan khi nhậm chức hay mãn nhiệm nhận cung đốn, chỉ căn cứ theo mức lương tháng của chức vụ đang tạm quyền, khi nhậm chức hay mãn nhiệm đều không được vượt quá một tháng. Những người chỉ tạm quyền tại địa phương mình[2] thì không nằm trong hạn mức cấp phát.” Được chấp thuận.
(Bản mới đã bỏ đi.)
[6] Hộ bộ Lang trung Cao Bác tâu xin đối với các trường vụ thua lỗ, chỉ giảm phần lãi ròng để không làm thiếu hụt khoản thuộc ngạch tỉnh. Được chấp thuận.
[7] Ngày Kỷ Tỵ, Tuyên châu Quan sát sứ, được tặng Khai phủ Nghi đồng Tam ty, truy phong Hòa Quốc công, thụy An Tu Khắc Đôn qua đời.
[8] Ngày Canh Ngọ, Trung thư Xá nhân Nhan Phục được bổ làm Thiên Chương các Đãi chế, Quốc tử Tế tửu. Ngày hôm sau thì mất. Cấp tiền tuất 50 vạn, do từng giữ chức ở Kinh diên.
(Sách Chính mục ghi ngày 12 Nhan Phục mất, nay theo Thực lục.)
[9] Vệ úy Thiếu khanh Lâm Anh được cử làm Đề cử Sùng Hi quan, do Anh tự xin vì bệnh. Trực Bí các Hàn Tông Sư làm Vệ úy Thiếu khanh.
[10] Ngày Tân Mùi, Ty đô đại đề cử trà sự các lộ Thành Đô phủ, Lợi châu, Thiểm Tây tâu: “Các khu vực cấm buôn bán trà gồm: trại Điêu Môn, Linh Quan thuộc huyện Lô Sơn, Nghiêm Đạo[3], các châu Uy, Mậu, Long và địa giới huyện Thạch Tuyền châu Miên. Nếu dám vi phạm, đều xử theo luật các lộ Tần, Hi.” Triều đình chấp thuận.
[11] Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu xét giảm tội cho tù nhân trong thiên hạ, riêng tội cướp đáng chết như tình tiết nhẹ thì gửi văn bản cho An phủ sứ, Kiềm hạt ty xét kỹ.
[12] Hôm đó, trời mưa.
(Chi tiết này căn cứ vào 《Chính mục》 ngày 8 tháng 5, cần tham khảo thêm.)
[13] Phó chuyển vận sứ Thiểm Tây lộ Chương Tiết được bổ làm Hữu ty lang trung. Triều Đoan Ngạn làm Phát vận sứ các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết.
(Đoan Ngạn từ Đô ty ra làm Phát vận sứ, cả bản mới và cũ đều không ghi rõ lý do, có lẽ do phạm luật khi định thưởng cho bốn lại viên nên bị giới tấu chương công kích. Lại tra: Đỗ Thường từ tháng 8 năm thứ 3 giữ chức Tả ty lang trung, đến ngày 18 tháng 12 năm thứ 5 thăng Thái thường thiếu khanh. Theo tấu chương tháng 12 của Tô Triệt, Thường ở Đô ty đã xu nịnh ý chỉ của Thì Thầm, Nhậm Vĩnh Thọ, thi hành chính sự, nhiều lần bị Ngự sử đàn hặc. Lưu An Thế khi bàn việc ban thưởng quá hậu cũng nói Ngự sử tâu Thường dự hội của Thầm. Không rõ vì sao Thường lại giữ chức Tả ty lâu, còn Đoan Ngạn lại bãi chức Hữu ty trước. Hoặc việc Đoan Ngạn bãi chức ban đầu không do nguyên nhân này, cần tra cứu thêm.
Thịnh Đào trong bài văn bia Đoan Ngạn chép: “Khi làm Hữu ty lang trung, nhiều quan chức giao du, ông bàn luận không a dua. Thừa tướng Lã (Đại Phòng) đặc biệt ghét ý kiến trái chiều, ông bàn tội thì có người bị phạt, bàn thưởng thì có người được ban, trước sau hơn mười lần. Thừa tướng cho rằng người 70 tuổi làm quan không được cho con cháu tập ấm, bảo ông đặt ra pháp luật, ông cương quyết không đồng ý, nói: ‘Đã gánh trách nhiệm, sao lại không được ưu đãi người thân?’ Một lại cũ của Thái Tân Châu kiện Bộ Lại không ghi nhận công trạng trước, ông nói: ‘Đã có quy định, Bộ Lại sai, nên ghi nhận.’ Thừa tướng chỉ tên Thái Tân Châu hỏi: ‘Hai chữ này thế nào?’ Cười bảo: ‘Chỉ có Hữu ty dám chứ?’ Ông nghiêm mặt đáp: ‘Dám!’ Thừa tướng càng không vừa ý. Gặp lúc em trai Đoan Bẩm bệnh mất[4] Ông nói: ‘Ta có thể đi rồi.’ Liền xin ra ngoài, được bổ làm Phát vận sứ Giang, Hoài, Kinh, Chiết.”)
Phát vận sứ các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết Lộ Xương Hoành nhậm chức Tri Kinh Nam.
[14] Chiếu rằng: “Trong phép sai dịch còn có việc chưa đầy đủ, sai Trung thư xá nhân Vương Nham Tẩu, Xu mật đô thừa chỉ Hàn Xuyên cùng Gián nghị đại phu, điểm kiểm hộ tào văn tự Lưu An Thế cùng xem xét kỹ, trình bày lợi hại tâu lên.” (Ngày 8 tháng 5.)
Trước đó, An Thế tâu:
“Thần trộm thấy triều đình muốn thay đổi phép sai dịch, nay đã bốn năm, tuyển quan lập cục, bàn bạc tìm hiểu lợi hại, mọi ý kiến trong thiên hạ đều được dung hòa, mà ý chỉ nhận chiếu lập pháp, chỉ lấy việc thương dân yêu vật làm mục đích. Cho rằng chế độ sai dịch năm Gia Hựu đã tiện lợi rồi, nhưng những điều thường thấy có hại lúc ấy, nay thì bỏ đi; chế độ ước thúc năm Nguyên Phong, dân cho là có lợi, nay thì lấy thêm vào[5]. Đến như phong tục khác nhau, nam bắc khác thích hợp, căn cứ vào tình người, xét theo ý kiến quốc gia, tùy từng nơi đặt điều lệ, không gì không đầy đủ.
Lại ban chiếu dụ rõ ràng, nếu khi thi hành có chỗ trở ngại chưa thông, điều khoản có chỗ sơ lược chưa hết, lại cho bày tỏ ý kiến, để thêm bớt, đủ thấy bệ hạ rất nhân từ rất chu đáo, hết sức coi trọng việc dân vậy. Sách mới ban xuống, lòng người vui mừng, trong ngoài yên ổn, ban đầu không có lời dị nghị, nhưng bọn gian tà trong lòng còn mong mỏi, bày đặt bàn tán, đã muốn phá hoại, khiến một hai kẻ tiểu thần dám cố chấp thiên kiến, dám dâng lời tà thuyết, muốn bãi phép sai dịch, theo lệ cũ thuê mướn. Quan lại đương chức không thể vì triều đình giữ vững phép tắc, mà do dự chiều theo, nhiều lần thay đổi. Tình hình trong thiên hạ, không ai là không nghi ngờ, đây là mối lo lớn nhất hiện nay vậy.
Thần nghe rằng từ xưa, cách thu thuế của dân chỉ gồm thóc, vải và sức lao động. Ba thứ này sinh ra vô tận, lấy không bao giờ cạn, nên từ thời Nghiêu, Thuấn đến Tam Đại, chưa ai bỏ được. Có người bàn rằng không bắt dân phục dịch, chỉ bắt nộp tiền thì cả công lẫn tư đều tiện, thần xin bác lại. Tiền tệ của quốc gia là nguồn chi dụng, đặt quan đúc tiền, mỗi năm có hạn ngạch, dân nào làm tiền giả sẽ bị xử tử. Nay bỏ sức lực dễ kiếm, lại bắt nộp thứ tiền khó có[6], vốn đã phi lý; lại để hộ giàu chỉ nộp vài nghìn, thì nhàn hạ suốt năm, ngày càng thôn tính, còn hộ nghèo vốn không phải phục dịch cũng bị tăng thuế, ngày mòn tháng mỏi, dần đến cùng khổ. Hại chín phần dân nghèo, lợi một phần hộ giàu, đảo lộn nặng nhẹ, còn gì hơn thế!
