III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 79: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 5 (NHÂM TÝ, 1012)
Bắt đầu từ tháng 10 năm Đại Trung Tường Phù thứ 5 đời Chân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Tháng 10, mùa đông, ngày Ất Mùi, mùng một: Xuống chiếu rằng các Xu mật sứ kiêm chức Kiểm hiệu quan, Bình chương sự không cần tham gia nghi lễ Cáo dẫn (ND: xướng danh khi vào chầu), chỉ cần tại sảnh đường của mình để xướng lễ. Lúc đó, Vương Khâm Nhược và Trần Nghiêu Tẩu dâng tấu xin quy định thành thường lệ. Trước đây, Ngụy Nhân Phố giữ chức Tể tướng kiêm Xu mật sứ, nên phải tham gia lễ Cáo dẫn; còn Tào Bân giữ chức Xu mật sứ kiêm Tể tướng thì không, nên nay chỉ theo lệ của Tào Bân.
[2] Thiểm Tây chuyển vận sứ Tiết Nhan tâu: “Các châu Ty lý tham quân, triều đình cho rằng việc hình ngục là trọng yếu và khó khăn, nên miễn cho họ hạn tuyển chọn. Tuy nhiên, nếu bổ nhiệm người không xứng đáng, sẽ dẫn đến nhiều oan sai. Xin từ nay, nếu ai phạm tội lầm lỗi từ tội đồ trở lên, thì bắt họ ghi lại lý lịch và chờ tuyển chọn, hy vọng sẽ có sự răn đe, tự họ sẽ cầu xin sự công bằng.” Chiếu chuẩn y, nếu ai phạm lỗi ba lần thì xử theo đề nghị.
[3] Ngày Mậu Tuất: Ban chiếu khen ngợi Tri châu Tào Vĩ ở Vị Châu vì đã hoàn thành việc tu sửa thành hào Đông Quan.
[4] Châu Nghi tâu: “Nam Đan Châu có Mạc Hoài Bức tập hợp các bộ tộc man di, chặn đường đến Phú Nhân Giám.” Chiếu cho Chuyển vận sứ Nhạc Hoàng Mục đi xem xét và xử lý theo lý lẽ hòa giải. Hoàng Mục tâu rằng Tri châu Nghi là Tín Toại không am hiểu việc ở vùng khê động, nên lập tức cử Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Tào Vĩnh Cát đi thay thế. Sau đó, Hoàng Mục lại tâu: “Giám áp trú bạc ở Nghi Châu là Thị cấm Hầu Kỷ tự ý dẫn quân vào địa giới Nam Đan Châu, đến trại Bạch Kháng Trác, bắt Hoài Bức nhận tội rồi trở về, hành động dễ dàng, e rằng sẽ gây ra mâu thuẫn biên giới.” Hầu Kỷ cũng tố cáo rằng Chuyển vận ty giấu kín thành tích của mình, không tâu trình đầy đủ.
Nhà Vua biết rõ Nam Đan Châu vốn không có ý xâm phạm, chỉ vì dân chạy loạn từ vùng biên giới cướp bóc khách thương, rồi trốn vào núi rừng, man di tự đánh nhau. Lập tức xuống chiếu cho Nội điện sùng ban Cáp môn chi hậu Quách Thịnh và Nội cung phụng quan Giang Đức Minh đi ban thưởng cho các thủ lĩnh khê động, cùng Hoàng Mục an ủi họ. Đồng thời răn dạy Hầu Kỷ, từ nay các việc quân sự đều phải báo cáo cấp trên.
[5] Ngày Canh Tý, sai sứ trạm đi các lộ Quảng Nam, Kinh Hồ, Phúc Kiến, Giang Nam, Kinh Tây, cùng với các ty Chuyển vận, Đề điểm hình ngục, các chức Tri châu, Thông phán, Kiềm hạt, Đô giám, lựa chọn những quân nhân phạm tội lặt vặt bị đi đày, dời đến gần thành ở địa phương. Những người già yếu không thể chữa trị được, cho phép tùy tiện. Những người trẻ khỏe, đưa về kinh đô, sẽ bố trí vào quân thượng; nếu không muốn dời về kinh đô, cũng cho phép.
[6] Tào Lợi Dụng, Bộ thự Phu Diên, tâu rằng bộ lạc Phiên ở quân Bảo An xin xây thành con, mong dụ bảo thủ lĩnh, đợi xong mùa vụ rồi làm, Vua đồng ý.
[7] Lý Tông Ngạc, Đồng tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ, vì Đinh Vị làm Tham tri chính sự, xin giảm bớt uy quyền. Ngày Tân Sửu, đổi mệnh cho Tông Ngạc làm Tu cung phó sứ.
[8] Ngày Giáp Thìn, xuống chiếu: “Nghe nói ở quân Kiến An và các nơi khác, từ mùa thu mưa dầm, gây trở ngại cho việc nông, nên giao cho các sứ Chuyển vận, Phát vận, xem xét cứu tế.”
[9] Ngày Ất Tỵ, sứ Chuyển vận lộ Quỳ Châu tâu: “Người Man ở Khê Động tập hợp làm loạn, đợi phát binh đánh dẹp, thì trả lại những người Hán đã bắt trước đây, và những người từ 50 người trở lên[1], theo lệ đặc biệt bổ nhiệm chức vụ, cho phép vào cống.” Vua nói: “Nghe nói việc này cũng không tiện. Hoặc nhân đó bắt dân biên giới để lấy lợi, các nơi nên xem xét kỹ.” Sứ Chuyển vận lại tâu có 1500 người Man muốn vào cống. Vua cho rằng đường sá đi lại, tốn kém công tư, không cho phép, xuống chiếu cho sứ Chuyển vận định những người nên về kinh, ghi tên tâu lên để quyết định, còn lại thì ở tại lộ, tùy nghi ban thưởng rồi cho về.
[10] Ngày Đinh Mùi, Vua đem thơ các tông thất dâng lên và thơ ban yến ở các cung vương cho các phụ thần xem, nhân đó nói: “Tông thất hiếu học, là việc rất tốt. Nếu cứ sáng tác mãi, tự nhiên sẽ hiểu được ý thú. Hiểu được ý thú, thì sẽ quên mệt. Nhưng nên đề phòng thích kỳ lạ mà chuộng văn hoa, thích kỳ lạ thì mất thực chất, chuộng văn hoa thì thiếu lý lẽ.”
[11] Vùng Hoài Nam mấy năm liền mất mùa, Vua lo lắng, ra sức cứu tế, nhưng các quan tâu rằng dân lưu vong không biết bao nhiêu mà kể. Đến khi Đinh Vị đi sứ quân Kiến An, Vua bèn sai ông điều tra số thực. Ngày Mậu Thân, Đinh Vị tâu rằng Ty Chuyển vận đã xét rõ số dân bỏ trốn của 15 châu quân vào tháng 4 năm Đại Trung Tường Phù thứ 3, nhiều nhất là hơn 100 hộ, còn lại chỉ khoảng 30 hộ, sau đó có người trở về làm ăn. Lúc ấy, Khởi cư xá nhân Vương Tùy làm Chuyển vận sứ, ra lệnh cho các nơi lấy tiền kho cho dân vay mua lúa giống, đến cuối năm thì thu lại bằng lụa, nên dân lưu vong phần nhiều trở về làm ăn.
[12] Quan Thừa thụ công sự châu Tịnh, Đại là Lý Tông Chính[2] tâu rằng: “Cách phía nam quân Hoả Sơn 5, 7 dặm, đào đất hơn một thước thì thấy lửa, đó là điềm ứng với đức Hoả, xin cho lập đền thờ.” Vua nói: “Núi này có lửa, nên lấy tên núi đặt tên quân, việc này đã có từ lâu. Lý Tông Chính nói bậy, không nên nghe theo.”
[13] Ngày Kỷ Dậu, lấy Chủ khách lang trung, Tri chế cáo Vương Tăng làm sứ sang chúc mừng sinh thần Vua Khiết Đan, Cung uyển sứ, Thứ sử châu Huỳnh là Cao Kế Huân làm phó sứ; Đồn điền lang trung, kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Lý Sĩ Long làm sứ sang chúc mừng năm mới, Nội điện Sùng ban, Cáp môn Chi hậu Lý Dư Ý làm phó sứ.
Theo lệ cũ, đi sứ đều phải tạm thăng chức, nhưng Cao Kế Huân vốn đã có chức cao, nên không tạm thăng, từ đó thành lệ. Sứ Khiết Đan là Hình Tường đón tiếp, Tường khoe khoang rằng trong nước họ ban sắt quyển cho thân vương hiền tài, Vương Tăng bẻ lại rằng: “Sắt quyển là thời suy dùng để sủng ái quyền thần, nhằm an ủi kẻ phản trắc, sao lại dùng để đãi thân vương hiền tài?” Tường xấu hổ không nói gì nữa.
