"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 445: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 5 (CANH NGỌ, 1090)

Bắt đầu từ tháng 7 năm Nguyên Hựu thứ 5 đời Vua Triết Tông đến hết tháng.

[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Sửu, Vương Địch, chức Trực Long Đồ các, Tri châu Tô Châu, được bổ làm Lễ bộ Thị lang, sau đó đổi làm Phát vận sứ các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết. Địch từng nói với đồng liêu rằng Thái Xác có công với nước, bị Ngự sử trung thừa Tô Triệt hặc tấu, nên có mệnh lệnh này.

(Theo tấu nghị của Tôn Thăng và Thượng Quan Quân. Việc đổi làm Phát vận sứ vào ngày mồng 6, nay ghi chung. Truyện Vương Địch không chép việc bổ làm Lễ bộ Thị lang. Tôn Thăng hặc tấu Đặng Ôn Bá nói: “Vương Địch mới được bổ làm Lễ bộ Thị lang, vì từng nói với đồng liêu rằng Thái Xác có công với nước, vẫn bị điều ra ngoài.” Xét: Tấu nghị của Thượng Quan Quân và lời Tô Triệt cần tra xét thêm.)

[2] Cấp sự trung Chu Quang Đình tâu rằng, Lý Sát mới được bổ làm Tri châu Mật Châu không hợp với công luận. Chiếu cho Sát được bổ chức khác.

(Theo Chính mục ngày 8 tháng 6, Lý Sát làm Tri châu Thiền Châu, Lữ Gia Vấn làm Tri châu Nhữ Châu, Chu Phục làm Tri châu Tuyên Châu, nhưng Thực lục đều không chép. Ở đây nói là Mật Châu, cần tra xét.)

[3] Dương Kiệt, chức Đề điểm hình ngục lộ Lưỡng Chiết, được bổ làm Lễ bộ Viên ngoại lang; Phạm Ngạc, chức Chuyển vận phó sứ lộ Kinh Đông, được bổ làm Kim bộ Viên ngoại lang.

(Cuối tháng 6, Tô Triệt bàn về việc miễn tiền phu, có liên quan đến Ngạc.)

[4] Thế Nghiêu, chức Minh Châu Quan sát sứ, được tặng chức Khai phủ nghi đồng tam ty, truy phong Nhuận Quốc công, thụy là Huệ, qua đời.

[5] Vương Sư Ước đang chịu tang tâu rằng: “Người chú ruột là Tả ban Điện trực Vương Khắc Thuật sai binh sĩ Hà Thanh đánh chết Lục sự Tham quân. Nghĩ rằng tổ phụ thần từng lấy Tần Quốc Đại Trưởng Công chúa, mà thần lại được chọn làm phò mã, như người chú của thần đáng bị xử cực hình, xin nộp một chức quan để xin khoan hồng.” Ngự phê: “Vương Khắc Thuật đánh người chết, phải theo pháp luật xử trị; Sư Ước xin dâng một chức quan để chuộc tội, khó mà chấp nhận.”

(Việc ngày mồng 2 tháng 7 năm thứ 5 trong Ngự tập[1].)

[6] Ngày Đinh Mão, Cấp sự trung Chu Quang Đình tâu: “Vương Củng vừa được bổ nhiệm quyền Phán Đăng văn cổ viện. Xét thấy: Củng tính tà hiểm, hành vi ô uế, trước làm Thông phán Dương châu, vì tội tư dụng hình phạt mà bị cách chức, đáng lẽ phải giao cho Lại bộ xét xử. Việc bổ nhiệm mới này không hợp với công luận.” Chiếu chỉ cho Củng được bổ nhiệm chức khác.

(Lại xem ngày 14 tháng 8.)

[7] Xu mật viện tâu: “Các quan chủ binh và sứ thần các lộ phạm tội, giao cho cấp dưới tra xét, rồi đưa án lên Đại Lý tự xét xử, sau đó mới trình Thượng thư tỉnh xin chỉ dụ. Nhưng nếu có tội tình nặng, hoặc việc liên quan đến biên phòng, cần xét tình hình để định tội, vì nguyên án do Xu mật viện giao xuống, nên phải báo lại Xu mật viện xin chỉ dụ.” Được chấp thuận.

[8] Ngày Mậu Thìn, Xu mật viện tâu, đang bàn việc phân định biên giới ở Định Tây thành thuộc Hi Hà lộ, cần biết khoảng cách giữa các thành trại. Chiếu cho Đề điểm hình ngục Tần Phượng lộ Du Sư Hùng đi khảo sát rồi tâu lên.

(Xem 《Phạm Dục tập》 trong bài mộ chí của Trương Thuấn Dân.)

[9] Ngày Kỷ Tỵ, chiếu cho Tri Kinh Nam Đường Nghĩa Vấn kiêm chức Thiêm sai Chuyển vận sứ Kinh Hồ Bắc lộ, chuyên trù liệu việc biên cương. Đây là theo lời tiến cử của Xu mật đô thừa chỉ Vương Nham Tẩu.

(Trương Thuấn Dân viết mộ chí Vương Nham Tẩu có đoạn: “Các man Hồ Bắc thường quấy nhiễu biên giới, không năm nào yên, Nham Tẩu xin giao riêng cho Đường Nghĩa Vấn ở Kinh Nam, rồi tự soạn hịch văn, khuyên Nghĩa Vấn biết triều đình trọng ân tín, đừng vì mưu cầu công lao mà gây sự, sau đó biên cương mới yên ổn.” Xem thêm lời bàn của Tô Triệt ngày 24 tháng 8. Việc thiêm sai căn cứ vào 《Chính mục》.)

[10] Chính tự Trần Sát, Triều Bổ Chi, Lý Chiêu Côn đều được bổ làm Hiệu thư lang.

(Xem thêm ngày 16 tháng 12.)

[11] Ngày Canh Ngọ, Hộ bộ tâu: “Những người từng phạm tội buôn lậu hương liệu, theo luật phải bị đuổi khỏi ngành, nhưng có kẻ đổi tên mượn vốn thuê người buôn bán, hoặc đổi bảng hiệu tiếp tục buôn lậu, xin đặt ra chế độ thưởng cho người tố giác, đồng thời xử tội “bất ưng vi” nặng, tái phạm thì đày sang châu lân cận.” Được chấp thuận.

(Đoạn này bị cắt trong bản mới.)

[12] Ngày Tân Mùi, Quyền Binh bộ thượng thư Triệu Ngạn Nhược được cử làm Quyền Lễ bộ thượng thư, Kiêm Hình bộ thị lang Phạm Thuần Lễ được cử làm Quyền Binh bộ thị lang.

[13] Điện trung thị ngự sử Giả Dịch được bổ làm Đề điểm hình ngục lộ Hoài Nam Đông.

Trước đó, Thái hoàng thái hậu dụ bảo các phụ thần muốn lấy Hoàng Liêm làm Gián nghị đại phu, Điền Tử Lượng và Triệu Ngột làm quan ngự sử. Lã Đại Phòng tâu: “Liêm không có uy tín; Ngột là đồng đảng của Thái Xác, đều không thể dùng. Tử Lượng thì được.” Lưu Chí nói: “Tử Lượng là thân thích của thần, theo lệ cũ không thể dùng.” Phó Nghiêu Dư tâu: “Thần làm Trung thừa, không kiêng tránh tể tướng Hàn Chẩn.”

