III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 78: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 5 (NHÂM TÝ, 1012)
Từ tháng 6 đến tháng 9 năm Đại Trung Tường Phù thứ 5 đời Chân Tông.
[1] Tháng 6, ngày Kỷ Hợi, Tam ty mượn 2.000 lạng vàng từ kho Nội tàng, được chấp thuận.
[2] Ngày Tân Sửu, Vua đem bài ca về lúa mạch ở điện Kim Hoa do các vương soạn ra cho các đại thần xem, rồi nói: “Các vương ham học, Trẫm thường dạy họ về việc dùng từ ngữ, nên hỏi ý kiến các quan phụ tá để tránh sai lầm.” Vương Đán nói: “Khổng Tử từng nói ‘không ngại hỏi người dưới’, ham hỏi thì sẽ có ích.”
[3] Phu nhân Điền thị của Thái tử Cung Hiếu tâu rằng anh trai bà là Cáp môn chi hậu Điền Thừa Thuyết, sau khi hoàn thành nhiệm vụ Tuần kiểm ở An châu và Phục châu, xin được làm Tri châu quân. Vua nói: “Chức quan gần dân sao có thể trao bừa! Thừa Thuyết vốn không có tiếng tăm gì, có thể cho làm Giám quân ở nơi gần.”
(Theo 《Hội yếu》, chỉ nên cho làm Đô giám ở nơi thuận tiện gần kinh đô.)
[4] Ngày Ất Tỵ, Giám áp Trần Hoài Tín ở Trấn Nhung quân tâu: “Thần thấy việc đào hào sửa thành ở Hoàn châu, nơi biên giới xa xôi, rất khó kiếm gỗ tốt, xin giảm bớt công trình.” Lúc đó triều đình đang bàn cử sứ giả đi khảo sát, Hoài Tín dâng sớ, liền được lệnh làm Giám áp ở châu đó, chuyên trách việc sửa thành.
[5] Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu rằng các châu quân ở biên giới không được chiêu mộ dân từ phương bắc vào quân ngũ. Nếu phương bắc gửi văn thư hỏi, phải trả lại hết. Những kẻ dụ dỗ dân phương bắc ứng mộ, sau khi xử phạt, phải áp giải về kinh, phân bổ vào các châu quân phía nam.
[6] Ngày Mậu Thân, Long đồ các Trực học sĩ Trần Bành Niên và các quan dâng lên quy chế mới về nghi lễ Cáp môn, Vua xuống chiếu giao cho Hữu ty thi hành.
[7] Quản câu Lân Phủ lộ quân mã sự Hàn Thủ Anh tâu rằng người Khiết Đan chạy sang Hà Tây, đi qua địa phận Phủ châu, xin răn dạy các nơi không được cho họ dừng lại, được chấp thuận.
[8] Đô kiềm hạt Kinh Nguyên lộ kiêm Tri Vị châu Tào Vĩ xin theo lệ cũ, cử quan khác làm Tri Vị châu. Vua nói: “Nơi biên giới tập trung quân đội, nếu cử quan khác làm Tri châu, có thể xảy ra tranh chấp ý kiến, dẫn đến sinh sự.” Bèn bí mật dụ Tào Vĩ không cho phép. Tào Vĩ lại tâu rằng các trại dọc biên giới trước đây cho phép dân mua rượu, lo ngại họ ẩn náu nơi hiểm trở, xin cấm hết, Vua đồng ý.
[9] Phò mã đô úy Sài Tông Khánh tâu xin miễn thuế mua gỗ từ Thiểm Tây về kinh. Vua nói: “Trẫm nhớ thời Thái Tông, Vương Thừa Diễn mua gỗ buôn bán kiếm lợi, khi ấy kiện tụng không ngớt. Trước đã dụ Tông Khánh không được làm như vậy, nay lại còn có tờ tấu này.” Lập tức sai Xu mật viện triệu Tông Khánh đến răn dạy. Sau đó, Đề điểm hình ngục Hà Đông tâu rằng Tông Khánh sai người mua ngựa không nộp thuế, xin xét tội. Vua xuống chiếu tha không hỏi.
[10] Vệ quốc trưởng công chúa từng xin mua nhà của họ Trương láng giềng để mở rộng chỗ ở. Họ Trương là con rể của Hoa Dung huyện chúa. Vua dụ rằng: “Nếu lập khế ước bán thì được.” Khi hỏi họ Trương, chỉ nói mỗi ngày thuê nhà được năm trăm tiền, là nguồn sống dựa vào. Vua răn không được ép mua, chỉ ban hai trăm vạn tiền, cho phép tìm chỗ khác mua.
(Việc Tông Khánh buôn ngựa, Thực lục chép vào tháng 10 ngày Tân Sửu, nay chép chung vào đây.)
[11] Xu mật trực học sĩ, Lễ bộ thị lang, Tri Tịnh Châu Trương Bỉnh nhiều lần giữ chức vụ lớn nhưng không có tiếng tăm lừng lẫy. Khi trở lại Thái Nguyên, ông xử lý công việc thiếu quyết đoán, thường cùng các thuộc hạ chơi bạc. Dù đã từng trải qua nhiều chức vụ trong triều đình và địa phương, nhưng ông không có phong thái nghiêm túc, thích đùa cợt, nên người đời không coi ông là bậc lão thành. Ông thích ăn mặc đẹp, dọn dẹp bàn ăn cầu kỳ, mỗi khi dự yến tiệc công hay tụ tập tại nhà bạn bè, thường tự mang theo đồ ăn ngon. Nhà ông rất nghèo, thường phải cầm cố quần áo để trang trải chi phí. Ở Thái Nguyên có một võ tướng làm Bộ thự Kiềm hạt, rất không hài lòng với việc làm của ông. Ông còn có lời lẽ xung đột với Chuyển vận sứ Trần Nhược Chuyết trong buổi tiệc, Nhược Chuyết tâu lên rằng Trương Bỉnh không tu chỉnh việc quân. Triều đình ra chiếu cho An phủ sứ Hà Đông kiêm quản việc công ở Tịnh Châu, sau đó lệnh cho Hữu gián nghị đại phu, Xu mật trực học sĩ Nhiệm Trung Chánh thay thế Trương Bỉnh, điều ông về làm Tri Tương Châu.
(Việc Trương Bỉnh điều về Tương Châu vào tháng 10 ngày Đinh Tỵ, nay ghi chung lại. Cần tra cứu xem An phủ sứ kiêm quản Tịnh Châu là ai, tên họ là gì.)
[12] Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc cùng các quan khác dâng lên bản tâu về việc phân định các điều lệ liên quan đến giám thí, phát giải quan, tiến tống, cùng các lỗi sai phạm về hình danh, triều đình chấp thuận.
[13] Ngày Nhâm Tý, Tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ Đinh Vị tâu rằng ở Thiên Thư các, các cột trụ phát ra hơn nghìn luồng khí thẳng, xen kẽ màu xanh, tím, vàng, trắng, lại có ánh sáng trắng như tơ bạc, trên có mây trắng nhẹ che phủ, sau biến thành năm màu. Vua làm thơ về điềm lành ban cho các quan cận thần họa theo.
[14] Tăng thêm 30 vạn quan tiền công dụng cho Bộc Châu, vì lúc đó lệnh cho Hữu giám môn vệ đại tướng quân Lý Phúc làm Tri Châu.
[15] Các châu tâu rằng năm nay được mùa, lúa rẻ, đều xin mua thóc dự trữ. Vua lo ngại việc này sẽ làm hại nông dân, liền ra chiếu cho Tam ty sứ Đinh Vị lập kế hoạch trình lên. Đinh Vị tâu rằng không gì bằng việc mua bán theo giá thị trường, nhưng các châu tích trữ tiền quá ít. Ngày Quý Sửu, xuất 100 vạn quan tiền từ kho nội tàng giao cho Tam ty để hỗ trợ chi tiêu.
[16] Quyền Tri Khai Phong phủ Lưu Tống tâu: “Các sứ thần Tẩu mã thừa thụ từ các lộ về kinh, đều trực tiếp vào chỗ ngồi riêng. Từ nay xin cho họ vào yết kiến ở tiền điện trước, sau đó mới đến hậu điện tấu việc.”
[17] Ngày Mậu Ngọ, Xu mật viện tâu: “Gần đây, các văn thư do Ty Thông tiến dâng vào ban đêm đều là việc thường vụ. Xin lệnh rằng, trừ những việc khẩn cấp quan trọng thì lập tức dâng lên, còn lại đều phải đợi đến ngày hôm sau.” Vua đồng ý.
[18] Ngày Kỷ Mùi, ra chiếu rằng từ nay vào ngày Phục (ngày nóng nhất trong năm), các việc vụ đều được nghỉ.
[19] Tu quốc sử viện tâu: “Phần Lễ chí đang biên soạn, trong nhật lịch cũ chỉ ghi lại sơ lược các sự việc, cùng với việc Lễ viện thu thập các văn thư về lễ nghi từ thời quốc sơ đến nay, bao gồm những thay đổi, bổ sung, chế định, cùng các bàn luận, đánh giá[1]. Tuy nhiên, vẫn lo rằng có thể còn thiếu sót, khiến cho quốc gia đại điển không được đầy đủ. Long đồ các đãi chế Tôn Thích hiện đang phụ trách Lễ viện, là người am tường kinh thuật, tinh thông lễ học, xin giao cho ông chuyên trách việc kiểm tra và cung cấp thông tin.” Vua đồng ý.
