VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 480: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 8 (QUÝ DẬU, 1093)
Bắt đầu từ tháng giêng năm Nguyên Hựu thứ 8 đời Vua Triết Tông đến hết tháng đó.
[1] Tháng giêng, ngày Kỷ Mão, mùng một, không nhận triều.
[2] Ngày Nhâm Ngọ, con trai của Bành Như Túc ở Vũ Ninh châu, Khê Động là Bành Vĩnh Mậu được phong làm Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu, Kiểm Hiệu Quốc Tử Tế Tửu, kiêm Giám Sát Ngự Sử, Vũ Kỵ Úy.
[3] Thiệu [Dược Ti?], Tả Triều Phụng Lang, được bổ nhiệm làm Hộ bộ Lang trung.
[4] Ngày Giáp Thân, Thái Xác, Anh châu Biệt giá, bị an trí ở Tân châu, qua đời.
(Cựu lục chép truyện Thái Xác rằng: Lúc đó Vua đang kinh lược Hoàng Trung, Vương Thiều chiêu dụ người Tây Hạ, họ đều quy phụ. Quách Quỳ và những người khác ghen ghét Vương Thiều, Thiều cũng tự biện bạch, bèn sai Thái Xác đến Tần châu để điều tra. Việc của Thiều đã được làm sáng tỏ, Quỳ và những người khác bị khiển trách.
Tân lục bàn rằng: Đoạn này dùng từ nặng nhẹ không đúng, nên bỏ đi 58 chữ trên[1]. Tân lục cũng bàn về việc lập Thái tử, đã chép kèm vào tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 8.
Cựu lục lại chép: Ngô Xử Hậu dâng tấu về bài thơ Xa Cái Đình của Thái Xác, các quan Gián là Ngô An Thi, Lưu An Thế, Lương Đào liên tiếp dâng tấu luận tội Thái Xác vì bài thơ có lời oán báng, Vua xuống chiếu bắt Xác phải giải trình, Xác dâng sớ biện bạch rất chi tiết. Cuối cùng Xác bị cách chức, nhưng Lương Đào và những người khác vẫn không ngừng luận tội, bèn giáng Xác làm Anh châu Biệt giá, an trí ở Tân châu. Xác vốn được Tiên đế ủy thác, nhưng bị bọn gian thần hãm hại, bị đày ra nơi xa xôi, lại sai Trung sứ đưa đến nơi biếm trích. Trải qua nhiều lần đại xá, nhưng chỉ mình Xác suốt 4 năm không được về. Ngày mồng 6 tháng giêng năm thứ 8, Xác qua đời tại nơi biếm trích, hưởng thọ 57 tuổi, thiên hạ đều cho là oan.
Tân lục bàn rằng: Việc Xác bị cách chức là do Ngô Xử Hậu dâng bài thơ; còn việc Lương Đào và những người khác không ngừng luận tội là do Xác tự xưng được Tiên đế ủy thác. Nếu gộp làm một, đời sau sẽ không hiểu được. Lại đều là lời vu báng, nay xóa bỏ từ “Xác chung” (Cuối cùng Xác bị cách chức) đến “oan chi” (thiên hạ đều cho là oan) gồm 84 chữ.)
[5] Ngày Đinh Hợi, Vua ngự tại Nhĩ Anh các, triệu tập các tể thần, chấp chính và quan giảng đọc sách để giảng 《Lễ Ký》 và đọc 《Bảo Huấn》. Cố Lâm đọc đến đoạn: “Hán Vũ Đế lấy đất phong làm Thượng Lâm Uyển, Nhân Tông nói: ‘Lợi từ núi rừng nên chia sẻ với dân, sao lại dùng thế này?’ Đinh Độ đáp: ‘Thần phụng sự bệ hạ hai mươi năm, mỗi lần nghe lời dạy bảo, đều thấy xuất phát từ sự lo lắng chăm chỉ, đó chính là gia pháp của tổ tông vậy.'”
Đọc xong, tể thần Lã Đại Phòng và các quan tiến lên nói: “Gia pháp của tổ tông rất nhiều, từ thời Tam Đại về sau, chỉ có triều đại ta hơn một trăm ba mươi năm trong ngoài yên ổn, đều nhờ gia pháp tổ tông đặt ra là tốt nhất. Thần xin kể sơ lược: Từ xưa, Vua chúa thờ mẹ có thời gian triều kiến, như Hán Vũ Đế năm ngày một lần đến Trường Lạc cung, còn từ tổ tông đến nay, thờ mẹ đều gặp mặt sớm tối, đó là phép thờ cha mẹ. Đời trước, đại trưởng công chúa dùng lễ của thần thiếp, triều ta nhất định phải kính cẩn trước, Nhân Tông dùng lễ cháu thờ cô để gặp Hiến Mục Đại Trưởng Công Chúa, đó là phép kính trưởng.”
Vua nói: “Nay trong cung đang theo lễ gia đình.”
Đại Phòng và các quan nói: “Đời trước, cung vi thường không nghiêm, cung nhân có khi gặp mặt đình thần, trong bức tranh ‘Đường Nhập Các’ có vị trí của Chiêu Dung, còn triều ta cung cấm nghiêm ngặt, trong ngoài chỉnh tề, đó là phép trị nội.
Đời trước, ngoại thích thường tham gia chính sự, thường dẫn đến loạn lạc, còn triều ta, họ hàng hoàng hậu đều không dự việc, đó là phép đối đãi ngoại thích. Đời trước, cung thất thường xa hoa, còn triều ta, cung điện chỉ dùng màu đỏ trắng, đó là phép tiết kiệm.
Đời trước, Vua chúa dù ở trong cung cấm, ra vào đều dùng xe kiệu, còn tổ tông đều đi bộ từ nội đình ra ngự hậu điện, há thiếu người sao? Chỉ là muốn đi qua sân rộng, chịu đựng chút nắng mưa mà thôi, đó là phép siêng năng.
Đời trước, Vua chúa trong cung thường ăn mặc sơ sài, còn từ tổ tông đến nay, lúc nghỉ ngơi cũng phải theo lễ, thần nghe nói bệ hạ hôm trước sau lễ giao, mặc lễ phục tạ ơn Thái hoàng thái hậu, đó là phép trọng lễ.
Đời trước, thường dùng hình phạt nặng, lớn thì giết chết, nhỏ thì đày xa, còn triều ta dùng pháp luật nhẹ nhất, bề tôi có tội chỉ bị cách chức, đó là phép khoan nhân.
Đến như khiêm tốn tiếp nhận lời can, không ham săn bắn, không chuộng đồ chơi, không dùng đồ ngọc, ăn uống không quý vị lạ, nhà bếp chỉ dùng thịt dê, đó đều là gia pháp tổ tông, nhờ đó mà được thái bình. Bệ hạ không cần học xa đời trước, chỉ cần làm đúng gia pháp, đủ để trị thiên hạ.” Vua rất tán thành.
(Trần Thiên Nghê chép lời Tô Triệt rằng: Năm Nguyên Hựu, tể tướng Lã nói với Vua rằng tổ tông có gia pháp, trong cung chỉ dùng vôi trắng, tiết kiệm như vậy. Lã tiến lên nói: “Tổ tông còn có gia pháp khác, là không giết người, tội lớn thì xét theo điều luật, án ngờ thì tâu lên, quan lại không như châu huyện đời Đường có quyền giết người.” Nhân đó bàn về câu của Mạnh Tử “người không thích giết người thì thống nhất được thiên hạ”, dẫn chứng từ Hán, Đường.
《Cựu Lục》 chép: Đại Phòng tâu hơn mười điều, có nói “Vua đi bộ từ nội đình ra ngự tiện điện, muốn đi qua sân rộng, chịu đựng chút nắng mưa, đó là phép siêng năng”. Xem đến đây thấy đau lòng. Bởi Đại Phòng dùng học vấn hủ nho, tài cán tầm thường, leo lên đến chức tể tướng, nhân việc mà phát ngôn, dùng lời lẽ tà thuyết để kiềm chế Vua, chỉ là đùa cợt mà thôi, cường bạo ngang ngược, không gì hơn thế.
《Tân Lục》 biện rằng: Đại Phòng tâu về phép siêng năng của Vua, mà bảo là kiềm chế, đùa cợt, thì cận thần không thể hết lời khuyên can. Còn nói “tà thuyết lời bậy”, “cường bạo ngang ngược”, đều là vu khống quá đáng, nên xóa bỏ từ “Đại Phòng tâu” đến “không gì hơn thế” bảy mươi tám chữ, theo 《Nguyên Hựu Nhật Lịch》 chỉ để lại bốn chữ: “Vua rất tán thành.”)