Thần nghĩ nếu xét một nhà trong một năm, thì nộp tiền có vẻ nhẹ và dễ chịu; nhưng tính cả đời nhiều đời, thì khoản nộp không nhỏ mà khó đáp ứng. Nay bọn quan tham chỉ muốn bóc lột sinh linh[7], không lo nghĩ lâu dài cho thiên hạ, sao đáng tin được?
Có người bàn rằng những nơi dân hộ phải luân phiên chưa đủ ba lượt, sợ lao dịch quá nặng, thần cũng có cách giải quyết. Trước niên hiệu Trị Bình, trong thiên hạ có hơn 12 triệu 700 nghìn hộ khẩu, mà theo phép cũ phải đi phu dịch là 53 vạn 6 nghìn người; sau niên hiệu Nguyên Phong, hộ khẩu là 18 triệu 359 nghìn hộ có lẻ, so với Trị Bình đã tăng hơn 5 triệu 600 nghìn, mà số người đi phu dịch theo phép mới chỉ có 42 vạn 9 nghìn người[8], so với phép cũ, lại giảm được 10 vạn 7 nghìn ngạch, nếu bảo là luân phiên không đủ, cũng đã quá lời.
Tuy nhiên, các châu huyện trong thiên hạ, có nơi gặp phải năm mất mùa liên tiếp, dân hộ phiêu tán, số lượt phiên chế không đủ, thì các cơ quan hữu trách phải linh hoạt bổ trợ, nhất định không thể vì tiểu tiết mà bỏ đại pháp.
Thần trộm xét: Từ khi quốc gia thụ mệnh đến nay đã hơn trăm năm, phép sai dịch đã trải qua sáu đời Vua, tùy thời bổ khuyết đều hợp lẽ, xét hiệu quả đã thấy rõ, đáng tin cậy không nghi ngờ. Thế mà nhiều năm nay vẫn còn tranh cãi?
Thần cho rằng: biết phép chưa tốt thì phải sửa ngay, biết phép đã tốt thì phải giữ vững. Nay phép sai dịch đã tốt, bệ hạ nên tin dùng giữ vững, các đại thần chấp chính càng phải đồng lòng vì nước, kiên quyết bác bỏ tà thuyết. Thế mà lại để bọn gian tà xướng lên dị nghị, gieo rắc nghi hoặc khắp thiên hạ. Bởi vậy bàn luận cho rằng mối lo hỗn loạn hiện nay không ở dân thường vô tri, mà chính ở những kẻ sĩ đại phu tà thuyết.
Thần nghe nói: lòng nghi ngờ sinh lời gièm pha, ý do dự mở đường cho điều sai trái. Cúi mong bệ hạ quyết đoán, kiên định phép sai dịch, nghiêm lệnh triều thần giữ vững chủ trương ban đầu, đừng nghe lời phù phiếm mà thay đổi, để phép tắc tổ tông không bị kẻ gian đoạt mất, thiên hạ may mắn biết bao!”
Tờ thiếp vàng kèm theo: “Thần tra xét thấy từ khi thi hành phép sai dịch, có quan viên cố chấp ý kiến thiên lệch, tâu xin sửa đổi nhiều điều, trong đó phần lớn sơ suất mâu thuẫn, trái lại hại dân. Mong Thánh từ đặc cách ra chỉ, giao Hộ bộ soạn điều khoản rõ ràng tâu lên, giao triều thần hội nghị bàn bạc. Ngoại trừ những điểm bất hợp lý cần sửa đổi, hoặc những quy định riêng phù hợp từng châu lộ, còn những chỗ đã bị tà thuyết xuyên tạc thay đổi, xin đều khôi phục như cũ, để pháp độ được thuần nhất, thiên hạ không nghi hoặc.”
[15] Chiếu ban: “Đặc cách gia ân cho Thái sư trí sĩ Văn Ngạn Bác được hưởng thêm lộc công sứ như các tể thần trước đây, giao cho phủ Hà Nam quản lý chi dụng.”
[16] Chiếu rằng: “Các vị quan phụ trách và giám sát ở ba lộ, trong số các võ thần hiện tại hoặc trước đây thuộc quyền quản lý, từ chức Phó sứ các ty trở lên, xuất thân từ quân đội, hãy tinh tuyển một hai người có tài lược, thanh danh được mọi người suy tôn, có thể đảm nhiệm chức vụ chủ binh cấp lộ trở lên. Trong vòng một tháng, phải kín đáo trình bày rõ chức vụ, họ tên, niêm phong kỹ bảo đảm tâu lên. Nếu đã giữ chức cấp lộ trở lên hoặc là tướng lĩnh, cũng được tiến cử. Sau khi tiến cử, lệnh cho Xu mật viện ghi chép họ tên, khi cần sử dụng, tạm điều về kinh, bản lộ phải xem xét kỹ, nếu thực sự có thể đảm nhiệm, sẽ lấy chỉ thăng chức.”
[17] Ngự sử trung thừa Lương Đào tâu: “Thần trộm nghĩ, chức vụ Đề cử xuất mại muối Giải là trọng trách, thường được chuyển từ các giám ty. Nay nghe bổ nhiệm Tuyên nghĩa lang Tôn Huỷnh, trước đây bị giáng chức, triều đình đặc cách sai làm Thông phán Vĩnh Hưng quân, rồi chuyển quyền Phát khiển Hoài châu, chưa nhậm chức, chưa có công trạng gì đáng được ban thưởng. Huống chi hiện nay trong hàng quan lại, người có tài mà không phạm lỗi rất nhiều, nếu lấy công luận mà chọn từ những người ở nơi xa xôi hẻo lánh, cũng không thiếu, cần gì phải cố chấp tìm kiếm từ những người đã từng phạm tội, để tỏ ra không rộng lượng? Như thế khó lòng khích lệ những người tài năng trung hậu, e không phải là ý chỉ nhân minh chí công của bệ hạ. Kính mong bệ hạ đặc cách ra lệnh bãi bỏ chức vụ này của Huỷnh, tạm để ông ta làm quan ở Hoài châu, xem hiệu quả sau này.”
Lời thiếp hoàng: “Huỷnh thực có phong cách mạnh mẽ, trị sự gọn gàng, nhưng vì theo việc với Cổ Thanh là người khắc bạc, nên bị dư luận chê trách. Nay nếu tạm để làm quận thú, đợi khi chính sự có thành tích nhân hậu rõ rệt, rồi dùng cũng chưa muộn.”
(Ngày 12 tháng 8, Huỷnh làm Tri Bộc châu; ngày 6 tháng 4 năm thứ 6, cần tra cứu. Thực lục ngày 8 tháng 5 chép: Đề cử xuất mại muối Giải Trình Cao làm Vận phán Lợi lộ; Chính mục ngày 8 tháng 5 chép Tôn Huỷnh làm Đề cử muối Giải, nhưng Thực lục không ghi.)
[18] Ngày Quý Dậu, Lại bộ tâu: “Những đại sứ thần và tiểu sứ thần được tiến cử hàng năm để thăng chức, đều được linh hoạt tiến cử. Các châu ở các lộ do tiểu sứ thần hoặc mạc liêu đảm nhiệm mà không phải là tri châu, hoặc không có điều khoản bảo đảm bên ngoài gọi là tri châu, đều áp dụng theo. Thông phán Quế Dương Diêm sứ sáu viên[9], Hoàng Hà Đô đại ty quan Tảo Ngạn sứ thần hai mươi viên cũng áp dụng theo, chưa đủ hai mươi viên thì bốn viên.” Được chấp thuận.
(Bản mới bỏ.)
[19] Ngày Ất Hợi, quần thần dâng biểu xin hoàng đế ngự ở chính điện, khôi phục ăn uống như thường. Chiếu đáp không chấp thuận. Dâng biểu bốn lần, mới được đồng ý.
(Bản cũ chép: “Từ mùa đông năm ngoái không có tuyết, đến nay mới có mưa.” Xét 《Chính mục》, tháng này ngày mồng 8 đã có mưa rồi, nay không lấy. Bản mới theo đó.)
[20] Ngày Bính Tý, Tri châu Nguyên Châu Hồ Điền tâu: “Man nhân ở trại Cừ Dương gây rối[10], thần đã đem quân xử lý xong.” Chiếu ban thưởng tiền cho quân lính theo thứ bậc do Vận ty quy định.
[21] Kinh lược ty lộ Phu Diên tâu: “Quân Bảo An nhận được công văn từ châu Hựu xin phá bỏ các đồn như Thắng Như ở châu Lan.” Chiếu rằng: “Kinh lược ty lộ Hi Hà Lan Mân phải khẩn tra xét số quân Phiên-Hán cùng quan tuần kiểm đang đóng ở hai đồn Thắng Như, Chất Cô, tình trạng thành lũy, lầu vọng, khí giới phòng thủ, từ sau khi tu sửa năm Nguyên Phong thứ 5 có bằng chứng gì để đối chứng với Tây giới, nay nên dùng lý lẽ gì để bác bỏ công văn, cùng xác minh địa danh Quảng Cát Lĩnh ở đâu, vẽ bản đồ tâu lên.”