[20] Người Tiền Đường là Lâm Bô, từ nhỏ mồ côi, chăm chỉ học hành, không chú trọng văn chương câu chữ. Tính tình điềm đạm, yêu thích cổ học, không màng danh lợi, nhà nghèo thiếu thốn nhưng vẫn an nhiên tự tại. Ban đầu ông ngao du khắp nơi, sau một thời gian dài, trở về Hàng Châu, dựng nhà ở Cô Sơn bên Tây Hồ, suốt hai mươi năm chân không bước đến thành thị. Chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tá đem tiếng tăm của ông tâu lên. Ngày Canh Thân, Vua ra chiếu ban thóc lụa, và quan địa phương hàng năm phải thăm hỏi.
[21] Ngày Nhâm Tuất, lệnh cho Xu mật viện biên soạn sách “Thời chính ký”, mỗi tháng gửi về Sử quán. Trước đây, Xu mật viện mỗi tháng ghi chép các sự việc liên quan đến sử và gửi về Trung thư để biên vào “Thời chính ký”. Đến lúc này, Vương Khâm Nhược và Trần Nghiêu Tẩu xin biên soạn riêng, Vua đồng ý[2]. “Thời chính ký” của Xu mật viện bắt đầu từ đây.
[22] Ra chiếu rằng các quan thường trực tại kinh đô, mỗi hai người phải tiến cử một viên chức mạc phủ hoặc châu huyện để bổ nhiệm làm quan kinh đô, không được dùng những người đã bãi chức hoặc đang chờ bổ nhiệm để ứng chiếu.
[23] Cấm dân biên giới trộm ngựa của Khiết Đan đem bán ở các châu quân phía nam.
[24] Ngày Quý Hợi, ban chiếu rằng những người buôn bán vàng lá ở các châu đều giảm tội một bậc so với tội nguyên phạm, xử xong thì bắt đứng giữa chợ nửa tháng. Lúc đó, dân Hàng Châu là Chu Thừa Dụ tự ý luyện vàng thành lá, có người tên Trịnh Nhân Trạch từng mua được một ngàn lá vàng rồi bán lại cho người khác, việc bại lộ, cả nhà bị đày đi xa. Đến lúc này, Chuyển vận sứ của bản lộ là Trần Nghiêu Tá tâu rằng: “Tình trạng khác nhau mà hình phạt như nhau, đều bị đày đến quận xa, e rằng làm tổn hại đến ý nghĩa thương xót của triều đình.” Vì thế mới có chiếu này.
[25] Ngày Giáp Tý, Chuyển vận sứ Quảng Nam Tây Lộ tâu rằng, Lý Công Uẩn ở Giao Châu xin cho người và thuyền đến thẳng Ung Châu để buôn bán. Vua nói: “Dân vùng biển thường sợ Giao Châu xâm phạm quấy nhiễu, trước đây chỉ cho phép buôn bán ở Quảng Châu và Như Hồng Trấn[3], vì vùng biển có chỗ kiểm soát. Nay nếu cho đến thẳng nội địa, việc này không tiện, nên lệnh cho bản ty tuân thủ chế độ cũ.”
[26] Ngày Ất Sửu, ban chiếu rằng: “Các quân nhân cố ý tự chặt tay chân để trốn tránh việc đi lính hoặc mưu đồ chuyển đến quận khác thuận tiện hơn, từ nay xử phạt xong, đều phải ghi tên vào quân ngũ của mình[4]. Người phạm tội nặng thì xử nặng, người bị thương tật nặng thì xử phạt và đày đến lao thành cách quê nhà hơn năm trăm dặm[5].” Đây là theo đề nghị của Trương Vịnh, người đang làm Tri châu Thăng.
[27] Ngày Bính Dần, lấy Thái thường bác sĩ Tôn Xung người Bình Cức làm Tri châu Lệ Châu, Đại Lý tự thừa Sử Oánh làm Thông phán châu quân sự, Nội điện sùng ban Vệ Thừa Khánh làm Binh mã đô giám. Trước đây, Sử Sùng Quý cùng Chuyển vận sứ Vương Thự, Lý Ứng Cơ đã hoàn thành việc đắp đê sông Niếp Gia Khẩu. Sau khi công trình sông hoàn thành, sông lại vỡ ở phía đông nam châu, tại khúc sông Lý Dân Loan, làm hư hại nhiều nhà dân trong vòng vài chục dặm quanh thành. Vương Thự tâu rằng thành châu đang bị nguy hiểm, xin dời đến huyện Thí Hà.
Khi Quách Thịnh đi sứ trở về, cũng xin theo lời Vương Thự. Lại sai Tôn Xung và Vệ Thừa Khánh đi xem xét, họ tâu rằng thành có thể củng cố được, chỉ tốn khoảng ba mươi vạn công sức, và tiến cử Sử Oánh am hiểu việc thủy lợi, xin cùng phụ trách việc củng cố. Tôn Xung và Vương Thự tranh luận về lợi hại, Vua nghe theo ý kiến của Tôn Xung, nên giao việc này cho ông. Tôn Xung lại tâu: “Thần nay một mình chống lại ý kiến của mọi người, ra sức bảo vệ thành châu, nhưng lo rằng trên dưới không hỗ trợ nhau, mong Chuyển vận sứ và phó sứ được điều sang nơi khác.” Vua không đồng ý, vẫn sai Chuyển vận sứ, hễ Tôn Xung cần gì thì lập tức cung cấp. Các quan lại, tướng hiệu phụ trách công việc, hai tháng một lần được khao thưởng. Sau đó lại sai sứ dụ Tôn Xung rằng việc tu sửa bờ sông nên đợi khi sương xuống nước rút, không để lãng phí sức dân.
(Ngày Mậu Thân tháng 8, cần xem xét. Thực lục chép ngày Mậu Thìn tháng 7 sai sứ dụ Tôn Xung đợi sương xuống nước rút mới tu sửa bờ sông, và lệnh củng cố chỗ đắp đê Niếp Gia Khẩu. Theo Chí và Hội yếu, thì Niếp Gia Khẩu vừa đắp xong đã vỡ, Vương Thự mới có đề nghị dời đến Thí Hà, nay còn củng cố chỗ nào nữa? Không rõ Thực lục sao lại chép như vậy. Nay theo bản Chí và Hội yếu, đợi xem xét.)
[28] Thẩm hình viện tâu: “Xét án Tri châu Miên Châu Lý Thuyết phạm tội báo cáo không trung thực, phạt 10 cân đồng. Tội tư mà bỏ sót việc thông báo cho người tiến cử và quan khám án, xin đều xét hỏi.” Vua bảo các tể thần: “Lý Thuyết chỉ phạt trượng, người tiến cử và quan khám án chỉ phạt roi mà thôi. Chỉ thêm phiền phức, mà không đủ để răn đe khuyến khích, từ nay nên đều xin chỉ.”
(Ngày Đinh Dậu tháng 8, có thể xem xét. Hội yếu chép việc tháng 6 năm thứ 5.)
[29] Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thìn, xây dựng cửa Bảo Khang mới ở phía đông cửa Chu Tước, dời cầu Quảng Tế trên sông Biện đến trước chùa Đại Tướng Quốc, đề biển là “Diên An”, lại xây cầu bắc qua sông Huệ Dân, đề biển là “An Quốc”. Lúc đó định xây dựng đạo quán để thờ Ngũ Nhạc, nên mở thêm cửa này. Sau đó, lệnh cho Tu lý cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng là Đinh Vị cùng những người khác đến đất doanh Phụng Tiết, Trí Viễn và khu vực phía tây đất Điền Can để khởi công xây dựng, nội thị Đặng Thủ Ân đốc thúc công việc.
(《Thực lục》 chép vào ngày Kỷ Mùi tháng 8 rằng lệnh cho trung sứ Đặng Thủ Ân tu sửa đạo quán Ngũ Nhạc; ngày Đinh Hợi tháng 9 lại chép rằng bắt đầu xây dựng đạo quán Ngũ Nhạc ở phía đông trong cửa Nam Huân. Đã nói là tu sửa, lại nói là bắt đầu xây dựng, không rõ vì sao. Nay theo 《Bản chí》 và 《Hội yếu》 mà chép liền lại.)
[30] Chiếu rằng từ nay, các thân thuộc hoàng gia có nguyện vọng nhận chức vụ ở kinh đô, phải do Xu mật viện xét năng lực và lý lịch, nếu đủ khả năng thì mới bổ nhiệm.
[31] Ngày Kỷ Tỵ, đến cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng để tạ ơn việc thần quang ứng hiện ở các Thiên Thư. Ban thưởng khí tệ cho các quan Tu cung sứ trở xuống, tiền công cho thợ thuyền có mức khác nhau.
[32] Long Đồ các đãi chế Trương Tri Bạch tâu rằng: “Thần xem qua sách vở, thấy chế độ thời Đường, Ngu, lập bốn nhạc, mười hai mục, từ đó trăm quan đều được sắp xếp, trăm việc đều được xử lý đúng thời. Lại nói: ‘Ba năm xét công trạng, ba lần xét thì thăng giáng rõ ràng.’ Sử Hán chép Tuyên Đế là bậc minh quân, khen ngợi việc ông biết dùng người và yêu cầu hoàn thành công việc, hiểu rõ cốt lõi của vương đạo, thường nói: ‘Người cùng ta trị thiên hạ, chỉ có những quan lại tốt hai ngàn thạch mà thôi.’ Lời nói ấy truyền lại mãi mãi, người đời sau ai chẳng khen ngợi.