Vương Tăng đi sứ về, tâu rằng:
“Năm đó, Khiết Đan đổi niên hiệu Thống Hoà năm thứ 31 thành Khai Thái năm thứ 1, đổi châu U thành phủ Tích Tân. Em Vua là Long Dụ mất; Long Dụ trước phong Ngô vương, sau phong Sở quốc vương.
Ban đầu, sứ giả chỉ đến U Châu, sau đó đến Trung Kinh, rồi đến Thượng Kinh, hoặc Tây Lương Điện, Bắc An Châu, Thán Sơn, Trường Bạc. Từ dịch trạm Bạch Câu ở Hùng Châu vượt sông, đi bốn mươi dặm đến huyện Tân Thành, vốn là đất Đốc Kháng Đình thời xưa. Lại đi bảy mươi dặm đến Trác Châu[3].
Phía bắc vượt sông Trác, sông Phạm, sông Lưu Lý, đi sáu mươi dặm đến huyện Lương Hương. Vượt sông Lô Câu, đi sáu mươi dặm đến U Châu, tên giả là Yên Kinh. Tử thành được xây dựng ở phía tây nam của la thành. Cửa chính phía nam gọi là Khải Hạ Môn, bên trong có điện Nguyên Hòa, điện Hồng Chính, cửa phía đông gọi là Tuyên Hòa.
Trong thành, các cổng phường đều có lầu. Có chùa Mẫn Trung, vốn do Đường Thái Tông xây dựng để tưởng nhớ các tướng sĩ tử trận trong chiến dịch đánh Liêu; lại có chùa Khai Thái, do Ngụy Vương Gia Luật Hán Ninh xây dựng. Đều mời sứ giả triều đình đến tham quan. Trong cửa nam thành có dinh thự của Vu Việt Vương[4], là nơi tổ chức yến tiệc. Bên ngoài cửa có quán Vĩnh Bình, tên cũ là quán Kiệt Thạch, sau khi cầu hòa thì đổi tên. Phía nam là sông Tang Can.
Ra khỏi cửa Bắc, qua cổ trường thành, Điện Diên Phương, bốn mươi dặm đến Tôn Hầu quán[5], sau đổi thành Vọng Kinh quán, hơi dời chỗ cũ. Nhìn núi Chử Cốc, hồ Ngũ Long, qua sông Ôn Dư, đèo Đại Hạ, phía tây bắc đèo là Điện Lương, nơi tránh nóng. Năm mươi dặm đến Thuận châu. Đông bắc qua sông Bạch Tự, phía bắc nhìn núi Ngân Dã, lại có núi Hoàng La, Loa Bàn, Ngưu Lan, bảy mươi dặm đến Đàn châu. Từ phía bắc dần vào núi[6], năm mươi dặm đến Kim Câu quán. Sắp đến quán, đồng bằng rộng rãi, gọi là Điện Kim Câu, quốc chủ thường qua đông ở đây.
Từ đây vào núi, đường quanh co lên dốc, không còn dấu vết dặm đường, chỉ dựa vào ngày đi ngựa mà ước lượng số dặm. Qua sông Triều Lý, cũng gọi là sông Thất Độ, chín mươi dặm đến cửa ải Cổ Bắc. Hai bên là vách núi hiểm trở, ở giữa có con đường chỉ vừa đủ cho xe đi; phía bắc cửa ải có trạm dịch, giương cung nối dây, vốn là nơi Phạm Dương phòng ngự người Hề và Khiết Đan, rất hiểm yếu. Tuy nhiên, từ U Châu đi về phía đông đến Doanh Châu và Bình Châu, đường rất bằng phẳng, gần đây quân địch xâm phạm biên giới, phần nhiều đều từ đây mà ra.
Lại vượt qua đèo Đức Thắng, đường quanh co nhiều tầng, dân gian gọi là đèo Tư Hương, tám mươi dặm đến trạm Tân Quán. Qua đèo Điêu Khoa[7], đèo Thiên Thương, bốn mươi dặm đến trạm Ngọa Như Lai, vì trong núi có tượng Phật nằm nên mới có tên này. Qua sông Ô Loan, phía đông có châu Loan, lấy tên sông mà đặt tên.
Lại qua đèo Mặc Đẩu[8], cũng gọi là đèo Độ Vân, dài khoảng hai mươi dặm.
Lại qua đèo Cần Thái, bảy mươi dặm đến trạm Liễu Hà. Sông ở cạnh trạm, phía tây bắc có lò rèn sắt, nhiều người Bột Hải cư trú, lấy cát đá từ sông lọc ra để luyện thành sắt. Tục của người Bột Hải, mỗi khi đến dịp lễ hội, trước hết chọn mấy người giỏi ca múa đi trước, trai gái theo sau, cùng nhau hát đối đáp, xoay vòng uyển chuyển, gọi là “Đạp Chuý”; nhà cửa của họ đều mở cửa vào vách núi.
Qua đèo Tùng Đình, rất hiểm trở, bảy mươi dặm đến trạm Đả Tạo Bộ Lạc. Có hơn trăm hộ người Phiên, đan cỏ làm hàng rào, rèn sắt thành vũ khí. Đi về phía đông nam năm mươi dặm đến trạm Ngưu Sơn. Tám mươi dặm đến trạm Lộc Nhi Hạp. Qua đèo Hà Mô, chín mươi dặm đến trạm Thiết Tương[9].
Qua núi Thạch Tử, từ đây dần ra khỏi núi[10], đi bảy mươi dặm đến quán Phú Cốc. Dân cư ở đây phần nhiều làm nghề đóng xe, nghe nói là người Bột Hải. Nhìn thẳng về hướng đông thấy núi Mã Vân, trên núi nhiều chim thú và cây cối[11], quốc chủ thường đến đây săn bắn.
Đi tám mươi dặm đến quán Thông Thiên[12].
Đi hai mươi dặm đến Trung Kinh, phủ Đại Định. Thành trì thấp nhỏ, chu vi chỉ khoảng bốn dặm. Cửa thành chỉ có nhà hai tầng[13], không có tường thành kiên cố. Cửa nam gọi là Chu Hạ, bên trong cửa có hành lang hai bên, nhiều cổng phố. Lại có bốn tòa lầu chợ: Thiên Phương, Đại Cù, Thông Hoàn, Vọng Khuyết. Tiếp đến là quán Đại Đồng, cửa bắc gọi là Dương Đức, Xương Hạp. Trong thành, góc tây nam trên gò có ngôi chùa. Phía nam thành có vườn tược, là nơi tổ chức yến tiệc và bắn cung.
Từ khi qua cửa ải Cổ Bắc, đã là đất của người Khiết Đan. Dân cư ở đây sống trong nhà tranh vách gỗ, cũng chăm chỉ làm ruộng, nhưng không có cây dâu và cây dâu tằm; ruộng đều trồng trên gò cao, có lẽ để tránh cát bay lấp. Trong núi có nhiều cây tùng cao lớn sum suê. Trong thung lũng sâu, nhiều người làm nghề đốt than, thường thấy chăn nuôi trâu, ngựa, lạc đà, đặc biệt nhiều dê xanh và lợn vàng. Cũng có người mang theo xe và lều, đi theo nguồn nước và cỏ để săn bắn. Thức ăn chỉ có cháo kê và cơm khô.”
[14] Ngày Tân Hợi, Vua làm bài 《Vi chính ca》 ban cho các quan phụ chính.
[15] Chiếu cho các lộ từ nay trừ những việc điều động dân phu theo lệ thường ra, nếu có công việc khác cần phải điều động, thì phải lấy số người thực tế, sau khi điều động xong phải tâu lên đầy đủ sự việc, người nào vi phạm sẽ bị xét xử. Trước đó, Đề điểm Khai Phong phủ giới Đoàn Duy Kỷ điều động 200 dân phu huyện Trung Mâu để sửa chữa kho Thuần Trạch Giám, Quần mục chế trí sứ đã dùng lính trại thay thế[14], do đó có chiếu này.
[16] Ngày Quý Sửu, chiếu cho việc mua lương thực quân đội ở Kinh Tây, Chuyển vận sứ chỉ được khuyên dụ, không được ép buộc. Lúc đó, Chuyển vận sứ ở Tây Kinh mua lương thực, điều ước quá đáng, dân không theo ước thì đánh bằng gậy, nên đặc biệt ra lệnh cấm.
[17] Ngày Đinh Tỵ, lấy Tri chế cáo Trần Nghiêu Tư quyền đồng phán Lại bộ lưu nội thuyên. Theo chế độ cũ, người được tuyển chọn đều phải được tiến cử mới được làm quan kinh, nhưng có những người tài cô đơn nghèo khó không được ai biết đến, Nghiêu Tư đặc biệt tâu lên công trạng của họ để thăng chức.
