VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 514: NĂM NGUYÊN PHÙ THỨ 2 (KỶ MÃO, 1099)
Từ tháng 8 năm Nguyên Phù thứ 2 đời Triết Tông đến hết tháng.
[1] Tháng 8, ngày Nhâm Thân, Long Đồ các đãi chế, Tri Doanh Châu Thịnh Đào được bổ nhiệm làm Tri Hà Nam phủ; Bảo Văn các đãi chế, Tri Hà Nam phủ Lục Sư Mẫn được bổ nhiệm làm Tri Doanh Châu. Có người dâng tấu luận tội Thịnh Đào trước đây trong niên hiệu Nguyên Hựu đã phỉ báng tiên liệt, kết hợp với quyền thần, bài xích và hủy hoại các đại thần cũ. Chiếu chỉ Thịnh Đào làm Tri Hòa Châu.
(Việc Thịnh Đào làm Tri Hòa Châu vào ngày mùng 5, nay ghi chung vào đây. Ngày mùng 2 tháng 7, Trâu Hạo từng nói về Lục Sư Mẫn, có thể tham khảo.)
[2] Triều phụng lang, Đề cử thố trí xuất mại Tấn Châu, Thấp Châu phàn sự Cao Xương được lệnh làm Đề cử kinh đông, Hà Bắc diêm thuế.
(Cần tra cứu xem hai việc này bổ nhiệm Đề cử quan vào tháng năm nào.)
[3] Kinh Nguyên tấu: “Chiết Khả Thích, Diêu Cổ đã dẫn hai vạn binh mã tiến đến xây thành Hội Châu. Công trình ở Giảm Ôi chưa hoàn thành, lệnh cho tướng quan Lôi Thắng và Thông phán Nguyên Châu Chủng Kiến Trung tiếp tục hoàn thành.”
(Theo sách 《Bố lục》 ngày Nhâm Thân.)
[4] Chiếu chỉ: Bảo giáp ở Thiểm Tây, Hà Đông, dù chưa từng được điều động, đều được miễn tập luyện mùa đông. Trước đây theo đức âm, phải được điều động mới được miễn, nhưng những năm gần đây vì việc biên giới nên đều được miễn.
(Theo sách 《Bố lục》 ngày Nhâm Thân.)
[5] Ngày Quý Dậu, tể thần Chương Đôn, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Thái Kinh, Đại Lý thiếu khanh Lưu Canh tiến trình bộ sách mới tu chỉnh về sắc lệnh và quy cách hành chính. Chương Đôn đứng trước mặt Vua đọc xong tờ biểu dâng lên, rồi cầm một tập sách về sắc lệnh và quy cách để đọc. Trong đó có những điều thời Nguyên Phong không có mà dùng sắc lệnh thời Nguyên Hựu để tu chỉnh.
Vua hỏi Chương Đôn và các quan: “Thời Nguyên Hựu cũng có điều gì đáng lấy sao?” Chương Đôn và các quan đáp: “Lấy những điều đúng để tu chỉnh.” Vua lại hỏi: “Lấy được bao nhiêu điều từ thời Nguyên Hựu?” Chương Đôn và các quan đáp: “Có một số.” Rồi tiến trình số điều lấy từ thời Nguyên Phong, Nguyên Hựu và những điều mới tham khảo tu chỉnh. Vua nói: “Có thể dán từng điều trong sách ra.” Vua lại hỏi: “Sắc lệnh thời Nguyên Hựu do ai tu chỉnh?” Chương Đôn và các quan đáp: “Do Tô Tụng đứng đầu.”
Chương Đôn và các quan lại đọc về việc cho phép thái học sinh chuộc tội. Vua hỏi: “Điều này là mới hay cũ?” Thái Kinh đáp: “Thần và các quan tham khảo để lập mới. Vì ngay cả y sinh ở châu huyện cũng được phép chuộc tội, nên thái học sinh cũng nên cho phép.”
Lại đọc điều lệ về việc trai giới trong lễ tế. Vua hỏi: “Lời văn này là mới hay cũ?” Chương Đôn và các quan đáp: “Đều là văn cũ.” Tiếp đó tiến trình số điều về quy cách. Vua nói: “Thời Nguyên Phong chỉ có điều lệ về thưởng, thời Nguyên Hựu thì không có.” Chương Đôn và các quan đáp: “Đúng vậy.” Chương Đôn lại nói: “Sách tham khảo tiến trình hơi nhiều, xin chỉ tiến trình những điều tinh giản vào trong cung, còn lại giao cho các cơ quan.” Vua ra lệnh đều phải dâng lên.
(Ngày 27 tháng 9 năm Thiệu Thánh thứ nhất, Chương Đôn và An Đào đứng đầu.)
[6] Hữu Trung tán đại phu, Đô thủy sứ giả Trịnh Hữu làm Tri châu Hạp Châu, Triều phụng đại phu, Quyền đề điểm Hà Bắc Đông lộ hình ngục Lý Trọng Quyền làm Tri châu Tô Châu, Triều phụng lang, Bắc ngoại đô thủy thừa Lý Vĩ làm Thông phán châu Tần Châu.
(Dùng nguyên bản từ báo Nguyên Phù thêm vào. Việc này chắc do liên quan đến sông ngòi mà bị giáng chức, cần xem xét thêm. Ngày 16 tháng 9, bãi chức Trịnh Hữu và các quan.)
[7] Binh bộ Thị lang Hoàng Thường tâu: “Các cờ hiệu và vật phẩm trong lễ Nam Giao đại giá, ngoài những tên gọi theo điển cố, còn lại đều lấy tên theo sự việc thời sự. Thần thấy gần đây có việc ban ấn Nguyên Phù[1], mặt trời xuất hiện quầng sáng kép, khí đạo Thái Thanh hiện điềm lành, chim hạc tiên ở Vũ Di được chiếu gần đây, đây là những điềm hiển nhiên. Thần xin đề nghị chế tạo các cờ hiệu, gọi là Ngọc Tỷ, Bảo Phù. Trên núi Mao Sơn, mặt trời có quầng sáng kép, gọi là Trọng Luân. Thái Thượng Lão Quân giữa lông mày phát ra ánh sáng đỏ, gọi là Tường Quang. Miếu Vũ Di Quân có chim hạc tiên, gọi là Tường Hạc.” [2] Chiếu chuẩn y.
[8] Kinh lược ty lộ Hoàn Khánh tâu: “Tuần kiểm bộ lạc ở thành Định Biên là Triệu Thế Lương và Tuần kiểm trấn Hoài An là Quật Nương bắt được bộ lạc phản loạn Bố Nhã cùng vợ là Khuất Ma Nương.” Chiếu cho Triệu Thế Lương đặc cách thăng một chức, Quật Nương giảm ba năm khảo hạch, và mỗi người được ban lụa theo thứ bậc.
[9] Tẩu mã Kinh Nguyên tấu: “Trước đây tiến hành xây hai đồn, được chỉ ban cấp đặc biệt. Nay chỉ xây một đồn, chưa dám ban thưởng.” Chiếu rằng: “Vì việc xây dựng trước đây diễn ra vào lúc trời nóng nực, nên đặc cách chiếu theo chỉ dụ trước mà ban cấp. Còn một đồn nữa, khi xây dựng sau này đã vào mùa thu mát mẻ, không cần ban thưởng nữa.” Việc ban thưởng đặc biệt cho đồn trước đây vốn không có tiền lệ.
(Ghi chép của Bố Lục ngày Quý Dậu.)
[10] Triều thỉnh đại phu Giả Thanh tấu: “Xin lập pháp, chia việc tiến cử quan chức của các thần liêu mỗi năm làm hai đợt, thượng bán niên và hạ bán niên.” Theo đó.
[11] Xu mật viện tâu: “Lương Tòng Chính tâu rằng, theo chỉ dụ năm Nguyên Phong thứ 7, giáo đầu quan thân sự tuyển chọn quan thân tòng, vẫn cứ đến doanh quan thân sự làm giáo đầu. Các doanh cách xa nhau, đi lại gây bất tiện, xin được tuyển chọn giáo đầu riêng.”
Vua nói: “Điều này thực sự bất tiện.” Tăng Bố nói: “Tuy là chỉ dụ năm Nguyên Phong thứ 7, nhưng là do Thạch Đắc Nhất tâu xin, nên mới theo đó.”
Vua nói: “Điều này nên sửa đổi.” Tăng Bố trình bày tờ giấy đã soạn sẵn “Chỉ dụ năm Nguyên Phong thứ 7 không được thi hành nữa”, Vua nói: “Rất tốt.” Tăng Bố nhân đó nói: “Những kẻ gian nịnh đứng trong triều gần đây, thường cho rằng pháp chế thời Nguyên Phong không thể thay đổi. Một khi có bàn luận về việc này, liền chỉ trích là dị đoan, ý muốn bắt bớ người lương thiện, hoặc lợi dụng để thỏa mãn ý đồ riêng.”
Gần đây, chiếu chỉ khoa cử giao cho hữu ty kiểm tra các lệ cũ, muốn lấy chỉ tiêu của Quốc Tử Giám, cho phép cử nhân ở Khai Phong phủ đến dự thi. Vì các sĩ tử vừa làm ruộng vừa học, phần lớn không thể vào Thái Học, lại không có hộ khẩu ở nơi khác, nên không được dự thi, mọi người đều cho là bất tiện. Duy có Thái Biện kiên quyết cho rằng năm Nguyên Phong thứ 7 triều trước đã bãi bỏ, không thể thay đổi. Các quan từ Chương Đôn trở xuống bàn luận nhiều lần, cuối cùng không thể thay đổi. Chương Đôn than rằng: “Đây đâu phải là việc của Tiên đế! Lúc đó chính là do ngươi cùng Thư Thiện, Chu Phục ra sức chủ trương nghị luận này.” Người nghe đều cho là đúng. Sau đó, gián quan Trâu Hạo dâng chương cực lực bàn luận, Vua cũng lấy cớ năm Nguyên Phong đã bãi bỏ mà từ chối, đó là do lời nói trước đã thấm vào. Từ đó, Thái Biện chuyên quyền càng thêm nghiêm trọng so với trước.
[12] Ngày Giáp Tuất, phủ Thái Nguyên xảy ra động đất.
[13] Chiếu rằng: “Nước sông lớn chảy mạnh về hướng bắc, giao việc sông cho chuyển vận ty, yêu cầu các châu huyện cùng nhau cứu hộ đê bờ phía bắc.” Sau đó lại có chiếu: “Các quan viên đô đại và sứ thần trường vật liệu tuần hà ở hướng đông, hãy lựa chọn điều động đến các tảo phân hướng bắc, lo liệu công việc.”
(Theo sử ký của Tăng Bố, ngày Giáp Tuất.)
[14] Kinh Nguyên tấu rằng, Miêu Lí đã đến Hội Châu để tiến hành xây dựng.
[15] Lữ Huệ Khanh tấu: “Người Tây muốn ở chỗ giới cũ ước hẹn rút quân, bèn lấy chỗ tuần tra mới định là giếng Nãi Vượng để dụ họ, tìm cách nghe theo mệnh lệnh.”
(Bố lục ngày Giáp Tuất.)
[16] Ngày Bính Tý, Chương Đôn và các quan tâu: “Xin đem những điều đã thu tải và sửa đổi trong 《Hình thống》 và luật lệnh, không cần dùng sắc lệnh bên ngoài. Những việc chưa được xử lý và sửa đổi, nên theo như cũ mà thi hành. Vậy xin từ tháng hai trở đi đến trước khi ban hành, những sắc lệnh tiếp tục ban ra sẽ được thêm vào. Nếu còn có điều chưa đầy đủ, và những việc cần sửa đổi, xin gom lại tâu lên. Đến ngày mùng một tháng giêng năm sau sẽ thi hành.” Vua nghe theo.
[17] Phó sứ Chuyển vận lộ Hoài Nam là Lý Hiếu Quảng được bổ làm Tri châu Đồng.