Xưa Đường Lý Kiều từng nói[6]: ‘Phương pháp an dân, cần phải chọn người giữ chức quận thủ. Thần thấy triều đình coi trọng quan trong triều, xem nhẹ quan ngoại nhiệm, mỗi khi bổ nhiệm mục bá, đều tránh mệnh mà kêu ca. Khi cử người ra ngoài nhiệm, phần nhiều là người bị giáng chức, phong tục không trong sạch, thực là do đó. Mong rằng từ đài các chọn lấy người hiền tài, phân ra cai quản các châu lớn, cùng nhau làm nên công trạng. Thần xin tạm ngừng chức cận thị, xin được dẫn đầu các quan[7].’ Phượng các thị lang Vi Tự Lập nhân đó xin đi, bèn lệnh cho ông giữ chức cũ ra làm quan châu quận. Thần thấy các quận lớn Giang, Chiết đang cần chọn người, nếu có chỗ khuyết, xin cho thần tạm thay, thần tuy không tài giỏi, nhưng nguyện noi theo người xưa. Huống chi thời Đường không xa[8], chuyện cũ vẫn còn, nếu cho là phải, xin cứ làm theo.”
Vua nói: “Tri Bạch dẫn chuyện cũ, xin coi trọng quan gần dân, thật đáng khen.” Nhưng vì ông đã nhiều lần làm quan ngoại nhiệm, đang giữ chức trọng, nên không cho. Ngày Tân Mùi, lệnh cho Tri Bạch cùng xét án hình ngục ở kinh đô.
[33] Ngày Nhâm Thân, có người dâng thư lên nói: “Các châu quân, chức Tư pháp tham quân phần nhiều không được người tài, dẫn đến việc hình pháp sai lầm, oan uổng. Mong rằng Lại bộ hãy cẩn thận chọn người có xuất thân từ Minh pháp để bổ nhiệm.” Vua đưa ý kiến này cho các đại thần bàn bạc, Vương Đán nói: “Người học Minh pháp tuy thông thạo luật văn, nhưng cũng cần có tài năng và kiến thức. Gần đây, các chức quan về pháp luật thường thiếu người, phần nhiều lấy các chức Bạ, Úy ở các huyện có kinh nghiệm về hình pháp để thay thế. Nay xin cho Lại bộ tham khảo và thi hành.” Vua đồng ý.
[34] Vua ra chiếu rằng: “Các thương nhân ở Hà Bắc buôn bán riêng với vùng biên giới phía bắc, nếu có nợ nần dẫn đến việc bị tra xét, thì nên lệnh cho các Ty An phủ ở biên giới thúc giục họ trả nợ. Từ nay về sau, cấm việc buôn bán này.”
[35] Lý Doãn Tắc, Tri châu Hùng Châu, tâu rằng người Khiết Đan đang bàn việc xây thành Vũ Thanh, An Thứ, và Trác Quận Châu. Vua nói: “Đây là việc vi phạm lời thề ước. Nếu đợi họ khởi công rồi mới nói, thì họ sẽ cảm thấy xấu hổ mà dừng lại.” Vua bèn ra chiếu cho Doãn Tắc nhân dịp sứ giả sang phương bắc để thông báo việc này. Sau đó, Doãn Tắc tâu rằng nước kia nghe lệnh, liền dừng việc xây dựng.
(Có sách chép là thành Vũ Thanh, Trại Thứ, và Toại Châu, cần xem xét lại.)
[36] Ngày Quý Dậu, các binh sĩ già yếu ở biên giới phải giải ngũ, Vua ra chiếu cho họ thuộc vào hàng ngũ thặng viên của châu mình. Nghe nói họ tiêu phí lương thực biên giới, gây phiền toái cho việc vận chuyển, nên lệnh cho các Chuyển vận sứ kiểm tra và cho họ về quê làm ruộng.
[37] Ngày Đinh Sửu, Quảng Châu tâu: “Người nước Đại Thực tên là Vô Tây Hốt Hoa, 130 tuổi, tai có hai vành, tướng mạo rất kỳ lạ, tự nói rằng từ xa ngưỡng mộ giáo hóa của triều đình, đi theo thuyền nước Cổ La đến đây.” Vua ra chiếu ban cho ông ta áo gấm, đai bạc và thêm lụa là.
[38] Các quan biên giới tâu rằng phương bắc có thư trao đổi, nói: “Thương nhân vi phạm luật cấm của triều đình, mua đá Lô Cam đến Trác Châu, đã xử lý theo pháp luật.”
[39] Ngày Quý Mùi, đền Thái Ninh Cung ở quân Khánh Thành xây xong, tổng cộng 646 gian.
[40] Vua ban cho cháu gái đời thứ tư của Ngô vương Lý Dục 100 tấm lụa và 2 triệu tiền để làm lễ cưới, lại sai nội thần lo việc này, để tỏ lòng thương xót hậu duệ của một nước đã mất.
[41] Ngày Giáp Thân, sai Kinh Đông lộ chuyển vận sứ, Công bộ lang trung Cao Tương, Hoài Nam lộ chuyển vận sứ, Từ bộ viên ngoại lang, Trực Tập hiền viện Trương Tượng Trung đổi chỗ cho nhau. Tương là người Đăng Châu, có người nói quê hương của ông không tiện, nên dời đi. Tượng Trung là con của Chiêu Doãn, em của Chiêu Dịch.
[42] Có người dâng thư nói rằng việc tiến cử sứ thần không có giới hạn, dù nguyên tắc chỉ được cử bảy người, nhưng có người trong một tháng liên tiếp cử năm người. Vua xuống chiếu cho Xu mật viện từ nay khi dẫn người vào chầu, phải trình bày rõ ngày tháng tiến cử để tâu lên.
[43] Ngày Ất Dậu, Vua xuống chiếu: “Các quan Thượng thư, Thừa lang, Lưỡng tỉnh Cấp gián làm tri châu phủ, mà các quan Lang trung, Viên ngoại lang của bộ mình và các quan Lục phẩm trở xuống của Lưỡng tỉnh làm Chuyển vận sứ phó của bản lộ, theo lệ trước phải báo cáo. Dù chức vụ đáng lẽ phải thống nhiếp, mới giao phó quyền hành, nhưng quan chức có thứ bậc khác nhau, nên làm rõ phẩm cấp. Từ nay, các nơi có Tri chế cáo, Quan sát sứ trở lên làm tri châu phủ, khi báo cáo lên Chuyển vận ty, chỉ cần ký tên kiểm tra, bắt Thông phán trở xuống ký tên trình bày. Nếu Chuyển vận sứ có quan chức cao hơn thì không áp dụng lệnh này.” Sau đó, Trương Vịnh làm Lễ bộ Thượng thư tri Thăng Châu, mọi việc thuộc Từ bộ đều phải trình bày công văn, Vịnh bèn tâu: “Thần là quan thuộc Lục tào[9], Từ bộ là cơ quan trực thuộc bộ mình, mà theo lệ phải trình công văn, có vẻ không hợp lý. Mong từ nay các quan Thượng thư, Thừa lang làm tri châu, ngoài việc báo cáo lên tỉnh, thì các cơ quan trực thuộc bộ mình chỉ cần ký tên kiểm tra.” Vua đồng ý.
(Việc Trương Vịnh, bản chí chép vào năm thứ 6, nay gộp lại chép. Vịnh làm Lễ bộ Thượng thư là vào tháng 4 năm thứ 4.)
[44] Trước đó, Vua xuống chiếu cấm các quan được bổ nhiệm lấy tiền lãi, ai vi phạm thì không được đòi lại. Đại Lý tự thừa, Tri Khảo Thành huyện Bì Tử Lương vay của dân kinh thành 17 vạn tiền, khi nhậm chức liền tự thú. Vua ghét Tử Lương không có đạo đức, Hiến ty tra hỏi, theo luật phải chuộc tội bằng đồng, Vua sai cách chức.
[45] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu rằng: “Quân sĩ các quân Trung Liệt, Tuyên Dũng, Quảng Nhuệ ở Hà Bắc, Hà Đông, từ nay những người già yếu bệnh tật thì cho về làm ruộng, không được bắt người khác thay thế. Những chỗ khuyết quân số, đều do kinh đô bổ sung tuyển chọn.”
[46] Ngày Canh Dần, ban chiếu rằng quân sĩ ở các phường, giám, thương, khố bị bệnh tật thì tiếp tục cấp lương, không để họ lâm vào cảnh khốn cùng. Lúc đó, quân sĩ nuôi ngựa ở Ty Quần Mục vì bệnh tật xin nghỉ, bị ngưng cấp lương, có người phải đi xin ăn rồi chết đói. Vua thương xót, nên có lệnh này.
[47] Ngày Ất Mùi, châu Khánh báo rằng nước lũ ở trấn Hoài An dâng cao, cuốn trôi và làm chết đuối dân chúng. Vua ban chiếu cấp mỗi người một nghìn tiền, một hộc gạo.
[48] Tháng 8, ngày Bính Thân mùng một, có nhật thực.