(Ngày 8 tháng 6, Thượng Quan Quân tâu có thể khảo cứu. Cuối tháng, Phạm Dục tâu xin phụ họa. Tô Triệt dâng tâu 4 việc, đều hợp tham khảo. Sách 《Chính Mục》 ghi: Cuối tháng 3, châu Hựu gửi công văn xin phá bỏ tường thành mới xây ở 3 nơi Nạp Diệp, Thắng Như, Chất Cô, Liệt Khắc Tiết, Nỗ Trát. Cuối tháng 4, lệnh cho quân Bảo An tra xét năm xây dựng đồn Chất Cô, Thắng Như.)
[22] Ngày Mậu Dần, Xu mật viện tâu: “Cấm các loại người như cử nhân, thầy dạy học, thầy bói, người thất nghiệp ở châu huyện, thợ chế tạo vũ khí vào động khê tiếp xúc với người Man quy phụ. Kẻ vi phạm bị xử tội vi chế, ai tố giác được thưởng 20 quan tiền, giao cho tuần kiểm, huyện úy địa phương giám sát.” Được chấp thuận.
[23] Ngày Tân Tỵ, Hàn Xuyên – Trực Long đồ các, Xu mật đô thừa chỉ được bổ làm Trung thư xá nhân.
[24] Ngày Nhâm Ngọ, Vương Nham Tẩu – Trung thư xá nhân được bổ làm Long đồ các đãi chế, Xu mật đô thừa chỉ.
[25] Ba tỉnh tâu: “Thượng thư Hữu thừa Hứa Tướng tấu: ‘Thần gần đây vâng chiếu sai làm lễ tế Hoàng địa kỳ vào tiết Hạ chí. Thần xét kỹ nghi lễ tế tự, thấy trước đây sở Tường định lễ văn đã tấu rằng: việc nhà Vua thân hành tế trời đất hợp nhất ở Nam giao là trái lễ, bèn đề nghị bỏ bàn thờ Hoàng địa kỳ ở Viên khâu cùng các vị thần phối hưởng, những năm tế Giao nếu không thân tế địa kỳ thì sai Trủng tể đứng làm lễ thay, đã định thành nghi thức thi hành. Thần nghĩ rằng bậc đế vương coi trời như cha đất như mẹ, đều là đại thần, từ xưa chế độ tế tự tuy có khác nhau, nhưng chưa từng có việc chỉ tế một bên mà không thân hành. Hơn nữa, ba năm một lần vào tiết Đông chí, thiên tử thân hành tế tự, tế khắp tông miếu, tế trời ở Viên khâu, nhưng đến tiết Hạ chí năm đó tế ở Phương trạch lại chỉ sai Thượng công, như vậy là Hoàng địa kỳ vĩnh viễn không được đưa vào điển lễ thân tế, đây là thiếu sót lớn về lễ, không thể không bàn. Kính mong bệ hạ rộng ban chiếu hỏi các bậc nho thần, tham cứu điển cố, cân nhắc thích đáng, chính thức sáng tỏ điển lễ tế tự để làm khuôn mẫu muôn đời.'” Xuống chiếu cho Lễ bộ, Thái thường tự cùng bàn kỹ tâu lên.
(Ngày 9 tháng 5 năm Nguyên Phong thứ 6. Ngày 12 tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ 5 lại có chiếu [11]. Sách 《Chính mục》 chép Hứa Tướng xin hợp tế địa kỳ, cần tra cứu. 《Chính mục》 cũng chép việc tra xét Sái Thạc vào ngày này, nhưng 《Thực lục》 lại chép vào ngày 4 tháng 8, nên theo 《Thực lục》.)
[26] Thị ngự sử Tôn Thăng tâu: “Thần trộm xét các đời xưa nay, quân tử được dùng thì thiên hạ yên trị, tiểu nhân được dùng thì thiên hạ nguy loạn, sách vở ghi chép rõ ràng như sao trời, có thể làm gương sâu sắc. Vì sao? Quân tử được dùng thì trên biết tôn Vua, dưới biết thương dân, đề bạt người hiền, xa lánh kẻ nịnh, nên triều đình nghiêm túc, thiên hạ yên ổn. Còn tiểu nhân, chỉ cần tránh xa để chúng không làm điều gian ác, chứ không cố ý hại chúng, nên 《Chu Dịch》 viết: ‘Quân tử xa lánh tiểu nhân, không ghét mà nghiêm’. Tiểu nhân thì khác, một khi đắc chí trong thiên hạ, thì mang lòng gian dối Vua, kết bè kéo cánh, chỉ biết mưu lợi, hại người lương thiện, vu hại trung lương. Người hiền mất đi, loạn lạc theo sau, nên 《Chu Dịch》 viết: ‘Tiểu nhân chớ dùng, ắt loạn nước’. Bởi thế, vì thiên hạ muôn đời, không thể không lấy phòng ngừa từ nhỏ làm răn.
Thần tra xét: Tên Thái Thạc người Thiều Châu vốn bị tội tham ô đáng chết được tha, khi anh hắn là Thái Xác làm tể tướng, trong ngoài cấu kết, lộng quyền nhận hối lộ, kiêu xa dâm dật, không việc ác nào không làm, số tiền tham nhũng không sao kể xiết. Trước đây trong việc mua vật liệu cho Giám Quân khí, chỉ một việc mà đã chiếm đoạt tiền công đến hàng vạn, đốt sổ sách, làm giả sổ sách, từ khi lập quốc đến nay, chưa có vụ tham ô nào lớn như thế. Triều đình đặc cách tha chết, đưa đến nơi tốt, nhưng hắn vẫn chưa chừa, bè đảng vì lợi vẫn còn giao kết.
Thần nghe nói ở Thiều Châu mua đồng từ trước không trả tiền mặt, chỉ cấp giấy gọi là ‘dầu lương chủ thủ’, đợi theo thứ tự mà trả. Gần đây quan lại Thiều Châu giao kết với Thái Thạc, cho hắn mua giấy này với giá vài trăm đồng một quan, rồi phạm pháp không theo thứ tự, một lần trả hết tiền công cho Thái Thạc, chưa đầy tháng, Thái Thạc đã chiếm đoạt hơn nghìn quan tiền công. Thái Thạc bèn dùng tiền này đóng thuyền lớn ở Kiền Châu[12], chở vợ con, ồn ào xuôi dòng sông về phía tây, tự cho là vương pháp không trị nổi. Khi hắn được tha chết, bè đảng đã cấu kết như thế, huống chi nếu đắc chí?
Kính mong bệ hạ xét kỹ, hạ lệnh cho quan lại Quảng Nam Đông Lộ không liên quan điều tra các quan Thiều Châu phạm pháp cấp tiền công cho Thái Thạc, xét rõ sự thực, nghiêm trị để răn bè đảng phỉnh dưới dối trên, dung túng gian tà hại dân.” Triều đình nghe theo.
(Ngày 9 tháng 5 năm Nguyên Hựu thứ 5, Tôn Thăng dâng tấu này. 《Chính mục》 ngày 18 ghi việc tra xét Thái Thạc, tức là việc này. Có lẽ Tôn Thăng dâng tấu ngày 9, đến ngày 18 mới có chỉ thi hành. 《Thực lục》 đến ngày 4 tháng 8 mới chép, nay ghi cả hai.)
[27] Ngày Quý Mùi, ban chiếu: “Từ nay, các ty Chuyển vận, Đề hình khi tuần tra các châu huyện thuộc quyền, cứ hai năm một lượt, mỗi năm kiểm tra một nửa. Điều lệ cũ quy định nếu có lý do không thể đi hết thì không áp dụng nữa.” Do có quan viên tâu rằng các ty Giám ti thường làm sơ sài, phần nhiều không đi hết địa bàn phụ trách.
[28] Ngày Bính Tuất, bổ nhiệm Trương Thuấn Dân, Hiệu lý Bí các làm Điện trung thị ngự sử. (Ngày 12 tháng 6 đổi ra ngoài.) Dương Khang Quốc, Viên ngoại lang Công bộ làm Giám sát ngự sử. (Khang Quốc người Cộng Thành, Lưu Chí soạn minh văn cho cha ông là Dương Chỉnh.) Giám sát ngự sử Dương Úy làm Viên ngoại lang Công bộ. Các Gián nghị đại phu Lưu An Thế, Chu Quang Đình nhiều lần tâu xin bãi chức Đài quan của Úy, Úy cũng tự xin miễn nhiệm, nên đổi chỗ cho Khang Quốc.
