"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 97: NĂM THIÊN HI THỨ 5 (TÂN DẬU, 1021)

Từ tháng giêng đến tháng chạp năm Thiên Hi thứ 5 đời Chân Tông.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Sửu mùng một, Vua ngự ở điện Diên Khánh tiếp các quan phụ chính. Đinh Vị tâu rằng: “Thần nghe tin thánh thể đã khỏe mạnh, bọn thần vô cùng mừng rỡ. Nay trong ngoài đều yên ổn, xin bệ hạ giảm bớt lo lắng.” Vua vui vẻ nghe theo.

[2] Ngày Tân Tỵ, Vua ban yến ở viện Tích Khánh cho các quan Thượng thư từ ngũ phẩm trở lên, các Đô ngu hậu các quân và sứ thần nước Khiết Đan. Trước đây, mỗi năm vào ngày mùng một tháng giêng, yến tiệc được tổ chức ở điện Sùng Đức. Lúc này Vua mới khỏi bệnh, sợ phiền phức nên đổi sang tổ chức ở nơi khác.

[3] Ngày Nhâm Ngọ, Vua tiếp các quan phụ chính ở điện Thừa Minh. Vua dựa vào ghế, các quan thái giám đỡ Vua lên ngồi. Vua nói rằng nước Khiết Đân ngày càng giữ chữ tín, rồi lấy ra chiếc đai vàng có hình đôi rồng mà họ dâng tặng để cho mọi người xem.

[4] Ngày Quý Mùi, các quan tể tướng tâu rằng khi khảo xét các quan Kinh triều, Mạc chức, Châu huyện[1], trong số đó có những người đáng được thăng chức và định lại chức vụ theo ân điển[2], nhưng vì nhiều người vắng mặt nên xin theo lệ cũ định sẵn rồi tâu lên, Vua đồng ý.

[5] Ngày Ất Dậu, Tư phong viên ngoại lang Chương Đắc Tượng được bổ làm Trực sử quán, Bí thư thừa Trình Lâm làm Trực tập hiền viện. Trước đó có chiếu cho các quan Lưỡng chế tiến cử người có tài văn học thanh cao. Các quan Hàn lâm học sĩ Lưu Quân, Long đồ các trực học sĩ Lữ Di Giản, Tri chế cáo Trương Sư Đức tiến cử Chương Đắc Tượng và Trình Lâm, nên Vua cho triệu đến khảo hạch rồi bổ nhiệm. Chương Đắc Tượng người Phố Thành, Trình Lâm người Bác Dã.

(Bản truyện của Chương Đắc Tượng chép: Dương Ức tiến cử, được triệu khảo hạch làm Trực sử quán. Xét theo Thực lục, người tiến cử không có tên Dương Ức. Truyện lại chép Dương Ức biết rõ tài năng của Chương Đắc Tượng. Cần xem xét thêm.)

[6] Ngày Kỷ Sửu, Vua đến lễ ở điện Thần Ngự Thái Tông tại viện Khải Thánh. Từ đầu năm, Vua không khỏe, đến lúc này, dân chúng trong kinh thành trông thấy xa giá, đều vui mừng reo hò.

[7] Chiếu rằng từ nay mỗi khi có đại tế, Trung thư nhiếp sự được ban tiền năm vạn để chi phí rượu thịt.

[8] Ngày Quý Tỵ, vì bệnh của Vua đã đỡ, ban đức âm giảm tội cho tù nhân tử tội trong thiên hạ[3], những tội thập ác đến chết, quan lại phạm tội tham nhũng, cướp bóc, phóng hỏa, giả mạo phù ấn đều xử theo luật, thuế thu đông năm thứ tư còn thiếu đều được miễn, tạm ngừng việc tu sửa sông ở Hoạt Châu.

[9] Kinh Đông Lộ bị lụt. Ngày Ất Mùi, sai Trực sử quán Chương Đắc Tượng và Cáp môn chi hậu Trương Sĩ An đi an ủi dân chúng.