[18] Ngày Mậu Ngọ, Cửu Thiên Ty Mệnh Thượng Khanh Bảo Sinh Thiên Tôn giáng xuống điện Diên Ân.
(Theo bản chí, Cửu Thiên Ty Mệnh Thượng Khanh Bảo Sinh Thiên Tôn chính là Thánh Tổ. Thực lục vào tháng 7 năm thứ 6 lại chép thêm Cửu Thiên Ty Mệnh Thượng Khanh Bảo Sinh Thiên Tôn là Đông Nhạc Ty Mệnh Thượng Khanh Hữu Thánh Chân Quân. Ban đầu, sau khi lễ phong thiền kết thúc, chiếu tôn hiệu Ty Mệnh Thiên Tôn. Đến đây, vì Thánh Tổ giáng lâm, tên gọi tương tự, nên đổi lại. Như vậy, thì phải là một Ty Mệnh khác. Lại căn cứ sách 《Giáng Thánh Ký》[15], chiếu gia tôn hiệu Đông Nhạc Ty Mệnh Thượng Khanh Chân Quân chỉ ghi là Đông Nhạc Ty Mệnh Thượng Khanh Chân Quân, có thể gia tôn là Đông Nhạc Ty Mệnh Thượng Khanh Hữu Thánh Chân Quân, không có chữ “Cửu Thiên” và “Bảo Sinh Thiên Tôn”. Tuy nhiên, sách 《Phong Thiền Ký》 chép ngày Nhâm Tý tháng 10 năm nguyên niên, chiếu tăng hiệu Thượng Khanh Cửu Thiên Ty Mệnh Chân Quân thành Cửu Thiên Ty Mệnh Bảo Sinh Thiên Tôn, thực sự có sáu chữ này. Hai sách đều do Đinh Vị biên soạn, mà lại khác nhau như vậy, cần xem xét thêm.)
[19] Trước đó, vào ngày mồng 8, Vua nằm mộng thấy thần nhân từ thời Cảnh Đức truyền lệnh của Ngọc Hoàng rằng: “Trước đã lệnh cho tổ tiên ngươi là Triệu mỗ trao sách trời cho ngươi, sẽ gặp ngươi, như nhà Đường kính thờ Huyền Nguyên Hoàng Đế.” Đêm hôm sau, lại mộng thấy thần nhân truyền lời của Thiên Tôn: “Ta ngồi hướng Tây, nên bày sáu vị nghiêng.” Liền bày đạo trường ở điện Diên Ân.
Hôm đó, vào lúc canh năm, trước nghe mùi hương lạ, lát sau, ánh sáng vàng từ hướng Đông Nam đến, che khuất đèn nến. Chốc lát thấy nghi trượng của linh tiên, các vật cầm đều phát sáng, Thiên Tôn đến, mũ áo như Nguyên Thủy Thiên Tôn. Lại có sáu người đều cầm khuê, bốn người mặc áo tiên, hai người đội mũ Thông Thiên, áo sa tía. Vua lạy hai lần dưới thềm. Chốc lát khói vàng nổi lên, giây lát khói tan, Thiên Tôn và sáu người đều ngồi xuống, tùy tùng đứng ở thềm Đông. Vua lên thềm Tây, lạy hai lần. Lại định lạy sáu người, Thiên Tôn bảo chắp tay chào, không lạy. Truyền bày giường, gọi Vua ngồi, uống nước ngọc bích, ngọt trắng như sữa. Thiên Tôn nói: “Ta là một trong chín người Nhân Hoàng, là thủy tổ của họ Triệu, giáng lần nữa, chính là Hiên Viên Hoàng Đế, phàm người đời biết là con của Thiếu Điển, không phải vậy. Mẹ cảm điện mộng thiên nhân, sinh ra ở Thọ Khâu. Thời Hậu Đường, ngày mùng một tháng 7 giáng xuống, cai quản hạ giới, chủ tộc họ Triệu, nay đã trăm năm. Hoàng đế hãy khéo nuôi dưỡng dân chúng, đừng lơ là chí trước.” Liền rời chỗ ngồi, cưỡi mây mà đi.
Đến sáng, Vua kể lại với các quan phụ chính, liền triệu đến điện, xem khắp nơi giáng lâm, lại triệu Phó sứ tu sửa cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng là Lý Tông Ngạc, Lưu Thừa Khuê, Đô giám Lam Kế Tông cùng xem.
[20] Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu cho trong ngoài, đại xá thiên hạ, những người thường xá không tha đều được tha hết. Thuế hạ năm sau của hai kinh giảm hai phần mười, các lộ giảm một phần mười. Ban cho quan về hưu một năm lương đủ, chức mạc, quan châu huyện trước đã qua tỉnh tạm tăng năm trăm người, hết nhiệm kỳ thì dừng.
(《Tống triều yếu lục》, các tướng sĩ trong ngoài đều được cấp đặc chi.)
[21] Hạ lệnh cho Tham tri chính sự Đinh Vị, Hàn lâm học sĩ Lý Tông Ngạc, Long đồ các trực học sĩ Trần Bành Niên cùng các quan kiểm thảo của Thái thường lễ viện xem xét và định ra nghi thức tôn thờ Thiên Tôn, rồi tâu lên.
[22] Ngày Canh Thân, quần thần đến điện Sùng Chính chúc mừng, nhân đó ban rượu năm tuần rồi giải tán. Yến tiệc với các thân tộc tông thất ở điện Vạn Tuế.
[23] Ngày Tân Dậu, Vua đem bài luận “Sùng Nho thuật” và “Vi quân nan vi thần bất dị” cho Vương Đán xem.
Trước đó, Long đồ các trực học sĩ Trần Bành Niên nhân lúc tâu việc, Vua bảo rằng: “Sự hưng thịnh của Nho thuật có ảnh hưởng rất lớn, sự hưng vong của quốc gia đều do đó mà ra. Nhà Tần suy thì kinh sách đạo lý tiêu vong, nhà Hán thịnh thì trường học hưng thịnh. Về sau, mệnh trời thay đổi, nhưng phong giáo vẫn một mực. Nhà Đường văn vật cực thịnh, từ nhà Chu Lương về sau, vương phong dần suy. Thái Tổ, Thái Tông thay đổi tệ tục, sùng thượng văn hóa. Trẫm nối nghiệp tiên vương, kính cẩn tuân theo thánh huấn, lễ nhạc cùng cử hành, Nho thuật giáo hóa thành công, thực là nhờ công đức của hai Vua để lại. Làm Vua khó ở chỗ nghe lời can gián; làm bề tôi khó ở chỗ trung trực. Nếu Vua lấy khoan dung tiếp đãi bề tôi, bề tôi lấy thành thực phụng sự Vua, thì lòng Vua tôi đều quy về chính đạo. Đi theo đường ngay thẳng, gặp gỡ trong sự công bằng, đó là đạo lý thông suốt của thiên hạ, là phép tắc của tiên vương, rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, sao lại nói là khó?” Bành Niên nói: “Thánh ngôn của bệ hạ tinh vi sâu sắc, đủ để thiên hạ biết mà noi theo, xin bệ hạ ghi chép lại tư tưởng sáng suốt ấy thành sách vở.”
Một lát sau, Vua đưa hai bài luận cho Bành Niên xem, Bành Niên lại xin cho các phụ thần xem, Vương Đán nhân đó xin giao cho Quốc tử giám khắc vào bia đá, Vua đồng ý.
[24] Ra chiếu rằng vì Thiên Tôn giáng lâm, sai các phụ thần chia nhau tế cáo trời đất, tông miếu, xã tắc. Ban đầu, tể tướng xin theo lệ cử thừa lang trở xuống đi tế, nhưng Vua đặc cách sai Vương Đán đảm nhiệm việc này, lại sai quan đi tế cáo các lăng tẩm, núi sông, đền miếu, Vua tự tay đóng hương trao cho họ.
[25] Ngày Nhâm Tuất, Vua đến yết kiến ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng. Lúc đó sắp tế thần Châu Địa Kỳ, đang trong thời gian trai giới, Vua nghi ngờ không nên ra ngoài, muốn chọn ngày khác, nhưng sợ chậm trễ. Sau đó Vua hạ chiếu cho các quan Lễ bàn bạc, và nói: “Đốt hương tạ ơn, không phải là đi du ngoạn, nếu không dùng nhạc, thì không có gì trái lễ.” Vua nghe theo.
[26] Hạ chiếu cho Quảng Châu Kiềm hạt kiêm nhiệm chức Đề cử coi việc phòng chống trộm cướp và hỏa hoạn trong thành.
[27] Ngày mùng một tháng 10 nhuận, năm Ất Sửu, hạ chiếu rằng từ nay những kẻ trộm cướp trong kinh thành bị xử phạt đánh trượng và lưu đày, được miễn không phải bêu danh trước công chúng, còn những trường hợp nặng thì tâu lên để xử lý.