[18] Ngày Đinh Sửu, Triều phụng đại phu, Viên ngoại lang Lại bộ là Vương Tổ Đạo được bổ làm Tả ty gián. Trứ tác tá lang, Thuyết thư Sùng Chính điện là Chu Thường được bổ làm Khởi cư xá nhân. (Bố luận về Thường vào ngày Giáp Thìn tháng tám năm Nguyên niên.) Thái thường thừa Lục Truyền được bổ làm Khảo công viên ngoại lang.
[19] Ngày Mậu Dần, ghi công cho con trai của Cung bị khố phó sứ đã mất là Trương Đức là Liễn Cư, con rể là Lưu Uy và Vương Kỳ đều được bổ làm Tam ban tá chức, vì Trương Đức đã chết vì việc quan.
[20] Hà Đông tâu: “Việc tranh chấp ở Sóc Châu về việc mua bán với người Hồ đã yên ổn.” Người phương Bắc từ năm ngoái muốn dời trạm thuế ở Đông Thiên Đầu đến Cổ Hồ Tẩu, để tiện vào Cửu Lương Tân mua bán. Triều đình cho rằng việc thay đổi này sẽ gây ra sự việc mới, nên ra lệnh cho quan biên giới gửi văn thư từ chối, nói rằng: “Theo lệ cũ, việc mua bán vẫn diễn ra ở thôn Đông Thiên Đầu, khó có thể thay đổi.”
Sau đó, họ nhiều lần gửi văn thư nhưng không chịu nhận. Họ còn xây dựng nhà thuế ở Cổ Hồ Tẩu, phá tường đá vượt qua biên giới nhà Hán, lấy nước ở Thiên Giản và Hoàng Hà. Thậm chí dùng binh khí hộ tống người lấy nước qua biên giới, bắn bị thương tuần tra. Lâm Hi mỗi ngày đều tâu, cho rằng người phương Bắc sợ sẽ gây ra sự việc; lại nói muốn lấy Hoàng Hà làm ranh giới; lại nói tập trung hàng ngàn binh lính, muốn chiếm biên giới nhà Hán để lấy nước.
Triều đình cũng ra lệnh cho Chiết Khắc Hành xem xét và ứng phó. Tăng Bố nhiều lần bàn luận với Lâm Hi, cho rằng tin tức thám báo đều là hư thanh, việc xây trạm thuế, phá tường đá, qua biên giới lấy nước đều là hành động thô bạo của viên đồng tri, không đáng lo ngại. Lâm Hi vẫn lo lắng không thôi. Sau đó quả nhiên không có chuyện gì xảy ra, vẫn tâu rằng: “Không cần phải tâu hàng ngày nữa.” Vua cũng cười nhẹ.
[21] Kinh Nguyên hoàn thành việc xây dựng Giảm Ôi, ban thưởng cho các quan từ suý thần trở xuống bằng hộp bạc, trà và thuốc.
[22] Chiếu chỉ cho Hi Hà dựa theo bản đồ giới đạo, lấy mười dặm làm một phương, lấy tên các thành trại hiện nay, tra cứu khoảng cách giữa các trạm dịch cổ, vẽ bản đồ Tây Phiền tâu lên.
[23] Hôm đó, Hiền phi Lưu thị sinh hoàng tử.
(Ngày 24 tháng 9 nhuận thì mất.)
[24] Ngày Kỷ Mão, vì hoàng tử ra đời, sai quan tâu cáo với trời đất, tông miếu, xã tắc và các lăng.
[25] Chiếu chỉ cho Viên Châu, tháp đá ở Ngưỡng Sơn và Mộc Bình Sơn được ban tên: Ngưỡng Sơn là Thụy Khánh, Mộc Bình Sơn là Hội Khánh.
(Bản cũ ghi chi tiết, nay theo bản mới.)
[26] Kinh lược sứ Tôn Lộ của Hi Hà Lan Mân lộ tâu rằng: “Ngày 25 tháng 7, Vương Thiệm đã thu phục thành Mạc Xuyên. Xét Mạc Xuyên vốn là đất Hoàng Trung thời cổ, phía đông bắc khống chế vùng Cam, Lương thuộc Hữu Sương của nước Hạ, phía tây tiếp giáp với sào huyệt Tông Ca, Thanh Đường. Bộ tộc đông đúc, địa thế hiểm yếu. Phía nam cách Hà Châu hơn 190 dặm, phía đông đến Lan Châu hơn 200 dặm, xin lập làm quân Hoàng Thủy.” Chiếu cho Tôn Lộ xem xét kỹ các mệnh lệnh đã ban trước đây để thi hành.
(Cựu lục chép: Thời Nguyên Hựu, từng lo người Hạ hợp với Mạc Xuyên, Thanh Đường gây họa biên giới, đến nay võ công vang xa, một trận mà chiếm trọn đất ấy. Tân lục biện rằng: Kinh Dịch nói, quân tử lo trước để phòng ngừa họa. Thời Nguyên Hựu, lo người Hạ hợp với Mạc Xuyên, Thanh Đường rồi gây họa biên giới, không phải là quá đáng. Bậc quân chủ chuyên tâm giữ yên biên cương, bảo vệ dân chúng, việc dùng binh là bất đắc dĩ, khoa trương võ công là điều không nên. Bỏ 28 chữ.)
[27] Trước đó, Tăng Bố tâu: “Vương Thiệm chiếm được một nơi ở Mạc Xuyên, liền xin lập quân, e rằng sau này sẽ xin lập thêm nhiều quận huyện khác, không phù hợp với ý chỉ nhiều lần của triều đình về việc kiểm soát, giản tiện, lâu dài và không làm tăng thêm chi phí biên phòng. Xin này chưa nên chấp thuận.” Chương Đôn lại muốn đồng ý. Các quan khác cũng đều do dự không có kết luận rõ ràng.
Vua nói: “Đào Châu cần lập châu, e rằng cũng có những nơi cần lập châu quân.” Tăng Bố tâu: “Đào Châu nên lập châu, đó là điều thần đã bàn. Triều trước lấy Hi Hà, Đào, Mân làm một lộ, nay mới chiếm được Đào Châu. Lại nữa, triều trước lấy Hi Hà, Lan, Hội làm một lộ, nay mới chiếm được Hội Châu, đều là để hoàn thành chí hướng của triều trước.” Thái Biện nói: “Nếu vậy thì cũng giống nhau.”
Tăng Bố đáp: “Không giống. Nếu ở Mạc Xuyên, Thanh Đường đều lập châu quận, thần e rằng việc cung cấp lương thực sẽ khó khăn. Tôn Lộ từng dụ các bộ tộc Tây Phiên rằng, một gò một đồi đất cũng không cần lấy của họ. Nay lập thêm châu quân, chi phí cho quan lại, tướng tá, binh mã phòng thủ đều phải do triều đình cung cấp, lâu dài khó mà đảm đương được.
Hơn nữa, điều triều đình thiếu không phải là đất đai, một mực tham lam vùng đất hoang vu xa xôi, chỉ làm hao tổn sức lực Trung Quốc mà thôi. Triều trước lập Hi Hà làm một lộ, người thời Nguyên Hựu đều cho rằng tài lực không đủ, nên bỏ. Nay lại lập thêm châu huyện ngoài Hi Hà, há dễ cung cấp sao?”
Vua nói: “Người thời Nguyên Hựu nói dốc hết sức lực thiên hạ để phụng sự Hi Hà một lộ, lại cho là nên bỏ. Những lời này đều không đúng, không đáng nghe.” Chương Đôn, Thái Biện tranh cãi, cho rằng Tăng Bố phản đối triều trước mà ủng hộ Nguyên Hựu.
Tăng Bố tâu: “Người thời Nguyên Hựu cho rằng Hi Hà làm hao tổn tài lực, không thể duy trì lâu dài. Trong 《Thời chính ký》 có ghi rõ điều đó không đúng, thần cũng từng trình lên bệ hạ, bệ hạ hẳn còn nhớ. Lời bàn của thần hôm nay chỉ nói rằng việc lập châu huyện ở ngoài Hoàng Hà, Thanh Đường, Mạc Xuyên là bất tiện, chứ không phải cho rằng Hi Hà là sai.
Hơn nữa, Chương Đôn từng nói: ‘Chiếm được Thanh Đường, Mạc Xuyên thì theo ý thần, lập một đô hộ để thống lĩnh, là ổn thỏa nhất.’ Nay nếu lập châu quận thì đã có tri châu, tri quân, cần gì đô hộ nữa? Há chẳng khác với lời Chương Đôn ban đầu sao? Tuy nhiên, đây đều là lời tranh cãi, không đáng làm phiền thánh thượng.
Thần cho rằng nên đợi khi ổn định xong Hà Nam, Mạc Xuyên, rồi căn cứ vào địa lý quan trọng hay thứ yếu mà bố trí. Nơi nào là yếu hại nhất thì lập châu quân; nơi nào thứ yếu thì điều binh tướng phòng thủ; nơi nào chỉ cần để thủ lĩnh bản địa biết hướng về Hán, có thế lực thì giao cho trấn giữ. Đợi tâu lên triều đình, xem xét rồi mới quyết định.”
Thái Biện nói: “Vừa rồi Tam tỉnh bàn luận cũng đều như vậy.” Tăng Bố tâu: “Thần suy nghĩ như vậy, cũng chưa nghe Tam tỉnh bàn luận, cũng chưa nói với Tam tỉnh, chỉ vừa mới trình bày trước bệ hạ.”
Mọi người đều cho là phải, Vua cũng khen ngợi, bèn theo đó ban chỉ. Khi vào chầu lại, Tăng Bố lại tâu: “Thần vừa bàn việc Hi Hà, vì cho rằng triều trước bố trí Hi Hà như vậy mà còn không tránh khỏi bị người sau bàn luận. Nay nếu ở Thanh Đường lập nhiều châu quân, tăng thêm binh mã phòng thủ, thì việc cung cấp lương thực khó khăn, làm sao tránh khỏi bị người sau bàn luận? Thần trong việc bố trí biên sự, không dám không nghĩ xa cho triều đình, nên không dám a dua theo mọi người, mong bệ hạ xét đoán.” Vua tỏ ra vui vẻ tiếp thu.
Vua bắt đầu nói rằng châu Đào không thể không xây dựng châu, Chương Đôn liền nói: “Tăng Bố ban đầu không chịu xây dựng châu Hội, chỉ muốn xây dựng Già La và Thiển Tỉnh, cũng giống như việc ngày nay.” Tăng Bố nói: “Thần chưa từng nói không xây dựng châu Hội, không biết đã nói ở đâu, có ai chứng kiến?” Chương Đôn nói: “Thái Biện trở xuống đều thấy.”
Vua nhìn Thái Biện. Thái Biện nói: “Không nhớ.” Tăng Bố nói: “Như vậy, là thần không có lời nói đó. Lúc đó kinh doanh Linh Bình, Bình Hạ, tức là có ý xây dựng Thiên Đô và châu Hội. Đến khi Chung Truyền xây dựng Thiển Tỉnh[3], liền bàn việc cách chức. Đều là thần đầu tiên đề nghị, sao lại có lời nói không xây dựng châu Hội?” Chương Đôn im lặng.
Tăng Bố lại nói: “Ban đầu dẫn Chương Tiết làm tướng là Lý Thanh Thần, bệ hạ chắc nhớ việc này.” Vua nói: “Nhớ.” Tăng Bố nói: “Ban đầu mệnh Chương Tiết làm tướng Tần, Tiết nguyện đến Kinh Nguyên, chính là muốn kinh doanh việc Thiên Đô. Thần cũng đã dặn dò Tiết, lệnh cho thứ tự kinh doanh. Tiết đã nhậm chức, mùa xuân năm đó liền khởi công việc này, thần sao lại có lời nói không xây dựng châu Hội? Nay Tôn Lộ và Vương Thiệm tranh công, mọi người đều cho là không đúng, huống chi ở miếu đường, lại muốn tranh giành việc xây dựng châu Hội không phải do người khác, mà là do ý mình, việc này có khác gì Tôn Lộ? Như vậy chẳng phải làm thiên hạ cười chê sao?” Vua cười lớn.