(Việc bổ nhiệm ngự sử này vào ngày 26 tháng 3.)
[29] Thái thường tâu: “Xin từ nay, những ngày nghỉ triều hoặc ngày sau khi nghe tin buồn, nếu là tiền điện thì nghỉ khởi cư, nếu gặp ngày khởi cư hậu điện hoặc ngày tham triều cũng làm theo. Ngày nghỉ hoặc ngày hậu điện buông rèm nghỉ, quan viên phải vào chầu thì dời sang ngày hôm sau.” Được chấp thuận.
[30] Chiếu ban tặng bia thần đạo của Nguyên Giáng, Thái tử thái sư, đề hai chữ “Ý Văn” theo lời thỉnh cầu của con ông là Nguyên Thư Ninh.
[31] Ngày Mậu Tý, bổ nhiệm Phạm Thuần Nhân, Quan văn điện học sĩ, Tân tri Diên An phủ làm Quan văn điện đại học sĩ, Tri Thái Nguyên phủ.
(Ngày 2 tháng 5 bổ nhiệm, Lương Đào có nói…)
[32] Chiếu cho Triệu Vĩnh Ninh, sứ ty Cung bị khố làm Kiềm hạt Tương châu, vì là hậu duệ của Dực Tổ nên đặc cách chấp thuận.
[33] Hộ bộ tâu: “Các quan ngoại trấn về kinh cắt lương, hoặc để lại toàn bộ ở ngoài để lĩnh, không mang theo lịch thân, xin cho cơ quan chủ quản xét nghiệm, cấp giấy công cứ vào chầu. Các môn kiểm điểm, báo Thái phủ tự cấp hai phần tiền lương, dùng sổ nhỏ để xét lĩnh.” Được chấp thuận.
(Mới không có. Ngày 26 tháng 5 năm thứ 6 có thể tra cứu.)
[34] Ngày Kỷ Sửu, Thượng thư tỉnh dâng tấu: “Xét thấy dân chúng trong phủ giới và các lộ tích tụ nhiều khoản nợ các loại qua nhiều năm, danh mục khá nhiều, các cơ quan trước sau đều tâu xin chia kéo dài thời hạn thu nộp không thống nhất, lại có những nơi đã nhiều lần được gia hạn. Nếu đồng loạt đòi thu, e rằng dân chúng khó đóng nộp.” Chiếu rằng: “Đối với các khoản nợ hiện có của dân chúng phủ giới và các lộ, lấy mười phần làm chuẩn, mỗi năm tùy theo kỳ thuế Hạ, Thu mà đóng nộp thêm một phần, ai muốn nộp gộp cũng được. Lập sổ ghi rõ từng hộ các khoản nợ hiện có, gộp làm một chỗ, cùng số lượng phải nộp mỗi năm, bắt đầu thu từ kỳ thuế Hạ năm nay. Nếu là tiền vật của các ty thì lập sổ riêng để thu. Tất cả các chỉ đạo trước đây về việc thu nợ, chia kỳ hoặc gia hạn đều không thi hành nữa.”
(Ghi chép trong 《Biên lục pháp sách》 là thánh chỉ ngày 25 tháng 5 năm Nguyên Hựu thứ 5, nay chép ra để tham khảo. Tô Triệt tấu mục ghi thánh chỉ ngày 26 tháng 5 năm thứ 6, sợ Tô Triệt nhầm, nay ghi cả hai. Ngày 8 tháng 8 nhuận năm thứ 6, Vương Nham Tẩu có nói rõ, có thể tra cứu.)
[35] Ngày Canh Dần, Ngự sử trung thừa Lương Đào được quyền Hộ bộ thượng thư, Tả gián nghị đại phu Lưu An Thế làm Trung thư xá nhân. Đào và An Thế đều vì xin bãi bỏ việc bổ nhiệm Đặng Ôn Bá làm Thừa chỉ không được chấp thuận, nên từ chối nhận chức mới. Chiếu sai trung sứ dụ Đào, thúc giục nhận mệnh, lại áp giải đến tỉnh nhậm chức. (Đào đến ngày 14 tháng 6 mới nhận mệnh, Lưu Chí ghi việc này rất chi tiết, nay xem riêng phần đó.) Đào sau khi tạ ơn, liền nói sau khi dự lễ Khôn Thành tiết sẽ xin ra ngoài. Còn An Thế vì bệnh nằm nhà, cuối cùng từ chối.
(Xem ngày 18 tháng 8.)
Đào khi giữ chức Trung thừa từng tâu: “Thái Xác dùng thủ đoạn gian trá phụng sự Vua, gây nhiều sai lầm cho Tiên đế. Bệ hạ ban ân khoan dung, cho ở quận tốt, nhưng kẻ tiểu nhân vong ân bội nghĩa, không tự lượng sức. Như việc Ngô Xử Hậu chú giải thơ văn của hắn, vốn chỉ là đề cập ngẫu nhiên đến di tích cổ nhân ở An Lục, chứ đến mức oán báng quân phụ thì chắc không dám, nhưng nhạo báng bề tôi thì có. Vì thế khi thần còn ở Ngôn lộ, từng luận tội Thái Xác gian ác lừa Vua hại nước, chứ không chỉ căn cứ vào thơ văn.
Xét từ thời Tổ tông, những trường hợp như Đinh Vị bị đày ra Lĩnh Hải, cũng chỉ ba bốn năm sau được về. Bệ hạ có lòng nhân từ hiếu sinh, có điều gì không dung được? Thần nghe mẹ Thái Xác già yếu, lo buồn sinh bệnh, đáng thương lắm. Đường Lưu Vũ Tích hung hăng ngoan cố gian hiểm, Vương Thúc Văn tin dùng, suýt làm nghiêng đổ nhà Đường. Khi bị đày đến Bá Châu, Bùi Độ vì mẹ ông ta già yếu mà xin, Đường Hiến Tông nói: ‘Làm con phải cẩn thận để không khiến cha mẹ lo buồn, như Lưu Vũ Tích, so với người khác càng không thể tha.’ Nhưng sau lại nói: ‘Lời Trẫm trách tội con, nhưng không muốn làm tổn thương cha mẹ chúng.’ Bèn đổi đến Liên Châu.
Nay thánh đức của bệ hạ cao vời, Đường Hiến Tông sao dám so sánh? Nhưng việc này khá tương tự, mong bệ hạ thương tình, đặc cách cho dời vào nội địa vùng Hồ – Tương, vừa để rõ tội Thái Xác bất hiếu làm ác, vừa khích lệ lòng hiếu thảo của thiên hạ. Tuy nhiên, việc này không nên do bề tôi đề xuất, mong bệ hạ tự phán xét.”
Lại tâu: “Nghe đồn hoạn quan Trần Diễn dò xét việc ngoài, bí mật tâu lên hai cung. Diễn gần đây tỏ ra khác thường, lấn lướt đồng liêu, kiêu ngạo không khiêm tốn. Thần cho rằng hai cung thánh minh, giúp bệ hạ thi hành chính sự có tể chấp, bàn việc được mất có đài gián, trăm quan đều giữ chức phận, xét danh trách thực thì việc không bị bỏ bê, há để cho bọn hoạn quan ti tiện làm vẩn đục thánh minh? Nếu lời đồn là thật, sẽ tổn thương thánh đức, mầm họa không thể để phát triển.” Sớ dâng nhiều lần, lại tâu mặt đối mặt.
(Theo hành trạng của Lương Đào, đây là lời tâu khi còn làm Trung thừa chưa thăng chức Hộ bộ thượng thư, nay phụ chép vào đây. Bản mới và bản cũ đều không chép việc này, không rõ nguyên do. Hành trạng do Trương Thuấn Dân căn cứ vào tư liệu do con Lương Đào là Đỉnh Cát soạn, tham khảo thêm những điều Trương Thuấn Dân nghe thấy mà viết, lúc này nạn đảng lại nổi lên, cần xem xét.)
[36] Hữu gián nghị đại phu Chu Quang Đình tâu: “Tần Quan vừa được bổ làm Thái học bác sĩ vốn tiếng là kẻ bạc bẽo, hành vi xấu không phải một, há có thể làm thầy người khác? Xin đặc cách bãi bỏ mệnh lệnh mới.” Chiếu cho Quan nhận chức khác.