[28] Ngày Đinh Mão, Vua sai Vương Đán làm Đại lễ sứ lo việc tạ ơn ở Thái Miếu, Hướng Mẫn Trung làm Lễ nghi sứ, Vương Khâm Nhược làm Nghi trượng sứ, Trần Nghiêu Tẩu làm Lỗ bạ sứ, Mã Tri Tiết làm Kiều đạo đốn đệ sứ. Theo lệ cũ, mỗi khi có đại lễ, tể tướng đảm nhiệm chức Đại lễ sứ, còn các chức Lễ nghi sứ đều phải làm tờ tâu. Năm Đông Phong, Vua đặc cách sai Trung thư, Xu mật viện đảm nhiệm năm chức sứ, năm Phần Âm cũng làm như vậy. Vương Đán tâu: “Năm trước, thần giữ chức tể tướng, Vương Khâm Nhược trở xuống đều giữ chức Xu mật viện, Tham tri chính sự. Nay Hướng Mẫn Trung, Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu Tẩu đều giữ chức Đồng bình chương sự, xét về thể chế, có vẻ không hợp.” Vua nói: “Cứ theo chế độ gần đây là được.” Vương Đán lại tâu: “Năm Đông Phong, Phần Âm, ngày cáo miếu đều mang theo Thiên thư, để tỏ rõ việc làm theo mệnh trời. Nay cáo miếu, Thiên thư quan trọng hơn mọi việc, xin không mang ra ngoài.” Vua nghe theo.
[29] Nghi trượng của xa giá trước đây chỉ dùng hai nghìn người, các quan xin tăng lên bảy nghìn người, Vua nghe theo.
[30] Các quan xin dùng lễ hưởng ở Thái Miếu, một tuần dâng rượu, trong sân bày nhạc khí, trên điện hát ca, không có hai điệu múa. Vua muốn coi trọng việc này, đặc cách dùng ba tuần dâng rượu, bèn sai Tương vương Nguyên Ốc làm Á hiến, Thư vương Nguyên Xưng làm Chung hiến.
[31] Hạ chiếu rằng những con dê mua ở trường thuế Hà Bắc chết dọc đường, không được bắt dân bán chúng.
[32] Hạ chiếu: “Nghe nói các quan biên giới mỗi dịp Tết Nguyên đán, từ canh năm đã thắp đèn chúc mừng, suốt ngày tụ họp yến tiệc, có khi đến nửa đêm mà cổng thành vẫn không đóng. Từ nay không được làm như vậy nữa.”
[33] Ngày Kỷ Tỵ, tôn hiệu Thánh Tổ là Thượng Linh Cao Đạo Cửu Thiên Ty Mệnh Bảo Sinh Thiên Tôn Đại Đế. Các quan xin dùng điện Ngọc Hoàng ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng làm chính điện của Thánh Tổ, còn điện Ty Mệnh ở phía đông làm nơi xử lý công việc.
[34] Lệnh cho châu Thi mỗi tháng vào ngày sóc và vọng cấp rượu thịt để khao thưởng người dân tộc Khê Man.
[35] Ngày Canh Ngọ, Vua ăn chay ở điện Trường Xuân, dựng đạo trường ở điện Triều Nguyên, bố trí nơi thay áo, và tấu lệnh trung nghiêm ngoại biện ở điện Văn Đức.
[36] Ngày Tân Mùi, Vua thân hành tạ lễ ở sáu thất của Thái Miếu, lại sai các đại thần đi tế cáo trời đất, xã tắc và miếu hậu.
[37] Ngày Nhâm Thân, Vua nói với tể tướng: “Gần đây nghe nói Trịnh Quốc Trưởng Công chúa đi kiệu ra ngoài, có dân phạm vào hàng rào tiền đạo, liền bắt đánh. Trẫm khi còn ở Đông Cung, gặp kẻ phạm lỗi, chỉ giao cho phủ huyện xử lý, chưa từng tự ý đánh đập. Nên lệnh cho Khai Phong phủ từ nay gặp việc tương tự chưa được tự quyết phạt, phải kê tên tâu lên. Đồng thời nghiêm cấm các sứ thần phụ trách các phủ đệ.”
[38] Ban chiếu: “Tên Thánh Tổ, trên là Huyền, dưới là Lãng, không được xúc phạm. Lấy ngày mùng một tháng 7 làm tiết Tiên Thiên, ngày 24 tháng 10 làm tiết Giáng Thánh, đều cho nghỉ 5 ngày. Ở hai kinh và các châu, trước 7 ngày dựng đạo trường, trong kỳ nghỉ cấm giết mổ, đình chỉ hình phạt, cho phép sĩ dân vui chơi, kinh thành thắp đèn một đêm.”
[39] Đổi tên điện Diên Ân thành điện Chân Du, tu sửa lại.
[40] Các quan tâu: “Đạo trường và tấu cáo, từ nay dùng thanh từ viết ‘Tự hoàng đế thần thự’. Việc lớn, quan tế mặc triều phục. Tấu cáo thường ngày mặc công phục. Khi tiến hiến, thì Thái chúc đọc văn tế. Dựng tiếu, chỉ sai đạo sĩ chuẩn bị hương rượu, cá tươi, lụa màu xanh.” Vua chuẩn tấu.
[41] Ngày Quý Dậu, ban chiếu cho các châu, phủ, quân, giám trong thiên hạ đều xây thêm điện Thánh Tổ ở quán Thiên Khánh.
[42] Ngày Ất Hợi, ban chiếu tôn hiệu Thánh tổ mẫu là Nguyên Thiên Đại Thánh Hậu. Trước đó, các tể thần thấy thụy hiệu của Thái Tổ có chữ trùng với tên Thánh Tổ[16], bèn bàn việc đổi thụy hiệu. Vua nói: “Chân Tổ giáng lâm, là điềm lành lớn của hoàng gia. Sáu tông thất đều nên tăng thụy hiệu.” Bèn ban chiếu cho sáu tông thất trong Thái Miếu, mỗi nơi dâng lên hai chữ tôn thụy. Trung thư, Môn hạ xin thêm thụy hiệu cho Hi Tổ là Văn Hiến Duệ Hòa, Thuận Tổ là Huệ Nguyên Duệ Minh, Dực Tổ là Giản Cung Duệ Đức, Tuyên Tổ là Chiêu Vũ Duệ Thánh, Thái Tổ là Khải Vận Lập Cực Anh Vũ Duệ Văn Thần Đức Thánh Công Chí Minh Đại Hiếu, Thái Tông là Chí Nhân Ứng Đạo Thần Công Thánh Đức Văn Vũ Duệ Liệt Đại Minh Quảng Hiếu.
Các quan tâu rằng Thánh tổ mẫu chưa có cung điện, xin cử quan đến Thọ Khâu, huyện Khúc Phụ, châu Duyễn để tấu cáo, Vua đồng ý.
[43] Ngày Bính Tý, Vua ban gạo mới từ điện Ngọc Thần cho các phụ thần, nói: “Trong cung trồng lúa, nhân lúc rảnh rỗi đến xem gặt hái, thấy được sự vất vả, càng thấu hiểu nỗi khổ của nông dân.”
[44] Quần thần dâng tôn hiệu Vua là Sùng Văn Quảng Vũ Cảm Thiên Tôn Đạo Ứng Chân Hữu Đức Thượng Thánh Khâm Minh Nhân Hiếu, Vua không nhận. Ba lần dâng biểu, Vua mới chấp thuận. Ban chiếu đợi khi lễ tôn sách Thánh Tổ xong sẽ nhận sách.
[45] Ngày Đinh Sửu, Vua đến điện Thần Ngự Thái Tông ở viện Khải Thánh[17]. Lễ xong, Vua ban chiếu lấy tảng đá Chí Công được tìm thấy ở châu Thư thời Thái Bình Hưng Quốc từ các Long Đồ để cho các phụ thần xem, Vua làm thơ ghi lại điềm lành, lại viết bài tán, đặt tên là Thần Cáo Đế Thống Thạch. Bèn thêm thụy hiệu cho Chí Công là Chân Giác, sai Tri chế cáo Trần Nghiêu Tư đến Tương Sơn tấu cáo. Sau đó lại thêm thụy hiệu là Đạo Lâm Chân Giác, lệnh cho quan dân không được gọi thẳng tên Chí Công.
[46] Người Ngũ Khê là Hướng Quý Thăng cùng 500 người và người Ma Bính, Lạc Phố đến cống phương vật.
[47] Ngày Mậu Dần, đổi huyện Khúc Phụ, châu Duyễn thành huyện Tiên Nguyên. Xây dựng cung Cảnh Linh và quán Thái Cực ở Thọ Khâu để thờ phụng Thánh Tổ và Thánh Tổ Mẫu. Sai Nội cung phụng quan Chu Hoài Chính cùng các quan trưởng lại trong châu quy hoạch và khởi công xây dựng. Đợi khi cung quán hoàn thành, sẽ chuẩn bị lễ nghi và dâng sách. Quy chế của cung quán đều mở ba cửa phía nam, hai tầng, hai dãy hành lang đông tây, chính giữa xây điện chính, nối liền với điện ủng. Lại xây dựng đạo viện và trai phường, số lượng quán vũ giảm bớt so với cung.