Tăng Bố lại từng nói với Tam tỉnh: “Thần trước đây từng bàn việc Tây, muốn tạm thời lấy sông làm giới. Chương Đôn cho rằng thần nói như lời đàn bà trong sân nhà. Nay lại từ Thiên Đô, châu Hội thu liễm việc biên giới, Chương Đôn cũng khen hay. Hôm trước mắng thần, Tam tỉnh đều thấy.” Mọi người đều im lặng. Tăng Bố lại nói: “Thần phụng sự bệ hạ đã năm sáu năm, trước sau bàn luận không gì không thể xem lại. Không giống như người khác, một ngày nói một kiểu.” Vua cười mà thôi.
(Tăng Bố ghi chép việc ngày Đinh Sửu. Ngày 16 dời Lộ đến phủ Hà Nam.)
[28] Ngày Canh Thìn, ban chiếu rằng từ nay về sau, nếu các quốc thích và mệnh phụ vào cung mà dám mang theo những người từng được thả ra từ trong cung hoặc những cung nữ đã từng phạm tội và bị xử phạt vào cung, đều bị xem là vi phạm quy chế, cho phép mọi người tố cáo.
[29] Ban chiếu phong con trưởng của Đông Nhạc Thiên Tề Nhân Thánh Đế làm Hữu Linh Hầu, con thứ hai làm Huệ Linh Hầu, con thứ tư làm Tĩnh Giám Thái Sư, con thứ năm làm Tuyên Linh Hầu. Vì theo lời tâu của địa phương, các bậc phụ lão truyền rằng Nhạc Đế có năm con, chỉ có con thứ ba được nhà Hậu Đường phong làm Uy Hùng Đại Tướng Quân, triều đình hiện tại phong làm Bỉnh Linh Công, còn các con khác đều không có danh hiệu và tước vị, nên có chiếu này.
[30] Ngày Tân Tỵ, vì hoàng tử mới sinh, các quan từ chức Quyền Thị Lang trở xuống đều đến chúc mừng. Ban ân xá, giảm án tử hình cho tù nhân trong thiên hạ, những người bị lưu đày trở xuống đều được tha.
[31] Thái Bình châu Tư pháp Tham quân, quan San định của sở Tường định Tam ty sắc lệnh là Trần Ngạn Cung được thụ chức Tuyên Nghĩa Lang.
(Bản mới bỏ.)
[32] Các ty Chuyển vận, Đề hình, Đề cử của Phúc Kiến lộ tâu cử Bào Chi, Giang Công Vọng; các ty Chuyển vận, Đề cử của Giang Đông lộ tâu cử Lã Chúc, Cảnh Xu; các ty Chuyển vận, Đề hình, Đề cử của Quỳ Châu lộ tâu cử Lưu Tương, Lý Công Ngạn, đều là người có thể được đề bạt sử dụng. Ban chiếu cho họ đều được đi ngựa truyền về kinh, lệnh Cáp môn dẫn vào đối đáp.
(Giang Công Vọng là người Tân Định, làm Tri huyện Vĩnh Xuân, Tuyền Châu.)
[33] Ban chiếu rằng từ nay về sau, các Đô giám của các phủ vương và các trạch từ Đại Trưởng Công chúa trở xuống, cùng các Sứ thần nhập nội câu đương, sau ba năm nhiệm kỳ đều không được xin tái nhiệm.
[34] Kinh Nguyên lộ Kinh lược ty tâu rằng việc tu sửa trại Giảm Ôi đã hoàn thành, ban chiếu đặt tên là Định Thú Trại. Người phương Tây gọi muối là Giảm, gọi chỗ trũng thấp là Ôi. Ở đây có hồ muối dài mười dặm, sản xuất muối đỏ và muối trắng, giống như hồ Giải, có thể làm ruộng muối.
(Sách 《Bố Lục》 chép vào ngày Ất Hợi, nay phụ vào đây. Việc khởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 7, hoàn thành vào ngày 1 tháng 8.)
[35] Hoàn Khánh lộ Kinh lược ty tâu rằng việc xây dựng thành mới ở Môn Môn Tam Sá đã hoàn thành. Ban chiếu đặt tên là Ninh Khương Trại, ban thưởng hòm bạc, trà và thuốc cho các quan từ Kinh lược trở xuống.
(Ngày 22 tháng 4, ngày 18 tháng 7, ngày 2 tháng 8.)
[36] Hà Đông xây dựng xong bốn trại và đồn ở ngoài sông, lại ban cho các quan tướng và thuộc hạ hộp bạc, trà và thuốc.
(Ngày 26 tháng 6.)
[37] Viện Xu mật tâu rằng, lộ Hi Hà Lan Hội thu phục được các thành Mạc Xuyên, Gia Mộc Trác và tiếp nhận nhiều thủ lĩnh lớn nhỏ cùng bộ tộc, các tướng tá và binh lính Hán, Phiên đều vất vả gian khổ. Chiếu ban cho quân binh các loại đặc chi khác nhau, các tướng tá đợi khi hoàn thành việc kinh doanh và sắp xếp, sẽ trình bày công trạng lên triều đình.
[38] Cùng ngày, Miêu Lí tâu rằng, tiến hành xây dựng châu Hội, khởi công tại cửa sông Hội Châu được ba ngày, Tôn Lộ gửi văn thư yêu cầu xây dựng tại Ba Ninh Hội, nhưng địa hình Ba Ninh Hội hiểm trở và khô cằn, không thể xây dựng châu, Lí không dám làm theo. Chiếu cho Tôn Lộ đợi khi hoàn thành việc xây dựng châu Hội sẽ xin chỉ dụ.
(Ngày 2 tháng 5, Lộ xin xây dựng Ba Ninh Hội, ngày 16 tháng 5, Lộ đổi làm Hà Nam phủ, ngày 17 tháng 5, Diêu Hùng nhận chức Tri châu Hội, ngày 1 tháng 9 khi châu Hội hoàn thành, Lộ đã bị thay thế. Ghi chú: Ngày Quý Mão tháng 5 năm Nguyên Phù thứ 2, Tôn Lộ tâu rằng Vương Mẫn đã khảo sát Ba Ninh Hội, có thể tiến hành xây dựng, chiếu cho Lộ xem xét. Ngày Đinh Hợi tháng 6, Lộ tâu rằng Ba Ninh Hội có thể thiết lập châu, đã theo chỉ dụ chuẩn bị vật liệu, thực tế dựa trên khảo sát của Miêu Lí. Nay Miêu Lí lại nói địa hình hiểm trở và khô cằn, không thể xây dựng châu, trước sau không thống nhất. Đoạn này đều ghi là Ba Ninh Hội, cũng khác với trước. Sách 《Bố Lục》 ghi chép giống như vậy.)
[39] Ban đặc chi cho quân binh thu phục thành Mạc Xuyên.
(Sách 《Bố Lục》 ghi ngày Tân Tỵ.)
[40] Ngày Ất Dậu, Thượng thư tỉnh tâu rằng, đường Hi Hà gần đây đã chiêu phục các bộ tộc vùng Tây Phiền, trong đó Mạc Xuyên và Hà Nam đều đã quy thuận nhà Hán. Chiếu ban 1 triệu quan tiền,[4] để sửa chữa các thành trại trọng yếu mới thu phục và chi dùng lương thảo.
[41] Kinh Nguyên tấu rằng, việc phân định địa giới giữa Giảm Ôi và Đả Thằng Xuyên liên quan đến hai đường, ý kiến bất đồng, xin triều đình quyết định. Chiếu rằng Đả Thằng Xuyên thuộc đường Hi Hà, là nơi cần tiến hành xây dựng, lệnh cho đường Hi Hà nhận địa phận và tiến hành xây dựng.
(Sách 《Bố Lục》 ghi ngày Ất Dậu, 19 tháng 9.)
[42] Chiếu miễn cho dân bảo giáp ở Hà Bắc bị lũ lụt không phải tham gia tập luyện mùa đông.
(Ghi chép của Bố Lục ngày Ất Dậu.)
[43] Ngày Bính Tuất, Bảo Văn các đãi chế, Tri Hi Châu Tôn Lộ do xử lý việc ở Mạc Xuyên sai sót, được điều làm Tri Hà Nam phủ. Lấy Bảo Văn các đãi chế, Tri Khánh Châu Hồ Tông Hồi làm Tri Hi Châu.
(Ngày 12 tháng 9, Tông Hồi mới đến Hi Châu. Theo Lũng Hữu Lục, Tôn Lộ từ ngày 27 tháng 8 năm nguyên niên từ Khánh Châu chuyển sang Hi Châu, đến ngày 7 tháng 9 nhuận năm thứ hai thì chuyển sang Doanh Châu.)
[44] Ban đầu, Tôn Lộ nghi ngờ Vương Thiệm xảo quyệt khó kiểm soát, việc chiêu nạp người Miêu Xuyên,
Thiệm thực sự là người đi tiên phong, Vương Mẫn làm nhiệm vụ tiếp ứng. Thực chất là để Mẫn giám sát Thiệm. Thiệm cùng Mẫn đóng quân ở La Cách, Lũng Chu Hắc Thành, chuẩn bị tiến về Miêu Xuyên. Thiệm sợ Mẫn chia sẻ công lao, nên nói dối rằng: “Sáng mai ăn sáng xong rồi đi.” Mẫn tin là thật. Thiệm bèn lệnh cho quân lính xuất phát lúc nửa đêm, đến sáng sớm đã vào được Miêu Xuyên. Mẫn phát hiện muộn, chỉnh đốn đội ngũ rồi mới xuất phát, đến giờ Ngọ mới tới nơi, lúc đó Thiệm đã chiếm giữ kho tàng rồi. Thiệm bố trí Mẫn ở chùa, rồi sai tướng người Thổ đánh chiếm ba thành Lỗ Vượng, Mã Nhĩ, Nãi Tông. Lộ liền triệu Mẫn về Hà Châu, cùng nhau trở về Hi Châu, Thiệm ở lại đóng quân tại Miêu Xuyên. Lúc đó là ngày mùng một tháng 8, ngày Tân Mùi.
Ngày mồng 5, Ất Hợi, thủ lĩnh lớn của Tông Ca là Xá Khâm Cước xin quy phụ. Thiệm sai sứ thần Vương Vịnh dẫn 50 kỵ binh đến đó.
Khi Mẫn đem việc Thiệm chiếm giữ kho tàng báo với Lộ, Lộ vốn đã không ưa Thiệm, bèn hạ lệnh cho Thiệm về Hà Châu để đốc thúc lương thực. Thiệm thực sự là người đầu tiên đề xuất việc đánh Thổ Phồn, triều đình tin tưởng giao phó. Ban đầu thu phục Miêu Xuyên, liền lập tức kinh doanh Tông Ca, Thanh Đường, nhưng Lộ đột ngột tước binh quyền của Thiệm, lại phong Mẫn làm Đô Thống lĩnh, Thiệm làm Đồng Thống lĩnh. Mọi người đều cho là không ổn, Thiệm cũng dâng sớ tố cáo lên triều đình. Vương Vịnh vừa vào Tông Ca, các tộc Khương liên kết làm loạn, ban ngày công phá kho tàng, Xá Khâm Cước không ngăn được. Vương Vịnh leo lên lầu thành con, bỏ thang để tự vệ, gửi thư cầu cứu.
Kinh lược ty Câu đương công sự Vương Hậu lúc đó đang ở Miêu Xuyên, bàn bạc với Đồng Tổng lĩnh phiên binh tướng Cao Vĩnh Niên. Vĩnh Niên nói: “Đây là thời cơ thành bại của Thanh Đường, tình thế không thể chậm trễ. Nếu đợi An phủ từ Hà Châu trở về thì không kịp nữa.” An phủ tức là Thiệm. Vĩnh Niên xin đem 1000 kỵ binh đi, Hậu đồng ý. Vĩnh Niên bèn cùng phiên quan Lý Lận Chiên Nạp Chi đến Tông Ca. Lý Lận Chiên Nạp Chi là cháu của Lý Tôn, Tông Ca là bộ lạc của ông ta.
Ngày Kỷ Mão, qua hẻm Tỉnh Chương, Vịnh lại sai người đến thúc giục, Vĩnh Niên ngay hôm đó đã đến. Những người Khương làm loạn nghe tin, đều vượt thành bỏ chạy. Thu được hơn 4 vạn hộc lương thực. Từ Tông Ca đến Miêu Xuyên, đặt trạm ngựa truyền tin, mở đường hẻm Tỉnh Chương.