[49] Vua đưa ra những bông lúa ở bốn vùng ngoại thành kinh đô cho các đại thần xem và nói: “Đêm trước có gió mưa lớn, lo rằng lúa bị hư hại, nên sai người đến các ruộng cao thấp khắp nơi lấy về xem, thấy đều không bị tổn thương.”
[50] Ngày Đinh Dậu, ban chiếu rằng thuế hạ của các huyện thuộc kinh đô, trước đây lệnh phải nộp ở Hàm Bình, Uý Thị, nay cho phép nộp tại kinh đô hoặc tại huyện mình.
[51] Lệnh cho phủ Hà Trung cấm chặt củi ở nơi chôn mũ áo và kiếm của Chu Thái Tổ.
[52] Ban chiếu rằng: “Từ nay các quan văn võ cùng làm việc phải cùng nhau bàn bạc kỹ lưỡng để giải quyết. Nếu ai cố chấp, không theo lẽ phải hoặc vì tư thù mà không hòa thuận, thì Ty Chuyển Vận và Ty Đề Điểm Hình Ngục phải xem xét tâu lên, sẽ cử quan xét xử và trừng phạt nặng. Nếu không xem xét tâu lên, cũng sẽ bị phạt.” Lúc đó, các châu Miên, Diệu, Bảo liên tiếp tâu rằng các quan không hòa thuận, Vua sai sứ đi điều tra, và Viên Thành Vụ, tri châu Gia, xin ban hành quy định răn đe, nên có chiếu này. Thành Vụ là con của Viên Phùng Cát.
[53] Lệnh cho Trường Tạp Mãi mua vật phẩm phải trả bằng tiền mặt. Trước đây dùng trà để thanh toán, gây bất tiện cho dân.
[54] Ban chiếu cho Viện Học Sĩ rằng trong các bài văn tế như thanh từ, trai chúc, chỉ được xưng là “hoàng đế”, không được liệt kê tôn hiệu.
[55] Tả bộc xạ Trương Tề Hiền dâng biểu xin về hưu lần nữa, ngày Mậu Tuất, được phong làm Tư không rồi về hưu, trở về trang ấp ở Lạc Dương. Khi vào từ biệt ở điện tiện, vừa lạy thì ngã xuống, Vua liền ngăn lại, cho phép hai con ông đỡ lên điện, và ra lệnh cho ông ngồi cùng hai con để tỏ lòng ưu ái[10].
[56] Ra lệnh cho quan lại ở Tân Châu miễn thuế tiền mua trâu trong một năm rưỡi.
[57] Phó sứ Phương trạch Triệu Thủ Luân tâu rằng, quân sĩ Quảng Nhuệ ở Hà Đông giỏi cưỡi ngựa nhưng võ nghệ không thuần thục[11], xin từ kinh thành chọn lấy đội trưởng, tinh luyện thêm, Vua đồng ý.
[58] Người man ở huyện Từ Lợi, châu Lễ xâm phạm đất Hán, Chuyển vận sứ Kinh Hồ Bắc lộ Trần Thế Khanh đem quân đuổi đánh, nhân đó xin lập lại các trại Lễ Châu, Vũ Khẩu để kiểm soát. Tù trưởng Thứ sử châu Hạ Khê là Bành Nho Mãnh nguyện hàng năm nộp cống, Thế Khanh tâu lên, ngày Kỷ Hợi, Vua hạ chiếu khen ngợi và đồng ý.
[59] Trước đó, 47 hộ dân châu Lễ tố cáo người man xâm chiếm đất đai, Vua sai Cáp môn chi hậu Khai Phong Sử Phương đi ngựa trạm đến, cùng Chuyển vận sứ xem xét. Do đó, từ trạm Trúc Tấn đến núi Thân Văn, thu hồi được 400 dặm đất, cứu được hơn 500 người bị bắt, và lập các trại Lễ Châu, sau đó cho Sử Phương làm Tri châu Thiệu.
(Bản truyện Sử Phương chép rằng, lập bốn trại Lễ Châu, Vũ Khẩu, Dương Tuyền, Sách Khê. Xét theo 《Hội Yếu》 và 《Thực Lục》, chỉ có hai trại Lễ Châu và Vũ Khẩu. Cần xem xét thêm.)
[60] Tri châu Thăng Châu là Trương Vịnh bị bệnh đầu lở loét nặng, mỗi khi ăn uống thì đau đớn càng tăng thêm. Ông quản lý cấp dưới rất nghiêm khắc, các quan viên và tân khách nếu có chút không vừa ý liền bị mắng chửi. Thông phán là Thành Duyệt làm việc chăm chỉ, nhưng Trương Vịnh tính tình nóng nảy, quyết đoán, các vụ kiện tụng thường tự mình quyết định. Duyệt thường dùng pháp luật để sửa chữa, không hề nịnh hót, nên Trương Vịnh không coi trọng ông, mọi người cũng khinh thường ông. Trương Vịnh nhiều lần xin được đi nhậm chức ở Tây Lạc.
Ngày Nhâm Dần, Vua sai Công bộ Thị lang, Tập hiền viện Học sĩ là Tiết Ánh thay thế ông. Ánh vào chầu tạ ơn, tự nói mình đã từng trải qua nhiều chức vụ ở ngoài, xin được nhận chức vụ gần. Ngày hôm sau, Vua phong cho ông làm Xu mật Trực học sĩ, và lệnh cho ông đi ngựa trạm đến nhậm chức. Trương Vịnh trở về, không thể vào chầu, liền được lệnh làm Tri châu Trần Châu.
Ánh đến Thăng Châu, tâu rằng quan lại có thuế trâu, dân phải nộp tô, nhưng khi trâu chết thì tô không được miễn. Vua xem tấu, giật mình nói: “Việc này triều đình làm sao biết được!” Bèn hạ chiếu cho các châu trình bày rõ, và đều được miễn.
(Theo 《Thực lục》, việc miễn thuế trâu vào ngày Quý Mùi tháng 10 năm thứ 9, lúc đó Ánh đã bãi chức về, nay ghi chung vào đây.)
Vua nhân xem tấu của Thăng Châu, nói với các quan phụ tá: “Lúc đó đánh dẹp phương ấy, sở dĩ kéo dài lâu là vì Thái Tổ đã răn Tào Bân không được giết người. Bân liền sai Lý Kế Long vào tâu, sau khi chiếm thành sẽ bảo toàn cả nhà Lý Dục. Thái Tổ đã chấp thuận lời tâu, lại càng răn không được giết người. Khi thành bị hạ, sứ giả truyền lệnh vừa đến, gia tộc của Dục được bảo toàn, người trong thành đều thoát khỏi bị giết. Thái Tổ rất nhân từ, đều là những việc như thế.”
(《Thực lục》 ghi việc này vào ngày Mậu Thân tháng giêng năm sau, nay nhân việc Tiết Ánh làm Tri châu nên ghi chung vào đây. Tuy nhiên, lúc bình định Giang Nam, đã ghi rõ ý Thái Tổ răn không giết người, có thể bỏ đi.)
[61] Hạ chiếu rằng việc tế tự ở Thái Miếu, lệnh cho quan hành sự và Cung vi lệnh phải tự rửa đồ tế, các nơi tế tự khác cũng làm như vậy.
[62] Ngày Quý Mão, hạ chiếu khen thưởng Độ chi Phó sứ của Tam ty là Bào Trung Hòa, vì trước đây ông làm việc ở Hộ bộ, đốc thúc việc quản lý sổ sách, tổng cộng chín mươi vạn, mà công việc không bị ngưng trệ.
[63] Ngày Giáp Thìn, Vua xuống chiếu hạn chế số lượng Xu mật trực học sĩ là sáu người. Ban đầu, Vua định phong chức này cho Tiết Ánh, bèn hỏi ý Vương Đán. Vương Đán tâu: “Triều trước chỉ đặt hai người, nay đã có chín người rồi.” Vua nói: “Tạm phong cho Tiết Ánh, từ nay trở đi sẽ quy định số lượng cố định.” Vì thế có chiếu chỉ này.
(Gồm các vị: Trương Vịnh, Lý Tuấn, Lưu Tống, Nhiệm Trung Chánh, Chu Khởi, Thích Luân, Trương Bỉnh, Lý Sĩ Hoành,[12], Lưu Sư Đạo.)
[64] Ban thưởng tiền cho binh lính và thợ thuyền ở sở Thái tạo Tiểu Lạc Môn, châu Tần, lại sai Trung sứ Vương Hoài Tín liệt kê tên những người chăm chỉ để báo lên, đều được thăng chức.
[65] Ngày Ất Tỵ, Tào Lợi Dụng, Bộ thự lộ Phu Diên tâu: “Những hộ người Quy Minh sống ở vùng biên giới có công phòng thủ và dẹp loạn, xin cho họ làm chỉ huy cung nỗ thủ[13].” Vua ra chiếu cho Tào Lợi Dụng hỏi ý những người đó, nếu họ tự nguyện và việc này có lợi lâu dài thì cứ theo lời tâu mà thi hành.
[66] Sai Đông nhiễm viện sứ Tần Hi và Phán quan phủ Khai Phong Khấu Hiền đi ngựa trạm đến châu Lệ để khảo sát thành và đê, vẽ bản đồ ghi rõ lợi hại. Lúc đó, Tôn Xung và những người khác xin không dời thành, vì có người bàn rằng việc dời thành là bất tiện.