[48] Ngày Canh Thìn, Vương Khâm Nhược tâu rằng phủ đệ của ông nằm sau Thái Miếu và trước Hậu Miếu, mỗi khi ra vào yến tiệc đều không yên ổn, xin đổi ban cho phủ đệ khác. Chiếu chuẩn, sau đó cho xây dựng phủ đệ ở phường An Định ban cho ông.
[49] Ngày Tân Tỵ, khi đặt xà ngang trên lầu Thiên Thư ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, xa giá đến xem, yến tiệc và ban thưởng như thường lệ.
[50] Ngày Đinh Hợi, chiếu rằng sách bảo và pháp vật của Thánh Tổ, Thánh Mẫu đều được trang trí bằng vàng, sách tôn hiệu dùng vàng mạ bạc để trang trí. Theo chế độ cũ, sách bảo của hoàng đế trang trí bằng vàng, tông miếu trang trí bằng bạc. Đến lúc này, Hữu ty xin sách bảo của Thánh Tổ theo chế độ tông miếu, nhưng Vua tôn sùng Thánh Chân, chí hướng khiêm tốn, nên có chiếu này.
[51] Hữu ty tâu rằng nhạc chương của Thái Thanh cung thời Đường đều do Minh Hoàng sáng tác, nay tôn thờ Ngọc Hoàng, Thánh Tổ và tổ tiên, xin Vua tự soạn nhạc chương. Ngày Mậu Tý, trong cung ban ra 16 khúc nhạc chương cho các phụ thần xem, văn vũ gọi là “Phát Tường Lưu Khánh”, vũ vũ gọi là “Giáng Chân Quan Đức”.
[52] Ngày Canh Dần, Long Đồ các Trực học sĩ Trần Bành Niên dâng lên 10 quyển 《Tân Định Cáp Môn Nghi Chế》, 6 quyển 《Khách Tỉnh Sự Lệ》 và 1 quyển 《Tứ Phương Quán Nghi》, chiếu khen thưởng và ban thưởng vàng lụa theo thứ bậc.
(《Thực Lục》 và 《Bản Kỷ》 đều chép vào ngày Đinh Mùi tháng 6 việc Trần Bành Niên dâng 《Cáp Môn Nghi Chế》, nay lại chép cả 《Khách Tỉnh》 và 《Tứ Phương Quán Nghi Chế》, nghi ngờ là trùng lặp, nên bỏ đi phần chép ngày Đinh Mùi tháng 6, chỉ giữ lại phần này.)
[53] Chiếu cho Thái thường tự tuyển chọn quân sĩ ở hai sương Thiên Vũ tả hữu thuộc Điện tiền ty, mỗi sương 75 người, mỗi người làm người thổi tù và, dạy tập để chuẩn bị cho cảnh trường. Trước đây, mỗi khi cử hành đại lễ, đều dự định triệu tập những người thổi trống tù và từ các châu quân gần kinh thành, dân nghèo phải từ xa đến, rất hao tổn sức lực và tiền của. Đến nay bãi bỏ việc này, mọi người đều cho là tiện lợi.
[54] Lệnh cho Trang trạch phó sứ Vương Thừa Hữu và Nhập nội điện đầu Dương Hoài Cát nạo vét sông Biện. Vua nói: “Sông Biện có chỗ uốn khúc, chỗ cạn, nhiều người bị chết đuối, là do lúc khơi thông chỉ dựa vào công liệu đã kiểm kế; lúc kiểm kế, nước sông lại che phủ, không thấy chỗ cần thi công. Từ nay phải bịt thượng lưu trước, rút hết nước trong lòng sông[18], rồi mới tiến hành kiểm kế.” Vẫn sai Thừa Hữu và Hoài Cát đảm nhiệm việc này.
(Thừa Hữu là con thứ tư của Thẩm Kỳ. Hoài Cát, thiếu.)
[55] Tháng 11, ngày Bính Thân, Vua ở điện Triều Nguyên làm lễ cung tạ Ngọc Hoàng, phụng thiên thư hành lễ. Trai giới ba ngày, cấm giết mổ, chuẩn bị tam hiến, dâng ngọc lụa, thịt bột. Thánh tổ ngồi phối hưởng, vị trí ở phía đông, chiếu dùng màu vàng, ngọc dùng bốn mảnh có đế, lụa màu xanh. Thái Tổ, Thái Tông ngồi ở phía tây, bày cung giá. Bá quan mặc triều phục, đều như lễ tế xong[19], ban rượu phúc cho quần thần có sai biệt. Có chim thần và hai con hạc đến đậu, Vua làm thơ ghi lại.
[56] Ngày Mậu Tuất, Hữu đồn vệ tướng quân, tặng Dĩnh châu phòng ngự sứ Doãn Trung mất. Doãn Trung là con thứ hai của Vận Cung Tĩnh vương. Trước đây, hữu ty cho rằng đến đông chí, nên mở tiệc ở nhà Hướng Mẫn Trung để đãi các quan gần, bèn xin không bày nhạc, Vua nói: “Nhạc để giúp ăn uống, không thể bỏ được.” Chỉ lệnh đổi sang trung tuần mở hội.
(Doãn Trung đổi tên là Doãn Hoài, xem tháng giêng năm Khang Định thứ nhất, nên khảo cứu.)
[57] Ngày Canh Tý, Vua làm bài 《Thánh tổ giáng lâm ký》 tuyên bố trong ngoài.
[58] Ngày Tân Sửu, Vua xuống chiếu tu sửa trai cung ở Nam Giao, sai quân sĩ thay thế các bậc kỳ lão trong làng trông coi, thường xuyên giữ gìn sạch sẽ.
[59] Nội thị Dương Hoài Ân vu cáo rằng gia nô của mình xúi giục cha mẹ muốn chia nhà riêng ở. Vua nói: “Các quan trong cung đều là con nuôi[20], tệ nạn này cần phải xem xét kỹ.” Đặc biệt xuống chiếu đánh trượng và đày đi Đường Châu.
[60] Ngày Quý Mão, Vua xuống chiếu cho Nội thị tỉnh sai quân thân sự đi giám sát kho tàng, nếu có ai nhân cơ hội đòi tiền của thì giao cho Khai Phong phủ bắt giữ và trừng trị nghiêm khắc.
[61] Ngày Bính Ngọ, Tể thần Vương Đán được thăng làm Môn hạ Thị lang, Hướng Mẫn Trung làm Trung thư Thị lang, Sở vương Nguyên Tá làm Thái sư, Tương vương Nguyên Ốc làm Thái phó, Thư vương Nguyên Xưng làm Thái bảo, Vinh vương Nguyên Nghiễm làm Kiểm hiệu Thái úy, các quan văn võ trong ngoài đều được thăng cấp, huân, tước, ấp khác nhau.
[62] Vua xuống chiếu quy định tăng lương tháng cho các quan văn võ có mức khác nhau. Vua kế thừa sự cần kiệm của hai đời Vua trước, tích lũy nhiều của cải, thời bình đã lâu, thuế má rất nhẹ, ngoài chi tiêu quân quốc, chưa từng tiêu xài hoang phí. Vua cho rằng các quan nhỏ làm việc vất vả mà lương ít, nếu không tăng lương thì khó bắt họ giữ được thanh liêm. Vì vậy nhân dịp ban ơn, đặc biệt bàn việc tăng lương.
[63] Vua sai Tây Kinh Tả tàng khố sứ Vương Ứng Xương đi sứ Hạ Châu, mang sắc phong gia ân ban cho Triệu Đức Minh. Lại sai sứ đến biên giới Giao Châu triệu tập con em của Lý Công Uẩn, ban sắc phong cho họ.
[64] Cấm sứ giả Hạ Châu đến tiến cống chế tạo vũ khí mang về bản đạo.
[65] Điện tiền và Thị vệ Mã bộ quân ty tâu: “Tam ty theo chiếu đem sổ lương của quân mã mới thu nạp vào để kiểm tra, việc kéo dài hơn mười ngày, rất bất tiện, xin tạm thời vẫn theo lệ cũ.” Vua xuống chiếu cho phép tạm dùng sổ cũ, tháng sau sẽ đổi theo chế độ mới.
[66] Ngày Bính Ngọ, Tuyên chính sứ, Đề điểm Nội tàng khố Lưu Thừa Khuê dâng lên 《Nội tàng khố tu tri》 5 quyển, Vua xuống chiếu khen ngợi.