Ngày Ất Dậu, Mẫn dẫn quân bản bộ ra khỏi hẻm Tỉnh Chương, vào thành Tông Ca. Thiệm vẫn đóng quân ở Miêu Xuyên, lại cùng Mẫn tố cáo lẫn nhau.
Triều đình đang ủng hộ Thiệm, không đồng tình với Lộ, tước binh quyền của ông ta, nói: “Người đầu tiên đề xuất là Thiệm. Lộ muốn che giấu công lao của ông ta, nên mới sai Mẫn đến Miêu Xuyên chiêu nạp, lại bảo Thiệm nghe theo sự chỉ huy của Mẫn, sau đó lại đem Mẫn về Hi Châu, để tướng quan Mã Dụng Thành, Lý Trung thay thế Mẫn, làm nhiều việc gian trá.” Vì thế điều Lộ về giữ Hà Nam, sai Tông Hồi làm Thống lĩnh Hi Hà Lan Hội, đồng thời bãi chức Đô Thống lĩnh của Mẫn. Chương Đôn ban đầu ủng hộ Tôn Lộ, nhiều lần tranh luận với Tăng Bố.
Sau biết Lộ không thể ủng hộ được, bèn nói Lộ đối với mọi người thường không nói gì, đến khi ngồi một mình mới nói, giống như người mắc bệnh tâm thần. Bố liền tâu lên Vua. Vua nói: “Tôn Lộ quả thật mất trí.” Đôn cũng chê trách ông ta. Vua nói: “Lộ như thế, cần phải xử lý.” Bố nói: “May nhờ Hạt Chinh, Khê Ba Ôn đang giằng co chưa phân thắng bại, nên mới kéo dài lật lọng như vậy, chưa đến mức hỏng việc. Nếu không, há chẳng lỡ kế hoạch biên cương sao?”
(Đoạn này căn cứ vào hai bản ghi chép của Cao và Uông để bổ sung sửa chữa. Uông nói rằng Lộ sứ Mẫn thống chế quân mã, còn Thiệm làm phó, Thiệm chỉ huy tiền quân, Mẫn chỉ huy hậu quân. Xét: Lúc đầu khởi binh tiến vào Thanh Đường, Thiệm chỉ huy tiên phong, Mẫn làm mưu kế tiên phong, chưa từng phân chia tiền quân và hậu quân. Việc phong Mẫn làm Đô thống chế, còn Thiệm làm Đồng thống chế, là sau khi chiếm được Mạc Xuyên. Lệnh cho Thiệm đốc thúc lương thảo ở Hà Châu, thời gian này vào khoảng ngày mùng 5, mùng 6 tháng 8. Cao nói rằng ngày mùng 10, Lộ mới đổi mệnh lệnh, e rằng cũng có sai sót. Uông nói rằng Hồ Tông Hồi đến Hi Châu, liền trả lại chức Đô thống chế cho Thiệm, Uông lại sai. Xét theo Cao, Tông Hồi đến Hi Châu vào ngày 12 tháng 9, còn Mẫn nhận chỉ triều đình bãi chức Đô thống chế thực sự là ngày 21 tháng 8. Có lẽ triều đình sau khi điều Lộ về giữ Hà Nam, liền tiếp tục trả lại chức Đô thống chế cho Thiệm, không đợi Tông Hồi đến Hi Châu. Nay tham khảo những điểm hợp lý.
Nhật lục của Tăng Bố ngày Bính Tuất, cùng trình báo Vương Thiệm xin Kinh lược ty triệu tập Hà Châu, thủ lĩnh Tông Ca vừa xin quy thuận nhà Hán, đã phái sứ thần dẫn hơn 50 kỵ binh đến chiếm giữ thành Tông Ca, nhưng Kinh lược ty không chịu cung cấp binh mã, e rằng Khê Ba Ôn sớm tối sẽ vào Thanh Đường. Do đó ban chỉ, Tôn Lộ làm Tri Tây Kinh, Hồ Tông Hồi làm Thống soái Hi Hà, Cao Tuân Huệ làm Thống soái Hoàn Khánh. Thanh Đường đã loạn, Khê Ba Ôn vào thành Tông Ca. Vương Thiệm đầu tiên kinh doanh chiêu nạp, rồi vượt sông vào thành Mạc Xuyên. Tôn Lộ muốn che giấu công lao của Thiệm, bèn sai Vương Mẫn tâu rằng: “Kinh lược ty chỉ thị cho tiến vào Mạc Xuyên chiêu nạp, lại lệnh Vương Thiệm phải nghe theo sự chỉ huy của Vương Mẫn.” Sau đó lại đưa Vương Mẫn về Hi Châu. Nay lại dùng tướng quan Mã Dụng Thành, Lý Trung chiêu nạp bộ tộc Mạc Xuyên, phái Vương Thiệm về Hà Châu lo việc lương thảo, có lẽ muốn quy công về Kinh lược ty và đuổi Thiệm, khiến ông không được tham gia việc quân.
Triều đình nhận ra sự gian trá, nhiều lần hạ chỉ lệnh giao chuyên trách cho Vương Thiệm lo liệu. Chiếu chỉ chưa đến, trong khoảng thời gian đó, mệnh lệnh của Lộ trước sau không thống nhất, sai lầm ngày càng nghiêm trọng. Chương Đôn ban đầu ủng hộ, nhiều lần tranh luận với Bố, sau đó thấy lý lẽ không thông, bèn nói rằng Chương Tể từng nói, Tôn Lộ khi đối diện với mọi người thường không nói gì, nhưng khi ngồi một mình lại tự nói, giống như người mắc bệnh tâm thần. Bố ở trước Tam tỉnh cũng từng tâu lên như vậy. Hôm đó, Vua nói: “Tôn Lộ quả thật mất trí.” Đôn cũng ra sức chê bai. Lần tâu tiếp theo, Vua lại nói: “Tôn Lộ như thế, cần phải xử lý.” Bố nói: “Nhờ Hạt Chinh và Khê Ba Ôn đang giằng co chưa phân thắng bại, nên mới kéo dài và lộn xộn như vậy, chưa đến mức hỏng việc, nếu không, há chẳng làm hỏng kế sách biên cương sao.”
Mộ chí của Tôn Lộ chép: Lúc ấy bộ tộc Thanh Đường tự tàn sát lẫn nhau, thủ lĩnh lớn Tất Tư Bố Kết từ Hà Nam đến quy thuận, Lộ phái quân đón tiếp, còn thủ lĩnh Mạc Xuyên dẫn chúng quy phụ. Do đó đốt cháy cầu đường Tỉnh Chương, cắt đứt viện binh của Thanh Đường, chặn đứng chỗ hiểm yếu Nãi Tông, ngăn chặn đường tiến của quân Hạ, và đất đai Mạc Xuyên rộng mấy trăm dặm, dân số mấy vạn người đều thuộc về ta, triều đình bèn ban tên là Niết Châu.
Từ đó Thanh Đường suy yếu, Hạt Chinh bèn dâng đất đầu hàng. Mọi người bàn nên ban thưởng hậu hĩnh vàng lụa để khen ngợi việc họ đến quy thuận. Lộ nói: “Bộ tộc Khương loạn lạc, bỏ nguy tìm an, là lẽ thường. Nên dùng uy đức của Trung Quốc để vỗ về, khiến họ trở về nơi cũ mà thôi. Xưa Hán Vũ Đế thu nhận 50 vạn người của Hồn Tà, có thể lấy đó làm gương.” Mọi người lại nói, còn có Lũng Tạt chưa ra, có thể chiếm giữ Thanh Đường để tính kế ổn định. Lộ nói: “Cũng không phải, nên chiếm giữ thành Tông Ca, chiêu dụ các thủ lĩnh lớn như Tâm Mâu Khâm Chiên, thì Lũng Tạt tự khắc ra, và Thanh Đường sẽ yên.” Mọi người đều thán phục kế sách của ông. Việc mới bắt đầu, ông được điều về giữ Tây Lạc. Mạc Xuyên đầu hàng vào ngày 25 tháng 7 năm Bính Dần. Đặt Mạc Xuyên làm Niết Châu vào ngày mùng 4 tháng 9 nhuận năm Quý Dậu. Lộ được điều về Hà Nam vào ngày 16 tháng 8 năm Bính Tuất.)
[45] Hộ bộ Thị lang Cao Tuân Huệ được bổ nhiệm làm Bảo văn các Đãi chế, tri Khánh châu, thay thế Hồ Tông Hồi. (Việc ngày Bính Tuất.) Hôm sau, có chiếu cho Tông Hồi tiến hành xây dựng các thành trại ở Hoàn Khánh lộ xong, lại được thăng làm Bảo văn các Trực học sĩ.
(Việc ngày Đinh Hợi.)
Ban đầu, Thái Biện nói: “Cao Tuân Huệ vì có lời nói việc đáng khen trong thời Nguyên Hựu, được triệu về Hộ bộ. Chưa bao lâu, lại bổ nhiệm ra ngoài. Triều đình tuy vì việc chọn tướng nên bất đắc dĩ phải cho đi, nhưng dư luận bên ngoài chỉ nói rằng Tuân Huệ vì công kích Giả Chủng Dân mà trái ý chấp chính, nên bị đuổi đi.”
Vua hỏi: “Còn ai khác có thể sai phái không?” Chương Đôn đáp: “Cũng đã bàn bạc, nhưng không có ai đủ tài làm tướng.” Tăng Bố nói: “Nếu ban thêm chút vinh sủng, đủ để giải tỏa nghi ngờ của mọi người. Cũng đã bàn với Tam tỉnh, chỉ cần đổi làm Long đồ các Đãi chế.” Hoàng Lí nói: “Chỉ cần là Đãi chế là được.”
Vua nói: “Cho làm Bảo văn các Trực học sĩ.” Thái Biện nói: “Rất tốt.” Vua nói: “Cho làm Long đồ các Trực học sĩ cũng không sao.” Mọi người đều cho là tốt. Bố nhân đó nói rằng Tuân Huệ được thăng chức, thì Hồ Tông Hồi không thể không được bổ nhiệm chức vụ. Tông Hồi xây năm thành trại, vừa mới được phục chức Đãi chế, chỉ nhanh hơn hai tháng.
Vua nhìn các chấp chính hỏi: “Có hợp lý không?” Mọi người im lặng. Chỉ có Đôn và Hứa Tướng nói: “Nên ban ân.” Thế là Tông Hồi được bổ nhiệm làm Bảo văn các Trực học sĩ.
(Theo ghi chép của Bố ngày Đinh Hợi, việc thăng chức được ghi đầy đủ trong thực lục.)
[46] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu: “Tu sửa lại Hội Châu, cử ngay Tứ phương quán sứ, Tần Châu thứ sử, Tri Trấn Nhung quân Diêu Hùng làm Tri Hội Châu, kiêm Quản câu Duyên biên An phủ sứ, sung Hi Hà Lan Hội lộ Binh mã Đô giám. (Tháng 5 ngày Ất Mão, ban chiếu đầu tiên về việc kinh doanh. Tháng 9 ngày Canh Tý mùng một, hoàn thành công việc.) Đông thượng các môn sứ, Uy Châu thứ sử, Tri Đức Thuận quân Diêu Cổ quyền Quản câu Trấn Nhung quân, kiêm Quản câu Kinh Nguyên lộ Duyên biên An phủ ty công sự, kiêm Đệ ngũ tướng. Các chức vụ Thông phán, Chức quan, Tào quan, Đô giám, Giám áp, Tuần kiểm… ở Hội Châu đều thực hiện theo lệ của Tây An Châu. Ngoài việc bổ nhiệm Thông phán Hội Châu, các chức vụ còn thiếu đều do Kinh lược ty chọn cử quan lại tạm quyền Quản câu.”
[47] Ban chiếu rằng Vương Thiệm chiêu dụ được nhiều bộ tộc Tây Phiên, và đã thu phục thành Mạc Xuyên, đặc cách phục chức Lễ tân sứ, quyền Tri Hà Châu, Quản câu Đào Tây Duyên biên An phủ ty công sự.