[10] Ngày Đinh Dậu, Xu mật trực học sĩ, Hữu gián nghị đại phu Trương Sĩ Tốn được bổ nhiệm làm Xu mật phó sứ, vẫn kiêm chức Thái tử chiêm sự như trước.

[11] Hàn lâm học sĩ Lưu Quân thấy Vua bệnh lâu ngày, Đinh Vị dần lộng quyền, than rằng: “Kẻ gian thần nắm quyền, sao có thể ở đây thêm một ngày!” Bèn dâng biểu xin ra ngoài làm quan, được bổ làm Hữu gián nghị đại phu, tri châu Lư Châu[4]. Theo chế độ cũ, học sĩ bãi chức thường được làm Thị độc học sĩ hoặc Long đồ các học sĩ, nhưng Lưu Quân chỉ được bổ làm Gián nghị đại phu, là do Đinh Vị ngăn trở. Tể tướng định bổ người khác làm học sĩ, Vua nói: “Không ai bằng Lý Tư.” Bèn bổ nhiệm Lý Tư.

(Việc này căn cứ theo 《Phùng Khiết Kỷ ngự sử đài ký》).

[12] Bãi bỏ Đông Bình giám ở Vận Châu.

[13] Ngày Kỷ Hợi, yến tiệc các cận thần ở điện Thừa Minh, vì Thiên Chương các đã hoàn thành.

[14] Ngày Quý Mão, Vua làm hai bài tựa cho 《Ngự tập》 và 《Thánh chính ký》 để cho các phụ thần xem. (Bản kỷ không chép, cần xem xét thêm).

[15] Dưỡng tượng sở tâu rằng trước đây quản lý 46 con voi, nay chỉ còn 3 con, xin sai Giao Châu bổ sung đủ số. Chiếu cho Tri Quảng Châu Đoàn Diệp xem xét, nếu có thì tiến cống, không cần tuyên chỉ.

[16] Chiếu rằng ngoài thành mới đặt thêm chín sương.

[17] Tháng hai, ngày Đinh Mùi, triệu tập các phụ thần đến Long Đồ các xem sách.

[18] Cấp sự trung, Tri Hà Dương Tôn Thích lại dâng biểu xin từ chức để phụng dưỡng cha, Vua khen ngợi và chấp thuận. Ngày Canh Tuất, sai ông làm Tri Duyện Châu. Cha của Thích lúc đó đang ở Vận Châu, Duyện và Vận gần nhau nên có lệnh này.

[19] Ngày Nhâm Tý, ban cho Tân trừ Hàn lâm học sĩ Lý Tư áo mũ kim tử. Vua nhân đó hỏi tể tướng: “Trong số cận thần, có ai chưa được đổi áo mũ chương phục không?” Đinh Vị đáp: “Tri chế cáo Trương Sư Đức, Tổ Sĩ Hoành, Tiền Dịch và Tri tạp Ngự sử Lưu Diệp hiện đều mặc áo đỏ.” Vua liền sai nội thị triệu Sĩ Hoành, Dịch, Diệp vào ban cho áo mũ kim tử. Sư Đức lúc đó đang làm Tri Dĩnh Châu, sai người mang ban cho ông.

[20] Chiếu rằng các quan kinh triều trong ngoài từng qua khảo khóa mà chưa được thăng chức, từ nay về sau nếu không phạm tội riêng, đợi đủ bốn năm thì đều được thăng chuyển.

[21] Ngày Giáp Dần, Tri Thẩm hình viện Tống Thụ tâu rằng nhận được trạng của Tường nghị quan Thượng Lâm và các quan khác, các châu đã xử xong các vụ án hình, không còn văn bản tồn đọng. Vua ban chiếu khen ngợi Thụ và các quan, lại ban tiền, tuyên phó Sử quán, quần thần dâng biểu chúc mừng. Về sau, các vụ án xử xong được ban tiền và ghi vào Sử quán như lệ trước, nhưng không thường dâng biểu chúc mừng.