[67] Ngày Đinh Mùi, Vua xuống chiếu từ nay cho phép thương nhân được tự do buôn bán lương thực, quan phủ không được cấm đoán. Lúc đó ở kinh đô giá gạo đắt, Vua cho rằng việc thu mua tăng giá làm hại dân, nên có chiếu này.
[68] Thượng nói với tể tướng rằng: “Sông Biện hàng năm có xác chết trôi dạt, đến sông Hoài thì dừng lại. Tuy nhiên, những người chết oan uổng ắt phải có tích tụ điều ác, nên mới chịu khổ nạn này. Trẫm nghĩ nên dùng thiện duyên để cứu giúp họ.” Bèn soạn văn phát nguyện, sai Công bộ lang trung, Trực tập hiền viện Lý Kiến Trung và Nội điện sùng ban Trương Thừa Tố mang đến Tứ châu, theo nghi thức Đạo giáo và Phật giáo thiết trai đàn, tuyên đọc văn phát nguyện, và cúng tế những người chết đuối. Lại chiếu cho châu ấy mỗi năm chọn ngày cấm giết mổ, tại các chùa và đạo quán đều lập đạo trường trong năm ngày đêm, và thiết lễ cúng tế.
Tể tướng xin khắc văn phát nguyện của Thượng vào bia đá, và xây dựng một đạo quán tại châu ấy. Bèn chọn được đất phía đông sông Biện, gần sông Hoài, sai Nội thị Triệu Lý Tín và Chu Doãn Trung đốc thúc việc xây dựng, tổng cộng xây dựng 274 gian nhà, ban tên là Diên Xương.
[69] Ngày Mậu Thân, ban chiếu rằng: “Nghe nói dọc theo sông Biện, những người lính canh đê và quân Thanh tốt thường cướp bóc khách qua đường, lấy tài sản của họ, rồi vứt xác xuống sông, việc này rất khó phát hiện. Nay có thể công khai treo thưởng, chiêu mộ người tố giác.”
[70] Ngày Kỷ Dậu, ban chiếu về việc dẫn dụng điển cố Hoàng Đế, từ nay trở đi, trong các chiếu thư ban ra, ngoài văn tự của Thánh mẫu, không được dẫn dụng điển cố nào khác. Lúc đó, Học sĩ viện soạn văn từ cho yến tiệc ngày Thừa Thiên tiết, trong đó có câu “Đại điện nhiễu xu”, Thượng sai tể thần truyền chỉ thay đổi, nhân đó ban chiếu này.
[71] Ngày Nhâm Tý, đổi Lãng châu thành Đỉnh châu, cửa Huyền Vũ thành cửa Củng Thần.
[72] Ngày Ất Mão, ban chiếu rằng: “Thương nhân từ kinh đô mang tiền tiện đến các châu, (Theo ghi chép, năm Khai Bảo thứ ba đời Thái Tổ, đặt ra Tiện tiền vụ, cho phép dân nộp tiền vào kho Tả tàng, cấp giấy khoán, để đổi tiền tại các châu. Điều này nên ghi là ‘từ kinh đô mang giấy khoán tiền tiện đến các châu’, nguyên văn có lẽ thiếu chữ.) nơi nào nhận được phải lập tức chi trả, không được chậm trễ.”
[73] Tri châu Tử Châu là Thôi Đoan dâng một con chim trĩ trắng, Thượng cho rằng đất xa làm khổ người, ban thưởng tiền cho nha lại rồi cho về. Lại lệnh cho các châu theo chiếu trước, không được dâng chim quý thú lạ.
[74] Ngày Bính Thìn, trong cung đưa ra bộ sách ngự chế của Thái Tông và 360 quyển pháp thiếp cho các đại thần xem. Vương Đán nói: “Dùng văn chương để giáo hóa dân chúng, thực sự bắt đầu từ Thái Tông.” Thượng nói với Hướng Mẫn Trung và Đinh Vị rằng: “Cây bút mà Thái Tông dùng, các khanh chưa từng thấy.” Bèn ban cho mỗi người một đôi.
[75] Ngày Mậu Ngọ, Khiết Đan phái sứ giả là Chiêu Đức quân Tiết độ sứ Gia Luật Ninh, Phó sứ Đại Lý thiếu khanh Quý Đạo Kỷ đến chúc mừng ngày Thừa Thiên tiết.
[76] Ngày Canh Thân, ra lệnh cho các quan đạo dọc biên giới phía bắc Hà Bắc kịp thời trồng cây du và cây liễu.
[77] Ngày Tân Dậu, Tây Lương Tư Đạc Đốc phái con trai đến triều cống.
[78] Tháng này, lần đầu đặt chức Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ, cử Tể thần Vương Đán đảm nhiệm. Chiếu chỉ cho đến cung làm lễ, trăm quan dâng lời chúc mừng theo nghi thức, nhưng vì cơ quan chưa chuẩn bị đầy đủ, tạm thời bãi bỏ lễ chúc mừng[21].
[79] Chiếu chỉ rằng các viên chức phụ trách vận chuyển ở Xa doanh và Trí viễn vụ từ nay phải chọn người đã từng được cử đi nhiều lần mà không phạm lỗi. Lúc đó, Vua nói với các cận thần: “Xa doanh vụ và Trí viễn vụ, Tam ty vốn không có quy định rõ ràng, tổn thất ngày càng nhiều, liền bố trí người ở các quận bên ngoài[22]. Từ khi lập ra quy định thưởng phạt cho từng đoàn vận chuyển, chuyên cử điện thị quản lý, số lượng tổn thất chỉ còn một hai phần mười. Các điện thị, mỗi lần xét thành tích, người đạt yêu cầu được cử làm sai sứ ở Tam ban, gần đây nhiều điện thị xin được cử đi, đó cũng là cách khuyến khích hợp lý.”
[80] Tháng 12, ngày Giáp Tý, mùng một, phong Tuyên chính sứ, Ứng Châu quan sát sứ Lưu Thừa Khuê làm Cảnh Phúc điện sứ, Tân Châu quan sát sứ, vẫn giữ chức Tu Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung phó sứ. Trước đó, Thừa Khuê vì bệnh nhiều lần dâng biểu xin nghỉ hưu. Tu cung sứ Đinh Vị nói Thừa Khuê đang đảm nhiệm chức vụ trong cung, cần ông quản lý, mong Vua không chấp thuận lời xin, chỉ ban cho nghỉ ngơi. Nhưng Thừa Khuê vẫn tiếp tục xin, nên Vua đồng ý giảm bớt công việc, đặc biệt đặt chức này để ban ân sủng, xếp trên Khách tỉnh sứ. Các chức vụ Ngũ Nhạc quán, Nội tàng khố, Hoàng thành ty vẫn do ông quản lý, còn lại đều giao cho người khác. Thừa Khuê lại xin nộp lại bổng lộc của chức Quan sát sứ, Vua chấp thuận. Lại định bổng lộc của Điện sứ như Nội khách tỉnh sứ, và cấp tiền thật, Vua tự tay làm thơ ban cho ông.
[81] Ngày Bính Dần, ban thưởng củi và than cho các quân ban trực, các quân và những người dư thừa, có mức khác nhau; đối với gia đình quân sĩ đóng quân ở ngoài mà người thân ở trong doanh trại thì được một nửa.
[82] Chiếu rằng các chức sứ, phó sứ nhậm chức ở biên giới như bộ thự, tri châu, kiềm hạt, tuần kiểm, khi vào từ biệt, xin bổ nhiệm con cháu, có sự chênh lệch về ân điển giữa xa gần, nên lệnh cho Xu mật viện định ra điều lệ.
[83] Trước đó, chiếu cho Đinh Vị và những người khác chọn đất ở kinh thành để xây cung điện thờ Thánh tổ. Đinh Vị và những người khác tâu: “Thiếu giám Ty thiên Vương Hi Nguyên nói rằng theo sách thiên văn, phía nam Thái vi cung có sao Thiên miếu, là tổ miếu của đế vương, nên chọn đất phía bính trong đại nội.” Bèn chọn được đất cát ở Tích Khánh viện, liền lệnh cho Đinh Vị và những người khác cùng nội thị Đặng Thủ Ân xây dựng. Ngày Mậu Thìn, chiếu đặt tên cung mới là Cảnh Linh.
[84] Ngày Kỷ Tỵ, lệnh cho Tam ty xuất 40 vạn cân than, giảm một nửa giá thị trường để cứu giúp dân nghèo. Lúc đó, tuyết rơi liên tiếp nhiều ngày, trời rất lạnh, người bán than ở kinh thành mỗi cân lấy 200 tiền, nên có lệnh này. Lại sai 16 sứ thần chia nhau đặt trường, lấy 2 nội cung phụng đứng đầu. Từ đó, dân nghèo đổ xô đến, có người bị giẫm đạp đến chết, bèn lệnh cho Đô tuần kiểm Trương Mân sai quân hiệu dẫn lính đi tuần tra bảo vệ, ban tiền cho gia đình người chết, người không có họ hàng thì quan phủ chôn cất. Lại lệnh cho Tam ty thường trữ 50 đến 70 vạn cân than, như thường bình thương, gặp lúc giá cao thì bán rẻ.