Thái hậu dụ: “Đã có tiền lệ thì cứ giữ, không cần tránh.” Chí nói: “Năm ngoái Dương Khang Quốc, Triệu Ngột tránh Tôn Cố đều bị bãi chức ngự sử đương nhiệm, đó là lệ gần đây.”

Lui ra, bèn lấy Tử Lượng từ chức Độ chi viên ngoại lang làm Điện trung thị ngự sử, đổi chỗ với Giả Dịch. Chí dâng sớ xin từ chức, không dám cản trở việc triều đình dùng người, chiếu không cho, bèn bãi Tử Lượng, mà đổi Dịch với Lễ bộ viên ngoại lang Thượng Quân Quân. Dịch cố từ, đổi làm Quốc tử tư nghiệp, lại từ chối, xin ra ngoài, bèn có mệnh này. (Theo hậu ký trong hành trạng Lưu Chí thêm vào. Ngày Tân Sửu 8 tháng 6, Điền Tử Lượng từ Độ chi lang đổi chức với Giả Dịch ở Điện trung; bốn ngày sau, Tử Lượng khôi phục chức cũ, Dịch đổi sang Lễ bộ; ngày Tân Dậu 28, lại đổi làm Tư nghiệp; ngày Tân Mùi 8 tháng 7, bổ làm Hiến ty lộ Hoài Đông.)

Dịch ban đầu cùng Lương Đào, Chu Quang Đình, Lưu An Thế hặc Đặng Ôn Bá không thành, sau đều được thăng chức, riêng Dịch ra ngoài trước là do Trung thừa Tô Triệt.

(Theo 《Vương Nham Tẩu hệ niên lục》 chép: “Người tấu hặc Đặng Ôn Bá không thành, Lương Đào làm Quyền Hộ bộ, Chu Quang Đình làm Cấp sự, Lưu An Thế làm Trung thư xá nhân, Giả Dịch làm Tư nghiệp. Các người đều không nhận. Dịch vì tránh Tô Triệt, khác ba người kia, trước bổ làm Đề hình Hoài Nam. Ba người kia từ chối nhiều lần”. Dịch hặc Ôn Bá, ngày 8 tháng 6 cùng Tôn Thăng dâng tấu.)

[14] Ba tỉnh tâu: “Ngự sử trung thừa Tô Triệt, thị ngự sử Tôn Thăng cùng tiến cử hai viên giám sát ngự sử, trong đó một viên chưa từng thực lịch chức thông phán, không hợp điều lệ; một viên lại có quan hệ thân thuộc với quan chấp chính.” Chiếu chỉ cho Tô Triệt, Tôn Thăng cùng tiến cử hai viên quan khác.

Triệt và Thăng tâu: “Tra xét tờ trát của Thượng thư tỉnh ngày 9 tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ 3, ba tỉnh cùng phụng thánh chỉ: ‘Các chức Tả hữu ty gián, Tả hữu chánh ngôn, Điện trung thị ngự sử, Giám sát ngự sử đều phải dùng quan viên đã thăng triều có tư cách thông phán, thực lịch trên một năm, việc tiến cử cũng theo đó.’

Thần trộm thấy sau này bổ dụng gián quan như Ngô An Thi, Lưu Đường Lão, Tư Mã Khang ba người đều không phải người thực lịch thông phán. Bởi vì thánh chỉ ban ra trước kia quy định gián quan và ngự sử đều phải thực lịch thông phán một năm, không có phân biệt, nay trong lúc khó tìm được nhân tài, nếu riêng đài quan phải tuân theo pháp chế khắt khe, ắt sẽ thiếu quan.

Hơn nữa từ khi lập pháp đến nay, trước sau đài này cùng quan lưỡng chế chưa từng tiến cử được một người thực lịch thông phán nào đủ dùng để đáp ứng minh chiếu, đủ thấy phép này khó lòng duy trì lâu dài.

Kính xin đặc cách theo thể lệ bổ dụng gián quan gần đây, trong số người thần đã tiến cử trước đây chọn lấy bổ dụng, để tránh việc quan ngôn sự thiếu lâu ngày không bổ, điều này rất bất tiện.”

(Tô Triệt cùng Tôn Thăng tiến cử hai người vào Viện Giám sát vào ngày 26 tháng 6. Ngô An Thi tháng 3 năm thứ 4 làm Hữu ty gián, Lưu Đường Lão tháng 5 năm thứ 5 làm Hữu chánh ngôn, Tư Mã Khang tháng 6 năm thứ 5 làm Tả ty gián. Vương Nham Tẩu nói về việc tư cách quá nghiêm khắc, có thể phụ lục vào đây.)

Tô Triệt lại tâu: “Thần xét chiếu chỉ ngày 9 tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ 3 vốn được ban ra để quy định việc bổ nhiệm quan chức triều đình.

Sau này, những người được triều đình bổ nhiệm làm quan Gián như Ngô An Thi, Lưu Đường Lão, Tư Mã Khang đều chưa từng trải qua thực lộ, nên thần lại dâng sớ xin được áp dụng tương tự. Sau đó lại nhận được trát tử của Thượng thư tỉnh yêu cầu cử người khác theo đúng điều lệ.

Thần lui về suy nghĩ, phải chăng vì việc bổ nhiệm quan Gián đều xuất phát từ ý chỉ của Thánh thượng nên không cần tuân theo pháp lệnh, còn việc cử quan Đài lại do các cơ quan chủ quản nên không được viện dẫn tiền lệ?

Thần nghĩ, trong ba người trước đây, chỉ có Tư Mã Khang là con của cố tướng Tư Mã Quang – người được triều đình sủng ái nhất, bản thân Khang cũng có thanh danh, có lẽ được hai vị Thánh thượng biết đến; còn Ngô An Thi, Lưu Đường Lão, hai người này có duyên cớ gì để được Thánh thượng sủng ái? Nếu không phải do đại thần tiến cử hoặc có người âm thầm tiến dẫn, làm sao Bệ hạ có thể biết đến họ?

Thần cho rằng việc Ngự sử đài cử người cũng nên được áp dụng theo lệ này. Huống hồ triều đình trước sau vẫn bổ nhiệm trăm quan có người không đủ tiêu chuẩn, đâu phải cố ý vi phạm pháp luật, chỉ là bất đắc dĩ mà thôi. Nếu chỉ riêng việc bổ nhiệm quan Đài lại cố chấp theo luật gần đây, ắt trong ngoài đều sẽ nghi ngờ. Kính mong xét lại tấu chương trước và sớm ban hành.”

Không được chấp thuận. Hai người Tô Triệt tiến cử làm Giám sát ngự sử, một trong số đó là Tông chính thừa Thường An Dân. Tể tướng Lã Đại Phòng không ưa An Dân nên lấy lý do tư cách để hạn chế.

Triệt lại dâng sớ biện bạch, Thái hoàng thái hậu hỏi Đại Phòng, Đại Phòng đáp: “Quan Gián thuộc về triều đình, triều đình chủ trương đạo lý, không cần thiết phải dùng pháp luật; còn Ngự sử là cơ quan chuyên trách, cơ quan chuyên trách cần phải tuân thủ pháp luật. Hơn nữa, Trung thừa còn được gọi là Trung chấp pháp, sao có thể không xét đến tư cách?”