[37] Ngày Tân Mão, Thị ngự sử Tôn Thăng và Điện trung thị ngự sử Giả Dịch cùng tấu: (Biên loại chương sớ ngày 27 tháng 5.) “Thần gần đây cùng cả đài đàn hạch việc Đặng Ôn Bá vừa được bổ làm Hàn lâm học sĩ thừa chỉ không có tiết tháo trung lập vững vàng, lại có dấu vết kết bè gian dối lừa trên, chưa được xét duyệt thi hành.
Ngự sử trung thừa Lương Đào đã về nhà chờ tội, thần đây nghĩa khó yên lòng, xin chép rõ việc Ôn Bá khi làm gián quan đã kết bè với Lữ Huệ Khanh vu hãm Vương An Quốc, cùng lúc ở Hàn lâm âm thầm giao thiệp với Thái Xác, trong chiếu chỉ riêng suy tôn Xác có công định sách. Lúc đó đâu có việc gì nguy nghi, đại thần sao lại có công nghị bàn? Nếu suy công bảo vệ cho là công của Thái Xác, thì tội gây nguy nghi sẽ đổ lên ai? Lời oán vọng phỉ báng của Xác đều do Ôn Bá khơi mào. Thái Xác bị lưu đày nơi xa, mà chiếu văn truyền khắp thiên hạ.
Việc tiến thoái của Ôn Bá thực hệ trọng đến thịnh suy. Kết bè gian dối lừa trên, dấu tích rõ ràng. Kính nghĩ hoàng đế bệ hạ thánh đức ngày càng cao, cần người ngay thẳng sáng suốt phụ đạo sớm tối, như Ôn Bá gian tà bất chính, há nên làm nội tướng bên cạnh bậc nhân chủ, thân nhận thiên mệnh?
Xét tà chính, biện thị phi, là ý nghĩa triều đình đặt ra chức Ngự sử. Thần đây không vì mưu lợi thân, thực tiếc thể diện quốc gia, mong đặc biệt xét lại, xem tờ tấu của thần, sớm ban xử trí.” (Các ngày 16 tháng 3, 27 tháng 5, 8 tháng 6, 24 tháng 7, tổng cộng 4 tờ tấu.)
Lời thiếp hoàng nói: “Vương Khuê làm thủ tướng, chỉ nói ‘dự bàn định nơi cấm đình’, so sánh chỉ như Phiền Hầu đời Hán, ban mệnh mà thôi; còn chiếu chỉ của Thái Xác lại ‘đặc biệt khen công định nghị’, so sánh như Chu Bột. Lúc đó đâu có nghị bàn nguy nghi không quyết, như các họ Lã đời Hán, nhờ Thái Xác rồi sau mới định? Việc lớn đã quy cho Thái Xác, thì tội gây nguy nghi sẽ đổ lên ai? Phụ nước lừa trời, không gì lớn hơn thế!”
[38] Ngày Nhâm Thìn, Hàn lâm học sĩ Tô Triệt được bổ làm Long Đồ các trực học sĩ, Ngự sử trung thừa. Triệt tâu: “Thần tài mọn đảm nhiệm chức vụ giám sát, cần có phụ tá để giúp việc chưa đạt. Thấy hai viện Ngự sử hiện chỉ có ba người, mà hai người từ chối chưa nhận chức, không chỉ ít người can gián, việc được mất của triều đình khó xét hết, mà sáu khoa xử lý công việc rất nhiều, sức không kham nổi khiến trăm quan gần như bê trễ. Trước đây khuyết chức không bổ, thường kéo dài hàng năm, mọi người đều nghi ngờ lạ lùng.
Thần thấy chế độ nhà Đường, quan Ngự sử đài đều do Đại phu, Trung thừa tự chọn, nếu không theo cách này dù có chiếu bổ cũng từ chối. Đến triều ta tuy giảm bớt lệ cũ, nhưng vẫn bắt Ngự sử đài cùng hai chế cử riêng, để Vua tự chọn người xứng, vốn không có lệ Tể chấp dùng người. Nhưng nhân tài khó kiếm không chỉ nay, nên từ Đường Thái Tông đặt chức Giám sát lý hành để dùng người còn non kinh nghiệm, mà chế độ cũ của tổ tông cũng cho dùng quan kinh triều từ Tri huyện trở lên, pháp lệnh khoan dung dễ đạt tiêu chuẩn. Gần đây phép cử phải là người đã trải một khóa Thông phán. Nhân tài suy giảm chưa từng thấy, mà riêng chức gián quan lại đặt điều kiện khó khăn, thật không thỏa đáng.
Thần trước ở nội ngoại chế, thấy mỗi khi có chiếu xuống, đồng liêu nhìn nhau lo không có người đủ tiêu chuẩn; đã tiến cử rồi lại phần nhiều không dùng, lại chọn trong quan Ngự sử đài cũ để bổ dụng, tuy là người cũ nhưng vẫn do Tể chấp quyết định, trái hẳn ý tổ tông rộng rãi tiến cử.
Nay thần xin cho Ngự sử đài cùng hai chế được cử quan triều từ Thông phán trở lên mới nhậm chức, hoặc đã trải hai nhiệm Tri huyện, Thông phán trở lên và Tri huyện mỗi loại một nửa, tùy ý Vua chọn lựa bổ sung chỗ khuyết, vẫn theo lệ cũ đặt chức Giám sát lý hành. Như thế phép chọn quan Ngự sử của tổ tông không bị hủy hoại, nơi giữ cương kỷ dễ có người tài, cũng tránh được bỏ sót.”
(Chương này ghi vào ngày mới nhậm chức. Triệt nhận chức Trung thừa ngày 28 tháng 5, khi đó Tôn Thăng đã làm Thị ngự sử; tháng 3 năm nay, Giả Dịch đã làm Điện trung; ngày 22 tháng 5 năm ngoái, đã cách chức Giám sát ngự sử Dương Úy trước, bổ Trương Thuấn Dân làm Điện trung ngự sử, Dương Khang Quốc làm Giám sát ngự sử, nhưng Thuấn Dân từ chối không nhận, Giả Dịch cũng xin tránh hiềm nghi. Lời Triệt nói “hai viện Ngự sử hiện chỉ có ba người, mà hai người chưa nhận chức” là chỉ Giả Dịch và Trương Thuấn Dân, còn một người là Dương Khang Quốc. Giả Dịch bị cách ngày 8 tháng 6, Thuấn Dân bị cách ngày 22, Khang Quốc được đổi làm Điện trung ngự sử, nên có chiếu cho Triệt và Thăng cùng tiến cử hai Giám sát ngự sử.)
Triệt lại tấu: “Thần nghe Mạnh Tử có nói: ‘Người giữ chức quan, không làm tròn chức phận thì nên từ chức; người có trách nhiệm can gián, lời nói không được nghe theo thì nên rút lui.’ Vì thế, triều đại tổ tông, phàm ai giữ chức đài gián, nếu lời tâu được nghe theo thì giữ chức, nếu lời tâu không được dùng thì bị cách chức, lẽ tất nhiên là như vậy, trước sau đều thế. Chỉ riêng năm ngoái, các quan đài gián can việc đắp đê ngăn sông không đúng, lời tâu không được nghe, nhưng người tâu lại đều được thăng chức tốt; năm nay lại can việc Đặng Ôn Bá không nên giữ chức Hàn lâm thừa chỉ, lời tâu không hiệu quả, nhưng người tâu cũng đều được thăng chức. Dù bề tôi miễn cưỡng nhận mệnh triều đình, gắng gượng giữ chức, nhưng trong ngoài đều ngóng trông, không biết đúng sai thế nào, tổn hại chẳng nhỏ.
Nếu triều đình thật sự có hành động sai lầm, nghe lời phải mà sửa đổi, đủ tăng thêm vẻ sáng suốt rộng lượng; hoặc nếu người tâu bàn việc không đúng, cứ phép mà cách chức, cũng đủ tỏ rõ sự công bằng trong thăng giáng. Nay không phân biệt phải trái, đều thăng chức cả, triều đình sẽ mang tiếng che giấu lỗi lầm vì tư lợi, bề tôi sẽ bị chê trách cẩu thả ham bổng lộc, phong tục dần hình thành, khí tiết sĩ phu suy đồi, ghi vào sử sách, chẳng phải việc hay.
Thần nay đang mang tội giữ chức pháp quan, tài lực kiệt quệ, làm sao có thể sáng suốt? Nhưng tại chức lo nghĩ, không dám không gắng sức. Nếu lời tâu hợp lẽ, mong bệ hạ ra sức chủ trương, thi hành không ngần ngại; nếu có điều không đúng, cũng xin rõ ràng đày đi, để trừng trị kẻ nói bậy. Chỉ xin đừng dùng kế bao dung nhẫn nhịn, khiến Vua tôi cùng chịu tiếng xấu, thật may mắn biết bao!”