[85] Ngày Tân Mùi, chiếu rằng: “Các quan văn võ khi vào chầu đứng hàng và dẫn đối ở điện Sùng Chính, từ nay ai có biếng nhác không đúng nghi thức, thì Cáp môn và Ngự sử đài hặc tấu. Nếu không hặc tấu, sẽ cùng bị xét tội.” Người dâng thư nói rằng những năm gần đây nghi lễ triều đình không được nghiêm túc, các quan có ty coi ngó, không ai dám làm tròn chức trách.
[86] Các quan tâu: “Theo 《Chu Lễ》, tháng mười tế thần Ty Dân. Nhà Đường vì kiêng húy của Văn Hoàng nên đổi thành Ty Nhân. Nay xin đổi các chữ Huyền Vũ, Huyền Minh, Huyền Dặc, Huyền Hiêu thành chữ ‘Chân’, và cử quan đến Nam Giao lập đàn tế Trời và bốn vị thần để cáo.” Vua chuẩn tấu.
[87] Ngày Nhâm Thân, đổi thụy hiệu Huyền Thánh Văn Tuyên Vương thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương.
[88] Ngày Giáp Tuất, Vua hạ chiếu: “Trước đây đã có chiếu cho Khai Phong phủ phá bỏ những nhà dân ở kinh thành lấn chiếm đường phố, nhưng hiện đang là mùa đông giá rét, nên đợi đến mùa xuân.”
[89] Quản câu lộ Lân Phủ quân mã sự Hàn Thủ Anh tâu rằng Phòng ngự sứ châu Phong là Vương Thừa Mỹ đã mất, con ông là Văn Ngọc tạm quyền cai quản việc Hán và Phiên[23], nên xin chỉ dụ triều đình. Vua nói: “Việc châu Phong phức tạp, nên chọn người am hiểu biên sự và được người Nhung kính phục.” Liền hạ chiếu cho Thủ Anh cùng Tri phủ châu Chiết Duy Xương xem xét các con của Thừa Mỹ và hỏi ý kiến các tướng Hán và Phiên rồi tâu lên. Sau đó, theo lời tâu, phong Văn Ngọc làm Tả thị cấm, Tri châu sự.
Khi Thừa Mỹ mới bị bệnh, Vua đã sai trung sứ đưa thái y đến thăm, lệnh mỗi ngày báo cáo tình hình sức khỏe của ông, gửi qua trạm dịch. Khi ông mất, được truy tặng chức Ân Châu quan sát sứ. Con ông là Văn Bảo được bổ làm Tam ban phụng chức, cháu là Đức Quân được bổ làm Tá chức[24], và chiếu cho vợ ông là Chiết thị được vào yết kiến trong cung. Văn Cung là con trưởng của Thừa Mỹ. Thừa Mỹ nhận Văn Ngọc làm con, tâu xin cho làm Điện trực. Khi Văn Ngọc kế nhiệm, Văn Cung đang làm Thị cấm ở châu Nghi, dâng biểu tố cáo việc này, Vua hạ chiếu đổi Văn Cung làm Cung phụng quan.
[90] Ngày Ất Hợi, sai quan thường tham đến các châu Lân, Phủ lập trường mua lương thực cho quân. Lúc ấy, Hà Đông được mùa, giá gạo một hộc là một trăm tiền, có người dùng một cân trà đổi lấy một bao thóc[25]. Các châu huyện thấy có lợi trong việc vận chuyển, không thu mua ngay, nên có lệnh này.
[91] Ngày Bính Tý, xuống chiếu xét tội các nội thần phụ trách quốc tín là Diêm Thừa Hàn, Trương Kế Năng, vì sứ thần Khiết Đan ở dịch trạm tự ý về, việc cung ứng thiếu sót. Án tâu xin đặc biệt tha tội, còn lại đều bị trừng phạt.
[92] Ngày Mậu Dần, người man ở Khê Động là Trương Văn Kiều cùng tám trăm người đến triều kiến.
[93] Ngày Kỷ Mão, tăng tiền công dụng của châu Ký mỗi năm năm mươi vạn, vì châu này nằm ở nơi xung yếu trên đường phía bắc.
[94] Quan tri quân Thiên Hùng là Khấu Chuẩn tâu rằng ngục tù trống không, xuống chiếu khen thưởng.
[95] Ngày Canh Thìn, quan tri châu Xử là Trương Nhược Cốc tâu: “Hoàng Đế nhờ bổ nhiệm sáu tướng mà thiên hạ được trị. Thần thấy trong chiếu có nói Thánh Tổ giáng lâm, có văn bản đặt sáu vị tướng, thần suy nghĩ kỹ, chắc là sáu tướng thời đó. Theo chiếu thời Đường Thiên Bảo, Tam Hoàng, Ngũ Đế đều có người phối hưởng, riêng Hoàng Đế chỉ có Hậu Thổ phối hưởng. Xin trong điện đắp tượng sáu tướng và thêm thụy hiệu.” Các quan nói: “Việc thần linh không thể biết hết, việc sáu tướng e khó có căn cứ. Sáu vị tiên quan, xin cho biên tu đạo tạng thêm vào vị trí tế lễ và đặt tượng ở điện Thánh Tổ.” Được chấp thuận.
(Nhược Cốc, người châu Nam Kiếm, trong sử hai triều có truyện, từ đầu niên hiệu Cảnh Đức đã làm phán quan Tam Ty. Người làm tri châu Xử này, chắc là một Trương Nhược Cốc khác. Bản truyện cho là người châu Nam Kiếm, e không phải.)
[96] Ngày Tân Tỵ, ban thụy hiệu cho nhà sư ở núi Cửu Mi là Mậu Trinh là Minh Quả. Vua nói với các phụ thần: “Mậu Trinh tu hành tinh tấn, mỗi khi gặp vương công thân thuộc, đều tùy tính cách mà khuyên bảo, thường nói làm việc thiện cho bản thân, hết lòng trung với Vua thì có thể giữ được phúc thọ, giữ mãi giàu sang. Lại biết trước khi mất, ngồi kiết già mà hóa, điều này cũng đáng khen.”
[97] Ngày Ất Dậu, lệnh cho châu Tứ xuất 10 vạn thạch gạo quan để cứu đói dân, lại tăng thêm quân để phòng trộm cướp.
[98] Cấp cho châu Thái 20 vạn tiền công dụng mỗi năm.
[99] Ngày Bính Tuất, ban chiếu: “Các ngày lễ Thiên Khánh, Thiên Huống, Tiên Thiên, Giáng Thánh, Thừa Thiên, tạm ngừng thi hành hình phạt. Nghe nói nơi nào cũng có nhiều người bị oan ức, từ nay những người bị đánh roi, gậy mà tình tiết nhẹ thì tha; tình tiết nặng và cần có người làm chứng thì bảo lãnh ra ngoài.”
[100] Ngày Đinh Hợi, lập Đức phi họ Lưu làm Hoàng hậu. Hậu tính thông minh, hiểu biết sử sách, nghe việc triều đình thì nhớ được đầu đuôi. Mỗi khi Vua đi tuần du, hậu đều đi theo. Áo quần không xa hoa, không khác gì các cung nhân. Sau khi Trang Mục hoàng hậu băng hà, vị trí trung cung bỏ trống, Vua muốn lập hậu ngay, nhưng hậu cố từ chối. Một thời gian sau, sắp ban chiếu, thì tể tướng Vương Đán bỗng dưng xin nghỉ vì bệnh, hậu nghi ngờ Vương Đán có ý kiến khác, lại cố từ chối. Do đó, Trung thư môn hạ xin sớm định ngôi mẫu nghi, cuối cùng hậu được lập. Mọi việc xử lý trong cung đình, hậu thường dẫn chứng cổ tích, không gì là không thích đáng. Vua sau khi thiết triều, xem các tấu chương trong thiên hạ, thường đến nửa đêm, hậu đều được nghe qua. Hậu cẩn thận, kín đáo, càng được Vua tin cậy.
(Đoạn này dựa theo văn cũ trong Thực lục[26], có lẽ là bài tấu thời nhiếp chính, tình thế không tránh khỏi như vậy. Cần phải chỉnh sửa.)
[101] Biên soạn và liên kết ba bức tranh về đàn tế Hậu Thổ ở Phần Âm, đàn triều kiến, và đền Tây Nhạc cùng 148 bức tranh về điềm lành do Ty Tường Thụy dâng lên, đặt dưới Long Đồ các, triệu tập tông thất, phụ thần, hai chế, thượng thư thừa lang, hai tỉnh cấp gián, phó sứ Tam ty, thứ sử trở lên đến xem. Vương Đán thường nói với Vua: “Thần trước làm Đại lễ sứ, có tấu về điềm lành, nhưng thần không tận mắt thấy, chỉ dựa vào tờ trình của Tư thiên giám Hình Trung Hòa. Mong rằng sử quan ghi chép sự thật.”