(Theo《Gia truyền Thường An Dân》. An Dân người Lâm Cùng.)

[15] Các quan Giảng độc được phép dâng《Đường thực lục》và《Sử ký》cổ sự.

(Theo《Chính mục》ngày mùng 8.)

[16] Ngày Nhâm Thân, sứ thần nước Liêu là Sùng Nghĩa quân Tiết độ sứ Da Luật Vĩnh Phu, Phó sứ Trung tán đại phu Thái thường thiếu khanh sung Càn Văn các đãi chế Lưu Ngạn Nho đến chúc mừng lễ Khôn Thành.

[17] Thái học bác sĩ Tôn Ngạc cùng các quan tâu: “Điều lệ khoa cử về thể thức thi phú còn chỗ chưa rõ, như vần có chữ một nghĩa mà hai âm, như chữ ‘Đình’, chữ ‘Phòng’, chữ ‘Thọ’…, không dám tùy tiện chỉ dùng một âm để gieo vần; có chữ nên dùng nhưng ngầm truyền nhau là phải kiêng, như chữ ‘Dẫn’ trong ‘phân thốn xích trượng dẫn’, chữ ‘Trữ’ trong ‘trữ dựu kỳ không’…; lại có chữ hợp thu vào vận mà 《Lễ bộ vận》 không thu, như chữ ‘Thuyết’ trong Phó Duyệt cùng chữ ‘Hạo’, chữ ‘Hoảng’…, đều nên thu nhập để dùng.” Được chấp thuận.

[18] Kinh lược ty lộ Kinh Nguyên tâu: “Xin từ tháng 5 năm Nguyên Hựu thứ 3 về sau, những người mua đất của bộ tộc phiên trái phép nếu khai báo thì được miễn tội[2], cho phép cứ 2 khoảnh 50 mẫu thì xuất một người làm cung tiễn thủ, mua một con ngựa; nếu chỉ đủ 2 khoảnh thì bổ một cung tiễn thủ, từ 50 mẫu trở lên thì bắt buộc phải nhập ngạch, dưới mức phải đóng thuế. Những người chưa khai báo cho phép đến Kinh lược ty tự trình, nếu vi phạm thì cho phép tố cáo.” Được chấp thuận.

[19] Ngày Giáp Tuất, xuống chiếu cho lộ Kinh Nguyên: những cung tiễn thủ mới chiêu mộ ở núi Lũng và huyện An Hóa, cùng những người đã khai báo việc mua đất phiên trái phép hoặc mua đất của bộ tộc phiên trong hạn định, căn cứ diện tích đất mà sung làm cung tiễn thủ, lệnh cho Kinh lược ty sắp xếp riêng thành tướng, lấy tên là “Huấn luyện tướng”.

[20] Ngày Ất Hợi, nước Hạ sai sứ đến chúc mừng lễ Khôn Thành.

[21] Chiếu rằng: “Nhập nội cung phụng quan Thạch Vũ đang tu sửa cung Thượng Thanh Thái Bình ở phủ Phượng Tường, tâu lên các việc xin phê chuẩn, trong đó có việc xin thêm nội thần mang văn tế dâng rượu, cùng việc tăng cấp ruộng chức cho giám quan – đều không thuộc phạm vi tu sửa, không hợp lệ để tâu xin ngoài chức trách. Có thể sai Nhập nội nội thị tỉnh báo cho người ấy biết, đặc miễn tra xét, nhưng phải nhận lời răn dạy, những điều xin tâu không được thi hành.” (Ngự tập ngày 12 tháng 7 năm thứ 5).

[22] Miêu Thời Trung – Thiểm Tây đô chuyển vận sứ, Bảo Văn các đãi chữ – được bổ làm Hộ bộ thị lang. Phạm Dục – quyền Hộ bộ thị lang vẫn giữ chức Tri Hi Châu như cũ. (Ngày 21 tháng 8 năm thứ 6, Dục được tái nhiệm). Diệp Khang Trực – Trực Long Đồ các, Tri Tần Châu được làm Bảo Văn các đãi chế, Thiểm Tây đô chuyển vận sứ.

[23] Lễ bộ tâu: “Phủ Khai Phong tiến cử 100 tiến sĩ, nhưng có hơn 2000 người dự thi. Xin theo lệ năm Nguyên Hựu thứ 2, lấy 50 người từ ngạch cử các khoa khác để thêm vào ngạch tiến sĩ.” Được chấp thuận. (Ngày 8 tháng 9, lại lấy thêm 150 người).

[24] Kinh lược ty lộ Hi Hà Lan Mân tâu rằng giặc Tây Hạ phá hủy hai trại Chất Cô và Thắng Như. Chiếu gửi văn thư sang châu Hựu để chất vấn. (Cuối tháng 6, sách Chính mục đã chép việc người Hạ đánh hai trại, đến khi tâu lên, mới sai gửi văn thư hỏi tội).

[25] Ngự sử trung thừa Tô Triệt tâu: “Thần gần đây đã dâng tấu trình về việc Phạm Dục xử lý việc biên giới sai lầm, được triệu về làm Hộ bộ thị lang, đó là đảo lộn thưởng phạt, xin giáng chức. Đồng thời xin bãi chức của Chủng Nghị, Chủng Phác ở bản lộ, chọn lại tướng coi Hi Hà, khiến họ vỗ về các tộc khác, cẩn thận phòng thủ biên giới.

Tuy được lệnh bãi chức Hộ bộ thị lang của Dục, nhưng lại cho trở lại coi Hi Hà, việc biên giới vẫn như cũ, thần đang lo lắng thì nghe tin hai trại Chất Cô, Thắng Như gần đây đã bị quân Hạ đánh phá.

Thần vốn là nho sinh, không quen việc quân, chỉ dám suy đoán theo tình hình, cho rằng Hi Hà xây dựng thành trại ở nơi không phải để phòng thủ, vốn đã không hợp lý, ắt gây họa biên giới. Lời chưa dứt thì quân Hạ đã phá thành rút về.

Thần xét: hai trại này tuy trước đây từng xây dựng, nhưng đến năm Nguyên Phong thứ 5 đều đã bỏ, không khác gì thành La Ngột, Vĩnh Lạc. Nay muốn xây lại, gây sự để giặc đến, rõ ràng không còn nghi ngờ gì. Các tướng Hi Hà muốn chiếm ruộng tốt, thu lợi canh tác để giữ Lan Châu, mà không nghĩ đến họa Hạ quốc tranh chiếm. Tính ra được không bù nổi mất, không cần thần nói, sự việc đã rõ.

Nhưng thần nghĩ, sứ thần Hạ quốc sang chúc mừng lễ Khôn Thành vừa đến kinh đô, trong nước đã dám đem quân đánh thành, không chút kiêng dè, là vì cho rằng việc xây thành là sai trái ở Hi Hà, dù triều đình có nghiêm khắc cũng không dám vô cớ bắt giữ sứ thần. Kế hoạch biên giới sai lầm, bị rợ khinh nhờn, than ôi!