[6] Ngày Mậu Tý, Đô thủy ngoại thừa Phạm Thụ tâu rằng: “Năm nay huyện Vũ Trắc mua 50.000 bó cành cây để ứng phó việc tu bổ đê điều. Nếu dời việc mua bán đến trạm Huỳnh Trạch, sẽ thuận tiện hơn khi chi phí do Đô thủy giám quản lý.” Triều đình đồng ý.
[7] Ngày Kỷ Sửu, Kinh lược an phủ sứ Hi Hà Lan Mân lộ Phạm Dục tâu: “A Lí Cốt sai người dùng chữ Phiên đến xin lập văn ước, con cháu người Hán và người Phiên sẽ không xâm phạm lẫn nhau. Nhận được chỉ dụ của triều đình, bèn ra lệnh dụ bảo. A Lí Cốt đã nghe theo lời dụ, thề sẽ không bao giờ xâm phạm người Hán, lại xin thần phục nhà Hán như đã kết ước. Thần đã nhiều lần tính toán, việc biên phòng là việc trọng đại, sợ rằng sẽ gây hại cho cơ hội lâu dài, muốn tạm thời tỏ ý chần chừ, tường tận tâu lên[2].”
Xu mật viện cho rằng A Lí Cốt đã tự mình kết ước không xâm phạm người Hán, nếu không có văn thư đáp lại, sợ rằng sẽ sinh nghi ngờ, mở ra hiềm khích. Muốn từ Phạm Dục báo với A Lí Cốt rằng[3]: “Ngươi chỉ cần con cháu đời đời tuân thủ ước thúc, không gây sự, nhà Hán sẽ không xâm chiếm đất Phiên của ngươi.” Triều đình đồng ý.
[8] Ngày Canh Dần, Tam tỉnh và Xu mật viện tâu: “Quan văn điện học sĩ, giáng thụ Trung đại phu, Tri Hà Nam phủ Phạm Thuần Nhân trước đây vì sai lầm trong việc phòng thủ biên giới, nhiều lần dâng sớ xin bị giáng chức lần nữa, đặc cách giáng một bậc.” Chiếu rằng Phạm Thuần Nhân được phục chức Đại trung đại phu.
(Cựu lục chép: Trước đây, Thuần Nhân giữ chức Thái Nguyên, bỏ phòng bị thành trì, giặc cướp đánh vào Lân Phủ, cướp bóc lớn rồi rút đi, Thuần Nhân ban đầu không biết[4]. Không lâu sau lại được phục chức. Tân lục biện rằng: Do trên văn là Tam tỉnh, Xu mật viện kiểm cử, Thuần Nhân nhiều lần dâng sớ tự xin bị giáng chức lần nữa, có chiếu phục chức cũ. Sử quan bèn lấy ý riêng để bôi nhọ, lập ra lời giải thích khác. Nay xóa bỏ 29 chữ.)
[9] Quang lộc thiếu khanh Kha Thuật, Binh bộ lang trung Phạm Tử Truân đổi chỗ cho nhau[5].
(Cần xét rõ nguyên do.)
[10] Tả triều thỉnh lang Chu Đỉnh được bổ làm Hình bộ viên ngoại lang.
[11] Hình bộ tâu: “Vương Trung Chính nguyên giữ chức Chiêu tuyên sứ, Kim châu Quan sát sứ, vì tội vào cõi không có công cùng lời tâu của bề tôi nên bị giáng bốn cấp, giữ chức Đề cử Thái cực quán. Bộ này xét lại, đã khôi phục chức Văn châu Thứ sử, vẫn giữ chức Chiêu tuyên sứ. Đến nay lại đủ hai kỳ, nên xét lại.” Chiếu rằng Vương Trung Chính đợi thêm hai kỳ nữa rồi xin chỉ.
[12] Tả triều phụng đại phu Ôn Tuấn Nghệ bị bãi chức Tri Đồng châu, lệnh cho Lại bộ bổ nhiệm vào chức hợp lệ. Trước đó, Ngự sử Lai Chi Thiệu tâu rằng khi Tuấn Nghệ làm Tri Diệu châu, đã sai con em chở bốn xe đồ gốm vào kinh buôn bán, lệnh cho Hộ bộ xét thực, quả đúng như vậy, nên có mệnh lệnh này.
[13] Giám sát ngự sử Hoàng Khánh Cơ tâu: “Theo chế độ nhà Chu, đầu tháng giêng bắt đầu hòa hợp, ban bố chính sách trị nước cho các nước chư hầu và kinh đô, rồi treo pháp lệnh ở cửa Tượng Ngụy, cho muôn dân tự do xem, mười ngày sau mới thu lại. Đó là để tuân theo ý trời, thận trọng trong việc mở đầu chính trị, làm khuôn phép cho dân chúng.
Đến đời sau, chính sách của bậc vương giả không còn, nhưng các vị Vua muốn trị nước vẫn có thể ban bố chiếu thư khoan hồng để tỏ rõ ý sâu xa thương xót dân chúng.
Kính nghĩ, hai vị thánh nhân lấy đức nhân hậu sâu dày che chở khắp bốn biển, dân chúng không ai không được hưởng ơn huệ. Tuy nhiên, thần trộm nghĩ rằng những chính sách thi hành chưa hẳn đều có lợi, những pháp lệnh ban ra chưa hẳn đều đúng.
Việc binh hình, tài chính, sổ sách, hạn kỳ thì được coi trọng trước; còn việc lấy đức nghĩa giáo hóa dân, lấy lễ pháp trị dân, bỏ xa xỉ theo tiết kiệm, khiến quý tiện có phân biệt, ngăn tà quy chính, khiến phong tục trở nên thuần hậu thì chưa từng được thực hiện.
Nay thời bình đã lâu, các bậc thánh nhân nuôi dưỡng dân chúng, chính là ở chỗ làm cho dân giàu có rồi mới giáo hóa. Xin bắt chước chế độ đầu tháng giêng hòa hợp của nhà Chu, ban chiếu thư rõ ràng để răn dạy các châu quận bốn phương, khiến họ khuyến khích nông tang, mở mang trường học, đề cao hiếu đễ, nêu gương lễ tục, nghiêm ngặt lập chế độ để ngăn chặn nguồn gốc xa xỉ, tiêu diệt tà dâm, khiến phong tục trở nên thuần hậu. Đến như dân thường trong xóm làng, mặc gấm vóc, đeo ngọc châu, nhà cửa nguy nga, đồ dùng vượt quá phận, đều có thể từ nay cấm chỉ. Như vậy mới có thể coi trọng gốc, hạn chế ngọn, bỏ xa xỉ theo tiết kiệm, để hoàn thành việc giáo hóa phong tục.
Hơn nữa, triều đình đã ban nhiều lệnh để ngăn chặn xa xỉ, chỉ có điều các cơ quan chưa từng thi hành mà thôi! Nếu thực sự lấy chế độ làm đầu, rồi dùng hình phạt và khuyến khích để tiếp theo, thì bốn phương không ai không theo gió mà thay đổi.”
Chiếu cho Lễ bộ thi hành các điều lệ hiện hành.
[14] Kinh Hồ Nam Lộ An phủ Kiềm hạt Chuyển vận Đề hình ty tâu: Toàn, Thiệu, Vĩnh châu là các châu giáp biên giới có nhiều khe động, xin giao cho các ty chọn người có tài văn võ, cùng làm tờ tấu cử người làm Tri châu, và xét duyệt lại các Tri châu Toàn, Thiệu châu. Từ nay về sau, Lại bộ chọn bổ văn thần cũng theo cách này.
[15] Xu mật viện tâu: “Các lộ Thiểm Tây, Hà Đông mỗi khi dò biết giặc Tây đem đại binh xâm phạm, liền huy động dân chúng thực hiện kế thanh dã kiên bích, chuyên tâm phòng thủ.
Gần đây, tình hình giặc càng thêm xảo quyệt, mỗi khi muốn xâm phạm biên giới, chúng thường tung tin hư để các lộ phân binh phòng bị khắp nơi, rồi bất ngờ đánh vào một lộ. Hoặc giả vờ đánh chỗ này, rồi lại đánh chỗ khác, hoặc đem đại binh xâm phạm, dùng trọng binh chia nhau giữ các thành trại, khiến quân ta không dám khinh suất xuất kích, rồi sai kỵ binh đi cướp bóc khắp nơi.