(Chương này không rõ thời điểm, phụ vào ngày mới nhận chức Trung thừa. Tuy không nhất thiết vào ngày đó, nhưng chắc chắn phải có chương này trước rồi mới đến việc khác.)
[39] Thị lang Lại bộ kiêm Thị độc Phạm Bách Lộc làm Hàn lâm học sĩ, Cấp sự trung Trịnh Mục làm Bảo văn các Đãi chế, Quốc tử tế tửu, Hữu gián nghị đại phu Chu Quang Đình làm Cấp sự trung. Quang Đình cố từ chối, chiếu sai trung sứ dụ nhận mệnh, rồi áp giải đến nha môn nhận chức. (Việc sai trung sứ căn cứ theo《Vương Nham Tẩu kỷ niên lục》. Quang Đình nhận mệnh ngày 14 tháng 6, 《Lưu Chí hành niên hậu ký》 chép rất chi tiết, nay ghi riêng ở đó). Thái thường bác sĩ, Bí các hiệu lý Lưu Đường Lão làm Hữu chánh ngôn. Thái trung đại phu, Tri châu Quắc Bồ Tông Mạnh phục chức Tư chính điện học sĩ, Tri phủ Hà Trung.
[40] Xuống chiếu: “Các chức quan mới đặt thêm ở vùng biên: 5 viên Quản câu công sự ty Chuyển vận Thiểm Tây, 1 viên Câu đương công sự ty Chuyển vận Hà Đông, 1 viên Chuẩn bị sai sứ ty Kinh lược An phủ Hà Đông đều bãi bỏ, thi hành theo lệnh bãi chức giảm viên. 15 viên Thính hậu sai sứ các ty Kinh lược An phủ các lộ Hà Đông và Thiểm Tây, lệnh các ty cho thôi việc, từ nay không được bổ nhiệm nữa.”
[41] Hộ bộ tâu: “Xin các quan trưởng, phó Thái phủ mỗi tháng chia nhau đi tuần 1-2 kho vụ dưới quyền, kiểm tra sổ sách, quan vật, tâu rõ các việc có hay không tuân theo pháp luật sửa đổi lên tỉnh, không được định trước ngày giờ. Nếu việc kiểm tra phát hiện gian lận, quan kiểm tra do bộ tâu hặc.” Chiếu cho Nam Bắc khố Tả tàng, Giác hóa vụ, Viện Thương thuế làm theo. (Không có trong bản mới).
[42] Ban cấp 50 độ điệp cho tăng nhân, lệnh cho Hàng Châu khơi đào Tây Hồ (theo《Chính mục》ngày 28), theo lời thỉnh cầu của Tri châu Tô Thức.
Hàng Châu vốn là vùng đất ven biển, nước ngầm mặn chát, dân cư thưa thớt. Thời Đường, Thứ sử Lý Bí dẫn nước Tây Hồ đào sáu giếng, dân đủ nước dùng nên phố xá ngày càng phồn thịnh. Đến Bạch Cư Dị lại nạo vét Tây Hồ, dẫn nước vào sông đào, từ sông chảy vào ruộng, tưới tiêu được cả ngàn mẫu. Nhưng hồ nhiều cỏ phong, từ đời Đường đến họ Tiền, hàng năm đều khơi đào nên nước hồ đủ dùng.
Gần đây bỏ bê không tu sửa, đến nay ruộng cỏ phong trong hồ tích tụ hơn 25 vạn trượng, nước hồ gần cạn. Sông đào mất nguồn nước hồ, phải lấy nước thủy triều, nước triều đục ngầu gây bồi lắng, sông chảy giữa phố xá, ba năm nạo vét một lần thành mối họa lớn cho dân chúng, sáu giếng cũng gần như bỏ hoang. Khi Thức mới đến, đã nạo vét hai sông Mao Sơn và Diêm Kiều, để sông Mao Sơn chuyên nhận nước triều, sông Diêm Kiều chuyên nhận nước hồ, xây đập ngăn để điều tiết nước triều, từ đó triều không tràn vào phố, lại có thêm sức đưa sáu giếng vào hoạt động, dân được hưởng lợi ít nhiều.
Thức từng ra hồ, quan sát kỹ rồi nói: “Nay muốn dẹp ruộng cỏ, nhưng cỏ chất như mây, biết đổ đi đâu? Hồ dài ba mươi dặm nam bắc, đi vòng quanh hồ cả ngày không hết, nếu lấy cỏ đắp thành đảo giữa hồ thì đường đi lại thuận tiện. Dân thích trồng sen, nếu trồng sen thu hoa lợi để chi phí tu sửa hồ thì hồ sẽ không bị lấp nữa.” Bèn lấy phần dư cứu đói, được vạn quan tiền cùng thóc gạo, lại xin triều đình cấp 50 độ điệp để chiêu mộ dân phu. Đê đắp xong, trồng phù dung, liễu trên bờ, trông như tranh vẽ, dân Hàng gọi là “Tô công đê”.
(Theo bia mộ Thức ghi: 100 độ điệp. Nay theo《Chính mục》.)
[43] Châu Hựu gửi công văn cho quân Bảo An, địa giới Lan Châu như tháng trước. Lệnh cho quân Bảo An gửi công văn, hội đàm lại với Hi Châu. (Theo《Chính mục》việc tháng 5.)
[44] Tháng đó, Phạm Tổ Vũ dâng tấu chương tại điện Nhĩ Anh nói: “Thần trộm thấy vào tháng 7 năm Khánh Lịch thứ nhất (1041), Hoàng đế Nhân Tông đã ban ra bức ký họa “Quan Văn Giám Cổ Đồ” do chính ngài ngự chế để cho các đại thần phụ tá xem; đến tháng 11 năm Hoàng Hựu thứ nhất (1049), ngài lại ngự điện Sùng Chính, triệu tập các cận thần, quan viên Tam Quán, Đài Gián cùng tông thất đến xem bức “Tam Triều Huấn Giám Đồ“.
Thần nghĩ rằng các bậc đế vương xưa thường xem tranh để tự răn mình. Hoàng đế Nhân Tông ngoài việc giảng học, còn vẽ tranh xem xét cổ nhân, không quên lời răn để nuôi dưỡng tâm thánh; lại vẽ ghi chuyện cũ ba triều, muốn con cháu biết công lao của tổ tông như chính mắt được thấy. Hai bức tranh này đều từng ban cho bề tôi, trong cung hẳn còn bản gốc.
Thần mong bệ hạ nhân lúc nhàn rỗi xem sách, thỉnh thoảng xem lại các bức tranh này, có thể thấy rõ dấu tích tốt xấu của đế vương đời trước, hiểu được sự gian nan khi tổ tông gây dựng cơ nghiệp, không chỉ cảm được lời khuyên răn, dễ ghi nhớ, mà cũng là một phương diện của việc ham học không biết mệt.”
[45] Thị ngự sử Tôn Thăng tâu: “Thần nghe sách viết: ‘Đều có một đức, được hưởng lòng trời.’ Người giảng giải cho rằng Vua tôi đều có đức thuần nhất thì lòng trời sẽ ban phúc. Nếu Vua cẩn thủ pháp độ mà bề tôi có sự vượt quyền, trên hết lòng thành mà dưới lại mờ tối, thì cũng chưa được lòng trời ban phúc. Trong ‘Hồng phạm’ có nói về điềm xấu của năm việc: ‘Mờ tối thì gió dữ thường xuyên; vượt quyền thì nắng hạn thường xuyên.’ Hạn hán lâu ngày không mưa gọi là thường dương, gió dữ vô độ gọi là thường phong. Như vậy, kẻ dưới mờ tối mà Vua không biết thì cũng gọi là mờ; bề tôi vượt quyền mà Vua không trị tội thì cũng gọi là tiếm. Lòng trời yêu thương Vua mà răn dạy ân cần đến thế. Thần nghĩ bệ hạ tin dùng đại thần, giữ gìn phép tắc, lo nghĩ cho dân, hết lòng thành thực, lẽ ra đã cảm động được trời xanh. Nhưng từ mùa xuân đến nay, mưa thuận không đúng thời, gió dữ vô độ, cầu đảo càng chuyên mà nắng hạn càng gay gắt, chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của bệ hạ, là cớ sao?