Theo ý thần, nên chọn ngay tướng giỏi đến ổn định cả lộ, việc tích trữ lương thực, tăng quân đồn trú cũng phải chuẩn bị đề phòng bất trắc. Nay Dục, Nghị, Phác vẫn ở bản lộ, xem họ khinh địch vô mưu, tham công mong thưởng, ắt lại gây sự để che lỗi trước, nỗi lo Thiểm – Quan khó lường.

Huống chi Dục muốn đưa Triệu Thuần Trung về, kế đã lộ, bị A Lý Cốt oán, hai mối họa cùng đến, không lo sao được! Xưa Lý Đức Dụ bàn đánh Lưu Trăn, có người bàn khác, Đức Dụ thưa: ‘Nếu thất bại, thần xin chết để đền tội.’ Nay trong ngoài đều cho rằng giữ chữ tín bền vững lời thề có lợi cho Trung Quốc, nếu có đại thần muốn cậy vào Dục, không nghĩ đến họa biên giới, thần mong bệ hạ bắt họ thề như Đức Dụ. Nếu dám như vậy thì dùng kế của họ, khi xong việc sẽ xét công tội, kỷ cương triều đình may ra còn giữ được.”

Lời tâu kèm nói: “Thần thấy triều đình lâu nay không phân rõ phải trái, thi hành thưởng phạt, nên bề tôi dễ gây sự. Năm ngoái bàn đổi dòng Hoàng Hà, hao tổn binh lính, vật liệu không kể xiết, cuối cùng không thành, mà người bàn vẫn tại chức, không bị tra hỏi. Bề tôi thấy chính sự hình phạt như vậy, nên dám gây hấn biên giới. Xin bệ hạ lấy việc sông Hoàng làm răn, bàn kỹ với đại thần, bắt họ nhận trách nhiệm không từ chối, rồi mới làm việc.” (Tấu của Phạm Bách Lộc có thể phụ vào đây. Đã phụ vào tháng 6).

[26] Hình bộ tâu: “Điền khách phạm tội với chủ, xử nặng hơn người thường một bậc. Chủ phạm tội với điền khách, từ trượng trở xuống không luận tội, từ đồ trở lên giảm nhẹ hơn người thường một bậc. Các tội mưu sát, trộm cướp, lừa đảo, hoặc vì mưu cầu lợi ích, trốn tránh mà phạm tội thì không được giảm nhẹ. Đánh nhau dẫn đến chết người thì không chích mặt, phối làm lính ở châu lân cận[3], trường hợp tình tiết nặng thì tâu xin xử lý.” Được chấp thuận.

[27] Ra chiếu: “Những người được tiến cử do các ty phó sứ Lại bộ làm việc đủ 30 năm, trừ trường hợp được thuyên chuyển hoặc là quan nội thị theo quy định cũ, còn lại đều phải từ khi bổ nhiệm chức Tá chức trở đi, mới được tính thời hạn theo quy định để tiến cử.”

(Sách mới không chép.)

[28] Hình bộ tâu: “Những tài sản của dân gửi tại các cơ quan thế chấp hoặc nộp ở các châu huyện mà lưu trữ trong kho quan, nếu bị hư hỏng mất mát, xin đều theo luật bồi thường đồ vật công tư bị bỏ phế, hư hỏng, mất mát hoặc làm hư hỏng nhầm.” Được chấp thuận.

[29] Ngày Bính Tý, Tư nông tự tâu xin cho chủ bạ của bản tự kiêm nhiệm chức kiểm pháp[4]. Được chấp thuận.

[30] Ngày Ất Dậu, ra chiếu cho ba lộ Lộ phân đô kiềm hạt được phá lệ sử dụng 15 quân kỵ binh.

(Sách mới không chép.)

[31] Thịnh Đào, Tri châu Nhữ Châu được bổ làm Tri châu Tấn Châu; Đồng phán Tuyên Châu là Trạch Tư làm Tri châu Duyện Châu; Đồng phán Từ Châu là Triệu Đĩnh Chi làm Tri châu Sở Châu; Đồng phán Lư Châu là Vương Bành Niên làm Tri châu Trừ Châu.

(Sách 《Chính mục》 chép việc ngày 22, cần xem lại. Việc khiển trách Thịnh Đào và những người khác trước đây, xem ngày 12 tháng 5 năm thứ 4.)

[32] Hạ quốc chủ Càn Thuận tâu: “Từ tháng 7 năm ngoái đã phái sứ đến triều đình, xin đổi các thành trại được ban, bị chiếu chỉ không cho. Sau đó bàn với Kinh lược ty Diên Châu về việc phân định biên giới, lúc đó thống nhất phân chia theo lệ của Tuy Châu, mỗi phía đo đạc 20 dặm, trong 10 dặm xây dựng đồn ải để canh tác chăn nuôi, ngoài 10 dặm dựng cột mốc, để trống làm đất cỏ.

Nhận được công văn của Bảo An quân nói: theo chỉ huy của Diên Châu, các thành trại tuy định 20 dặm, nhưng đến nay các thành cứ nhìn thẳng mà phân chia. Hạ quốc không dám trái, gắng tuân theo.

Các quan địa phận phía nam giới, chỉ muốn theo lệ Tuy Châu đo 20 dặm, không chịu theo lệ Tuy Châu trong 10 dặm xây đồn ải canh tác, ngoài 10 dặm dựng cột mốc để trống làm đất cỏ, để phân biệt người Hán – Phiên qua lại, ngăn mầm xung đột. Đã nhiều lần sai Hựu Châu chuyển văn thư cho Bảo An quân, nhưng cuối cùng không rõ đồng ý hay không.”

Chiếu ban đáp lại Hạ quốc chủ viết: “Ngươi trấn giữ cõi man, giữ gìn đất đai tổ tiên, phái sứ dâng lễ vật, triều đình xem xét tấu chương, nghĩ đến việc yên ổn biên cương, chưa kịp phân định rõ ràng. Hai bên thẳng băng, hết lòng trung thuận đáng khen, mười dặm đất hoang, bày tỏ lòng thành xin phép, cầu mong thương xét, sớm được yên ổn. Việc đòi đất ban đầu không có tiền lệ, nhưng nghĩ đến kế an biên đã bàn nhiều năm, xét thấy lòng thành, đặc cách chấp thuận.

Tuy nhiên, chiếu chỉ Tuy Đức thành vốn không có quy định để đất cỏ, nay đã muốn để 10 dặm đất cỏ trong đất Hán, thì đất Phiên cũng phải để tương ứng. Những nơi cần phân giới phải dựng cột mốc rõ ràng, mỗi bên Hán – Phiên đều để 10 dặm đất cỏ, không được canh tác, rồi mỗi bên trong đất cỏ tự chọn chỗ thuận tiện xây đồn ải.

Nếu trong đất đã khai phá không xây được thì xây trong đất cỏ, nhưng không được gần cột mốc. Những việc phân giới chưa xong, đã lệnh cho quan áp tải giảng giải rõ cho sứ bộ, và đã hạ chiếu cho Kinh lược ty Phu Diên lộ.