Như gần đây, chúng tập trung ở Kỳ Lỗ, Lãng Khẩu, khiến Kinh Nguyên phải phòng bị, nhưng lại đánh vào Hoàn châu. Tuy lộ này đã chuẩn bị trước, thành trại may không bị sơ hở, nhưng dân biên giới bị hại cũng không ít.
Lại nghe rằng dân biên giới lưu luyến nơi ở cũ, từng vì tin đồn mà bị huy động, không tin là giặc thực sự đến, đến khi giặc thực sự xâm phạm thì không kịp trốn chạy, đều bị giết hại hoặc bắt đi. Dù có bị ép vào thành, trong thành chật hẹp, không có nhà cửa để ở, người và gia súc phơi mình ngoài trời ngày đêm, bị khói bụi làm chết hoặc tổn thương, thật đáng thương xót.
Lại nữa, giặc Tây mỗi lần đem quân xâm phạm biên giới, ắt hư trương thanh thế, khoe khoang có đến mấy chục vạn quân, tướng biên giới chỉ biết đóng cửa thành cố thủ, ngồi nhìn giặc đốt phá cướp bóc, dù có quân chiến đấu ở ngoài cũng không ngăn được chúng xông vào, cũng chưa từng xuất kỳ binh đánh úp, khiến giặc đi lại tự nhiên như vào chỗ không người. Nếu không có phương lược khác, làm sao bảo vệ dân chúng và đối phó với giặc?” Chiếu lệnh các suý thần lộ Thiểm Tây, Hà Đông nghiên cứu rõ lợi hại, trình bày phương lược lên triều đình.
[16] Kinh lược sứ Tần Phượng Lữ Đại Trung tâu: “Tính của giặc phương Tây, không thể chỉ dùng đức để cảm hóa, cũng không thể hoàn toàn dùng uy để chế ngự, mà phải dùng phương lược để đối phó. Phương lược là gì? Gián điệp phải tinh nhuệ, trạm canh phải xa, hàng rào phải kín. Các vùng biên giới, dân cư và người Khương phần lớn sống gần nhau, không có tường thành hay cổng ngăn cách, nên chúng có thể đến đi bất ngờ, dễ dàng tấn công.
Hiện nay, gián điệp chưa tinh nhuệ (người đi thám thính phần nhiều là kẻ tầm thường, khó có thể thâm nhập sâu), trạm canh chưa xa (các trạm quan sát thường chỉ trong phạm vi vài chục dặm), hàng rào chưa kín (nhiều nơi dọc biên giới còn thiếu đồn bốt), thì làm sao tránh được nạn cướp bóc giết chóc? Nếu triều đình thực sự muốn bảo vệ dân, nên chú ý quan sát động tĩnh của chúng[6], thì dù chúng có mưu sâu, cũng có thể dò biết (tức là nắm được tình hình địch trước); phòng bị ở những nơi hiểm yếu, thì dù chúng có tấn công lớn, cũng có thể khống chế (tức là chiếm được địa lợi).
Những mối lo trước đây, còn phải bận tâm nữa không? Chỉ vì gián điệp khó tìm, trạm canh và hàng rào, người bàn luận vẫn còn cho là khó thực hiện! Nếu vậy, thì kế sách hợp binh mà bản ty gần đây đã trình, không có gì thay đổi, kính xin sớm xem xét và thi hành.”
(Tấu nghị của Đại Trung được ghi đầy đủ trong tờ mật tráp ngày 12 tháng giêng năm thứ 8, cùng ngày 11 tháng 6 và ngày 25 tháng 12 năm thứ 7, tổng cộng ba tờ mật tráp. Đại Trung trả lời như vậy, nay ghi chép thêm. “Kế sách hợp binh gần đây”, cần xem xét thêm.)
[17] Thị ngự sử Dương Úy tâu: “Hôm qua giặc phương Tây cướp phá Hoàn Châu, bản châu và lộ tâu báo sơ sài, triều đình chỉ dụ cho Tỉnh Lượng Thái đi xem xét, đã thấy khác với bản tâu của lộ, cuối cùng không bằng việc cử sứ giả chuyên trách. Xin đặc sai quan đi xem xét, đồng thời nghiêm khắc răn đe sứ giả được cử đi, nếu có chút che giấu bảo vệ, sẽ bị giáng chức nặng.” Chiếu lệnh cho Tỉnh Lượng Thái xem xét kỹ lưỡng bản tâu, đồng thời trình bày đầy đủ những việc chưa báo cáo và chưa giải quyết xong.
(Sách mới không ghi Tỉnh Lượng Thái giữ chức gì, ngày 26 tháng 6 năm thứ 7, Lượng Thái được bổ làm Thiểm Tây chuyển vận phó sứ.)
[18] Công bộ tâu: “Ty chuyển vận Hà Bắc lộ tâu[7]: Trên đường đi của sứ giả, từ trước đến nay gặp mưa tuyết bùn lầy, tạm sai dân địa phương sửa chữa, theo chỉ dụ triều đình được miễn trừ phu dịch. Về sau, phu dịch mùa xuân đều điều động từ gần đến xa để đắp đê, nếu chỉ làm việc một hai ngày mà được miễn trừ phu dịch mùa xuân, rõ ràng là quá ưu đãi. Xin từ nay về sau, tạm sai dân sửa chữa đường sá, cứ hai ngày được tính là một ngày phu dịch mùa xuân, nếu không đủ hai ngày, thì năm sau được tính bù.” Triều đình đồng ý.
(Sách mới không ghi.)
[19] Hình bộ tâu: “Người nào tự ý cạo đầu xuất gia hoặc độ người khác làm tăng đạo thì bị phạt tù ba năm, ngụy tạo cũng bị xử tương tự. Thầy bổn sư nếu biết mà không ngăn cản thì giảm hai bậc tội, chủ trì lại giảm ba bậc, đều phải hoàn tục. Nếu dùng độ điệp để xin bán cho người khác, hoặc nhận mua, hoặc trộm cắp giả mạo để lừa đảo, dù chưa xuất gia, cũng bị phạt tù ba năm, đồng thời cho phép người khác tố cáo, thưởng 50 quan tiền. Người chưa xuất gia được giảm một nửa hình phạt. Sau khi chiếu thư ân xá ban xuống 30 ngày mà không sửa đổi, sẽ bị xử tội như cũ.” Triều đình đồng ý.
(Sách mới không ghi.)
[20] Ngày Tân Mão, Xu mật viện tâu: “Kinh lược ty lộ Phu Diên tâu: ‘Quân Bảo An nhận được điệp văn của châu Hựu, nước ta căn cứ theo trát tử của Bắc triều, ghi đầy đủ thánh chỉ của Nam triều nói rằng nếu nước Hạ biết hối lỗi dâng biểu, cũng sẽ tiếp nhận. Nay Bắc triều đã giải hòa, triều đình cũng từng cho phép dâng biểu lần nữa, muốn sai người đến cửa khuyết.'”
Chiếu rằng: Nếu nước Hạ thực sự biết hối lỗi, sai sứ đến tạ tội, có thể cử người dẫn đến cửa khuyết; còn việc trong lời tâu dẫn việc Bắc triều là không đúng lệ, lệnh cho Kinh lược sứ dùng ý mà giải thích.
Trước đó, Tri Diên An phủ Lý Nam Công đem điệp văn của châu Hựu mà quân Bảo An nhận được dâng lên, các quan chấp chính cùng bàn muốn cho người Hạ dâng biểu, Thượng thư Tả thừa Lương Đào nói: “Trong điệp văn không nên dẫn lời Bắc giới giải hòa, e rằng họ có mưu đồ không thành thật, chưa thể vội nghe theo. Hãy để quan biên thần dụ bảo họ thu hồi đổi lại điệp văn, chờ xem ý họ thế nào, nếu thực sự thành khẩn không gian dối, thì cho phép cũng chưa muộn.”
Việc này kéo dài nhiều ngày chưa quyết định. Nhân lúc Lương Đào cáo ốm, bèn theo lời tâu của Nam Công. Hôm sau Lương Đào ra triều, đến trước mặt Vua hết sức tâu rằng: “Từ sau khi cắt bỏ đất quan trọng, người Khương nhiều lần xâm phạm biên giới, triều đình ân tín không thi hành, uy thế không lập, sao có thể hôm nay lại xử trí sai lầm? Giặc Tây vừa xin nạp khoản cống phụng, lại dẫn việc Bắc triều giải hòa làm đầu, việc này rất nguy hại, e rằng sẽ mở đầu cho việc sinh sự sau này, không thể không lo, huống chi người Bắc chưa từng dự vào việc phương Tây. Mong bãi bỏ chỉ dụ đã ban, hãy lệnh cho họ thu hồi đổi lại điệp văn, chờ xem ý họ có thành thật hay không, việc tuy hơi chậm, nhưng có thể tránh được hối hận sau này.” Do đó, chiếu theo lời bàn của Lương Đào.