(Năm thứ 5 mùa xuân, hạn hán. Tháng 2 ngày Quý Mão, cầu mưa ở núi sông. Từ mùa đông năm ngoái không có tuyết, đến tháng 5 ngày Nhâm Thân mới có mưa.) Ấy là do chính sự có sai sót nên trời giáng điềm ứng nghiệm, như hợp với tiết điệu. Thần ngu nghĩ rằng lỗi mờ tối hôm nay không phải ở trên mà ở dưới; lỗi vượt quyền không phải ở Vua mà ở tôi. Sao vậy? Bắc Kinh cách kinh đô không xa, việc đắp đê ngăn sông, bệ hạ đã quyết định bãi bỏ vì cho là không thể làm, thế mà lại khởi công đào sông giảm lũ. Danh là giảm lũ, thực chất là ngăn sông. (Ngày 4 tháng 2 năm thứ 5, Ngô An Trì được cử đốc thúc đào sông giảm lũ.)
Gần đây, lưu thủ Bắc Kinh cùng chuyển vận sứ bản lộ tâu bàn về nạn đê ngăn sông ở phường Thử Tự và cọc chắn nước, thực là công cụ ngăn sông. Ngay trước mặt bệ hạ mà dám lừa dối, huống chi những tệ hại ở bốn phương xa xôi? Há chẳng phải là lỗi mờ tối ở dưới sao?
Thượng thư tỉnh là nơi bốn phương noi theo, thế mà quan lại đô ty phá phép loạn kỷ, trái điều lệ cầu thưởng, tự tiện nghĩ ra chỉ đặc, không tâu lên trung thư. Đại thần nặng lòng riêng, bỏ qua công luận, tội ác rõ ràng mà ra sức bênh vực. Thân cận với kẻ quyền quý, bệ hạ theo đó mà không trị tội, thì trăm quan trong ngoài, quận huyện bốn phương đua nhau phá phép, lấy gì ngăn chặn? Há chẳng phải là lỗi vượt quyền của bề tôi sao? Kính nghĩ bệ hạ hết lòng thành, giữ phép tắc, mà bề tôi mờ tối, vượt quyền, làm tổn đức sáng của bệ hạ, đó là ý trời răn dạy. Cúi mong bệ hạ mở rộng tai mắt để trừ mối họa mờ tối, rõ uy lệnh để trị tội vượt quyền, dưới thỏa lòng công luận, trên đáp lời trời răn, thì thiên hạ may mắn biết bao!”
(Chương này không rõ thời gian, phụ lục vào tháng 5.)
Thăng lại tâu việc đắp đê ngăn sông rằng: “Thần trộm nghĩ người xưa nói mưu theo ý chúng thì hợp lòng trời, từ xưa đến nay chưa từng có trường hợp mưu kế bất đồng mà trời ứng nghiệm. Nay việc đắp đê ngăn sông, các ý kiến bàn tán rối ren, đúng sai không thống nhất, lại lấy việc nước thuận dòng làm điềm ứng, thần thực nghi ngờ. Huống chi sông lớn vốn do nước lụt tràn ngập, bèn vỡ đê ở cửa Lương Thôn, ngăn nước đưa vào dòng cũ Tôn Thôn[13], thế sông lớn chưa phân mà cửa Đông Lưu đã bị bồi lấp. Thế sông nhân thượng lưu tiến vào chỗ ngăn, bèn bồi đắp thành đê cát, đê thẳng đã vỡ, nước lũ bị chặn ứ lại, nếu đê phụ không chống đỡ nổi thì Bắc Đô sẽ nguy, lại mở hai cửa đê thuận nước để giảm bớt sức ép.
Tuy nước lũ ban đầu thoát được, dòng chảy theo hướng Tôn Thôn về đông, nhưng sau khi sương xuống nước rút, cửa Tôn Thôn liệu có tự chảy về đông không? Điều này chưa thấy rõ lý do gọi là thuận dòng. Nếu lấy việc thuận dòng làm điềm ứng, để tỏ ra quyết tâm thi hành kế hoạch ngăn sông, thì người ta sẽ không dám nói gì nữa, mà kẻ ngu thần này trộm nghĩ chưa thấy được kế hoạch vạn toàn. Tại sao? Dốc hết sức lực bốn biển, phó mặc sinh mạng muôn dân, tổn phí không thể tính xuể, để mong đạt được một phần vạn thành công, vốn đã nguy hiểm, huống chi các ý kiến lại không thống nhất.
Hiện nay thiên hạ vô sự, trong ngoài yên ổn, mà vội dấy lên việc lớn, làm nhiễu loạn dân chúng hao tổn quốc khố, đã không hòa hợp được ý người, lại còn giả mượn ý trời, lúc đầu thuận dòng thì suy cho là trời, cuối cùng thất bại sẽ đổ cho thần linh, mà không ai chịu trách nhiệm, đó là điều khiến kẻ ngu thần nghi ngờ, cũng là nỗi lo lớn của triều đình. Kính mong bệ hạ xét lại kỹ càng, rộng thu ý kiến quần thần, hòa hợp các ý kiến, hoặc giao xuống Thượng thư tỉnh họp bàn, hoặc lại chọn những bề tôi trung thành không thiên vị, cùng với An phủ, Chuyển vận, Đề hình ty xem xét, cùng nhau bảo đảm rõ lợi hại, đợi khi vạn toàn mới thi hành, thì thiên hạ may mắn biết bao!”
Tờ phụ: “Lý Vĩ, Ngô An Trì, có người bàn rằng chưa từng bắt họ ký giấy nhận tội thì không thể tránh khỏi thất bại, nên mới dám buông tuồng mưu đồ liều lĩnh. Kẻ ngu thần cho rằng việc thành bại là do triều đình chủ trương, nếu không thận trọng ngay từ đầu, dù có giết mấy kẻ tiểu thần xảo trá, thì có ích gì cho quốc gia?”
(Thực lục ngày mồng 2 tháng 3 chép việc Ngô An Trì tâu nước sông dâng cao, có thể tra cứu. Thực lục ngày mồng 8 tháng 3 chép việc Thăng xin cách chức Vĩ và An Trì, đã thấy ở ngày mồng 3 tháng 3.)
Lại tâu: “Thần trộm thấy bản tấu của Lưu thủ ty Bắc Kinh: ‘Theo văn kiện sắc lệnh ngày 9 tháng 4, tại khu vực phường hiệu Hoang thuộc địa phận phủ thứ ba, đê thứ nhất huyện Nội Hoàng, đang tu sửa một con đê nhỏ chắn nước tràn dọc khu vực làng Hoa Hòe, nối từ bờ sông đến phía tây kho vật liệu thôn Giảm. Lưu thủ ty tra xét thấy việc ngăn sông trước đây do Tu hà ty đảm nhiệm, trước hết đã đóng cửa ba cửa sông Giảm thôn, Dương Thiệu, Phiền Hà ở bờ tây, đồng thời xây đê ngăn sông tại phường hiệu Thử và các cấu trúc chỉ hướng nước như cọc cửa cưa, bến ngựa để điều tiết dòng chảy chính về phía bờ đông phủ này.
Xét các năm trước, khi bờ tây chưa xây đê làng Hoa Hòe, nước tràn chảy về hướng bắc, đến năm ngoái đã xói mòn đê thẳng sông Sa, tạo thành khe hở lớn, dòng chảy xiết khiến các đê Thiêm, Hoành hết sức nguy cấp, khe hở sau đó đã mở rộng đến hơn 900 bước. Nay nếu tiếp tục xây đê bờ tây ngăn nước tràn không chảy về bắc nữa, rõ ràng sẽ dồn toàn bộ dòng chảy về đông, xói mòn các đê Thiêm, Hoành, Thuận Thủy… quanh thành phủ, gây hại không nhỏ. Kính mong triều đình xem xét, hạ lệnh cho Đô thủy giám dừng việc xây đê nói trên để tránh ngập lụt cho thành phủ.’
Triều đình giao Đô thủy giám xem xét, nhưng giám quan chỉ dựa vào báo cáo của Quản câu sông Huệ Dân Vương Cảnh nói không gây hại, liền cho là hợp lý, tâu lại triều đình xin theo lời Cảnh. Thần nghĩ việc sông lớn quan hệ trọng đại với quốc gia, Bắc Kinh là nơi then chốt của cả vùng, thế mà Đô thủy sứ chưa từng thân hành khảo sát, chỉ ngồi ở kinh thành dựa vào lời Quản câu Huệ Dân hà Vương Cảnh làm căn cứ, chẳng nghĩ đến tầm quan trọng của Bắc Kinh; còn Bằng Kinh là đại thần, gánh vác trọng trách một phương, tự nhận trách nhiệm, nếu không việc gấp, đâu dám tâu trình? Nay Đô thủy giám coi thường việc nước đến thế!