(Đoạn này dựa theo 《Di sự lục》, ghi chép dưới phần biên soạn tranh điềm lành, ban đầu không liên quan đến phần này. Có hay không, cũng cần xem xét.)
[102] Ngày Mậu Tý, Khiết Đan phái sứ giả là Quảng Đức quân Tiết độ sứ Tiêu Cổn, Phó sứ là Tả Vệ Đại tướng quân Tề Thái đến chúc mừng năm mới.
[103] Ngày Canh Dần, ban chiếu rằng các địa phương có tội đại hình, hoặc có tình tiết nghi ngờ, trước đây đều đợi đến cuối tuần mới báo lên Chuyển vận sứ và Đề điểm hình ngục ty, dẫn đến việc xét xử bị chậm trễ. Từ nay trở đi, phải báo ngay trong ngày, theo yêu cầu của Đề điểm hình ngục Trương Hoài Bảo ở Hà Đông lộ.
[104] Ban chiếu rằng từ nay các châu dâng vật phẩm địa phương đến kinh đô, lệnh cho Hộ bộ gửi văn thư đến các kho, sở thuộc quyền, tiếp nhận trước, người đưa vật phẩm được cho về, đợi đến ngày chính đán triều hạ, bày trượng, sẽ cử người khác mang đến trưng bày.
[105] Ban chiếu cho Tri Diên châu Lý Cập kiêm chức Đô tuần kiểm sứ vùng biên giới[27], lại cấp cho đội ngựa và bộ binh, nếu không có cảnh báo biên giới thì không cần tuần tra.
[106] Năm này, ban chiếu rằng các Ngự sử ở ba viện, trừ những người được cử đi nhậm chức ngoại nhiệm và tại kinh đô đảm nhiệm các cục khác, quy định lấy sáu người làm định chế.
(《Hội yếu》 không ghi rõ tháng ngày.)
- 'Ngũ thập nhân' nguyên bản chép là 'ngũ thiên nhân', theo 《Tống hội yếu》 phiên di 5 chi 78 và 《Tống sử》 quyển 493 Man di truyền sửa lại. ↵
- Lý Tông Chính nguyên bản là 'Lý Trung Chính', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và các bản khác sửa lại. Xem văn dưới và quyển 30 《Tục thông giám》 đều chép là 'Lý Tông Chính'. ↵
- chữ 'Thất' trong 'hựu thất thập lí chí trác châu' vốn bị khuyết, căn cứ theo 《Khiết Đan Quốc Chí》 quyển 24, 《Vương Nghi Công Hành Trình Lục》, 《Tống Hội Yếu》 phần Phiên Di 2-6, 《Thông Khảo》 quyển 346, 《Tứ Di Khảo》, 《Liêu Sử》 quyển 40, 《Địa Lý Chí》 bổ sung. ↵
- chữ 'nội' trong 'thành nam môn nội hữu vu việt vương giải' giống với các bản khác và 《Thông Khảo》; 《Khiết Đan Quốc Chí》, 《Liêu Sử》 cùng quyển và 《Tống Hội Yếu》 phần Phiên Di 2-7 đều ghi là 'ngoại'. ↵
- Bốn mươi dặm đến Tôn Hầu quán, chữ 'đến' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Khiết Đan quốc chí》, 《Tống hội yếu》, 《Thông khảo》 cùng quyển và 《Liêu sử》 quyển 39, 《Địa lý chí》 bổ sung. Chữ 'Hầu' nguyên bản là 'Hậu', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và sách trên cùng quyển sửa lại. ↵
- Từ phía bắc dần vào núi, chữ 'bắc' các bản đều giống nhau, 《Khiết Đan quốc chí》 cùng quyển chú: 'Một bản chép là 'thử'.' ↵
- Đèo Điêu Khoa, chữ 'Khoa' nguyên bản là 'Sào', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu, bản Các và sách 《Khiết Đan quốc chí》, 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di nhị chi thất, 《Liêu sử》 quyển 39 phần Địa lý chí mà sửa. ↵
- Lại qua đèo Mặc Đẩu, chữ 'Mặc' nguyên bản là 'Mộc', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu, bản Các và sách 《Khiết Đan quốc chí》, 《Tống hội yếu》, 《Thông khảo》 quyển 346 phần Tứ Di khảo mà sửa, sách 《Liêu sử》 thì sửa thành 'Mô', vì cùng âm mà dùng thay nhau. ↵
- Chín mươi dặm đến trạm Thiết Tương, chữ 'Tương' nguyên bản là 'Tượng', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và sách 《Khiết Đan quốc chí》, 《Thông khảo》, 《Liêu sử》 cùng 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di nhị chi bát mà sửa. ↵
- Từ đây dần ra khỏi núi, 'đây' nguyên bản là 'bắc' (theo 《Thông khảo》), 'ra' nguyên bản là 'vào', căn cứ theo 《Khiết Đan quốc chí》, 《Tống hội yếu》, 《Liêu sử》 sửa lại. ↵
- Trên núi nhiều chim thú và cây cối, 'cây' nguyên bản là 'gỗ' (theo 《Tống hội yếu》), căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Khiết Đan quốc chí》, 《Thông khảo》 sửa lại. ↵
- Tám mươi dặm đến quán Thông Thiên, 'quán' nguyên bản là 'núi', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Khiết Đan quốc chí》, 《Thông khảo》, 《Tống hội yếu》 phiên di 2-8, 《Liêu sử》 quyển 39, địa lý chí sửa lại. ↵
- Cửa thành chỉ có nhà hai tầng, 'cửa' nguyên bản là 'dân', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và các sách trên sửa lại. ↵
- Quần mục chế trí sứ dùng lính trại thay thế, chữ 'Quần' nguyên bản là 'Quận', căn cứ theo các bản và 《Tống sử》 quyển 177, 《Thực hóa chí》 sửa lại. ↵
- Nguyên bản là 'Thánh Giáng Ký', theo Tống bản và Tống Toát Yếu bản sửa. Xem Tống sử quyển 205, Nghệ Văn Chí và Tứ Khố Khuyết Thư Mục đều ghi là 《Giáng Thánh Ký》, do Đinh Vị soạn. ↵
- Tể thần thấy thụy hiệu của Thái Tổ có chữ trùng với tên Thánh Tổ, hai chữ 'danh đồng' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo Tống bản và Tống toát yếu bản sửa lại. ↵
- Chữ 'yết' nguyên bản viết là 'chiếu', căn cứ theo các bản khác sửa lại. ↵
- rút hết nước trong lòng sông 'tào' nguyên là 'tào', theo 《Tống hội yếu》 phương vực 16-4 sửa lại. ↵
- đều như lễ tế xong 'đều như' hai chữ nguyên thiếu, theo bản Tống, bản chép tóm tắt đời Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 20 Sùng phụng Thánh tổ bổ. ↵
- 'Quan' nguyên là 'Cung', căn cứ theo bản trong các sách và 《Tống hội yếu》 chức quan 36-7 sửa lại. ↵
- Chữ 'hạ' trong 'quyền bãi ban hạ' vốn bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 18, phần 'Kiến Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung' bổ sung ↵
- 'Thụ nhân' trong 'tức ư ngoại quận phối trí thụ nhân', các bản khác chép là 'nhiễu nhân', có lẽ đúng ↵
- Con ông là Văn Ngọc tạm quyền cai quản việc Hán và Phiên: Chữ 'quyền' vốn có chữ 'quản', căn cứ vào văn bản mà bỏ. Theo 《Tống Hội Yếu》 phương vực 21-11, Vương Văn Ngọc năm Thiên Hy thứ 4 làm Tri châu Phong, quản lý việc Hán và Phiên, có thể chứng minh. ↵
- Cháu là Đức Quân được bổ làm Tá chức: 'Đức Quân', 《Tống Hội Yếu》 phương vực 21-11 cũng ghi như vậy; 《Tống Sử》 quyển 253, truyện Vương Thừa Mỹ lại ghi là 'Hoài Quân'. ↵
- có người dùng một cân trà đổi lấy một bao thóc, chữ 'hoặc' trong các bản và bản hoạt tự đều viết là 'Nhung' ↵
- Chữ 'nhân' nguyên là 'cố', theo bản Tống và bản Tóm lược đời Tống mà sửa. ↵
- Chiếu cho Tri Diên châu Lý Cập kiêm chức Đô tuần kiểm sứ vùng biên giới, chữ 'Quản' nguyên bản là 'Phiền', chữ 'Kiểm' bị thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 chức quan 48-124 sửa và bổ sung. ↵