(Việc này căn cứ theo 《Lương Đào hành trạng》 do Trương Thuấn Dân soạn.)
[21] Tri Tần Châu Lữ Đại Trung tâu: “Xét thấy người Khương nhiều năm cướp phá Lân Phủ, Hoàn Khánh, các nghị sĩ đều cho rằng triều đình ắt phải nghĩ cách chế ngự, may ra có thể phần nào làm nguôi ngoai nỗi oán hận của dân chúng hai lộ. Nay bỗng nhiên vô cớ lại muốn cử sứ đi, kiêu ngạo ngang ngược như vậy, ý đồ của họ có thể biết được.
Triều đình dù chưa thể cứng rắn từ chối, cũng nên giao cho quan trấn thủ một mặt chất vấn lý do đến, sau đó xem xét sự thành thật hay gian trá của họ, tùy nghi xử lý, cũng không đến nỗi mất cơ hội. Nhưng lại quên mất sự lừa dối, chỉ biết nghe theo lời thỉnh cầu, thần e rằng giặc này sẽ dò xét sự nông sâu của ta, cho rằng rốt cuộc không đáng sợ, nhân đó sẽ đòi hỏi vô lý, không biết triều đình sẽ ứng phó thế nào. Chiều theo ý muốn của họ thì tình thế sẽ không yên; trái ý họ thì oán hận không thể giải. Chi bằng dùng lý lẽ để thắng họ, thì thuận lợi dễ làm, người và thần cùng giúp sức, việc gì chẳng thành, huống chi chỉ là một bộ tộc nhỏ bé kia! Trong thời gian ngắn, nên có thể khuất phục được.
Kính mong Thánh từ suy nghĩ sâu xa về kế sách lâu dài của biên phòng[8], triệu tập các đại thần chấp chính suy nghĩ kỹ lưỡng, đừng chỉ chuyên lo bao dung, gây thêm mối họa về sau.”
Tờ thiếp hoàng: “Mấy ngày trước, nước Hạ xin giảng hòa, đã vội vàng nhượng bộ quá mức. Nay triều đình cần phải thận trọng xem xét, phá tan âm mưu gian trá của chúng.
Lại thêm, giặc cử sứ đến xin lệnh, có ba điều có thể suy đoán: Một là, cỏ nơi biên ải chưa mọc, ngựa chiến đói gầy, lại phòng bị quân ta đánh vào, nên giả vờ thuần phục; Hai là, các nơi thường xuyên đánh nhỏ, lần này đại quân đến báo thù, chẳng qua là bất đắc dĩ; Ba là, biên giới Hi Hà chưa định, sợ ta mưu tính xây dựng, nên lại tranh chiếm.
Đại để đều là muốn làm yếu lòng phòng bị của ta, chỉ muốn thừa cơ thường xuyên xâm lấn, mong triều đình chán ghét chiến tranh, trước tiên nghị hòa, không thể không xem xét kỹ! Lại nữa, ngàn dặm sợ người, Mạnh Tử còn chê cười, huống chi đất đai của chúng rộng gấp mười lần?
Bốn phương nhìn vào Trung Quốc, trong đó phương Bắc có nước láng giềng hùng mạnh, càng không nên để họ dòm ngó chút nào. Nay một sớm một chiều bị tiểu khương lay động, liền uốn mình theo, thần e rằng ngày sau binh đao liên miên, họa hoạn không chỉ thế này. Thần từ ngày 12 tháng 10 năm ngoái đã từng bàn luận việc này, kính xin xem xét lại, cân nhắc kỹ, ban cho sự lựa chọn.”
(Đây là tấu nghị của Đại Trung, trả lời tờ mật trát hỏi ngày Tân Mão. Nay xin phụ vào ngày này. Ngày 12 tháng 10 năm ngoái đã bàn việc này, tức là ba kế sách thượng, trung, hạ đã trình bày. Phụ lục ngày tháng năm thứ 6.)
[22] Tri châu Khê Động Thiên Tứ là Hướng Tải Long, em của Hướng Tải Vũ, được phong làm Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu, Kiểm hiệu Quốc Tử Tế Tửu, Tri châu Khê Động Thiên Tứ kiêm Giám sát Ngự sử, Vũ Kỵ Úy.
[23] Ngày Nhâm Thìn, Vua đến hồ Ngưng Tường, cung Trung Thái Nhất, quán Tập Hi, quán Lễ Tuyền, chùa Đại Tướng Quốc, ngự ở cửa Tuyên Đức, triệu các quan theo hầu xem đèn.
[24] Ban chiếu rằng nước Hạ xin lệnh, chưa rõ thực hư, lệnh cho các tướng ở Thiểm Tây, Hà Đông răn đe biên giới, phòng bị quá mức. Lại răn quân lính không được gây sự ở biên giới.
[25] Ngày Ất Mùi, xuống chiếu không nhận chương tấu xin ra ngoài nhậm chức của Thượng thư Tả bộc xạ Lã Đại Phòng. (Ngự bút. Ngày 17 tháng giêng.) Lại xuống chiếu không nhận chương tấu xin nghỉ hưu của Hữu bộc xạ Tô Tụng.
(Ngự tập quyển 17, ngày 17 tháng giêng, cùng ngày với Lã Đại Phòng. Việc này cần xem xét. Chính mục chỉ ghi Tụng không được phép nghỉ hưu.)
[26] Ngày Bính Thân, Xu mật viện tâu: “Các lộ Thiểm Tây thiếu nhiều binh lính cấm quân, những năm gần đây được mùa, ít người tình nguyện nhập ngũ, và dù có người dũng cảm muốn nhập ngũ, phần lớn không đủ tiêu chuẩn, hoặc bị hạn chế về tuổi tác, nếu không có biện pháp, e rằng sẽ thiếu quân số. Xin cho các lộ Kinh Nguyên, Hi Hà, Tần Phượng, Hoàn Khánh, Phu Diên đang thiếu cấm quân được tăng thêm 1000 tiền theo quy định, riêng Phu Diên tăng thêm 1 tấm lụa. Những người dưới 25 tuổi tạm giảm 2 đốt ngón tay, dưới 30 tuổi tạm giảm 1 đốt ngón tay, đợi khi đủ quân số thì thi hành theo điều lệ.” Được chấp thuận.
(Sách mới không ghi.)
[27] Hộ bộ tâu: “Theo sắc lệnh ngày 5 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất: ‘Các quan viên được cử đi công tác nếu mang theo lại dịch, nếu được cấp trạm khoán, thì căn cứ vào chức danh do bộ này xét, theo quy định nội lệ, không được phép xin các quy định khác, nếu vi phạm sẽ bị tâu hặc.’ Từ khi có chỉ dụ, các lại dịch đi theo quan viên công tác thường xin trạm khoán hậu hĩnh, xin đặc chỉ. Dù đã tâu hặc theo điều trên, nhưng triều đình vẫn đặc cách theo chỉ dụ đã ban, không chỉ làm phiền triều đình, mà chỉ dụ gần đây trở thành văn bản vô hiệu. Xin từ nay các lại dịch, công nhân được cử đi, dù có đặc chỉ không theo thường lệ, hoặc đặc cách theo chỉ dụ đã ban, những người được cấp trạm khoán riêng, đều do bộ này căn cứ vào chức danh và quy định mà cấp phát.” Được chấp thuận.
(Sách mới đã bỏ.)
[28] Hình bộ tâu: “Quan viên vay mượn tiền bạc, vật dụng, tại nơi nhậm chức trả lại. Quan châu tại các huyện, trấn, trại, hoặc quan các huyện, trấn, trại tại bản châu, đều coi là nơi nhậm chức. Tính số vốn vượt quá 50 quan, phạt tội đồ 2 năm. Vay mượn trùng lặp hoặc từ nhiều người, đều tính gộp lại. Chủ tiền bạc, vật dụng và người bảo lãnh, nếu cho vay quá số, mỗi người đánh 100 trượng, số tiền vượt quá bị tịch thu. Nếu số tiền trả ngoài chưa đủ 50 quan mà bị phát giác, giảm tội 2 bậc; chưa đủ 30 quan, lại giảm thêm 2 bậc; nếu đã trả đủ, lại giảm thêm 3 bậc. Đối với các trường hợp trả tiền được giảm tội, số tiền vượt quá vẫn được miễn tịch thu. Nếu trong số tiền trả có liên quan đến việc nhận hối lộ, vay mượn tại nơi nhậm chức, đều không được giảm tội.” Được chấp thuận.