Nếu Hạ quốc muốn bàn việc, cho phép cử người đến Diên Châu thương nghị. Lòng hướng nghĩa nơi biên cương đã bày tỏ thành khẩn, ý vỗ về xa xôi của triều đình cũng đã tỏ rộng lượng. Nên thấm nhuần ơn sâu, gấp giữ hòa khí nơi biên giới.”

[33] Ngày Đinh Hợi, Ngự sử trung thừa Tô Triệt tâu: (Căn cứ vào tờ trát của Tô Triệt nói việc bàn luận không được thi hành có ghi: “Ngày 24 tháng 7 và mùng 8 tháng này đã hai lần tâu bày việc biên cương của Phạm Dục”, nay lấy tờ trát lần thứ tư phụ vào ngày 24, tờ trát lần thứ năm phụ vào mùng 8 tháng 8.)

“Thần đã bàn việc Phạm Dục, Chủng Nghị không thể ở lại Hi Hà, ba lần dâng chương mà triều đình không nghe, thần vẫn không ngừng tâu bày, không biết bệ hạ có từng xét nguyên do chăng.

Lúc đầu thần bàn việc Phạm Dục xử trí việc biên cương không đúng, không hợp thăng làm Hộ bộ thị lang, triều đình đã thu hồi mệnh lệnh, thần cũng tạm coi là tròn trách nhiệm can gián. Phạm Dục làm Tri Hi châu, Nghị làm Tri Lan châu đều không phải mệnh lệnh mới đây, dù thần không nói cũng không hại gì đến chức vụ. Nhưng thần nhiều lần can gián, thực có lý do.

Hiện nay Thái hoàng thái hậu nghe chính sự trong màn trướng, hoàng đế nuôi đức sau lúc tĩnh lặng, muốn lấy nhân nghĩa phủ khắp thiên hạ thì dư, nhưng dùng vũ lực khuất phục tứ di thì không đủ, lợi ở yên ổn, không lợi ở gây việc. Thế mà đại thần muốn nghe mưu kế điên rồ của Dục để dấy việc biên cương, khiến Hạ nhân mất hòa khí, binh đao không dứt, lúc ấy muốn cùng nhau cầm vũ hịch quyết kế trước rèm, đó là điều khiến thần lo sợ thứ nhất. Từ Nguyên Hựu đến nay, triều đình vỗ về Hạ nhân như sợ không kịp, nghị bàn địa giới sắp thành lại đứt nhiều lần.

Mới đây triều đình hứa lấy 20 dặm làm biên giới, họ đã vui vẻ nghe theo, thế mà Hi Hà nhân lúc họ nghe theo, ở ngoài 40 dặm tu sửa trại cũ đã bỏ, chiếm đất màu mỡ họ tất tranh. Việc đắp thành chưa xong, quân địch đã kéo đến khiến hai thành thất thủ.

Nay nếu không phân biệt phải trái, dấy quân giận dữ, quyết tâm lấy lại, thì họa binh đao Thiểm Tây khó lường. Nếu tự biết mình không phải, dù không tranh nữa nhưng để Dục ở lại giữ, một là Hạ quốc nghi ngờ, mãi không tin tưởng, hai là Dục uất hận, hổ thẹn công không thành, sinh sự để che lỗi trước, họa không dứt.

Huống chi Dục đã kết oán với A Lý Cốt, hai mối hiềm khích chồng chất, tình thế càng đáng lo, đó là điều khiến thần lo sợ thứ hai. Nếu không phải hai việc cấp bách này, thần đâu dám nhiều lần bàn việc nhỏ nhặt của Dục?

Nhưng thần chỉ đề nghị với ba người Dục là điều động giáng chức hoặc cho Dục làm Đãi chế hoãn vài năm, không thiệt hại gì nhiều đến việc riêng của họ.

Thần nghĩ bàn việc nước nên đặt công lên trước tư, để trọn đại kế. Không kìm được lòng trung lo nước, nhiều lần can gián, cam chịu tội chém.”

(Biên loại.)

[34] Thị ngự sử Tôn Thăng tâu:

“Thần nghe thiên hạ trị hay loạn là do sự thịnh suy của tà chính, đúng sai của thưởng phạt. Tà chính lẫn lộn thì loạn sinh ra; đúng sai không phân biệt thì công đạo bị bỏ. Tiến cử người hiền, loại bỏ kẻ gian, lấy điều đúng, bỏ điều sai là trách nhiệm của đại thần bên cạnh; xét tà chính, phân biệt đúng sai là trách nhiệm của gián quan, ngự sử. Tà chính không phân, đúng sai không rõ, làm lầm tai nghe của bậc chủ, lỗi ở đại thần bên cạnh, tội về gián quan, ngự sử. Thần ngu muội, vụng về, may được chọn đặt vào chức Ngự sử, ngày đêm tự nghĩ, không thể tròn trách nhiệm.

Thần trước sau đã luận bàn về lời chế thư của Đặng Ôn Bá cho Thái Xác, kết bè gian dối trên, phụ nước lừa trời, nhưng chưa được bệ hạ xét rõ. Thần sợ bệ hạ vẫn cho lời chế thư của Thái Xác là khen quá, chưa thấy ý của Ôn Bá là kết bè gian, nên tà chính đúng sai lâu ngày chưa rõ, gián quan, ngự sử vì thế mà thất chức. Thần chưa thể tự hặc tội mình để từ chức, chỉ mong hết lòng trọn nghĩa, nói cho hết lời.

Hơn nữa, Ôn Bá trong hai tướng, chỉ khen Thái Xác có công định nghị, so sánh Xác như Chu Bột đời Hán, có thể giao việc lớn, sao gọi là khen quá? Ấy hẳn là kẻ thiên vị Ôn Bá đã dâng lời làm lầm tai nghe của bệ hạ. Thần xin vì bệ hạ nói rõ:

Phàm khi soạn chiếu chỉ phong chức, nếu so sánh bề tôi như Tắc, Khế, Y, Chu, thì Vua ắt là Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ, không nói cũng rõ. Nay Ôn Bá đã so sánh Thái Xác như Chu Bột diệt họ Lã, định nhà Lưu, vậy không rõ lấy ai để so sánh với bệ hạ? Há chẳng biết là có điều đáng ngại sao?

Niên hiệu Trị Bình, Hàn lâm học sĩ Phạm Trấn soạn chiếu phong cho Hàn Kỳ có câu: “Sử chép Hoắc Quang, nghĩa khí tỏ rõ với Vua.” Đã so Hàn Kỳ như Hoắc Quang, thì Vua ắt là Chiêu Đế, khiến Anh Tông rất bất mãn. Phạm Trấn vốn không có ác ý, chỉ vì so sánh không đúng, vẫn bị cách chức Học sĩ, đi nhậm chức Tri châu Trần. Ôn Bá rõ thấy công lao bảo hộ của Thái hoàng thái hậu[5] sánh ngang trời đất, lại kết bè với gian thần, đem việc lớn xã tắc gán cho Thái Xác, so như Chu Bột diệt họ Lã, định nhà Lưu, khen bề tôi mà hạ thấp chủ, không chút kiêng dè, phụ nước lừa Vua, không thể so với Phạm Trấn.