[48] Lại ban chiếu cho thần núi Diệu Nga ở trại Linh Bình, Tây An Châu, đặt tên miếu là Linh Hữu.
[49] Ngày Mậu Tý, Giám sát Ngự sử kiêm quyền Điện trung Thị ngự sử Thạch Dự tâu: “Thần nghe nói nước sông ở Khuyết Thôn dâng cao, thế nước không quá hung dữ, nếu kịp thời cứu hộ thì có thể tránh được nguy cơ vỡ đê. Thế nhưng quan lại địa phương ngồi nhìn không cứu, cho rằng nếu thượng nguồn vỡ đê thì hạ nguồn sẽ giảm bớt, vì cửa sông dễ bị bồi lấp, may ra thoát được trách nhiệm. Đến nay toàn bộ sông chảy về phía bắc, nhấn chìm nhà cửa, ruộng đồng, gây nên đại họa này. Xin điều tra rõ ràng, nghiêm trị theo phép nước, để răn đe sự lừa dối.” Vua xuống chiếu cho Vương Tổ Đạo điều tra tâu lên.
(Cựu lục chép: Giám sát Ngự sử Thạch Dự tâu, nghe nói nước sông ở Giảm Thôn dâng cao, không quá hung dữ, vẫn có thể cứu hộ, nhưng quan lại địa phương ngồi nhìn, cho rằng nếu thượng nguồn vỡ đê thì hạ nguồn sẽ giảm bớt, vì cửa sông dễ bị bồi lấp, may ra thoát được trách nhiệm. Đến nay sông lớn chảy về phía bắc, nhấn chìm ruộng đồng, nhà cửa. Xin điều tra rõ ràng, cách chức trị tội, để răn đe sự lừa dối. Vua xuống chiếu cho Vương Tổ Đạo điều tra tâu lên. Sông thuận dòng chảy về phía bắc, tiên đế đã có chiếu chỉ, mà Thạch Dự cho là lừa dối, là sai.
Tân lục biện rằng: Sông lớn tràn bờ, không phải việc nhỏ có thể che giấu, đã điều tra thì phải biết rõ sự thật. Nếu quả như lời Thạch Dự nói nhấn chìm ruộng đồng, nhà cửa, thì cách chức trị tội quan lại, để răn đe sự lừa dối, là đúng. Nay không bàn việc thực hư, mà cho ngay lời Thạch Dự là sai, là do tư ý. Nay xóa bỏ 19 chữ.
Sách 《Tiên Vu Xước Truyền Tín Ký》 bàn việc sông chảy về phía bắc, phụ lục ngày 22 tháng 3 năm Thiệu Thánh thứ nhất, có thể tham khảo.)
[50] Xu mật viện tâu: “Gần đây có chiếu chỉ, lệnh cho Tôn Lộ, Miêu Lý xem xét việc ở Hội Châu, theo lệ của Kim Thành Quan ở Lan Châu, bắc cầu phao qua sông, xây dựng thành quách. Nay việc xây dựng ở Hội Châu vừa xong, e rằng sức chưa kịp.” Vua xuống chiếu cho Kinh lược ty chỉ huy Miêu Lý, nếu quả thật chưa xây dựng thành quách, thì lập tức tạm thời bắc cầu qua sông Hoàng Hà, chọn đất xây dựng phong đài, và nơi tuần tra đến, đánh dấu rõ ràng giới hạn, bao gồm cả khu vực cần xây dựng thành quách.
(Ngày 24.)
[51] Chiếu rằng các văn thư tiến trình lên điện đều phải phê gửi đến Tam tỉnh và Xu mật viện, không được trực tiếp phê thánh chỉ gửi đến các nơi. Người nào vi phạm, cơ quan tiếp nhận phải tâu lên.
[52] Ngày hôm đó, tù trưởng lớn của Thanh Đường là Tâm Mâu Khâm Chiên cùng vợ của Đổng Chiên là Công chúa Khiết Đan, vợ của A Lý Cốt là Công chúa giả của Hạ quốc và Công chúa giả của Hồi Cốt, sai tù trưởng Lý A Ôn Vượng cùng sáu người khác mang bảo ngọc đến thành Tông Ca để tỏ lòng thành. Vương Mẫn dụ dỗ họ về ý chiêu phủ của triều đình, ban cho áo bào, đai lưng và các vật phẩm khác, rồi ngay hôm đó cho họ trở về.
(Ngày 18, Mậu Tý.)
[53] Chủ nhân Thanh Đường là Khâm Chiên bị Lận Chiên và những người khác ép buộc, dời đến ở thành mới Thanh Đường, bỏ lại ấn tín ở thành cũ rồi đi. Trước đó có thư từ của người Phiên đến xin bổ nhiệm làm quan Hán, sau đó cùng vợ con cạo đầu làm tăng ni, vào chùa ở phía tây thành. Lúc đó là tháng 7, ngày Canh Ngọ. Theo tục lệ của người Phiên, những người xuất gia làm tăng ni thường không bị giết, Hạt Chinh chỉ muốn trốn chết mà thôi.
(Đoạn này cũng tham khảo từ hai bản ghi chép của Uông và Cao để bổ sung.)
[54] Chiếu phong tước Sùng Đức Hầu cho đền thờ Lệnh Doãn Tử Văn ở huyện Vân Mộng, châu An.
[55] Ngày Kỷ Sửu, Tuyên chính sứ, Phòng ngự sứ châu Lai, Nội thị áp ban Ngô Tĩnh Phương được bổ nhiệm làm Phó đô tri Nội thị hữu ban. Mấy ngày sau, Vua nói với Tăng Bố: “Tĩnh Phương đã lâu ở Tiền tỉnh, nên chuyển sang Hậu tỉnh.” Rồi lại nói: “Tiên đế từng sử dụng ông ta.” Tăng Bố nói: “Tiên triều ông ta cùng với Lương Tòng Chính đồng liệt ở Tiền tỉnh, quả thật đã lâu năm.” Vua lại nói: “Mỗi khi nhắc đến tiên đế, nước mắt tuôn rơi.” Tăng Bố nói: “Điều này mọi người đều biết, thật là xuất phát từ lòng thành.” Vua nói: “Đợi khi phê chuẩn xong sẽ chuyển sang Hậu tỉnh.” Sau đó bổ nhiệm làm Nhập nội phó đô tri.
(Việc bổ nhiệm Nhập nội phó đô tri diễn ra vào ngày 25, Ất Mùi.)
[56] Cắt sáu trại phía bắc thành An Tây để sáp nhập vào châu Hội.
(Theo ghi chép của Tăng Bố, ngày Ất Hợi.)
[57] Huyện Phu Diên tấu trình bản điệp của châu Hựu rằng: “Sứ giả chưa đến kinh đô, đã có sự nghi ngờ ngăn trở. Lại thêm các lộ đang xây dựng thành trại, bắt giữ dân chúng chưa dừng, xin ngừng lại.” Trả lời rằng: “Việc xây dựng ở các lộ, là do Tây Hạ gây rối trước đây đã được triều đình chỉ thị, bản lộ khó có thể dời văn thư để ngừng lại. Sứ giả đã đến kinh đô vào ngày mồng 2, đợi đến triều đình, tất sẽ có xử lý.”
(Sách 《Bố lục》 ghi ngày Kỷ Sửu.)
[58] Miêu Lí tấu: “Người thám thính của Hi Hà giết Nhân Đa Tẩy Trung, chém đầu không kịp, bị người Tây đoạt mất, chỉ lấy được con ngựa ô và khí giới của hắn. Tẩy Trung là em của Bảo Trung, xông ra chiến đấu, bị mọi người giết chết.”
[59] Chương Tiết tấu xin nghỉ hưu, chiếu chỉ đợi đến mùa xuân năm sau sẽ xin chỉ thị.
[60] Ngày Tân Mão, Kinh lược sứ Hi Hà Lan Hội lộ Tôn Lộ tâu: “Gần đây, thủ lĩnh lớn Tông Ca là Lạc Nạp đã đầu hàng thành này. Đã chỉ huy Vương Thiệm sai một hai viên sứ thần cùng với quan người Thổ là Lý Lận Chiên Nạp Chi đem theo quân lính người Hán và người Thổ đến giữ thành. Lại theo lời quan người Thổ Lý Lận Chiên Nạp Chi báo, Tâm Mâu Khâm Chiên và Thanh Quy Luận Chinh Kết ở Thanh Đường đã gửi thư xin đầu hàng, xin được quy thuận nhà Hán.
Hiện nay, các bộ tộc ở Thanh Đường đang rối loạn, lòng người bất định. Nếu sai quân đến Thanh Đường, các thủ lĩnh sẽ ngay lập tức đầu hàng. Đã sai Đô Kiềm hạt Vương Mẫn thống lĩnh quân Hán và quân Thổ ở Hi Hà, Dân Châu đến thành Tông Ca để tiếp ứng và chiêu hàng.”
Chiếu chỉ cho Kinh lược ty Hi Hà Lan Hội lộ: “Nếu Vương Thiệm đang ở thành Tông Ca, thì lệnh cho Vương Mẫn đến Mạc Xuyên để chiếu ứng. Nếu Vương Thiệm đã vào Thanh Đường, cần Vương Mẫn đến gần để ứng viện, thì chỉ huy đến thành Tông Ca.”
Lại tâu: “Lý Lận Chiên Nạp Chi sai người đưa thư nói rằng, Thanh Đường đã sai người đi đón Hạt Dưỡng Oai đến Thanh Đường làm chủ. Nay nghe nói Thanh Đường đã loạn, người đi đón chưa dám trở về. Lại vì Hạt Chinh đã dời ra ngoại thành Thanh Đường, nếu Hạt Dưỡng Oai thừa cơ dẫn quân thẳng vào Thanh Đường, thế lực đang mạnh, chưa chắc đã chịu quy thuận nhà Hán. Nếu chưa quy thuận, thì các bộ tộc ở vùng Tông Ca phía bắc sông chắc chắn sẽ theo Hạt Dưỡng Oai.
Điều này rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Hạt Dưỡng Oai ban đầu dẫn quân đến Tông Ca, vốn mong nhà Hán giúp mình làm chủ, nhờ thế lực để bình định đất cũ của Thổ Thị, nay đã thất vọng, tuy có ý quy thuận nhà Hán, nhưng trong lòng còn nghi ngờ, chưa chắc đã quyết định đầu hàng. Hiện đang trong lúc suy yếu, thế quân chưa mạnh, nên nhanh chóng xử lý, không thể chậm trễ, cũng chưa thấy có kế hoạch chiêu hàng cụ thể. Xem tình hình Thanh Đường hiện nay, đã có sự chia rẽ, Hạt Chinh chắc chắn sẽ đầu hàng. Nếu thêm quân tiếp ứng, đến Tông Ca phô trương thanh thế, việc lớn ắt sẽ thành.”
Chiếu chỉ: “Kinh lược ty Hi Hà Lan Hội lộ chỉ huy Vương Thiệm tạm ở Mạc Xuyên, Tông Ca, Thanh Đường để chiêu hàng các bộ tộc chưa đầu hàng, và trình bày các biện pháp xử lý, báo lên Kinh lược ty xem xét thi hành. Khi việc xong, nếu có thể trở về Hà Châu, thì báo lên Kinh lược ty xử lý.” Kinh lược ty tâu: “Người được gọi là Hạt Dưỡng Oai, chính là con thứ của Khê Ba Ôn là Lũng Tạt.” Lúc đó, triều đình đã có chiếu bãi chức Đô thống chế của Vương Mẫn, nhưng Vương Mẫn chưa nhận được chiếu.
(Sách 《Thanh Đường Lục》 chép hai việc này đều dựa theo 《Thực Lục》, nhưng có sửa chữa đôi chút. Tuy nhiên, 《Thực Lục》 đều chép vào ngày 21, còn 《Thanh Đường Lục》 lại chép là ngày 19 tháng 8. Không rõ vì sao.)