(Bản mới không có.)
[29] Lại bộ tâu: “Gia trạng của quan viên, xin lệnh cho Thượng thư, Thị lang Hữu tuyển theo quy thức của Tả tuyển: cha mẹ đã mất, phải ghi rõ đã dời mộ hay chưa; nếu chưa dời mộ, phải ghi rõ năm tháng mất.” Được chấp thuận.
[30] Ngày Đinh Dậu, Lễ bộ tâu: “Công bộ Viên ngoại lang Du Sư Hùng trình bày về điều khoản trong sắc lệnh, mỗi khi gặp lễ tế Nam Giao, Bắc Giao, cử quan chấp chính làm người hiến tế đầu tiên, nếu đã nhận lời thề mà có việc không đến, thì lệnh cho quan cao nhất trong buổi tế đó thay thế. Còn lễ tế Đông Giao, Tây Giao, chưa rõ có được phép thay thế hay không, xin giao cho Thái thường tự xem xét. Sư Hùng chỉ đề cập đến Đông Giao, Tây Giao, nhưng các lễ tế lớn khác cũng tương tự. Xin lệnh rằng đối với các lễ tế lớn, cử Lễ bộ Thượng thư, Thị lang, Thái thường khanh làm người hiến tế đầu tiên, nếu đã nhận lời thề mà có việc không đến, nếu Lễ bộ Lang trung làm người hiến tế thứ hai, có thể thay thế người hiến tế đầu tiên, còn lại thì lệnh cho quan cao nhất trong buổi tế đó thay thế.” Được chấp thuận.
[31] Thái phủ tự thừa Văn Huân được bổ nhiệm làm Chuyển vận phán quan Phúc Kiến lộ.
(Ngày 16 tháng 5, Hoàng Khánh Cơ có nói…)
[32] Ngày Kỷ Hợi, chiếu rằng các quan chức sự từ Quyền Thị lang trở lên, đều được miễn chuyển đối.
(Ngày Canh Tý tháng 5 năm thứ 7, miễn chuyển đối cho quan thị tòng. Ngày mùng một tháng 8 Nhâm Tý, Khổng Vũ Trọng có nói…)
[33] Độ chi viên ngoại lang Nhậm Công Dụ tâu: “Trước đây đã định giá muối các lộ phía đông nam, nay có nhiều ý kiến cho rằng chưa tiện, xin ban chỉ rõ ràng cho các lộ, xem nên thi hành thế nào.” Chiếu rằng: Các lộ chuyển vận ty phía đông nam phải khảo xét lại số liệu ba năm trước và sau khi giảm giá muối theo pháp cũ, so sánh tăng giảm, tâu lên Thượng thư tỉnh, giao Lại bộ trưởng nhị, Ngự sử trung thừa và Thị ngữ sử cùng định đoạt, trình bày lợi hại để tâu lên.
[34] Hình bộ tâu: “Quân nhân các châu ngoài bỏ trốn, nếu bị bắt ở kinh đô thì xử phạt nặng nhẹ khác nhau.” Được chấp thuận.
[35] Chiếu rằng: “Gần đây ban hành pháp dịch, từ nay về sau ruộng công thu được và ruộng đang có người cày cấy mà người đó bỏ trốn, không được gọi người khác đến cày thuê. Đối với người đang cày ruộng công, nếu vi phạm nợ thuế, theo pháp phải gọi người khác đến cày thay, thì đều thu lại làm của công, để dùng vào việc chiêu mộ nha tiền. Ruộng công thu được chưa có người ứng mộ, tạm gọi người đến cày thuê, nếu có người nhận làm dịch thì giao ngay. Nếu đã gieo trồng, đợi thu hoạch xong mới giao. Lại hỏi người đang cày ruộng công, nếu họ muốn ứng mộ làm nha tiền thì cho phép.”
(Xem nghị luận của Tô Thức về việc cấp ruộng để chiêu mộ dịch. Ngày 6 tháng 9 năm ngoái, dùng ruộng công để chiêu mộ nha tiền.)
[36] Thượng thư tỉnh tâu: “Theo pháp dịch ngày 6 tháng 9 năm ngoái, từ nay về sau người làm dịch phải có tài sản nộp thuế, không được chiêu mộ người được ấm bổ, người chuộc tội, người từng phạm tội đồ và thợ thủ công, phải có người bảo lãnh, và không được vượt quá số tiền thuê cũ.” Được chấp thuận.
[37] Ngày Canh Tý, Tôn Lãm, Tri châu Quế Châu, Trực Long Đồ các, Tả Triều Thỉnh Lang, được bổ nhiệm làm Bảo Văn các Đãi chế, Tri châu Khánh Châu. Chương Tiết, Tri châu Khánh Châu, Trực Long Đồ các, Tả Triều Tán Đại Phu, được quyền làm Hộ bộ Thị lang. Tạ Lân, Tri châu Vị Châu, Trực Long Đồ các, Tả Triều Tán Đại Phu, được quyền làm Tri châu Quế Châu. Trương Lợi Nhất, Tri châu Thiền Châu, Hùng Châu Đoàn luyện sứ, được bổ nhiệm làm Tri châu Vị Châu.
(Tôn Lãm từ Khánh Châu chuyển sang Vị Châu vào ngày mồng 8 tháng 2. Chương Tiết chuyển sang Đồng Châu vào ngày 18 tháng 3. Sách 《Chính Mục》 ngày 24 ghi Diêu Miễn nộp đơn tố cáo Trương Lợi Nhất, nhưng 《Thực Lục》 lại không ghi chép. Hoàng Khánh Cơ nói như vậy vào ngày mồng 2 tháng 2. Tạ Lân mất tại Quế Châu vào ngày mồng 8 tháng 7 năm Thiệu Thánh nguyên niên.)
[38] Vương Sân, Thứ sử Đăng Châu, được phục chức làm Văn Châu Đoàn luyện sứ, Phụ mã Đô úy.
[39] Công bộ Thị lang kiêm quyền Bí thư giám Vương Khâm Thần tâu: “Trong số sách Cao Ly dâng lên có 《Hoàng Đế Trâm Kinh》, đầy đủ các thiên chương, không thể không công bố rộng rãi trong thiên hạ để các học giả đọc và học tập[9], xin cho in theo lệ.” Chiếu chỉ cho hiệu đính xong rồi in theo lời thỉnh cầu.
[40] Hàn lâm Thị giảng Học sĩ, Quốc sử viện Tu soạn Phạm Tổ Vũ tâu: “Thái thường Bác sĩ Trần Tường Đạo chú giải 《Nghi Lễ》 32 quyển, tinh tường và uyên bác, không ai sánh bằng. Xin giao cho hai chế xem xét, và đem bản đồ lễ dâng lên giao cho Thái thường để các quan bàn luận.” Được chấp thuận.
[41] Giám sát Ngự sử Hoàng Khánh Cơ tâu: “Hữu sương vô cớ bắt giam Đường Xác, nguyên Tri huyện Du Xã, Liêu Châu, vì xung phạm tiết chế của Khai Phong phủ Phán quan Triệu Việt, nên lệnh cho sương tuần bắt giam tại Hữu sương. Xác là quan chức, dù có tội cũng phải tra hỏi ba lần không nhận tội mới được bắt giữ. Nay chỉ vì xung phạm tiết chế mà đưa ngay đến cơ quan giam giữ, qua một đêm mới được thả. Việt là bề tôi, dám lạm quyền, thực đáng kinh ngạc.” Chiếu chỉ cho Hộ bộ xét xử.
[42] Kinh Hồ Bắc lộ Kiềm hạt ty tâu: “Người ở Khê Động là Dương Thịnh Hảo cùng đồng đảng xâm phạm đất Đại Điền. Tuần kiểm Dương Thịnh Đồng đã lệnh cho châu Nguyên ra lệnh hiểu dụ, cùng với việc dùng hậu thưởng để chiêu mộ bắt được thủ cấp của Dương Thịnh Hảo và đồng đảng.” Theo đó.
[43] Hình bộ tâu: “Những người được thưởng do công lao nhiều năm, hợp lệ được chỉ định bổ nhiệm, nhưng không được chỉ định vào chỗ khuyết của người chưa đủ năm. Đưa vào lệnh của Đô quan, sửa đổi bổ nhiệm làm Trấn tướng, Phó Trấn tướng kiêm Đô ngu hậu.” Theo đó.
(Sách mới không có, có thể bỏ.)