Huống chi nhà Hán gặp loạn họ Lã, đại thần xã tắc không biết theo ai, nên mới theo Chu Bột. Nay triều đình yên ổn, bệ hạ nhân từ, sao lại nên nói việc lớn giao cho Thái Xác? Kẻ bàn tán cho là khen quá lời, có được chăng?

Từ xưa, soạn thảo chiếu mệnh có hai thể loại: lời ca ngợi đức hạnh và lời ghi chép sự việc. Như trong chiếu mệnh ca ngợi Thái Xác: “Trí cao mà lo xa, khí lượng rộng mà dùng đúng”, đây là nói về tài năng của Xác; “Bao hàm lời dạy sâu xa, theo đuổi học vấn cao minh”, đây là nói về học thuật của Xác. Đây đều là lời ca ngợi đức hạnh, có thể có phần tán dương quá mức. Đến khi nói về Thái Xác: “Phụng sự nơi cung cấm, được Tiên đế đặc biệt biết đến”, đây là nói về cơ duyên của Xác; “Thống lĩnh bá quan, giữ chức Phó Trung thư lệnh; ngồi giữa hai xã, cầm quyền nơi hoàng môn. Ngoài thu phục ba phương, trong khiến vạn vật thịnh vượng”, đây là nói về việc Xác làm Tể tướng; “Khi ở trong hàng ngũ thụ di, lại càng được khen ngợi công lao định nghị. An ủi các nước chư hầu, như lão thần Thiệu Công; giao phó việc lớn, không ai trung thành như Chu Bột”, đây là nói về việc Xác thụ di.

Tất cả đều là lời ghi chép sự việc, không thể không có thực chất. Bởi lời ca ngợi đức hạnh chỉ nói về bản thân người đó, còn lời ghi chép sự việc là để lại cho thiên hạ đời sau, nên lời ca ngợi có thể tán dương quá mức, nhưng ghi chép sự việc không thể không có thực chất.

Kính nghĩ Hoàng đế kế thừa thánh thống, là do Tiên đế lấy đạo lý bất di bất dịch của muôn đời truyền lại cho con, Thái hoàng thái hậu lấy đạo đại công chí chính lập cháu nối dõi, trời người đồng lòng, trên dưới một ý. Trong lúc thụ di, ai là người đáng nghi, ai đưa ra lời bàn đáng nghi, khiến việc nguy nghi không quyết định, phải nhờ Xác mới ổn định? Ắt phải có sự thật mới thành chiếu mệnh. Đã không có người đó, lại không có việc đó, thế mà Ôn Bá lại một mình cho rằng Xác có công định nghị, lấy không làm có, lấy hư làm thực, ghi vào chiếu mệnh, truyền khắp thiên hạ, để đời sau tin theo, kết bè gian dối, phụ nước lừa trời, tội không thể tha!

Từ khi Thái Xác bị đày đi Tân Châu, Hình Thứ đã dùng lời riêng xúi giục, suy tôn Thái Xác là bề tôi trung thành của xã tắc, nên đã bị giáng chức cùng lúc. Gần đây, Vương Địch được bổ nhiệm làm Quyền Thị lang Lại bộ, vì từng nói với đồng liêu rằng Thái Xác có công với nước, nên vẫn được bổ nhiệm bên ngoài.

Nay Đặng Ôn Bá công khai trong chiếu mệnh, một mực ca ngợi Thái Xác có công định kế sách, so sánh với Chu Bột thời Hán có thể giao phó việc lớn, giết họ Lã, ổn định nhà Lưu, biến không thành có, lấy hư làm thực, truyền bá khắp thiên hạ đời sau, kết bè gian dối, phụ lòng nước lừa trời, khen bề tôi hạ chúa tôi, không chút kiêng dè, tội ác như thế, sao có thể cho là khen quá lời, làm mê hoặc thánh thượng, để kẻ ấy cùng người chính trực đứng chung triều đình?

Kính mong bệ hạ đem lời tâu của thần giao cho đại thần, sớm phân rõ đúng sai chính tà, ngõ hầu sau này bề tôi gian không còn cớ để vin vào, đó là may mắn cho thiên hạ!”

(Biên soạn chương tấu, riêng Thăng tâu về Ôn Bá vào ngày 24 tháng 7, chính là việc này. Ngày 16 tháng 3, 27 tháng 5, 8 tháng 6, 24 tháng 7, tổng cộng 4 trạng.)

[35] Thị ngự sử Tôn Thăng tâu: “Gần đây, Huyện Vũ Khang, Châu Hồ là Hàn Tông Nghiêu vì vi phạm pháp luật, bắt kỳ trưởng nộp dầu đèn, nên trước đó đã bị cách chức. Nghe nói Tông Nghiêu là em của Tông Nguyên, mà Tông Nguyên là em rể của Chuyển vận phán quan Lưỡng Chiết là Trương Thục. Dân trong hạt kêu oan, Thục không chịu xét xử, vi phạm pháp luật vì tư tình, nên bãi chức.” Chiếu cho Thục nhận chức khác.

[36] Chiếu cho Du Sư Hùng vừa được bổ làm Hình ngục Tần Phượng đẳng lộ vẫn kiêm chức Đề cử thôi xúc Châu Lan, Quân Thông Viễn chiêu tập cung tiễn thủ.

[37] Ngày Mậu Tý, Hộ bộ tâu: Xin các tông thất không phải thân thích gần được bổ nhiệm quan chức theo ấm, thì bổng lộc tại kinh hay ngoại nhiệm đều chiếu theo quy định của ngoại quan. Được chấp thuận.

[38] Lễ bộ tâu: “Phàm bàn luận về được mất của chính sự hiện thời, văn thư liên quan đến việc biên cương, cơ mật quân sự, không được chép lại truyền bá; 《Hội yếu》 của triều ta, quốc sử, thực lục, không được khắc in. Người vi phạm phạt tội đồ hai năm, cho phép người tố cáo, thưởng một trăm quan tiền. Riêng quốc sử, thực lục vẫn không được sao chép, nếu các sách khác muốn khắc in, phải nộp lên cơ quan trực thuộc trình lên Chuyển vận sứ hoặc phủ Khai Phong, gửi văn thư cho Quốc Tử Giám chọn quan xét định, chỉ những sách có ích cho việc học mới được phép khắc bản. Sau khi in xong, phải gửi một bản sách đã in kèm tên họ quan xét định về Bí thư tỉnh. Nếu xét định không đúng, sẽ bị tra xét xử lý. Những văn chương bỡn cợt không được khắc in, người vi phạm phạt một trăm trượng. Những sách không nên khắc in, giao cho châu huyện, Giám ty, Quốc Tử Giám kiểm tra.” Được chấp thuận. Do Hàn lâm học sĩ Tô Triệt tâu rằng khi đi sứ sang phương Bắc, thấy nhiều sách in dân gian của triều ta đã lưu truyền ở đó, nên xin lập pháp như vậy.

[39] Ngày Kỷ Sửu, Hình bộ tâu: “Điều khoản của Trung thư hình phòng trước đây quy định hàng năm các quan Hình bộ phải liệt kê năm trường hợp xử oan tội đồ hoặc lưu đày, hoặc xử oan tội chết, hoặc quá hạn ba phần, rồi tâu lên xin chỉ. Từ khi thực hiện chế độ quan chế, đã đổi tên các quan Hình bộ thành quan Đại Lý tự, việc Đại Lý tự so sánh kết quả hàng năm thuộc về Hình bộ tâu lên Đô tỉnh xin chỉ. Chữ ‘Trung thư hình phòng’ nên đổi thành ‘Hình bộ’.” Chiếu theo.