[61] Hà Đông lộ Kinh lược An phủ Đô tổng quản ty tâu rằng, các lộ Lân Phủ, Lam Thạch đã tiến hành xây dựng xong các trại Đại Hòa Cốc, Di Lặc Xuyên, [Vi Biện] La Lĩnh, Quật Tiết Lĩnh, Mã Khắc Mật Nương, Tiểu Hồng Nhai, Tinh Di, Ca Nhai Lĩnh. Chiếu rằng: “Đại Hòa Cốc ban tên là Đại Hòa Trại, Di Lặc Xuyên ban tên là Di Xuyên Trại, [Vi Biện] La Lĩnh ban tên là Thông Tần Trại, Quật Tiết Lĩnh ban tên là Ninh Hà Trại, Mã Khắc Mật Nương ban tên là Đại Hòa Bảo, Tiểu Hồng Nhai ban tên là Di Xuyên Bảo, Tinh Di Bảo ban tên là Thông Tần Bảo, Ca Nhai Lĩnh ban tên là Ninh Hà Bảo.
Thiết lập thêm Tướng thứ 13, lệnh quản lý các trại Thông Tần, Ninh Hà, Di Xuyên, đến khu vực tiếp giáp với Lân Phủ. Tướng thứ 9 quản lý các trại Gia Lô, Ngô Bảo, Thần Tuyền, Ô Long, đến khu vực tiếp giáp với Phu Diên lộ. Tướng thứ 9 trước đóng ở trại Ô Long, nay dời đến trại Gia Lô; Phó tướng trước đóng ở trại Thần Tuyền, nay dời đến trại Ô Long. Tướng thứ 13 mới thiết lập, sai Trang trạch Phó sứ Trương Thế Tông đóng ở trại Ninh Hà, Phó tướng sai Giáng thụ Cung bị khố Phó sứ, Chuẩn bị Tướng lãnh Lý Ẩn đóng ở trại Di Xuyên.
Binh mã phòng thủ ba trại mới xây, được điều từ Quân mã ty Lân Phủ lộ, quân Bảo Đức cùng các trại Ô Long, Thần Tuyền, Gia Lô, Ngô Bảo dọc sông. Điều động binh mã thượng phiên và trú bạc đến các nơi phòng thủ cùng các cung thủ, đều thuộc Tướng thứ 13 huấn luyện.
Phó tướng thứ 3 trước đóng ở trại Thần Mộc, nay trại này đã thuộc khu vực gần trong, dời đến trại Đại Hòa. Bộ đội Tướng thứ 9 vẫn thuộc về tướng này. Các tướng bên ngoài gồm Cung bị khố Phó sứ Cổ Quỳ, Cung phụng quan Diêm Hạo, Đội tướng Miêu Xương, Tá chức Cao Tuấn, Quân tướng Quách Duy Trung đổi thuộc Tướng thứ 13. Tướng thứ 9 lấy 7.000 người, Tướng thứ 13 lấy 6.000 người làm định ngạch. Lệnh Đô tổng quản ty lấy binh mã Hán, Phiền gần tiện trong lộ sung vào. Nếu không đủ, thì căn cứ số lượng binh mã cần thiết để phòng thủ, điều từ quân trú bạc bổ sung.”
Lại có chiếu rằng: “Lấy trại Đại Hòa thuộc về lộ Lân Phủ, lấy ba trại Thông Tần, Di Xuyên, Ninh Hà thuộc về lộ Lam Thạch, lấy bảo Thông Tần thuộc về trại Thông Tần, bảo Ninh Hà thuộc về trại Ninh Hà, bảo Di Xuyên thuộc về trại Di Xuyên, bảo Đại Hòa thuộc về trại Đại Hòa. Các bảo này xin cấp cho sứ thần, lương thực ngựa, cỏ khô, đều do các trại quản lý cấp phát.
Các chức tướng quan, trại chủ, giám áp, bộ đội tướng, cùng các chức bả tiệt, tuần kiểm, khi mãn nhiệm kỳ được thưởng đều theo như chỉ huy đã ban cho trại Thần Tuyền, Ô Long, bảo Tam Giao.
Lệnh bỏ việc phòng thủ các bảo trại ở Hà Lí, các chỗ trước đây phải sai phái các châu cung tiễn thủ, tróc sinh, phiên binh đến canh giữ, đều đã bãi bỏ, không còn sai phái nữa. Số người ngựa này chia làm ba phiên. Các cung tiễn thủ do châu Lam quản lý, luân phiên sai đến tướng thứ mười ba, chia ra đóng ở hai trại Di Xuyên và Ninh Hà. Các cung tiễn thủ do châu Thạch quản lý, luân phiên sai đến tướng thứ chín, chia ra đóng ở các trại Thông Tần, Thần Tuyền, Ô Long.”
Từ lộ Hà Đông đến việc ban tên bảo Ninh Hà[5] có thể dùng bản cũ, từ trại Đại Hòa đến trại Ô Long có thể dùng bản mới. Nay đều liệt kê ở đây. Sách mới chép: Kinh lược ty lộ Hà Đông tâu rằng, các lộ Lân Phủ, Lam Thạch tiến hành xây dựng bốn trại Đại Hòa Cốc và bốn trại Mã Khắc Mật Nương, đều đã hoàn thành.
Chiếu ban tên bốn bảo là Đại Hòa, Di Xuyên, Thông Tần, Ninh Hà, mỗi bảo đều lấy tên trại làm tên, lấy trại Đại Hòa và bảo Đại Hòa thuộc về lộ Lân Phủ, các trại Thông Tần, Di Xuyên, Ninh Hà và bảo thuộc về lộ Lam Thạch. Thiết lập thêm tướng thứ mười ba, lệnh quản lý các trại Thông Tần, Ninh Hà, Di Xuyên đến địa phận Lân Phủ, sai Trang trạch phó sứ Trương Thế Tông làm tướng thứ mười ba, đóng ở trại Ninh Hà. Giáng chức Cung bị khố phó sứ Lý Ẩn làm phó tướng, đóng ở trại Di Xuyên.
Lấy tướng thứ chín quản lý các trại Gia Lô, Ngô Bảo, Thần Tuyền, Ô Long đến địa phận Phu Diên, tướng thứ chín dời đến đóng ở trại Gia Lô, phó tướng đóng ở trại Ô Long. Phó tướng thứ ba dời đến đóng ở trại Đại Hòa. Tướng thứ chín lấy bảy nghìn người, tướng thứ mười ba lấy sáu nghìn người làm định mức, lấy binh mã Hán, Phiên của bản lộ sung vào. Nếu không đủ, thì lấy binh mã trú bạc bổ sung.
Các bảo trại ở Hà Lí, trước đây phải sai phái các châu cung tiễn thủ, tróc sinh, phiên binh đến canh giữ, đều đã bãi bỏ, có thể chia số người ngựa này làm ba phiên. Các cung tiễn thủ do châu Lam quản lý, luân phiên đến hai trại Di Xuyên và Ninh Hà. Các cung tiễn thủ do châu Thạch quản lý, luân phiên đến các trại Thông Tần, Thần Tuyền, Ô Long.
(Truyện Lâm Hi chép: Hi đến hơn một tháng, kinh hoạch trại Thần Tuyền của châu Thạch, thành Ngân của châu Lân, mở đường giữa hai nơi mà tiến vào địch cảnh. Tuyển tướng sĩ đi xem xét, lại sai thuộc hạ hội quân mã các lộ Lân Phủ, Lam Thạch ở ngoài biên giới, vẽ bản đồ đất đai, tổng cộng hai trăm mười bốn dặm rồi tâu lên. Hợp quân hai lộ tổng cộng mười vạn tiến hành xây dựng, mười ba ngày thì hoàn thành tám thành.
Triết Tông xem tấu, khen ngợi sự thần tốc, vì các lộ tiến hành xây dựng tuy nhiều, nhưng chưa có việc xây tám thành trong mười ngày. Truyện này khen ngợi Hi quá mức, thực ra là nhờ Tôn Lãm kinh hoạch nên mới hoàn thành nhanh chóng.
Chí mộ Tôn Lãm của Tất Trọng Du có thể tham khảo. Truyện Lâm Hi xem chi tiết ngày hai mươi lăm.
Tháng tư năm Đại Quan nguyên niên, truyện Chiết Khắc Hành chép: Khi ấy có chiếu lộ Hà Đông tiến hành xây dựng tám trại, mở đường đến Phu Diên. Quan soái sai Tần Hi Phủ đến, bàn việc xây dựng trước sau. Khắc Hành xin dùng quân hai lộ cùng lúc tiến sâu, xây trại xa trước, khiến địch không kịp phòng bị, rồi quay về xây trại gần, thì đã nằm trong tầm kiểm soát. Hi Phủ nói: “Từ gần đến xa, là phép xây dựng.” Khắc Hành nói: “Không phải vậy, việc có kỳ chính, nay tám thành đã định, nhân khí quân sĩ đang hăng, lợi ở chỗ thần tốc, nếu chậm trễ, khí quân sẽ suy.”
Hi Phủ cố chấp không nghe, Khắc Hành dâng cả hai kế, quan soái dùng kế của Khắc Hành, cuối cùng xây thành. Tám trại xong, có tin địch đến, các tướng đều giới nghiêm. Khắc Hành xin giải giới nghiêm, mọi người nói: “Tin biên giới rất gấp.” Khắc Hành nói: “Chúng tự gây rối mà thôi.” Quả nhiên đúng như vậy. Việc này nên khảo cứu kỹ rồi thêm vào.)
[62] Lữ Huệ Khanh tấu: “Xin cho phép người Tây Hạ theo lệ cử sứ sang dâng lễ vật và tiến hành viếng tế.” Vua ra lệnh cho tâu lên để nghe chỉ dụ triều đình.
(Theo sách 《Bố lục》, ngày 21 Tân Mão, ngày 25 Ất Mùi, được phép tiếp nhận.)
[63] Kinh lược ty Quảng Tây tâu: “Người An Hóa Man ở động Nghi Châu, khoảng hơn ba nghìn người, đến vây đánh trại Đức Cẩn, giao chiến với quân triều đình, bị đánh bại và tan chạy về động. Chém được bảy thủ cấp giặc, đã sai quyền Tri Nghi Châu Kiềm hạt Ung Bân dẫn binh mã đến ứng cứu.” Vua xuống chiếu cho Kinh lược ty nghiêm khắc chỉ huy các động Nghi Châu, đồng thời sai tướng sĩ và quan lại các thành trại dò xét tình hình quân Man tập hợp, hư thực ra sao, kịp thời phòng bị. Nếu quân Man lại đến quấy nhiễu, lập tức chỉnh đốn quân ngũ, nhân cơ hội tiêu diệt.
[64] Ngày Nhâm Thìn, vì hoàng tử mới sinh, Vua mở yến tiệc ở điện Tập Anh để khoản đãi quần thần.
[65] Vương Mẫn đóng quân ở thành Tông Ca, Tôn Lộ nhiều lần gửi hịch thúc giục Mẫn tiến vào Thanh Đường. Mẫn cùng các tướng muốn dùng quân nhẹ tiến vào. Cao Vĩnh Niên nói: “Thanh Đường tự phế bỏ chủ của họ, ắt có kẻ gian hùng được lòng dân. Nay tuy họ đã xin hàng, nhưng chưa chắc toàn bộ dân chúng đều nghe theo. Cần phải dùng trọng binh uy hiếp, dùng hậu lộ để kết giao, vừa dùng ân vừa dùng uy mới được. Nếu không, sự việc ắt không thành.” Vĩnh Niên lại khuyên Mẫn: “Vương Thiệm lúc đầu chưa kinh doanh, nay không tham gia trước, e sau này hối hận.” Mẫn nghe theo lời ấy.
Hôm đó, Mẫn nhận chỉ bãi chức Đô thống lĩnh, chưa kịp đi. Tù trưởng lớn là Thanh Quy Luận Chinh Kết cùng bốn mươi chín người đến đầu hàng. Ngày hôm sau Quý Tỵ, Hạt Chinh dẫn con trai và mấy chục người thân tín chạy đến Tông Ca. Mẫn ra thành nhận hàng. Ngày hôm sau, đưa Hạt Chinh về Mạc Xuyên.
Trước đó, Hạt Chinh đã cạo đầu làm sư để tránh chết, lại nghe tin Tiên La Kết mưu đón Khê Ba Ôn lập làm chủ, sợ họa khó dứt. Lại biết quân triều đình đã vào Tông Ca, địa thế gần, nên bỏ chạy. Chín ngày sau, Vương Thiệm từ Mạc Xuyên đưa Hạt Chinh về Hi Châu.