[44] Ngày Tân Sửu, chiếu rằng: “Nước Cao Ly từ triều trước đến nay, nhiều lần xin 《Thái Bình Ngự Lãm》, vì là sách cấm nên khó truyền ra nước ngoài, nên không cho. Nay lại xin, nên theo lệ trước, hoặc làm một mệnh lệnh không cho.”
(Ngự tập ngày 23.)
[45] Xu mật viện tâu: “Phó sứ Chuyển vận Hồ Bắc là Dụ Trắc, Tri châu Nguyên là Dư Biện tâu: ‘Biên giới châu này yên ổn, người Di và người Hán đều an cư.’ Nay theo tâu của Kiềm hạt ty Hồ Bắc: ‘Dư Biện tâu, Dương Thịnh Hảo cùng đồng đảng tập hợp ở Khê Động, muốn chiếm trại sách của Dương Thịnh Đồng.’ Lo rằng quan lại biên giới ban đầu coi là không có việc gì, đến khi tập hợp đông dần, không thể che giấu được, mới lập thưởng để bắt. Muốn ra lệnh cho châu Nguyên, từ nay nếu có người Man tập hợp đánh nhau, đều phải phát hiện và phòng bị, không được che giấu, để gây thành họa biên giới.” Theo đó.
[46] Hình bộ tâu: “Những quân phạm tội bị đày mà bỏ trốn bị bắt, nếu nguyên phạm tình tiết nặng, thì theo luật Thượng cấm quân; nếu tình tiết không đến mức hung ác, thì theo luật Hạ cấm quân.” Theo đó.
(Sách mới không có.)
[47] Ngày Nhâm Dần, Khởi cư lang kiêm quyền Cấp sự trung Diêu Miễn tâu: “Trung thư tỉnh lục hoàng: Tôn Bôn được bổ làm Tri Hưng châu. Xét Tôn Bôn trước đây khi làm Tri Chân châu, lấy cớ yến tiệc mà thân cận với kỹ nữ; nghe tin em ruột qua đời, giấu không báo tang trong nhiều ngày; đang trong thời gian nghỉ tang, lại dẫn kỹ nữ cùng uống rượu đùa giỡn. Khiến các quan tâu lên, triều đình giao cho Giám ty điều tra, đều có chứng cứ rõ ràng. Nhưng quan khám án che giấu, tuy chưa kết tội vi phạm, nhưng hành vi bừa bãi của ông ta đã lan truyền khắp nơi, sao có thể gánh vác việc truyền bá giáo hóa, làm gương cho dân, chỉnh đốn phong tục? Nay lại được bổ làm Tri Hưng châu, tuy không phải là đại phiên, nhưng cũng là quận lớn. Tiếng xấu chưa nguôi, lại được phục chức cũ, thần e rằng không thể phân biệt nhân tài, khiến sĩ phu tâm phục.” Chiếu cho Tôn Bôn đổi làm Tri Hoài Dương quân.
(Việc Tôn Bôn được bổ làm Tri Hưng châu, 《Chính mục》 ghi ngày 18, 《Thực lục》 không chép.)
[48] Ban thưởng cho Vương Mẫn, Chỉ huy sứ lộ Phu Diên, và Chủng Nghi, Chỉ huy sứ lộ Hi Hà, cùng các phó tướng, mỗi người được ban thưởng trà, thuốc và hộp bạc khác nhau, vì năm ngoái quân Tây Hạ xâm phạm Hoàn Châu, hai lộ này đã xuất quân đánh dẹp và kìm chế địch, có công lao.
(Ngày 28 tháng 11 năm thứ 7, Chương Tiết, quan chức Hoàn Khánh, dâng tấu trình công trạng của hai lộ Kinh Nguyên và Phu Diên trong việc ứng phó: “Kể từ khi Nguyên Hạo làm phản, mỗi khi quân Tây Hạ xâm phạm một lộ, quân tiếp viện từ các lộ lân cận chưa từng kịp thời ứng phó. Lần này, quân tướng hai lộ Kinh Nguyên và Phu Diên vượt qua giá rét, đi trên đường hiểm, ngày đêm gấp rút tiến quân, đến hội quân chỉ cách địch vài chục dặm. Quân Phu Diên còn có thể chém giết được một số quân địch ngoài biên giới.
Trong các tướng, Cừu Tổ Đức đi theo đường quân địch đến, đến lộ này đầu tiên, Lý Nghi theo sau. Khi quân địch rút lui, tuy bị Chiết Khả Thích đánh chặn thất bại, nhưng lý do chúng không dám trì hoãn là vì quân của Lý Hạo truy kích sát sao, hai lộ cùng tiến quân, quân sĩ hăng hái, thanh thế lớn mạnh, khiến quân Tây Hạ phải tháo chạy.
Công lao này có sự đóng góp của nhiều người, chính là như vậy. Các tướng lĩnh như Diêu Hủy trở xuống, cùng các sứ thần, mong được triều đình ban thưởng theo thứ bậc, để khích lệ lòng trung nghĩa, từ đó về sau, khi một lộ bị xâm phạm, sẽ có người tranh nhau đến cứu viện, đóng góp không nhỏ.
Các tướng lĩnh chỉ huy quân tiếp viện của hai lộ Kinh Nguyên và Phu Diên, theo sau quân của Lý Hạo, truy kích địch, trong đó có người không chém được đầu địch, không dám tự tiện ghi vào công trạng. Nếu được triều đình ghi nhận công lao cứu viện kịp thời, xin ban chỉ dụ, lấy tên và chức vụ của họ. Quân tiếp viện của hai lộ, tuy các tướng gấp rút tiến quân, nhưng đều nhờ các quan chức lộ có lòng vì nước, không phân biệt địch ta, mới kịp thời ứng phó.
Mong triều đình ban chỉ dụ, xét lại chức vụ và tên của các quan chức lộ đã phái quân tiếp viện, ban thưởng một chút, để làm gương cho các lộ khác.”)
[49] Kinh lược ty Quảng Tây tâu: “Trại Ôn Nhuận thuộc châu Ung, đất đai xấu, nước độc, từ trước đến nay luân phiên hai viên Đô tuần kiểm Hữu Giang đến đóng quân nửa năm, binh lính chết và bị thương không ít. Xin từ nay nửa năm đầu, mùa xuân đóng ở trại Ôn Nhuận, mùa hè đóng ở dịch trạm Chân Động; nửa năm sau, mùa thu đóng ở dịch trạm Chân Động, mùa đông đóng ở trại Ôn Nhuận. Như vậy không chỉ bảo toàn tính mạng con người, mà lúc cấp bách cũng không ngại chiếu ứng.” Theo lời tâu. Đợi một hai năm sau, nếu biên phòng không thiếu sót, có thể dời đến nơi gần hơn để đóng quân.
[50] Ngày Quý Mão, Kinh lược ty lộ Kinh Nguyên tâu xin tuyển chọn những người dư trong các tướng, dưới 60 tuổi, tinh lực chưa suy, vẫn sung vào quân ngũ như cũ để bổ sung số thiếu. Theo lời tâu. Lại ban chiếu cho các lộ Thiểm Tây làm theo.
[51] Ngày Giáp Thìn, Thượng thư tỉnh tâu: “Hữu Thông trực lang Lý Hiếu Xưng vì cha đã 84 tuổi, hiện giữ chức Thông nghị đại phu đã về hưu, tuy gặp đại lễ, nhưng vì bị ràng buộc bởi quy chế của Lại bộ không cho phong tặng, e rằng không phải là ý tốt của triều đình muốn ban ơn cho người già.” Ban chiếu cho Hiếu Xưng được phong tặng cha một lần, lại lệnh từ nay các quan viên nếu cha giữ chức Đại trung đại phu trở lên đã về hưu, chưa được phong tặng thì cho phong một lần, nhưng không được đến chức Tam công.
[52] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu: “Trời rét có tuyết, các công dịch ở kinh thành được nghỉ ba ngày.”
(Ngự tập ngày 27.)
[53] Binh bộ tâu: “Cung thủ các châu Lân, Phủ, Phong thuộc lộ Hà Đông, nếu nhận đất đã canh tác thuần thục thì được miễn một năm, nhận đất cũ đã canh tác thuần thục nay bỏ hoang thì được miễn hai năm, nhận đất hoang mới khai phá thì được miễn ba năm không phải đi phiên.” Theo lời tâu.
[54] Hộ bộ tâu: “Các trại, phong đài, khẩu phố thuộc các châu Lân, Phủ, Phong, đều sai cấm quân hoặc cung thủ, phiên binh đến đóng giữ, xin theo lệ cấp tiền gạo có mức khác nhau.” Theo lời tâu.