[40] Ngự sử trung thừa Tô Triệt tâu: “Thần vừa quyền Lại bộ thượng thư, thấy các quan kinh triều trở lên đều phải chờ khuyết hơn một năm, các chức đại tiểu sứ thần cùng tuyển nhân đều chờ khuyết hơn hai năm. Tuy khuyết ít người nhiều, việc bất đắc dĩ, nhưng những người chờ khuyết đã không khỏi oán than.

Gần đây lại thấy cả những người do đường trừ cũng phải chờ khuyết đến hơn một năm, lòng người kinh hãi, xưa chưa từng thấy. Vốn theo lệ cũ thời tổ tông, đường trừ đều đợi có khuyết mới bổ dụng, nhân việc mới siêu thăng, việc bổ dụng có hạn lượng nên không đến nỗi chờ khuyết lâu.

Mấy năm gần đây, các chức Giám ty trở lên quá nhiều, lại còn tùy tiện bổ thêm[6], đến nỗi tràn lan, người mới bổ chưa hẳn hơn người cũ, chỉ khiến số khuyết Giám ty không đủ đáp ứng người đến mà thôi. Đến các chức Tri châu trở xuống, người cũ chưa giảm, người mới ngày càng tăng. Bởi do thói nịnh hót thành phong, việc bổ dụng vô phép, tuy nói là dựa vào tài năng để thăng chức, nhưng kỳ thực không tránh khỏi vị nể tình riêng.

Đến cả việc chờ khuyết lâu mau, chức vụ nhàn hay vất vả, thiên hạ đều bàn tán có lý do. Như chức Khai phong ty lục trước vốn dùng người từng làm Tri châu, từ sau khi Quách Tuấn rời chức chưa đầy ba năm đã dùng liền Trần Cai, Trương Thuần, Trần Nguyên Trực ba người, đều là những kẻ tư chất nông cạn, chưa nghe có chính tích gì, đã thấy người cũ mới thay nhau, tùy tiện dùng đường trừ, từ đó có thể thấy. Các chức Tự thừa cũng đều như vậy.

Thần xin từ nay tuân thủ phép cũ tổ tông, phàm đường trừ đều đợi có khuyết mới bổ, tạm lấy những người hiện được đường trừ luân phiên bổ sung; những người mới được thăng chức đều phải có công trạng rõ rệt mới được bổ. Phép dùng người cốt phải có chức khuyết tương xứng, chưa nghe nói không có khuyết mà cứ thêm người, lại bảo là để thăng người tài giúp việc.

Làm như vậy vài năm, nếu thấy khuyết nhiều lên, lúc đó lượng khuyết chọn người tài, lý cũng không có gì không được. Như thế thì quan lại đường trừ không còn phải chờ khuyết, có chút khác biệt với tứ tuyển, cũng là cái nghĩa khuyến khích vậy.”

(Lời tâu của Triệt không rõ thời điểm, phụ vào cuối tháng 7.)

[41] Ngày Canh Dần, Trung thư thị lang Lưu Chí xin từ chức.

(Chi tiết xem ngày mùng 6 tháng 8.)

[42] Ngày Tân Mão, xuống chiếu: “Đã có chỉ dụ cho các lộ Hà Đông, Hà Bắc, Thiểm Tây, Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam, Lưỡng Chiết bảy lộ đề hình ty, lấy một nửa số tiền phong trang của triều đình để mua lương thực, hoặc chứa ở nơi thuận tiện gần sông, nếu có trễ nải, phải xét xử nghiêm minh.”

(Theo《Chính mục》ngày 28.)

[43] Ngày Nhâm Thìn, triều hiến ở cung Cảnh Linh.

[44] Kinh lược sứ lộ Hoàn Khánh Phạm Thuần Túy tâu:

“Thần trộm thấy hai lộ Hi, Diên cùng nước Hạ phân định biên giới, đến nay vẫn chưa quyết định. Bên ngoài bàn tán rằng triều đình chỉ muốn ngưng chiến, vì nóng vội mà sai lầm, nên giặc ngang ngược đòi hỏi ngày càng quá đáng. Dù thánh triều vỗ về tứ di là thượng sách, nhưng nếu biên thần không xét lợi hại, chỉ biết nhún nhường theo ý chúng, thì thể thống quốc gia và cơ mưu đại sự chẳng khỏi tổn hại. Vì sao nói vậy? Từ khi hai thánh thượng mới lên ngôi, người Hạ đến chầu, sau đó Bính Thường mất, Càn Thuận tự lập, sứ giả đi lại năm sáu lần, buôn bán giao dịch đã được nhiều lợi. Tuy họ tỏ ra rất cung kính để giữ hòa hiếu, nhưng kỳ thực cũng chỉ vì mưu lợi cho mình. Triều đình vốn nên rộng mở tiếp nhận, cho họ cơ hội tự đổi mới, nhưng về việc phân chia lãnh thổ, chưa quyết nghị xong, nên từ từ xem họ hướng về đâu để nhận rõ mưu gian.

Thế mà triều đình vội sai sứ sang phong tước, ý nóng vội bị giặc dò xét. Quả nhiên nghe nói họ khinh nhờn sứ thần, không chịu tạ ơn ngay, lại khởi binh xâm lấn, tàn phá Diên, Vị, tráo trở bất kính, đáng bị tiêu diệt. Sau này nếu họ lại xin gì, chỉ nên giao cho biên thần thương lượng, tỏ ra thong thả, khiến họ lo sợ triều đình cự tuyệt không chấp nhận, như vậy quyền nặng nhẹ há chẳng ở ta sao? Việc thương lượng là phải quy định rõ từng tấc đất, cùng những điều lo lắng về sau, khiến ngày sau không thể thay đổi.

Việc đã xem xét quyết định, biên thần mới tâu lên triều đình về việc họ tạ tội xin kết minh, sau đó ban chiếu cáo trong ngoài, tha tội trước đây, chấp nhận lời xin kết minh, trả lại người bị giặc bắt, ban cho đất đã hứa. Như thế, thể thống triều đình há chẳng rất tôn nghiêm, mà sách lược chế ngự giặc há chẳng rất giản dị sao?

Trước không dùng kế ấy, nghe họ xin liền cho vào chầu, đó lại là ý nóng vội bị giặc dò xét. Sứ giả đã đến triều đình, mọi bàn luận sớm tối, qua lại đối đáp, há chẳng biết đều là lời của mưu thần nơi miếu đường sao? Đó là vì tiếp đãi quá trọng hậu mà chấp thuận quá dễ dàng, lại là ý nóng vội bị giặc dò xét.

Triều đình đã cho phép đổi lấy những kẻ bị giặc bắt để lấy các lũy mới xây, người có phẩm cấp nhiều ít khác nhau, đất có địa thế xa gần khác biệt, ước định phải rõ ràng, mưu tính phải định trước, tất cả đều phải ghi rõ trong văn bản, sau đó mới nhận người, cắt đất, giao cho nhau, thì bọn chúng còn có thể làm gì được?