(Ngày 22, Vương Mẫn nhận chiếu bãi chức Đô thống lĩnh, trở về Hà Châu.)
[66] Ngày Quý Tỵ, Tả triều nghị đại phu, Bảo Văn các đãi chế, Tri Dĩnh Châu Chương Hoành mất.
[67] Ngày Giáp Ngọ, Xu mật viện tâu rằng: Kinh lược sứ Lâm Hi của Hà Đông lộ tấu trình: “Tiên đế vào niên hiệu Nguyên Phong đã tiến hành xây dựng ba trại Mễ Chi, Gia Lô và Ngô Bảo ở Phu Diên lộ, lấy Gia Lô và Ngô Bảo thuộc về Hà Đông lộ. Từ đó, dân chúng ở Lam châu và Thạch châu bắt đầu đóng quân ở phía tây sông, nhưng địa phận giặc ở ngay trước mắt, muốn ra ngoài cũng không thể, nhìn về Lân châu và Phủ châu thì còn xa đến mười dặm.
Từ năm ngoái khôi phục Gia Lô, năm ngoái xây Thần Tuyền, năm nay xây Ô Long, thông suốt với Phu Diên, dần dần tạo thành lá chắn. Nay lại từ Ngân Thành phía bắc đến Thần Tuyền phía nam, trong phạm vi mấy trăm dặm, lầu gác nhìn thấy nhau, tiếng gà chó nghe rõ. Phía đông Hoành Sơn, toàn bộ đất Hán đã khôi phục; tiền đồn tiến sâu vào vùng đất hoang; quân mã Tần, Tấn hỗ trợ lẫn nhau.
Từ đây, Lam châu và Thạch châu trở thành biên giới thứ yếu, Lân châu và Phủ châu không còn bị cô lập, thực sự nhờ vào việc Tiên đế khởi đầu xây dựng Gia Lô, tạo nền tảng thông đạo cho ngày nay. Mong rằng thiết lập Gia Lô thành quân, ban tên đẹp để làm rạng rỡ thánh liệt của Nguyên Phong.” Chiếu lệnh đặc biệt xây dựng trại Gia Lô thành Tấn Ninh quân.
(Ngày 14 tháng 9 phân lộ, ngày 25 tháng 9 tăng thêm quân. 《Tăng Bố nhật lục》 chép: Cùng trình tấu sự tình của Vương Thiệm ở Hi Hà, lại trình tấu của Tôn Lộ, trước sau chiêu dụ được hơn ba nghìn thủ lĩnh lớn nhỏ và tăng nhân Tây Phiên. Lại có tấu của Hà Đông, xin lập Gia Lô thành quân. Chiếu lệnh lấy trại Gia Lô làm Tấn Ninh quân, lấy Tri quân làm An phủ sứ dọc biên giới Lam Thạch lộ, kiêm Đô tuần kiểm sứ của Lam châu, Thạch châu và Thấp châu, Tri châu Thạch châu không kiêm Đô tuần kiểm nữa, từ Tri quân trở xuống nghe theo Kinh lược ty tấu cử, một lần thiết lập sáu chức vụ gồm Thông phán, Chức quan, Đô giám, Tào quan và Chủ bạ, bãi bỏ mười tám chức vụ quan trại dọc sông. Nay Tấn Ninh sáp nhập vào các trại bảo, thiết lập mười chín chức vụ, chỉ tăng thêm một chức Tri quân. Lam châu giảm một Thông phán và một Chức quan, nên trừ Đại Hòa trại và bảo thuộc về Lân Phủ lộ, sáu trại bảo còn lại cùng Thần Tuyền, Ô Long, Ngô Bảo đều thuộc về Tấn Ninh.)
[68] Tôn Lộ tấu rằng, trước sau đã chiêu dụ được hơn ba nghìn người là các thủ lĩnh lớn nhỏ người Tây Phiên, tăng lữ Phiên, v.v.
(Bố lục ngày Giáp Ngọ.)
[69] Miêu Lí tấu: “Thành Hội Châu cách sông hơn ba trăm bước, tên đá không tới được, không thể bắc cầu. Lại trong sông có bãi đá ngầm, từ bãi giữa đến bờ bắc sông dài năm dặm, vách đá dựng đứng, không có chỗ nào có thể đặt cửa ải.”
(Bố lục, ngày Giáp Ngọ 17. Xét rằng tấu chương này đã thấy ở chú thích ngày Mậu Thìn tháng 7, ở đây lại xuất hiện.)
[70] Ngày Ất Mùi, Đoan Minh điện học sĩ, Trung đại phu, Kinh lược an phủ sứ Hà Đông lộ, Tri Thái Nguyên phủ Lâm Hi được thăng làm Thái trung đại phu, Tư chính điện học sĩ, do việc xây dựng xong tám trại bảo Đại Hòa và các nơi khác.
(Tôn Lãm bị bãi chức ở Thái Nguyên vào ngày 25 tháng 4, Lâm Hi thực tế đã được bổ nhiệm từ Hàng Châu làm Đoan Minh đến thay từ ngày 21 tháng giêng.)
[71] Triều phụng đại phu, đề cử Sùng Hi Quan Tôn Lãm được bổ nhiệm làm Bảo Văn các đãi chế, tri châu Quang Châu, vì trước đây làm tri châu Thái Nguyên, đã hoàn thành việc xây dựng các trại Ô Long và Thần Tuyền.
(Theo Bố lục: Hôm nay, do các lộ đã hoàn thành việc xây dựng, Lữ Huệ Khanh được điều động trấn nhậm, Lâm Hi được cải làm Tư chính, rồi thăng làm Thái trung đại phu, Tôn Lãm được phục chức Bảo chế, và được bổ nhiệm đến một quận nhỏ. Vua nói: “Lãm chỉ sợ lời người ta chưa thôi.” Ban đầu định cho thăng chức, sau lại lệnh cho phục chức. Việc Lữ Huệ Khanh điều động trấn nhậm vào ngày Bính Thân.
Theo truyện Lâm Hi: Ông được bổ nhiệm làm Đoan Minh điện học sĩ, tri phủ Thái Nguyên, tâu rằng ở biên giới mới của Hà Đông cần tuyển mộ cung tiễn thủ, xin đặt riêng chức đề cử quan để đốc thúc việc huấn luyện. Lâm Hi trong thì thúc giục các quan lại, ngoài thì phân phái tướng tá, việc lớn nhỏ đều tự mình quyết đoán. Văn thư ban đêm đều hợp với tình hình.
Hợp binh lực hai lộ tổng cộng mười vạn người tiến hành xây dựng, trong mười ba ngày thì hoàn thành việc nhập thành. Lâm Hi tâu rằng: “Thần đã xây dựng bốn trại, bốn bảo, địa hình hiểm trở, kéo dài hơn ba trăm dặm. Khống chế hơn bốn mươi con đường của giặc, phía tây là đất sa mạc, và lộ này đã chiếm hết Hoành Sơn.
Trước đây, từ Gia Lô đến Lân Phủ, qua lại sông, thường mất mười ngày, nay đi thẳng bên ngoài, một khi có lệnh truyền, ngày đêm có thể đến. Lại tiếp giáp trực tiếp với Phu Diên, hỗ trợ lẫn nhau. Biên giới ngoài sông mới được thông suốt. Xin ban tên cho các bảo trại để củng cố biên giới.”
Triết Tông xem tấu, khen ngợi sự thần tốc. Vì các lộ tuy xây dựng nhiều, nhưng chưa có nơi nào xây tám luỹ trong mười ngày. Ông được thăng làm Tư chính điện học sĩ, Thái trung đại phu. Các bảo trại được ban tên là Đại Hòa, Di Xuyên, Ninh Hà, Thông Tần. Lâm Hi lại tâu[6], xin lập Gia Lô làm Tấn Ninh quân, và đặt tám bảo trại dưới quyền quản lý.
Từ đó, bỏ bớt các bảo trại ven sông, đặt bến đò, bắc cầu qua sông để di chuyển quân đồn trú. Lại tâu, xin đặt Ty Doanh Điền ở vùng biên giới mới, tuyển mộ binh dân để cày cấy. Triều đình phái người kiểm tra thực tế biên giới, mỗi năm thu được hơn mười vạn thạch thóc.)
[72] Phu Diên tâu, châu Hựu gửi thư báo Tây Hạ muốn nhân việc quốc mẫu qua đời, cử sứ giả đến dâng lễ vật. Lữ Huệ Khanh nói: “Người Tây Hạ tỏ ra cung thuận không giả dối, xin cho tiếp nhận biểu tấu và cử hành lễ điếu tế.” Chiếu lệnh nhận thư của châu Hựu, dụ rằng đợi tâu lên triều đình nhận được chỉ dụ, sẽ gửi thư báo lại.
(Bố lục ngày 25 Ất Mùi, ngày 21 Tân Mão, lần đầu lệnh nghe theo chỉ dụ.)
[73] Chiếu lệnh Hi Hà nhanh chóng xem xét việc xây dựng đập Thằng Xuyên.
(Bố lục ngày Ất Mùi.)
[74] Nội thị phó đô tri Ngô Tĩnh Phương được bổ làm nhập nội phó đô tri.
(Tôn Địch nói: Ngô Tĩnh Phương ba triều theo hầu, khi Huy Tông lên ngôi, chỉ mang chức Tả tàng khố phó sứ cùng với chức áp ban tiền tỉnh, cần xem xét thêm.)
[75] Hôm đó, Xu mật viện lại vào chầu. Vua bảo Tăng Bố rằng: “Chức Trung thư xá nhân còn khuyết, thật chưa có người nào có thể bổ nhiệm.” Bố tâu: “Nếu bổ theo thứ tự, thì Khởi cư lang, Xá nhân đều nên thăng chức.” Vua nói: “Chu Thường vừa mới được bổ, còn Tôn Kiệt là người thế nào?” Bố tâu: “Việc chức vụ cũng khá chấn chỉnh, nhưng chưa biết văn chương thế nào.”
Vua nói: “Bàn việc Giả Chủng Dân cũng đều hợp lý.” Bố tâu: “Cao Tuân Huệ bàn việc Chủng Dân cũng hợp lý.” Vua nói: “Tuân Huệ lại được bổ ra ngoài.” Bố tâu: “Thần trước định tiến cử làm Đô thừa chỉ, như Tuân Huệ am hiểu việc, thật khó được.”
Vua hỏi: “Ai có thể làm tướng?” Bố tâu: “Thật khó tìm người. Tôn Lãm vừa mới phục chức, chưa thể thăng ngay.” Vua nói: “Hãy đợi đã.” Bố lại tâu: “Người giỏi từ chương lại càng khó tìm. Như hôm trước yến Long Hỷ, việc mừng của triều đình, lời nhạc chương không có bài nào đáng, không đủ để ca ngợi ý mừng của triều đình.”
Vua nói: “Thật không có văn chương gì đáng kể, rất ít, chỉ vài câu thôi.” Bố tâu: “Như việc hoàng tử ra đời, ban đức âm, cùng bốn phương chung vui, lời chiếu cũng không đủ xứng với việc lớn.”
Vua cười lớn, rất cho là phải. Nhân đó nói: “Tưởng Chi Kỳ thế nào?” Bố tâu: “Văn chương của Chi Kỳ tuy dài dòng, nhưng cũng có chỗ đáng kể, thỉnh thoảng có câu hay, không thể so với Thái Kinh.” Vua nói: “Thái Kinh thật không thể so với Chi Kỳ.” Bố tâu: “Sao thoát được thánh giám!” Nhân đó nói: “Người giỏi văn học tuy khó tìm, nhưng thiên hạ rộng lớn, thời văn vật hưng thịnh, há lại không có người? Chỉ vì chấp chính có sở thích riêng, nên nhân tài bị ngăn trở nhiều. Như Trần Quán, văn chương làm Xá nhân còn dư, nhưng chấp chính không muốn dùng. Bệ hạ trước đây vượt qua mọi luận bàn, thăng Diệp Đào, Trầm Thù, đều xứng chức. Nay như Đào, chưa thấy người nào.”