[55] Lộ Lân Phủ thể lượng an phủ ty tâu: “Cung tiễn thủ mỗi chỉ huy phần lớn không đủ số lượng, vì cung tiễn thủ không tốn tiền lương, có thể thay thế chính binh, lại giỏi cưỡi ngựa bắn cung, dũng cảm chiến đấu, quen thuộc địa hình núi sông, thông thạo đường đi lối lại, ở biên phòng thực sự là lực lượng hữu hiệu. Sở dĩ chiêu mộ không đủ, là do đất đai bên ngoài sông cằn cỗi, sai dịch liên tục, muốn có biện pháp khác. Cần phải có người địa phương bảo lãnh, trong nhiệm kỳ nếu có người bỏ trốn, khi kết thúc nhiệm kỳ sẽ xem xét số lượng không quản lý được.” Triều đình đồng ý.
[56] Ngày Bính Ngọ, Hộ bộ tâu: “Tiền lương của quan viên được chiết khấu, khi đến kinh đô, từ ngày triều kiến sẽ chi trả theo tỷ lệ tại kinh, từ ngày triều từ sẽ chi trả theo tỷ lệ bên ngoài. Nay muốn trừ những người đương nhiệm được hưởng theo chức vụ hiện tại, những người xin lương của chức vụ thân tín hoặc chức vụ trước, tại kinh đô và nơi khác đều chi trả theo tỷ lệ của nơi đó.” Triều đình đồng ý.
[57] Môn hạ tỉnh tâu: “Chữ viết tay của Thần Tông hoàng đế đã biên soạn thành sách, đã cùng dâng lên. Nay Trung thư, Thượng thư hai tỉnh lại định ngày dâng chữ viết tay của Thần Tông hoàng đế, mà Môn hạ tỉnh không tham gia, lẽ ra ba tỉnh phải cùng dâng.” Ngự phê: Cùng Trung thư tỉnh đổi ngày dâng lên, nhanh chóng thông báo cho các tỉnh biết để thi hành.
(Ngự tập ngày 29 tháng giêng năm thứ 8, nay phụ vào ngày này.)
[58] Ngày Đinh Mùi, Lại bộ và Công bộ tâu: Trạng của Hà Dương luận về bờ trung đàn ở giữa sông lớn, bốn phía đều là hướng khẩn cấp, mà quan lại có trách nhiệm mà không được thưởng, thực sự là không công bằng, muốn lập bờ này làm hướng thứ ba để xét thưởng. Triều đình đồng ý.
[59] Lúc ấy trời mưa tuyết khổ sở, Hình bộ thị lang là Phong Tắc cho rằng: “Ấy là trời phạt thường lạnh” [10], từ khi hai thánh lâm triều, triều đình trong sáng, sao điềm lành chưa đến, mà khí xấu lại ứng nghiệm? Há chẳng phải là việc ứng với trời chưa thỏa đáng, lễ thờ trời chưa đủ, lòng kính sợ trời chưa thành kính ư? Há chẳng phải là trong cung có kẻ can dự chính sự ư? Đạo trời thông minh, nếu không có việc ấy, thì tai biến không sinh ra hư không. Nếu không biết sợ hãi, có cách tiêu trừ, thì tai biến hung hiểm ắt sẽ đến.
Xin bệ hạ tỏ rõ đức thánh, kính sợ điều răn của trời, mời hỏi bậc danh thần, sửa sang mọi việc. Dùng người hiền giao việc, không nghe lời gièm pha thấm nhập; làm ơn dân bằng thực chất, không chuộng chính sách khoan dung. Lời nói như gió xuân, hành động như gió lành, sáu cung hòa thuận trong nội, trăm quan hòa thuận ở triều, muôn dân hòa thuận dưới thấp, thì sự hòa hợp của trời đất ứng nghiệm, tai biến tiêu tan vậy.
(Đoạn này căn cứ theo bản truyện của Phong Tắc, phụ chép vào cuối tháng giêng.)
[60] Thị lang Trung thư là Phạm Bách Lộc nói:
“Thần nghe rằng thủy quan từ ngày 28 tháng giêng năm Nguyên Hựu thứ 4 theo chiếu chỉ bãi bỏ việc đắp đê ngăn sông, sau đó hàng năm đều dồn công sức tu sửa đê Lương Thôn và hai đầu đê lớn, đến nay đã hơn bốn năm, hao tốn công sức rất nhiều. Cả ba nơi đều được xếp hạng nhất, số người làm việc, vật liệu hàng năm, phần thưởng cho quan lại đều thuộc hạng nhất.
Hiện nay, đê Lương Thôn và hai đầu đê kéo dài khoảng vài chục dặm, đầu đê phía Đông được đắp cao, đối diện với đầu đê phía Tây, khiến cửa sông phía Bắc chỉ rộng 320 bước. Như vậy, dùng nhiều biện pháp để chặn dòng nước, qua thời gian dài, dòng chảy xiết làm sao không đổ về phía Đông? Nhờ dòng chảy phía Bắc vẫn mạnh nên chưa đổ hết về phía Đông. Nếu theo ý thủy quan, vừa đắp đê, vừa thu hẹp cửa sông, chỉ để lại 150 bước, và xin chỉ dụ triều đình đợi khi dòng Bắc lưu cạn, sẽ đắp đê mềm để chặn lại.
Xem xét năm việc này, rõ ràng là muốn ngăn sông, chỉ lấy danh nghĩa phân nước, giả vờ sợ dòng Đông bị bồi lấp, thực chất là dùng mưu kế xảo trá. Lại còn kích động dư luận, biến sai thành đúng, khiến các quan trong đài dâng sớ hơn mười lần, trong ngoài nghe đồn, không khỏi nghi ngờ, e rằng không tiện.
Thần ngu nghĩ rằng nếu sông lớn chảy về phía Đông mà không gây hại gì, thì dù là việc công hay việc tư, có gì không được? Chỉ vì dòng cũ phía Đông đã bị bồi lấp lâu ngày, dù nhiều năm bí mật nạo vét, làm sao bằng được dòng Bắc lưu, địa thế tự nhiên thấp bằng.
Thêm nữa, vào mùa đông năm Nguyên Hựu thứ 3, thần cùng Triệu Quân Tích đi khảo sát sông, trong tấu chương có nói rằng đê cũ phía Đông bị vỡ, có hơn mười một nghìn chỗ lối đi của trâu bò, xe cộ, dù nhiều năm bí mật tu sửa, làm sao đảm bảo tất cả đều vững chắc? Nếu theo kế của thủy quan, nhân dòng chảy xiết về phía Đông, đợi khi dòng Bắc lưu cạn, liền đóng lại, chặn toàn bộ sông, thì cách Bắc Kinh khoảng 20 dặm, chỗ Tiểu Trương Khẩu sẽ bị vỡ, hoặc cách đó 20 dặm nữa, chỗ Điền Lệnh Công Cừ cũng sẽ bị vỡ.
Nếu chỉ những chỗ này vỡ, nước sẽ lại đổ về Bắc lưu, sông lớn gây hại chưa đến mức nghiêm trọng. Nhưng cả vùng Bắc Kinh trong ngoài, dân cư sẽ chìm đắm, thành cá, không chịu nổi tai họa. Nếu bỏ chỗ gần này mà hướng về phía dưới Quán Đào, vỡ ở bờ Đông, thì các châu Tân, Lệ, Đức, Bác, Thương và mấy chục huyện, hàng nghìn dặm đất đai, sinh linh biết làm sao chịu nổi?
Nếu thủy quan sợ sau này có sai sót, tránh trách nhiệm, không dám nói rõ việc ngăn sông, chỉ lấy cớ phân nước, một mực đắp thêm đầu đê, đê Lương Thôn, khéo đặt đê mềm, qua thời gian dài, chắc chắn sẽ bồi lấp dòng Bắc lưu, thì tương lai dòng chảy xiết không khỏi đổ về phía Đông, tai họa cũng chẳng khác gì ngăn sông. Rõ ràng thủy quan thực sự muốn lập công may mắn ngăn sông, mà bên ngoài không chịu trách nhiệm nếu việc ngăn sông thất bại.
Triều đình để họ làm đã lâu. Nay đã nhận ra tác hại, nếu không kịp thời sửa chữa, thay đổi, một khi xảy ra sự cố, liên quan đến an nguy, làm sao yên ổn được?