[67] Ban đầu bàn việc đúc tượng thánh ở chính điện cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, sai Giang, Hoài phát vận sứ Lý Phổ tìm thợ khéo, được dân Hàng Châu là Trương Văn Dục, bèn đặt lò đúc ở ngọn núi nhỏ phía tây bắc quân Kiến An, Phổ đích thân đến xem. Ngày Bính Ngọ, Phổ tâu rằng ở đạo trường có điềm lành như chim thần tước, ánh sáng lạ, mây lành, Vua sai Tu cung sứ Đinh Vị đến làm lễ tạ, yến tiệc khao thưởng quan lại, tướng hiệu, kỳ lão, ban tiền cho dân phu. Phổ và Vị cùng nhau hợp tác, chở nhiều gỗ quý, đá lạ, tìm hết thợ khéo ở đông nam để phụ họa ý Vua. Vị lại nói Phổ giám đúc tượng thánh, ăn chay suốt năm, Vua ban chiếu khen thưởng.
[68] Vua làm sách 《Tường Thụy Luận》, 《Cần Chính Luận》[14], 《Tục Lại Biện》 ban cho các quan phụ tá, mỗi người một bản, nhân đó nói: “Trẫm nghe nói trong ngoài có người bàn tán về việc triều đình sùng bái điềm lành, tự mình lo việc nhỏ, nên Trẫm làm sách này để tỏ rõ.” Các quan phụ tá xin cho bá quan xem, dựng bia ở Quốc học, Vua đồng ý.
[69] Chuyển vận sứ Hà Đông tâu rằng địa phương mình được mùa lớn, Vua sai Tam ty nên nhân cơ hội tích trữ lương thực, tập trung ở Thiểm Tây và các châu quân ven sông, để phòng năm mất mùa.
[70] Ngày Đinh Mùi, sai sứ tu sửa miếu Nam Hải ở Quảng Châu.
[71] Ngày Mậu Thân, Thông phán Châu Lệ là Sử Oánh tâu: “Châu này bị nạn nước sông, đê điều không vững, lo ngại sẽ vỡ bất thường, tràn vào thành châu. Xin dời dân cư đến sông Thí, còn thành lũy đợi khi sương xuống nước cạn thì tu sửa.” Tri châu Tôn Xung lại tâu: “Thần trước đây tiến cử Oánh cùng trị thủy, Oánh thiên vị hào tộc, dám xin dời thành. Xin triệu về kinh, xét tội.” Vua đồng ý. Lúc đó ở sông Thí có nhà giàu đút lót quan lại xin dời trị sở châu, nên Xung tâu việc này.
(Tháng 6 ngày Bính Dần, cần xét lại.)
[72] Ngày Kỷ Dậu, dời Hà Bắc chuyển vận sứ, Hữu gián nghị đại phu Vương Thự làm Tri châu Thọ, Độ chi viên ngoại lang Lý Ứng Cơ làm Tri châu Bộc, các sứ thần Tẩu mã thừa thụ ở bản lộ đều bị thay, vì tội không phát hiện việc Biên Túc tham ô buông thả.
[73] Tam ty mượn 30 vạn tấm lụa ở kho Nội tàng.
[74] Ngày Canh Tuất, năm châu Trừ, Hòa, Dương, Sở, Tứ thuộc lộ Hoài Nam bị hạn hán, Vua xuống chiếu cho phát vận sứ giảm nước sông Vận để tưới ruộng dân, đồng thời nới rộng thời hạn nộp thuế. Các châu huyện nào không biết thương xót khiến dân phải lưu tán, sẽ bị trị tội.
[75] Vua xuống chiếu cho các quân ở Hà Đông, trước đây tuyển lựa thêm quân dư, nghe nói vẫn còn nhiều người khỏe mạnh, có thể hợp lại thành quân dư mang giáp, để tiện sai khiến.
[76] Ngày Ất Mão, Đề điểm Khai Phong phủ huyện trấn công sự Đoàn Duy Kỷ tâu rằng dân ở các huyện thuộc kinh sư thiếu lúa mạch, xin cho phép nộp thay bằng lúa mùa thu. Vua đồng ý. Duy Kỷ là học trò của Tư Cung.
[77] Vua sai sứ sửa chữa chùa Hồi Loan ở Dương Châu, để thờ thần vị của Thái Tổ. Trước đây đặt điện thờ ở bên cạnh, đến nay mới đổi sang chính vị.
[78] Ngày Bính Thìn, Tri chế cáo Vương Tăng được cử làm Phán Đại Lý tự. Chức Phán tự trước đây dùng lang quan, Vua muốn trọng nhiệm vụ này nên đặc cách bổ nhiệm Vương Tăng. Vua gọi ông đến điện riêng, dụ rằng: “Mệnh của thiên hạ hệ ở ngục tụng, nay Trẫm phải làm phiền khanh.” Vương Tăng cúi đầu tạ ơn, được ban 30 vạn tiền, nhân đó xin được tuyển chọn thuộc hạ, rồi định thành lệnh.
[79] Vua xuống chiếu: “Nghe nói các lộ chặt gỗ đưa về kinh sư, số lượng quá nhiều, gây phiền nhiễu cho dân. Nên lệnh cho Tam ty quy định, nếu đủ dùng thì nên bãi bỏ hết.”
[80] Vua làm bài thơ đối chiếu cho các phụ thần xem, có câu: “Tư tư tuy vạn quốc, bất quý mấn biên ti” (Chăm lo yên vạn nước, chẳng hổ tóc mai sương). Vương Đán tâu: “Bệ hạ lo lắng chăm chỉ khắp nơi, tinh thần làm việc, phát huy đạo thánh, thể hiện ở thiên chương. Thần đúng phải ngày đêm hết lòng, để xứng đáng với ý muốn cầu trị của bệ hạ.”
[81] Ngày Tân Dậu, Vua xuống chiếu: “Các quan được bảo cử nếu phạm tội tư mà không cố ý, từ nay không liên lụy đến người tiến cử.”
(Cuối tháng 6 có việc của Lý Thuyết có thể tham khảo.)
[82] Long Đồ các Trực học sĩ Trần Bành Niên dâng sách biên lục thánh chế của Thái Tông gồm 240 quyển[15], Vua xuống chiếu cho Trung thư môn hạ xem xét kỹ, rồi đặt ở Thái Thanh lâu, Tư Chính điện, Sùng Văn viện[16], Bí các, Tây Kinh tam quán, mỗi nơi một bản.
[83] Ngày Quý Hợi, ban chiếu: “Từ nay, các vị tướng quân của các vệ, các sứ phó của các ty, các sứ thần của tam ban, những người phụ trách châu, phủ, quân, giám, nơi có người được tiến cử, giao cho thông phán, mạc chức, lục sự tham quân và các quan chấm thi, căn cứ theo quy cách giải phát[17]. Các võ thần không được can thiệp, chỉ cùng ký tên vào tờ giải trạng, nếu giải phát không đúng, cũng không cùng chịu tội.”
[84] Ngày Giáp Tý, có người dâng thư nói: “Thần thấy các quan văn võ nhờ việc tế giao và ngày sinh thần mà bổ nhiệm con em làm quan, nhiều người còn nhỏ tuổi, ngồi không hưởng bổng lộc. Có những người học rộng mà gặp cảnh khó khăn, những người ở chức vị thấp bị chìm đắm, thường khiến người ta thở dài. Mong ban hành điều lệ.” Vua sai các quan đại thần bàn việc này, đặc biệt hạn định tuổi tác để lập chế độ, nhưng cuối cùng việc bàn bạc không thực hiện được.
[85] Ban chiếu: “Những vụ án chế ngục không có xử lý tạm thời, đều phải căn cứ theo điều lệ suy khám để quyết định và đưa đi. Tội lưu và các quan chức thì phải trình bày án tình lên triều đình. Trước đó, quan tường nghị của Viện Thẩm hình là Tra Củng Chi nói rằng các án tấu của các châu, phần lớn do sắc chỉ ban xuống chỉ nói việc chế hặc, liên quan đến tình tội của quan lại, phải trình bày án tình lên triều đình, nên đều bị giam giữ để chờ quyết định, gây ra sự trì trệ, vì vậy mới ban hành điều lệ. Củng Chi là con của Tra Đạo.”
[86] Ban chiếu: “Các quan từ ngũ phẩm trở xuống của Nam tỉnh và các ty, mỗi người phải kê khai quê quán, ba đời xuất thân, quá trình làm quan có vi phạm hay thiếu sót gì, làm thành gia trạng nộp lên Ngự sử đài. Từ nay, các quan mới thăng chức, sau khi tạ ơn tại nha môn, đều phải căn cứ theo quy định này làm gia trạng nộp lên Viện Thẩm quan, lần lượt gửi đến Ngự sử đài để biên soạn, lưu giữ, chuẩn bị cho việc kiểm tra bất thường[18].”
[87] Tháng 9, ngày Đinh Mão, ban chiếu rằng những vụ án do Đại Lý tự xét xử có sai sót, các quan xét xử đều phải bị điều tra xem xét. Đây là nhắc lại chiếu chỉ tháng 4 năm Hàm Bình thứ 2. Lại ban chiếu rằng khi xét xử cần lấy những điểm chính yếu, không cần kể lể dài dòng, tội đã xét xử không được lấy ý chỉ của Vua làm văn bản. Vua nói: “Pháp luật đã định, Trẫm cùng thiên hạ cùng tuân thủ. Như trường hợp tình nhẹ mà pháp nặng, tình nặng mà pháp nhẹ, đều nên căn cứ vào lý lẽ để xét xử, tâu lên đầy đủ hồ sơ vụ án.”