Nay mưu chưa định trước, ước chưa rõ ràng, bọn chúng chỉ đưa hơn trăm tên tàn quân mệt mỏi để ứng phó, ta lại không xét hỏi kỹ, vội giao ngay bốn lũy, thì mưu kế của chúng đã thành công rồi. Nghe nói bốn lũy đã giao xong, liền bị san phẳng, mà hai vùng Hi, Diên mới bàn việc phân chia biên giới, chẳng phải đã muộn sao?

Muốn nhanh đến mức này, lý do là thế. Bên ngoài bàn tán chỉ thấy triều đình khen thưởng quan biên cương, ngờ rằng triều đình cho rằng việc biên giới đã yên, không còn lo ngại. Há phải vì hiện nay chúng vẫn cống nạp đều đặn mà cho rằng chúng không có ý đồ gì?

Việc chúng cống nạp đều đặn, chỉ là để tính toán buôn bán mà thôi, e rằng không đáng tin cậy. Việc đã xảy ra trước đây, đương nhiên không thể đòi lại; việc có thể làm hôm nay, nếu tính toán kỹ và từ từ mưu đồ, vẫn chưa muộn.

Nghe nói giặc Hạ ở đất Tắc Môn, Kim Thành lại đòi hỏi thêm, lại còn tuyên bố sẽ liên minh với nước láng giềng phía tây để gây sức ép với ta. Bên ngoài lo sợ triều đình không coi trọng việc này mà khinh suất bỏ qua. Nếu quả thật như vậy, thì việc muốn nhanh đã quá đáng rồi! Triều đình cho rằng Kim Thành[7], Tắc Môn không thể bỏ, không phải vì hai lũy cô lập có lợi, mà vì địa thế hiểm trở, đủ làm rào chắn biên giới, đất đai màu mỡ, đủ cung cấp cho quân biên phòng.

Lợi hại liên quan, không lũy nào sánh bằng, nên duy nhất không nằm trong phạm vi ban tặng. Nay bàn việc phân chia biên giới, chỉ muốn yên ổn tạm thời trước mắt, bỏ đất hiểm yếu, bỏ hàng ngàn hộ đã canh tác[8], cắt đứt trạm canh quan trọng mấy trăm dặm, không còn gì che chắn, ra khỏi cửa đã gặp địch, đường sá khó khăn, vận chuyển lương thực gian nan, lũy cô lập chỉ còn tồn tại, ta sẽ dùng vào việc gì? Ví như muốn bảo vệ thân mình mà lại bỏ đi tứ chi, điều này rất không nên. Như vậy thì đất đai không ban theo chiếu chỉ trước đây, chỉ là hư danh mà thôi.

Hơn nữa, điều chúng đòi hỏi, ta nhất định phải cho, thần không biết liệu có thực sự thỏa mãn được lòng tham của chúng mà không gây họa về sau không? Mất đất hiểm yếu, thỏa mãn yêu cầu vô độ, tổn hại thể thống quốc gia, rơi vào kế giặc, nuôi hổ mở đầu, không thể không thận trọng.

Thần trộm nghĩ việc giặc ngoài biên ải gây báo động, đến nay đã hơn mười năm, không phải là không lâu. Triều đình không tiếc hao phí mười năm, không ngại vất vả mười năm, mà quyết tâm giữ vững, là vì sao? Là vì thế đất và dân chúng vậy. Nay bàn luận việc này, nếu đúng như lời đồn, tức là có thể lâu dài mà không thể gần được.

Trước đây các lộ lớn ra quân, dù là kế phá tổ, còn có thể làm được, nay yên ổn đợi giặc, mà lại vội vàng như thế, tức là có thể lớn mà không thể nhỏ được. Có thể lâu mà không thể gần, có thể lớn mà không thể nhỏ, bỏ hết công sức trước khi sắp thành, mở ra khó khăn sau này không lường được, thần trộm nghĩ triều đình thật đáng tiếc.

Thần mong triều đình bỏ cái nông cạn trước mắt, tính kế lâu dài, việc lấy hay cho, đều theo chiếu thư ban ra trước đây mà làm. Nếu chúng cố chấp, cứ để đó không hỏi tới, chỉ răn đe quan lại biên giới, phòng bị nghiêm ngặt như xưa. Mong lập công gây chuyện thì vốn không thể, giữ biên đợi giặc thì hẳn không khó lắm. Với bọn Khương nhỏ bé nội loạn kia, còn có thể chống cự lâu với Trung Quốc được sao? Chờ đợi vài năm, nhất định xong việc, chỉ cần triều đình không bị mê hoặc mà thôi.

Thần nghe từ Thiểm Tây trở về tây, người bàn luận không ai không biết điều này, nhưng không ai nói với triều đình, cũng là vì sợ vượt quyền vậy. Tuy trước đây triều đình bàn luận việc biên giới, chỉ giao cho Phu Diên, các quan biên giới lộ khác không được can dự, nhưng thần mang trọng trách làm tướng, chức phận phải suy nghĩ bàn luận, nay đem những điều nghe được từ mọi người, dám dâng lời ngu muội, thì cũng chưa phải là vượt quyền.

Kính mong bệ hạ xét chọn, thật là may mắn vô cùng!”

(Thuần Túy vào ngày 29 tháng 7 năm thứ 5 dâng tấu này, nên tra xem trả lời thế nào.)


  1. Chữ 'nhị' trong 'ngự tập ngũ niên thất nguyệt nhị nhật sự' nguyên bản là 'ngũ', theo các bản khác và bản hoạt tự sửa lại.
  2. Xin từ tháng 5 năm Nguyên Hựu thứ 3 về sau, những người mua đất của bộ tộc phiên trái phép nếu khai báo thì được miễn tội. Chữ 'mua' nguyên bản là 'bán', căn cứ 《Tống hội yếu》 Binh 4-14, 22-13 sửa lại.
  3. Phối làm lính ở châu lân cận: Sách 《Tống sử》 quyển 199 - 《Hình pháp chí》 và 《Văn hiến thông khảo》 quyển 167 - 《Hình khảo》 đều không có hai chữ 'bản thành', có lẽ đúng là như vậy.
  4. Xin cho chủ bạ của bản tự kiêm nhiệm chức kiểm pháp: Chữ 'tự' nguyên bản viết là 'ty', căn cứ vào các bản khác và 《Tống sử》 quyển 165 - 《Chức quan chí》 mục Tư nông tự mà sửa lại.
  5. Ôn Bá rõ thấy công lao bảo hộ của Thái hoàng thái hậu 'Thái hậu' hai chữ vốn thiếu, theo sách này quyển 443, ngày Tân Sửu tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ 5 bổ sung.
  6. mà tùy tiện bổ thêm: chữ 'canh' nguyên là 'lại', theo các bản và sách 《Loan Thành tập》 quyển 43 bài 《Luận đường trừ thái khoan trát tử》 sửa lại
  7. Kim Thành nguyên bản là 'Kinh Thành', theo sách trên sửa lại.
  8. bỏ hàng ngàn hộ đã canh tác 'bỏ' nguyên bản là 'hợp', theo sách trên sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.