Nếu nước sông dâng tràn về đông như Lưu thủ ty Bắc Kinh tâu, gây họa cho bắc đô, dù giết trăm nghìn Vương Cảnh cũng vô ích! Kính mong bệ hạ xem xét, đặc cách hạ lệnh cho Đô thủy sứ thân hành đi khảo sát, nếu đê Hoa Hòe thực sự không gây hại khi nước lũ tới Bắc Kinh, phải làm tờ tâu bảo đảm xác thực, để người đảm nhiệm không dám coi thường.”
Dán tờ vàng phụ: “Triều đình lập các tự, giám đều đặt chức Khanh, Thiếu, riêng Đô thủy gọi là Sứ giả, vì việc thủy lợi phải thân hành kiểm tra, nên người đứng đầu gọi là Sứ giả. Há lại có chuyện việc trọng đại sông lớn, chỉ ngồi kinh thành, lấy tờ trình của viên chức Huệ Dân hà làm căn cứ báo lên triều đình, thì trách nhiệm lợi hại để ai gánh vác?”
Lại tâu: “Thần trộm nghĩ các châu huyện Hà Sóc là cánh tay trọng yếu của quốc gia, triều đình nên ban ơn huệ. Thế mà sông lớn gây họa đã nhiều năm nay, không thể không cứu chữa.
Từ khi khởi công đắp đê ngăn sông, các ý kiến bàn tán rối ren, phải trái bất nhất. Kẻ bảo có thể ngăn sông để hưởng lợi thì ít, người chỉ ra việc không thể ngăn sông sẽ gây hại thì nhiều. Đó là điều khiến thần ngu muội này sinh nghi, từng dốc sức tâu bày. Kính nghĩ thánh thượng cũng không khỏi nghi ngờ. Xưa gặp việc lớn đáng nghi thì bàn với lòng mình, bàn với khanh sĩ, bàn với dân chúng, bàn với bói toán.
Từ xưa đến nay, chưa có việc mưu bàn bất đồng mà làm nên đại sự. Nay việc đắp đê ngăn sông có thể gọi là đại sự, thế mà triều đình chỉ tin cậy mỗi Lý Vĩ và Ngô An Trì. Dù cho Vĩ và An Trì đều là quân tử trung tín đôn hậu, còn sợ có tật thiên lệch che lấp, huống chi hai người này miệng lưỡi sắc sảo khinh bạc, thấy lợi quên nghĩa. Ngô Cư Hậu mở xưởng luyện sắt ở Kinh Đông, tàn hại dân chúng làm tổn thương quốc gia, là mưu của Vĩ; việc thị dịch lừa trên phá phép, hại đến công tư, là sức của An Trì. Dùng Tạ Khanh Tài – chuyển vận sứ Hà Bắc thành thực có phẩm tiết, Phạm Tử Kỳ – đô chuyển vận sứ Hà Đông tinh nhanh thích công lao. Khanh Tài, Tử Kỳ đã nhận trọng trách được ủy thác, tận mắt thấy lợi hại thực tế, há dám cố trái ý chỉ triều đình mà có ý kiến khác với hai người kia? Ắt họ đã xem xét kỹ lựa chọn.
Thần nghe từ khi Khanh Tài và Tử Kỳ vì ý kiến khác mà bị bãi chức, quan lại cả lộ nuốt lời nín thở, không dám nói nữa. Không chỉ quan lại Hà Bắc như thế, nay sĩ đại phu trong triều đều kiêng nói đến việc ngăn sông. Há lại có chuyện mưu đại lợi, dấy đại dịch, lại cố chấp một phía, bịt tai che mắt mọi người, bưng bít nghị luận, để mong manh thành công? Thật đáng lạ lùng!
Người xưa nói trị thủy thì khơi thông cho nước chảy, trị dân thì mở lối cho dân nói. Lại nói: ‘Ngăn miệng dân còn hơn ngăn sông, nước ứ mà vỡ, hại người tất nhiều.’ Lời dân chúng còn không nên bưng bít, huống chi nghị luận của sĩ đại phu?
Kính mong thánh từ đặc biệt hạ chỉ, những bề tôi từng trải việc sông ngòi, đều cho phong kín tâu trình rõ lợi hại lâu dài của sông lớn, tâu bày sự thực; lại chiếu cho thần dân các châu huyện Hà Bắc, ai hiểu rõ lợi hại của sông lớn, đều cho phong kín, nộp lên quan sở tại. Sau đó triều đình rộng nghe các ý kiến, xem xét kỹ được hay không, chọn cử một hai đại thần gần gũi trung thực am hiểu, thông tỏ việc đời, cùng với các ty an phủ, chuyển vận, đề hình của bản lộ cùng bàn bạc bảo đảm, đợi khi vạn toàn mới thi hành, như thế may ra có thành công. Kính mong thánh thượng lưu tâm, thì thiên hạ may mắn biết bao!”
(Khanh Tài từ Hà Bắc điều về Hà Đông vào ngày 12 tháng 8 năm thứ 4; Tử Kỳ trở lại Hà Đông vào ngày 23 tháng 10. E rằng việc dâng tấu này chắc không phải năm thứ 5, cần tra xét kỹ thêm.)
- Phủ Dĩnh Xương (chữ 'Xương' nguyên bản viết 'Châu', căn cứ vào bản trong các các và 《Tống hội yếu》 Lễ 62-49, 《Tống sử》 quyển 314, truyện Phạm Thuần Nhân sửa lại) ↵
- chữ 'tại' nguyên bản là 'tồn', theo bản trong các các mà sửa ↵
- Ghi chép về trại Điêu Môn, Linh Quan thuộc huyện Lô Sơn, Vinh Kinh dưới quản hạt Nhã châu: Theo mục Nhã châu trong quyển 89 phần Địa lý chí 《Tống sử》, trại Linh Quan thuộc huyện Lô Sơn, trại Điêu Môn thuộc huyện Nghiêm Đạo, cả hai trại đều không thuộc huyện Vinh Kinh. 《Nguyên Phong cửu vực chí》 quyển 7 và 《Vũ kinh tổng yếu tiền tập》 quyển 19 chép giống 《Tống sử》。Nghi ngờ chữ 'huyện Vinh Kinh' ở đây là nhầm với 'huyện Nghiêm Đạo'. ↵
- Chữ 'Quý' nguyên là 'Lý', theo bản khác sửa. Tra: Theo 《Kê Lặc Tập》 quyển 63 bài văn bia Tịch Mặc Cư Sĩ, Triều Đoan Bẩm mất ngày Bính Ngọ tháng 4 năm Nguyên Hựu thứ 5, thọ 46 tuổi, sinh năm Khánh Lịch thứ 5 (1045); 《Khúc Vị Cựu Văn》 quyển 5 chép Triều Đoan Ngạn sinh năm Cảnh Hựu thứ 2 Ất Hợi (1035). Suy ra Đoan Bẩm là em Đoan Ngạn. ↵
- 'Nay thì lấy thêm vào' chữ 'thì' nguyên là 'thấy', căn cứ vào các bản và 《Tống hội yếu》 Thực hóa 13-33, 66-62 cùng 《Tận ngôn tập》 quyển 11 《Luận dịch pháp chi tệ》 sửa. ↵
- mà bắt nộp thứ tiền khó có - chữ 'trách' nguyên bản viết 'quý', theo các bản khác và hai sách trên sửa lại ↵
- chỉ muốn bóc lột sinh linh - chữ 'tru' nguyên bản viết 'truy', theo các bản khác và hai sách trên sửa lại ↵
- mà số người đi phu dịch theo phép mới chỉ có 42 vạn 9 nghìn người, chữ 'chỉ' nguyên bản là 'phóng', căn cứ vào《Tận Ngôn Tập》quyển 11 bài 'Luận dịch pháp chi tệ' sửa lại. ↵
- Thông phán Quế Dương Diêm sứ sáu viên, nghi chữ 'diêm' là sai, đúng phải là 'giám'. Xét: Quế Dương Giám ngang hàng châu hạ, xem 《Tống sử》 quyển 88, chí Địa lý. ↵
- Man nhân ở trại Cừ Dương gây rối, chữ 'trại' nguyên bản là 'tắc', căn cứ 《Tống sử》 quyển 88, chí Địa lý và quyển 494, truyện Man Di sửa lại. ↵
- Nguyên bản thiếu 4 chữ 'Nguyên Hựu ngũ niên', căn cứ vào chú thích ở quyển 335 mục ngày Giáp Thân tháng 5 năm Nguyên Phong thứ 6 và quyển 443 mục ngày Giáp Thìn tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ 5 trong sách này mà bổ sung ↵
- Kiền Châu nguyên bản chép nhầm là Xử Châu, theo bản trong các các sửa lại. ↵
- 'Ngăn nước' nguyên bản là 'Nạp nước', căn cứ vào các bản khác và bản in hoạt tự sửa lại ↵