[88] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu: “Khi có đại lễ triều hội, theo nghi chế, các quan trong kinh đều phải đến tham dự. Từ nay ai không đến, sẽ bị Ngự sử đàn hặc.”
[89] Ngày Kỷ Tỵ, Long Đồ các Trực học sĩ Trần Bành Niên tâu rằng: “Vào ngày tế Đế Hợp, thần chủ của Hiếu Huệ hoàng hậu và Thục Đức hoàng hậu từ biệt miếu đến Thái miếu, hợp tế dưới thần chủ Giản Mục hoàng hậu và trên thần chủ Thái Tổ, đây là theo thuyết trong 《Khúc Đài Lễ》 về việc hoàng hậu ở biệt miếu hợp tế ở Thái miếu. Thần nghĩ rằng khi hai vị thánh còn tại vị, có thể theo chế độ này, nhưng sau khi đã hợp tế, khó mà cử hành nghi lễ này. Nay lấy sự tôn quý của việc truy phong trong cung cấm, đặt bên phải ngôi chính thống của hoàng đế, xét theo ý kinh điển, không có tiền lệ; xét về tình người, thực là trái với đạo thuận. Thần lo rằng việc hợp tế linh thiêng như vậy, thần lễ chưa ổn, mong đặc chiếu cho quan Lễ bộ xem xét lại, hoặc tế ở biệt miếu, hoặc đặt dưới thần chủ chính, để hợp với ý chỉ truy tôn, mãi được hưởng phúc lành.”
Chiếu cho Hữu ty xem xét kỹ rồi tâu lên, rằng:
“Theo lễ chép trong 《Khúc Đài lễ》 về nghi thức Đế Hợp, có ghi: ‘Nếu hoàng hậu trước đã phụ vào biệt miếu, khi gặp lễ Đế Hợp thì phụ hưởng ở Thái miếu. Nếu là Chiêu hậu, thì ngồi dưới tổ cô, hướng nam; nếu là Mục hậu, thì ngồi dưới tổ cô, hướng bắc’. Lại theo nghị luận của Tiến sĩ Thương Doanh Tôn: ‘Hoàng hậu ở biệt miếu khi dự lễ Đế Hợp ở Thái miếu, phụ dưới tổ cô, là vì hoàng hậu mất trước, đã tạo thần chủ, mà chồng vẫn tại vị. Như Chiêu Thành, Túc Minh mất khi Duệ Tông tại vị; Nguyên Hiến mất khi Huyền Tông tại vị; Chiêu Đức mất khi Đức Tông tại vị. Bốn hoàng hậu này chưa có chỗ trong Thái miếu, nên lập biệt miếu; vốn là chủ để hợp hưởng ở Thái miếu, nên khi Đế Hợp mới đưa vào hưởng.’ Điều này cho thấy sau này Thái miếu có chỗ, thì sẽ dời về phụ, vì hoàng đế còn tại vị, nên hoàng hậu tạm thời lập biệt miếu. Vốn là chủ để hợp hưởng ở Thái miếu, nên khi Đế Hợp mới được đưa lên bản miếu; chưa có vị trí, nên phụ dưới tổ cô.
Trong quyển 《Khai Bảo lễ》 về Đế Hợp có chép đầy đủ việc Hiếu Minh, Hiếu Huệ hai hoàng hậu từ biệt miếu phụ hưởng ở Thái miếu dưới tổ cô, điều này giống với 《Khúc Đài lễ》. Đến khi Thái Tổ, Thái Tông thần chủ nhập miếu, Hiếu Minh, Ý Đức được thăng phối, còn Hiếu Huệ, Hiếu Chương, Thục Đức không được phối hưởng, chỉ ở biệt miếu. Sau này, khi gặp năm Đế Hợp, quan viên không hiểu rõ ý lễ, vẫn đưa thần chủ của ba hoàng hậu phụ hưởng ở Thái miếu dưới tổ cô, lại đặt trên Thái Tổ, Thái Tông, làm đảo lộn tôn ti, thật không hợp lý.
Theo lễ ghi: ‘Vợ phụ dưới tổ cô’, nghĩa là ngày sau khi xong tang khóc, phụ dưới tổ cô, đó là chính lễ; lại ghi: ‘Nếu tổ cô có ba người, thì phụ dưới người thân’, chú giải rằng: ‘Nghĩa là mẹ chồng mất, lại có hai người kế thất; người thân là chỉ mẹ đẻ của chồng.’ Như vậy, nếu tổ cô có ba người cùng ở một nhà, thì rõ ràng vợ có nhiều người cũng nên cùng ở nhà chồng, không thể mãi phụ dưới tổ cô.
Lại xét việc Đường Duệ Tông vào thờ trong miếu, dời Chiêu Thành hoàng hậu để hợp tế, còn Túc Minh hoàng hậu chỉ thờ ở biệt miếu. Vì thế, sách 《Khai Nguyên lễ》 ghi chép nghi thức tế lễ thời gian ở biệt miếu của Túc Minh hoàng hậu, nhưng không có lễ hợp tế trong đại tế và hiệp tế, từ đó biết rằng việc tế lễ thời gian và đại tế, hiệp tế của hoàng hậu ở biệt miếu đều được thực hiện tại chính miếu của bà. Lễ có câu: ‘Có việc đã làm thì không thể bỏ.’ Hiện nay, ba hoàng hậu Hiếu Huệ, Hiếu Chương và Thục Đức vốn đã được hợp tế trong Thái miếu trong các kỳ đại tế và hiệp tế trước đây, nên khó có thể thay đổi. Mong rằng từ nay về sau, trong các kỳ đại tế và hiệp tế, thần chủ của ba hoàng hậu sẽ được hợp tế tại chính điện của mình, đứng sau thần chủ chính. Xét theo điển lễ, điều này sẽ phù hợp với đạo trung dung.”
Chiếu chuẩn y.
[90] Ngày Canh Ngọ, quan khảo thí của Cống viện là Vương Thế Xương, nguyên là Tư pháp tham quân châu Ninh, Thuyết thư Quốc tử giám, bị cách chức[19]. Các quan chủ khảo là Triều Huýnh, Lưu Tống, Lý Duy, Tôn Thích đều bị phạt 30 cân đồng. Lúc đó, Vương Nguyên Khánh, người học trò chuyên về 《Mao Thi》 ở châu Bộc, trong bài thi có một câu đạt và một câu sơ sài, nhưng Vương Thế Xương lại chấm sai là không đạt. Triều Huýnh và các quan khác không xem xét kỹ, nên bị Vương Nguyên Khánh kiện.
[91] Chiếu rằng: “Quân dân nào có tư trang vũ khí, giáp trụ, phải nộp lên quan trong vòng 50 ngày, nếu vi phạm sẽ bị xử theo pháp luật. Tội đến mức lưu đày thì cả gia đình sẽ bị giải về kinh, tội đến mức đồ thì bị phát phối đến lao thành tại địa phương, những người đúc vũ khí cũng bị xử tương tự. Những nơi biên giới trước đây đã được chỉ dụ cho phép giữ lại vũ khí thì vẫn được tiếp tục như cũ.”
[92] Ngày Tân Mùi, chiếu cho các chuyển vận sứ ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây cùng với các quan địa phương xem xét các huyện ven sông, chia các làng xã ở hai bên bờ sông thuộc Hà Bắc và Hà Nam để tiện quản lý, nhằm giảm bớt gánh nặng vận chuyển cho dân.
[93] Ngày Nhâm Thân, đánh trượng viên cao ban Chu Hàm Tắc, phát phối làm nội phẩm ở Tây Kinh. Tội của ông là tư thông ăn uống với nhà giàu.
[94] Ngày Quý Dậu, chiếu cho Khấu Chuẩn, quan tri phủ quân Thiên Hùng, kiêm chức Đô đại đề cử tuần kiểm Hà Bắc. Lúc đó, vùng Hà Bắc có nhiều trộm cướp, nhưng việc tấu báo không chính xác, lại không bắt giữ kịp thời, nên mới có mệnh lệnh này.
[95] Quảng Châu trú bạc kiềm hạt Tần Hi tâu: “Châu có ba chỉ huy quân Trừng Hải, trước đây theo chiếu chỉ chỉ lệnh huấn luyện, không được sai phái làm việc khác. Lo ngại lâu ngày sẽ sinh kiêu căng lười biếng, mong dời họ đến đóng quân ở phía bắc núi.” Vua đồng ý. Tần Hi lại xin kiêm chức Đề cử việc phòng chống hỏa hoạn và trộm cướp trong thành, Vua cũng đồng ý.
Trước đó, Quảng Châu tâu rằng quân Trừng Hải có công đánh giặc Nghi, nhưng họ tỏ ra kiêu ngạo, trong quân không thể kiềm chế được, xin đưa họ về kinh. Vua cho rằng việc cai quản một phương cần chọn người có tài năng, tể tướng đã tiến cử nhiều người nhưng không ai hợp ý Vua, Vua từ tốn nói: “Tần Hi có thể đảm đương việc này.” Bèn giao nhiệm vụ cho Tần Hi.