Thần ngu mong hai Thánh thượng xem xét kỹ lý lẽ của thần, đặc biệt thương xót, ra chiếu chỉ cho ba tỉnh bàn bạc quyết đoán, dỡ bỏ đê Lương Thôn và hai đầu đê, mở cửa sông, để sông lớn tự nạo vét chảy xuống, tránh bị chặn, bồi lấp, làm hư hại dòng Bắc lưu, tích tụ thành sông lớn. Nếu dòng Bắc lưu thông suốt, tương lai mỗi khi nước lên, tự nhiên sẽ chia về phía Đông, đó chính là lợi ích của việc phân nước. Hai dòng cùng chảy, lâu dài yên ổn.
Kế sách hiện nay, nên trước khi nước lên, sắp xếp trước, để tránh hối hận. Nếu để xảy ra sai lầm, hối hận cũng không kịp. Thần thật ngu dại, mong không phụ lòng hai Thánh thượng lo nước thương dân.”
Tờ thiếp hoàng nói: “Thần từ mùa đông năm ngoái đến nay, trong các cuộc họp ở Đô đường và khi các quan thủy trình bày việc sông, thần đã nhiều lần nói rằng việc đắp đập Cư Nha ở Lương Thôn và hai bến Mã Đầu là hoàn toàn không có căn cứ, chặn dòng sông, trái với tính chất của nước, gây bất lợi cho sông lớn, và đã từng trình bày trực tiếp trước mặt Hoàng đế, nhưng vì chưa có tờ tấu, triều đình chưa thể quyết định việc tháo dỡ, nên nay phải dài dòng trình bày lên Thánh thượng, không khỏi lo sợ.”
Lại nói: “Thần nghĩ rằng việc ngăn chặn trăm sông là điều người xưa kiêng kỵ, như Thái tử Tấn thời Chu đã hết sức can ngăn Vua Linh Vương về việc ngăn sông Cốc và sông Lạc. Huống chi sông Hoàng Hà là nơi tụ họp của trăm sông, là mạch lạc của trời đất, há lại có thể dùng sức người để ngăn chặn, không thuận theo tính chất của nó, lâu ngày như vậy mà không gây họa hại sao? Thần xét cổ nghiệm kim, thấy rõ là không tiện, lòng dạ ngu muội đã biết như vậy, ngày đêm lo sợ, không dám im lặng. Xin Thánh thượng xem xét, đặc biệt thi hành.”
(Các tờ tấu của các quan Đài tiền sau có hơn mười tờ, nên tìm xem các tờ tấu của Lý Chi Thuần, Đổng Đôn Dật, Hoàng Khánh Cơ đã dâng lên.)
Bách Lộc lại tâu: “Từ ngày 28 tháng giêng năm Nguyên Hựu thứ 4 ban chiếu bãi bỏ việc đắp đê ngăn sông, các quan vẫn không từ bỏ ý định này, nhưng sông lớn cuối cùng cũng không quay lại. Hai vị Thánh thượng sáng suốt về việc sông ngòi, không thể bị mê hoặc. Ví như mùa thu năm Nguyên Hựu thứ 4, đê thẳng phía nam Bắc Kinh tại trạm thứ 7 bị vỡ, nước sông chảy ngược về phía bắc.
Thần thấy triều đình không có biện pháp gì, coi như không đáng lo. Gần đây, Ngoại đô thủy thừa mang đến bản đồ sông, mới thấy hình vẽ chỗ vỡ đê giống hệt sông lớn. Sau khi điều tra, Ngoại thừa ty báo rằng chỗ vỡ rộng 6 dặm 285 bước, nước chảy thẳng vào đê ngang Bắc Kinh. Nếu chỗ vỡ rộng như vậy, mùa thu hạ nước lên, đê ngang không chống đỡ nổi, Bắc Kinh chẳng phải sẽ nguy hiểm sao? Thế mà quan coi thủy lợi vẫn thản nhiên, không lo lắng, chỉ muốn che giấu, không để triều đình biết, sao có thể yên ổn?
Huống chi Ngô An Trì ngày ngày nghĩ kế xảo quyệt, ngăn chặn dòng chảy phía bắc, gây nhiều hậu quả, khiến sông lớn dần bị bồi lấp, phá hủy dấu tích của Vua Vũ, chẳng phải rất đáng tiếc sao? Nếu dòng phía bắc bị lấp, dòng phía đông đủ sức chứa toàn bộ sông, không có gì nguy hiểm, sao lại không được? Chỉ vì dòng phía đông lâu ngày bị bồi lấp, nay cao hơn cả nhà cửa, lòng sông lại hẹp, chỗ hư hỏng nhiều. An Trì không lo lắng, chỉ mong may rủi, không nghĩ đến nguy hiểm, thật đáng kinh ngạc.
Hơn nữa, An Trì gần đây đã ba lần dâng sớ xin từ chức, xin Thánh thượng quyết định, chọn người khác thay thế, không chỉ để bảo toàn An Trì, mà còn tránh việc thủy chính bị hủy hoại lâu ngày, gây thêm tai họa.”
Thiếp hoàng: “Thần sau khi hỏi rõ chỗ vỡ đê, đã nhiều lần họp bàn tại đô đường, và thấy cần triệu tập quan coi thủy lợi, bàn cách xử lý chỗ vỡ khi nước lên, tránh nguy hiểm cho Bắc Kinh, Tam tỉnh sẽ tiếp tục tâu lên.”
Trước đó, các ngự sử Lý Chi Thuần, Đổng Đôn Dật, Hoàng Khánh Cơ dâng tấu xin đổi dòng sông về phía đông, Dương Úy xin cử quan đi khảo sát, cùng với đô thủy Ngô An Trì xin đắp đập đất ở phía bắc để định dòng sông, tránh việc bồi lấp. Lúc đó Lã Đại Phòng đang nghỉ, Tô Tụng và các quan đều nói việc bàn bạc chưa xong, Tô Triệt tâu mặt rằng lời của An Trì quyết không thể nghe theo, còn Phạm Bách Lộc lại dâng tấu này.
(Sách 《Hà Cừ Thư》 của Triệu Đỉnh Thần chép: “Tháng 4 năm Nguyên Hựu thứ 8, Ngô An Trì tấu xin mở lại sông Kê Trảo ở thượng nguồn sông Phân Thủy, dẫn nước chảy về phía đông, được chấp thuận.” Nay tháng 4 không thấy việc này, tạm ghi chú ở cuối tháng giêng, đợi tra cứu thêm.
Lại chép cuối tháng 12: “Đô thủy giám tâu rằng sông lớn phía bắc nước cạn, đã xin tạm thời đắp đập ngăn dòng, đưa nước trở lại dòng cũ.” Nay ghi chú ở đây.
Lại chép ngày 23 tháng 12, ngự sử Quách Tri Chương tâu rằng…, chiếu cho quan thủy lợi cùng các quan suý, tào, hiến của bản lộ đều trình bày lợi hại để tâu lên. Ba việc này đều cần xem xét kỹ.
Lại chép ngày 8 tháng giêng năm Thiệu Thánh nguyên niên, có việc mở sông Kê Trảo, cũng khác với sách của Triệu Đỉnh Thần, cần tra cứu thêm.)
- thực ra nên bỏ 46 chữ ↵
- 'tường tận tâu lên' trong 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di quyển 6, tờ 27 viết là 'hứa làm phụng đạt'. ↵
- 'muốn từ Phạm Dục báo với A Lí Cốt rằng' chữ 'từ' trong sách trên viết là 'lệnh'. ↵
- 'ban đầu không biết' chữ 'sơ' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản trong các bản khác bổ sung, để phù hợp với số chữ ở dưới. ↵
- Binh bộ lang trung Phạm Tử Truân đổi chỗ cho nhau, chữ 'Truân' trong bản các làm 'Lượng'. ↵
- Nguyên văn 'Nghi lược xuất thử sát ư động tĩnh' nghĩa không rõ, theo bản trong các sách sửa lại ↵
- Ty chuyển vận Hà Bắc lộ tâu 'Hà Bắc lộ' nguyên bản viết 'Giang Bắc lộ', theo bản trong các kho lưu trữ sửa lại. Xét các lộ thời Tống không có Giang Bắc lộ. ↵
- Kính mong Thánh từ suy nghĩ sâu xa về kế sách lâu dài của biên phòng 'Cửu kế', các bản khác chép là 'đại kế'. ↵
- 'Học giả' nguyên bản là 'Hải nội', theo bản các sửa lại. ↵
- Phong Tắc cho rằng trời phạt thường lạnh, xét 'Trời phạt hằng lạnh', là lời trong sách vĩ ngũ hành truyện, người Tống kiêng húy của Chân Tông nên đổi 'hằng' thành 'thường'. ↵