Vua hỏi: “Trong các Lang quan có người giỏi văn không?” Bố tâu: “Tam tỉnh tiến cử, chỉ như Diệp Lệ.” Vua hỏi: “Đặng Phỉ thế nào?” Bố tâu: “Thần không quen, cũng không biết văn chương thế nào. Chỉ như hôm trước khuyết Xá nhân, Tam tỉnh dùng Lưu Chửng tạm quyền, đến khi chế từ ban ra, bị thiên hạ chê cười.”
Vua lại hỏi: “Lưu Quỳ thế nào?” Bố tâu: “Cũng không biết Quỳ có văn chương không? Nhưng chỉ như Quỳ, nhân vật cũng có thể tiến cử. Bệ hạ lo việc khuyết quan trong ngoài, thật là việc cấp bách hiện nay. Như Thiểm Tây, Hà Đông, Hà Bắc ba lộ đều khuyết Đề hình, Thiểm Tây chỉ có Tôn Bôn một người, lại vừa đi thể lượng đến ba lộ đều là nơi dạy bảo giáp mùa đông, há có thể để khuyết hết? Lại như Hoài Nam hai Chuyển vận sứ đều bãi, cũng không bổ người. Như thế, các lộ há không thiếu việc, mong bệ hạ lưu tâm.” Vua nhiều lần cho là phải.
(Tôn Bôn đi thể lượng, vào ngày mồng 3 tháng 9 nhuận.)
[76] Ngày Bính Thân, Lữ Huệ Khanh, chức Bảo Ninh quân Tiết độ sứ, Kinh lược An phủ sứ Phu Diên lộ kiêm Tri Diên An phủ, được đặc cách phong Kiểm hiệu Tư không, đổi làm Vũ Thắng quân Tiết độ sứ[7], được tăng thực ấp và thực phong, do việc xây dựng xong trại Noãn Tuyền và thành Kim Thang.
[77] Lưu Duy Giản, chức Cố nhập nội Áp ban, được tặng Chiêu Hóa quân Lưu hậu, được đặc cách tặng Tiết độ sứ, do ân điển theo hầu Long nha.
(Theo 《Bố lục》, Lưu Duy Giản mất vào ngày 28 tháng 3 năm Thiệu Thánh thứ 3.)
[78] Hoàn Khánh tâu việc Trương Thành và những người dưới quyền lạm thưởng. Chiếu rằng: “Các tướng tá và quan người Phiên được miễn giáng chức. Những người dưới chức Tá chức, theo lệ những người lạm thưởng ở Hi, Tần, sẽ bị giáng chức xuống các danh mục như Điện thị, Quân tướng, Hiệu dụng.”
(Theo 《Bố lục》 ngày Bính Thân.)
[79] Ngày Đinh Dậu, chiếu rằng các tông nữ sau khi chồng mất, mãn tang trở về cung, nếu muốn cải giá thì được phép.
[80] Xu mật viện tâu: “Vương Thiệm và các quan khác tâu rằng, việc chiêu nạp Hoàng tử Hạt Chinh của Thanh Đường cùng các thủ lĩnh lớn, sắp sửa về với triều đình, xin ban chiếu chiêu nạp và ban ân thưởng.”
Chiếu rằng: “Hạt Chinh vẫn giữ chức cũ như lúc mới bổ nhiệm, và ban cho áo đối, đai vàng, đồ bạc, lụa là. Khê Ba Ôn được ban ân như Hạt Chinh.
Hạng nhất như Tâm Mâu Khâm Chiên, Kết Ngõa Xước, được bổ làm Thứ sử chính nhiệm, ban bạc, lụa, tiền mỗi thứ ba nghìn; hạng hai được bổ làm Chư ty sứ kiêm Thứ sử quận Dao, ban bạc, tiền, lụa mỗi thứ hai nghìn; hạng ba được bổ làm Chư ty phó sứ, ban bạc, lụa, tiền mỗi thứ một nghìn; hạng tư được bổ làm Nội điện sùng ban, ban bạc, lụa, tiền mỗi thứ năm trăm; hạng năm được bổ làm Tả thị cấm, ban bạc, lụa, tiền mỗi thứ hai trăm. Đều ban áo gấm.
Thứ sử được ban đai vàng, Chư ty sứ trở xuống được ban một chiếc đai mạ vàng. Nếu có em cháu, con cháu và người thân tín đi theo, cũng sẽ được bổ nhiệm chức vụ tương ứng. Các thủ lĩnh nhỏ trở xuống, giao cho Kinh lược ty xem xét tình hình, bổ nhiệm từ chức Quân chủ trở xuống đến Phó sứ, Binh mã sứ. Những điều chưa nói hết, tâu lên xin chỉ dụ, sẽ ban ân thưởng tương ứng.”
(Bản mới sửa chữa rằng: Xu mật viện tâu, Vương Thiệm và các quan khác tâu việc chiêu nạp Hoàng tử Hạt Chinh của Thanh Đường cùng các thủ lĩnh lớn, sắp sửa về với triều đình, xin ban chiếu chiêu nạp và ban ân thưởng. Chiếu rằng, Hạt Chinh vẫn giữ chức cũ, ban áo đối, đai vàng, đồ bạc, lụa là, Khê Ba Ôn được ban ân như Hạt Chinh. Hạng nhất như Tâm Mâu Khâm Chiên, Kết Ngõa Xước, được bổ làm Thứ sử chính nhiệm, tiếp đến Thứ sử quận Dao, đến Tả thị cấm, đều ban vàng bạc, áo gấm, đai, có phân biệt. Những người khác chưa nói hết, giao cho Kinh lược ty tâu lên xin chỉ dụ, sẽ ban ân thưởng tương ứng.)
[81] Hạt Chinh đã đầu hàng, Tiên La Kết lại thuyết phục Tâm Mâu Khâm Chiên cùng các người khác và công chúa nước Khiết Đan, Hạ, dẫn hai trăm kỵ binh đón Khê Ba Ôn, lập con thứ là Lũng Tạt làm quốc chủ. Đại tù trưởng vùng Hà Nam là Thổi Ma dẫn một trăm kỵ binh thân hành hộ tống.
Ngày Mậu Tuất, vào thành Thanh Đường. Ban đầu, Tiên La Kết mưu tính phò Chước Tạt và đuổi Hạt Chinh, nhưng không thành, bèn thúc giục Vương Thiệm mưu đồ đánh chiếm Thổ Phồn. Hạt Chinh cuối cùng bị Khâm Chiên và những người khác đuổi đi. Tiên La Kết tự cho rằng ý mình đã đạt, bèn không muốn thuộc về nhà Hán nữa, nên lại phò Lũng Tạt.
(Sách 《Thanh Đường Lục》 chép: Ngày 28 tháng 8, Tâm Mâu Khâm Chiên cùng công chúa nước Khiết Đan, Hạ, dẫn ba trăm kỵ binh đón Khê Ba Ôn vào Thanh Đường, lập con là Lũng Tạt làm quốc chủ. Người Hạ cũng dẫn hơn năm nghìn kỵ binh đánh Tư Lỗ Đan và Nãi Tông bảo, Vương Thiệm dùng quân Phiên đánh lui. Chiếu cho Miêu Lí, Khang Vị, Lý Trừng chọn binh mã cùng Vương Thiệm tiến vào chiếm Thanh Đường. Tăng Bố nói rằng việc này xảy ra vào ngày 8 tháng 9.
Sách 《Bố Lục》 chép: Ngày Đinh Dậu, cùng trình tấu của Vương Hậu, Hạt Chinh, Tâm Mâu Khâm Chiên đều có ý quy thuận nhà Hán, nếu quân mã của Vương Mẫn, Vương Thiệm đến sớm thì Thanh Đường có thể bình định ngay, xin ban vật phẩm chiêu dụ. Nhưng Vương Thiệm ngày 15 tấu rằng đã đến Mạc Xuyên, còn Vương Mẫn đã dẫn năm mươi kỵ binh đi trước đến Tông Ca thành. Nói rằng Vương Mẫn không quen thuộc tình hình Tây Phiên, nếu nhân tâm chưa thuận, không thể rút lui. Xin xem xét chỉ đạo.
Lại nói, Hạt Chinh, Tâm Mâu Khâm Chiên trước đây nhiều lần sai người muốn quy thuận nhà Hán. Sau đó Tôn Lộ lệnh Vương Thiệm trở về Hà Châu. Nhưng nghe nói Tâm Mâu Khâm Chiên cùng công chúa nước Khiết Đan, Hạ đã sai hai con ngựa, một chở áo bào gấm da hổ, một chở yên cương trang sức, đi đón Khê Ba Ôn, Lũng Tạt vào Thanh Đường, nhân tâm đã thay đổi, đang trong lúc chiêu dụ. Tôn Lộ lại tấu xin hai nghìn áo gấm, một nghìn đai bạc, hai trăm ghế xếp và lọng. Chiếu lệnh Hộ bộ chế tạo đủ số, sai sứ thần áp giải đến Kinh lược ty, và chỉ huy Vương Mẫn theo chỉ đạo ngày 19, ứng phó gần đó. Vương Thiệm không được vi phạm gây sự.
Lại lệnh dùng thưởng cách chiêu dụ Hạt Chinh. Hạt Chinh được giữ chức cũ, Khê Ba Ôn được ơn như Hạt Chinh, Tâm Mâu Khâm Chiên được làm Thứ sử chính nhiệm, ban ba nghìn lượng bạc, lụa, tiền. Những người khác được ban chức Dao quận Chư ty sứ, phó[8], Sùng ban, Thị cấm, ban thưởng vàng lụa cũng có sai biệt.)
[82] Ngày đó, hơn 5.000 kỵ binh người Hạ vào cướp phá Tư Lỗ Đan và Nãi Tông Bảo, Vương Thiệm đánh đuổi chúng.
(Tấu trình đến vào ngày 15 tháng 9, tháng này nên cử sứ giả phương Bắc. Ngày Tân Dậu tháng 9, sách 《Bố Lục》 chép: Tào Bình làm Phó sứ sinh thần, Lý Hi Đạo làm Phó sứ chánh đán, ngày Đinh Tỵ tháng 10 Hi Đạo chết. Năm Chính Hòa thứ 8 tháng giêng, truyện Hàn Túy Ngạn có thể tham khảo. Hoặc là năm Thiệu Thánh thứ 3, thứ 4, năm Nguyên Phù thứ nhất, cần xem xét kỹ hơn.)
[83] Tháng đó, châu Thư tâu rằng, sở Chế khám châu Dương gửi văn thư cho cựu Phát vận sứ Lữ Ôn Khanh, nguyện đến châu Thư cư trú, nghe theo chiếu chỉ. Ngày Quý Dậu đến châu, ngày hôm sau thì chết.
(Điều này căn cứ theo báo Để tăng thêm, Ôn Khanh là kẻ hung ác, đặc biệt ghi lại.)
- 'Thụ' trong 'tỷ thụ nguyên phù' nguyên là chữ 'Thụ', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 Dư phục tam chi nhất và 《Tống sử》 quyển 148 Lễ chí sửa lại. ↵
- 'Tường' trong 'hiệu viết tường hạc', cả hai sách trên đều ghi là 'Thuỵ', có lẽ đúng là vậy. ↵
- Chung Truyền xây dựng Thiển Tỉnh, chữ 'Truyền' nguyên bản là 'Phó', theo 《Tống sử》 quyển 348, truyện Chung Truyền sửa lại. ↵
- 1 triệu quan trong 《Tống Hội Yếu》 phương vực 19-18 ghi là '8 vạn mân'. ↵
- Từ lộ Hà Đông đến việc ban tên bảo Ninh Hà, chữ 'danh' nguyên bản thiếu, căn cứ vào văn trên mà bổ sung. ↵
- Theo bản sách này, quyển Giáp Ngọ, sửa chữ 'Vĩnh' thành 'Lâm'. ↵
- Chữ 'đổi' trong 'đổi làm Vũ Thắng quân Tiết độ sứ' vốn bị thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 phương vực 19-17 bổ sung. ↵
- Chữ 'chư' nguyên là 'đô', theo chính văn sửa ↵