[96] Trước đó, các quan theo hầu thường vượt quy định, hoặc quan nhỏ không nhường đường cho đại thần. Vua xuống chiếu cho Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc, Long đồ các trực học sĩ Trần Bành Niên cùng các quan Lễ bộ bàn định nghi thức rồi thi hành.
[97] Cấm các quan nhỏ và người làm nghề kỹ thuật dùng vàng bạc làm đai hình vuông hoặc tròn. Ở kinh thành, ngoài tông thất ra, không ai được dùng lọng xanh, cả tể tướng và Xu mật sứ cũng bị cấm. Sang năm sau mới cho phép dùng lại.
(Năm sau, tháng 6, ngày Giáp Tý.)
[98] Ngày Tân Tỵ, Quốc tử giám xin xây gác để chứa sách ngự bút của Thái Tông, Vua đồng ý.
[99] Ngày Quý Mùi, Khai Phong phủ xét việc lại ty chuyên câu nhận hối lộ khi các quân xin cấp lương, tội đáng đi đày. Vua nói: “Đây chỉ là tiền giấy bút, tích lại thành tang vật, chỉ cần đánh trượng rồi tha.”
[100] Xuống chiếu cho các châu ở Lưỡng Chiết, từ nay ba hộ lớn phải do chính thân đảm nhiệm, kẻ nào mượn danh thay thế, trước hết trị tội lừa dối, sau đó bắt chính thân xử phạt. Đây là theo đề nghị của Chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tá.
[101] Ngày Giáp Thân, mở tiệc lớn ở điện Hàm Quang, có quân hiệu say rượu nằm ngủ trên đường cấm, Vua xuống chiếu cho người tuần tra đưa về. Lại lệnh cho Điện tiền ty từ nay lấy đó làm lệ.
[102] Khi Đinh Vị đánh giặc Khê Man, quyền tri châu Thi Châu là Khấu Hiền lập công nhiều nhất, bèn cho làm Điện trung thị ngự sử, phán quan Khai Phong phủ. Khi tâu việc, Vua hỏi về kế sách phòng thủ Thi Châu, rồi bảo Hiền: “Đông Xuyên kiểm soát các bộ tộc, khanh đã có kinh nghiệm, hãy đi thay Trẫm trấn an họ.” Ngày Bính Tuất, phong Hiền làm Chuyển vận sứ lộ Tử Châu. Hiền sau đổi tên là Giam.
[103] Ngày Đinh Hợi, Chu Tốn, tri phủ Kinh Nam tâu rằng: “Theo chiếu phát binh đến Lễ Châu để tuần tra ngăn chặn, việc hưng binh động chúng tất phải cần lương thực, thêm vào đó địa hình hiểm trở, sứ thần lại làm lớn chuyện, e rằng sẽ làm tổn hại đến sự yên ổn.” Trần Nghiêu Tẩu nói: “Chu Tốn không hiểu ý của triều đình. Trước đây sai quân đóng ở huyện Từ Lợi, từ Kinh Châu đến Từ Lợi đều là đường bằng phẳng, việc vận chuyển lương thực đều giao cho chuyển vận sứ, không làm khổ dân. Sai sứ dụ dỗ tù trưởng, vốn không có lý do gì gây náo động. Nếu như vậy, triều đình không thể làm gì được.” Vua nói: “Chu Tốn có thể nói việc, cũng đáng khen, nhưng đúng sai là do triều đình quyết định. Người nhận mệnh thường hay làm lớn chuyện, quả thật có chuyện đó, từ nay nên nghiêm khắc răn dạy họ.”
[104] Ngày Mậu Tý, lấy Lại bộ thượng thư, tri Xu mật viện sự Vương Khâm Nhược, Hộ bộ thượng thư, tri Xu mật viện sự Trần Nghiêu Tẩu, đều giữ nguyên chức cũ và gia phong Kiểm hiệu Thái phó, Đồng bình chương sự, sung làm Xu mật viện sứ[20], Thiêm thự Xu mật viện sự Mã Tri Tiết làm phó sứ. Học sĩ Triều Huýnh soạn chiếu, lỡ bỏ mất chức cũ của Khâm Nhược và Nghiêu Tẩu, Vua xuống chiếu giữ lại, rồi sửa chiếu và ban hành. Nho thần giữ chức Xu mật kiêm Sứ tướng[21], bắt đầu từ Khâm Nhược và Nghiêu Tẩu.
[105] Tham tri chính sự, Hình bộ thị lang Triệu An Nhân bị bãi chức, giáng làm Binh bộ thượng thư. An Nhân cẩn thận, xử lý công việc tinh tế, đặc biệt chú ý đến hình luật, các chiếu thư quan trọng trong ngoài đều do An Nhân sửa chữa.
Trước đó, Vua bàn việc lập hoàng hậu, Triệu An Nhân cho rằng Lưu Đức phi xuất thân hàn vi, không bằng Thẩm Tài nhân xuất thân danh gia. Vua tuy không vui, nhưng xét thấy ông giữ đạo chính trực, nên không trách tội. Một hôm, Vua cùng Vương Khâm Nhược bàn luận về các đại thần hiện nay ai là người đức độ nhất, Khâm Nhược muốn hãm hại An Nhân, bèn khen rằng: “Không ai bằng Triệu An Nhân.” Vua hỏi: “Vì sao khanh nói vậy?” Khâm Nhược đáp: “An Nhân xưa được cựu tướng Thẩm Nghĩa Luân biết đến, đến nay vẫn không quên ơn xưa, thường muốn báo đáp.” Vua im lặng, từ đó có ý muốn cách chức An Nhân.
Vua từng bảo Vương Đán rằng: “Trẫm nghe nói Triệu An Nhân ở Trung thư không hề thân cận việc gì, mỗi khi tâu đối cũng chưa từng nói một lời, có thể cách chức được.” Vương Đán tâu: “An Nhân rất hiểu đại thể, thường khi tiến cử, đều cùng các đồng liêu bàn định xong mới dám xin chỉ. Thần thường thấy những kẻ trước mặt bệ hạ thay đổi ý kiến, đều là để nghênh hợp ý bệ hạ. An Nhân không có ý kiến khác, đó là có chủ kiến.” Vua nói: “Có thể như vậy sao? Trẫm không biết, khanh hãy bảo ông ấy, để ông ấy cố gắng hơn.” Vương Đán lui ra, nói lại với An Nhân, An Nhân nói: “Bệ hạ đã nhầm mà bạt trạc thần đến đây, nay vì không có tài mà bị cách chức, là phải lắm. Bảo thần cùng mọi người tranh biện để được lòng, thần không làm đâu.” Vương Đán mừng nói: “Ta vừa bảo vệ An Nhân trước mặt bệ hạ, không nhầm người vậy.”
Đến khi bãi chức, vẫn sai ông cùng tu sử. An Nhân tuy ở ngôi cao, vẫn giản dị như xưa. Ông rất thích đọc sách, bổng lộc được ban đều dùng để mua sách vở, tự tay hiệu đính, những việc cải cách, y phục, nhân vật triều gần đây đều nhớ hết. Ông thích dạy bảo kẻ hậu tiến, giúp họ thành danh, đương thời đều khen là người đức độ.
(《Ký văn》 chép rằng ngày hôm sau Vương Khâm Nhược gièm pha An Nhân, liền bãi chức. E rằng không hẳn vậy, nay theo 《Vương Đán di sự lục》 chép thêm vào. Lại nữa, Thẩm Sung viện lúc này chỉ là Tài nhân, e rằng 《Ký văn》 nhầm, nay sửa lại.)
[106] Tam ty sứ, Lễ bộ thị lang Đinh Vị làm Hộ bộ thị lang, Tham tri chính sự, vẫn kiêm chức Tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ.
Ban đầu, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc thân thiết với Vương Đán. Vương Đán muốn tiến cử Tông Ngạc giữ chức Tham tri chính sự, từng bàn với Vương Khâm Nhược, Khâm Nhược chỉ ậm ừ. Vương Đán nói: “Sẽ tâu lên Hoàng thượng.”
Tông Ngạc nhà nghèo, bổng lộc không đủ để lo việc cưới hỏi, Vương Đán trước sau cho vay rất nhiều, Khâm Nhược biết chuyện này. Theo lệ cũ, ngày tạ ơn khi nhậm chức Tham tri chính sự, được ban thưởng vật phẩm trị giá gần ba ngàn quan tiền. Khâm Nhược bèn mật tấu: “Tông Ngạc nợ Vương Đán tiền riêng, không thể trả được. Vương Đán muốn tiến cử Tông Ngạc làm Tham tri chính sự để nhận vật ban thưởng trả nợ cho mình, chứ không phải vì nước chọn người hiền.” Hôm sau, Vương Đán quả nhiên tiến cử Tông Ngạc, Hoàng thượng đổi sắc mặt, không chấp thuận. Đến khi Triệu An Nhân bị cách chức, lúc đó đang phụng mệnh đi Bạc Châu thăm Thái Thanh cung chưa về, liền lệnh cho thay thế, đó là do Khâm Nhược tiến cử.
Khâm Nhược cùng Lưu Thừa Khuê, Trần Bành Niên, Lâm Đặc và người kia (ND: chỉ Đinh Vị) thông đồng với nhau, hành tung quỷ quyệt, đương thời gọi là “Ngũ quỷ”.
[107] Ngày Kỷ Sửu, lấy Diêm thiết phó sứ, Hữu gián nghị đại phu Lâm Đặc quyền Tam ty sứ.
[108] Ngày Canh Dần, xuống chiếu cho dân các châu Kinh Đông, Hà Bắc dùng lúa mì lớn nhỏ để thay thế nộp tiền lụa đã xin trước, được miễn thuế kho và tiền đầu tử.
[109] Trước đó, Hoàng thượng nói với các tể thần: “Trẫm thường răn dạy tông thất, bảo họ đọc sách, làm thơ, tập viết chữ, luyện bắn cung, nghe nói họ đã khá tinh thạo, Trẫm sẽ đến xem.” Thế là ngự giá đến cung của Vận Cung Tĩnh Vương và An Văn Huệ Vương (ND: Hai thân vương đã mất), dâng lễ trước tượng vẽ của họ. Lại triệu tập các quan tông thất và cung liêu đến cung của Tương Vương Nguyên Ốc để yến tiệc và bắn cung, ban thưởng thơ ngự chế cùng áo quần, tiền bạc có thứ bậc khác nhau.
Chiều tối, các quan lui ra, Hoàng thượng chỉ đem theo hoạn quan, đến cung của Thư Vương Nguyên Xưng và Vinh Vương Nguyên Nghiễm, lại yến tiệc ở cung Nguyên Ốc, theo lễ gia đình, đến canh hai mới tan. Nguyên Ốc đứng đầu trong hàng thân vương, biết tự tu dưỡng, thường nói: “Mỗi ngày đọc sách ghi hai việc, ngày tháng lâu dần, ích lợi rất nhiều.” Hoàng thượng thường khen ông hiếu học, mỗi khi thơ ngự chế ra, đều bảo ông họa lại.
[110] Ngày Tân Mão, ban chiếu rằng các đền thờ núi, sông, biển cả, khi tổ chức lễ cầu đảo, ngoài việc dâng sớ xanh, cần thêm bài văn chúc tế cho thần vị của đền thờ. Việc này theo đề nghị của Học sĩ viện.
[111] Trước đó, tiến sĩ Hoàng Đỉnh ở Hồng Châu đã giả mạo ấn tín để làm giả sắc lệnh, tự xưng là quan triều đình để lừa cưới vợ, nhằm chiếm đoạt tài sản, việc bại lộ nên bị trị tội. Lễ bộ nhân đó xin quy định mẫu dấu riêng cho sĩ thứ và các chùa, quán sử dụng. Chiếu cho phép khắc chữ trên gỗ, kích thước một tấc vuông, không được đúc riêng.
[112] Ngày Nhâm Thìn, Điện tiền ty tâu rằng các quân kiện cáo hiệu trưởng trong quân thu tiền để trang trí doanh trại và đồ dùng, số tiền ít thì xin cho Hải ty không nhận[22]. Vua nói: “Quân dân kiện cáo, nếu việc nhỏ nhặt không quan trọng, Trẫm thường bỏ qua. Nếu rõ ràng bảo quan lại, thì tình hình dưới sẽ bị bưng bít, người dân sẽ bị oan ức.” Không cho phép.
[113] Ngày Quý Tỵ, Hàn lâm học sĩ Dương Ức vì bệnh được ban cáo, sai trung sứ đưa thái y đến chữa trị. Dâng biểu tạ ơn, Vua làm bài thơ hai vần, viết ở cuối tờ giấy, có câu “phó dư trắc tịch đãi danh hiền”. Sau đó, vì bệnh lâu ngày xin từ chức gần, chiếu ban ưu đãi không cho phép, chỉ tạm miễn việc vào chầu.
Dương Ức tính cương trực, ít hòa hợp, ở thư cục chỉ thân với Lý Duy, Lộ Chấn, Điêu Khán, Trần Việt, Lưu Quân. Các văn sĩ đương thời đều nhờ ông đánh giá, kẻ bị chê bai thường oán trách. Vương Khâm Nhược đột nhiên được trọng dụng, Dương Ức vốn coi thường nhân cách của ông ta, nên Khâm Nhược oán hận. Trần Bành Niên đang dùng văn sử để tiến thân, ghen ghét vì danh tiếng Dương Ức hơn mình, cùng nhau gièm pha với Vua. Vua vốn trọng Dương Ức, không nghe theo.
- Chữ 'bình' trong 'luận nghị bình định văn tự' nguyên bản là 'bình', theo Tống bản và Tống toát yếu bản sửa lại. ↵
- Nguyên bản là 'hứa chi', theo Tống bản và Tống toát yếu bản sửa lại. ↵
- Trước đây chỉ cho phép buôn bán ở Quảng Châu và Như Hồng Trấn, 'Quảng Châu' trong 《Tống hội yếu》 phần Thực hóa 38-28 chép là 'Liêm Châu', căn cứ theo đoạn văn sau về 'Như Hồng Trấn', nên chữ 'Quảng Châu' phải là 'Liêm Châu'. Xem 《Vũ kinh tổng yếu》 tiền tập quyển 20, Khâm Châu có Như Hồng Trấn; 《Tống sử》 quyển 90, phần Địa lý chí chép Khâm Châu, huyện An Viễn có Như Hồng Trại; 《Cửu vực chí》 quyển 9 chép Khâm Châu, huyện An Viễn có Như Hồng Giang; 《Kỷ thắng》 quyển 119 chép Như Hồng Giang ở phía tây bắc huyện An Viễn, chảy ra biển. Khâm Châu và Liêm Châu liền kề nhau, hơn nữa đoạn văn trên có câu 'xin cho người và thuyền đến thẳng Ung Châu để buôn bán', có thể làm chứng cứ cho việc chữ 'Quảng Châu' phải là 'Liêm Châu'. ↵
- Nguyên văn là 'tịnh quân bản châu hạ danh', theo bản các các và 《Tống hội yếu》 sửa thành 'tịnh lệ bản quân hạ danh'. ↵
- Chữ 'lao' trong 'lao thành' nguyên bản thiếu, nay bổ sung theo sách trên. ↵
- Xưa Đường Lý Kiều từng nói 'Nói' nguyên là 'Chỉ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Tống sử toàn văn quyển 6 sửa. ↵
- Dẫn đầu các quan 'Quan' nguyên là 'Sát', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Thông giám quyển 207 Đường kỷ 23, Trị tích thống loại quyển 5 Chân Tông thánh chính sửa. ↵
- Huống chi thời Đường không xa 'Thời Đường', Tống bản, Tống toát yếu bản và Trị tích thống loại đều chép là 'sách vở'. ↵
- 'Thiểm' nguyên là 'tham', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 《Quan chế duyên cách thượng》 sửa lại. ↵
- Lệnh ngồi cùng hai con để tỏ lòng ưu ái 'Lệnh ngồi cùng', bản Tống, bản tóm tắt Tống và quyển 3 của 《Uyển Diễm Tập San Tồn》 trong truyện Trương Văn Định Công Tề Hiền, cùng 《Tống Sử》 quyển 265 truyện Trương Tề Hiền đều chép là 'Lệnh thêm'. ↵
- Quân sĩ Quảng Nhuệ ở Hà Đông giỏi cưỡi ngựa nhưng võ nghệ không thuần thục 'Quảng Nhuệ' nguyên bản chép là 'Quảng Thuế', căn cứ theo các bản và 《Tống Hội Yếu》 Binh 1/2, 《Tống Sử》 quyển 187 Binh Chí sửa lại. ↵
- Nguyên bản ghi 'Lý Sĩ Vệ', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa lại. Theo 《Phạm Văn Chính công tập》 quyển 11, bài minh trên bia thần đạo của Lý công, quan sát sứ châu Đồng thời Tống, Lý Sĩ Hoành từng được phong chức Xu mật trực học sĩ dưới thời Chân Tông, trải qua nhiều chức vụ chuyển vận sứ, còn 'Lý Sĩ Vệ' thì không có ghi chép. ↵
- Theo 《Tống hội yếu》 binh 4-1 ghi là 'xin bổ làm mười chỉ huy cung nỗ thủ', có lẽ đúng là vậy. ↵
- 《Cần Chính Luận》 nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và 《Tục Thông Giám》 quyển 30 bổ sung. ↵
- 240 quyển nguyên bản là '214 quyển', theo các bản khác sửa lại. ↵
- Sùng Văn viện nguyên bản là 'Sùng Văn điện', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại. ↵
- Theo quy cách giải phát: chữ 'thức' nguyên bản là 'sắc', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 tuyển cử 14-23 sửa lại ↵
- Chuẩn bị cho việc kiểm tra bất thường: chữ 'kiểm' nguyên bản là 'toàn', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 chức quan 55-6 sửa lại ↵
- Quan khảo thí của Cống viện, nguyên là Tư pháp tham quân châu Ninh, Thuyết thư Quốc tử giám Vương Thế Xương bị cách chức. Chữ 'lặc' nguyên bản là 'cần', căn cứ theo bản trong các sách và 《Tống hội yếu》 phần tuyển cử 19-5 mà sửa lại. ↵
- Chữ 'viện' nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 29, 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 bổ sung. ↵
- Chữ 'kiêm' nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung. ↵
- 'Hải ty' nguyên bản là 'hữu ty', sửa theo bản Tống, Tống toát yếu và Tống hội yếu hình pháp 7-6 ↵