[22] Vua nghe nói nhà của Xu mật Tào Lợi Dụng ở phía tây liền kề với doanh trại, rất chật hẹp, bèn sai Nhập nội phó đô tri Đặng Thủ Ân xem xét đất trống, và ban chiếu trước đã mượn vườn nhà, nay đều ban cho ông.

[23] Ngày Bính Thìn, nhân việc lên xà điện Châu và Quần Ngọc[5], Vua mở tiệc ở điện Thừa Minh để đãi các cận thần.

[24] Ngày Nhâm Tuất, lấy Quang lộc tự thừa Tạ Giáng làm Bí các hiệu lý, Đại Lý tự thừa Vương Chất, Đại Lý bình sự Thạch Cư Giản, Lý Phi Lượng, Phụng lễ lang Lý Chiêu Cấu đều sung chức Quán các hiệu khám. Trước đó, hai chế liệt trạng tiến cử Giáng và ba người kia. Phi Lượng là con của Tam ty sứ Sĩ Hoành, Sĩ Hoành dâng lời xin cho con được dự vào chức hiệu khám, Vua bèn sai Gián nghị đại phu Lý Hành Giản và Tri chế cáo Tống Thụ khảo hạch, rồi có lệnh này. Cư Giản là con của Trung Lập; Chiêu Cấu là con của Tông Ngạc.

[25] Ngày Giáp Tí, ban tên chùa bên cạnh mộ của Thái úy Vương Đán đã mất là “Giác Lâm”, và miễn thuế ruộng gần mộ.

[26] Ngày Bính Dần, trời mưa, Đinh Vị và các quan chúc mừng, Vua rất vui. Đinh Vị nhân đó xin ban yến tiệc để cùng vui với dân. Vua đồng ý, ở kinh đô được năm ngày, ở Tây Kinh ba ngày[6], các châu một ngày.

[27] Tri tạp Ngự sử Lưu Diệp tâu: “Kính nghĩ rằng tang chế ba năm là quy định chung của thiên hạ; hiếu hạnh là đạo lớn của con người. Nếu không tuân theo lễ nghi, thì việc để tang sẽ không trọn vẹn. Thần thấy các quan trong ngoài kinh đô khi có tang cha mẹ, không lập tức về chịu tang, làm tổn hại phong tục, điển chương không chấp nhận, mong cấm chỉ. Từ nay, các quan không được tùy tiện giữ lại, tâu xin triệu về. Những trường hợp phải khởi phục thì vẫn theo chế độ cũ.” Vua ban chiếu rằng các quan trưởng bốn lộ Ích, Tử, Quỳ, Lợi vẫn tâu xin xét xử, còn các quan khác khi có tang, nếu dâng tấu xin miễn chịu tang, đều bị xét tội.

[28] Viên ngoại lang Từ bộ Nhậm Trung Hành tâu rằng, khi đưa sứ giả Khiết Đan đến Doanh Châu, thấy bên đường có hài cốt bị bỏ phơi, xin quan phủ làm lễ chôn cất. Vua đồng ý.

[29] Ngày Mậu Thìn, điều Khách tỉnh sứ, Cao Châu đoàn luyện sứ, Tri Trấn Châu Lý Doãn Tắc làm Tri Lộ Châu; Vĩnh Châu đoàn luyện sứ, Tri Lộ Châu Tiền Duy Tế làm Tri Trấn Châu.

[30] Giang Nam Tây Lộ đề điểm hình ngục khuyến nông sứ tâu rằng Tri Phủ Châu Vương Bân có chính tích, Vua xuống chiếu khen thưởng. Dân Phủ Châu là Lý Giáp và Nhiêu Anh giàu có, cậy thế lấn át làng xóm, châu huyện không thể kiềm chế. Nhân có cháu của Giáp mắng nhiếc huyện lệnh, lại có người tố cáo Giáp có lời phạm thượng. Bân xét xử, khám nhà bắt được binh khí, lại tìm thấy đồ dùng có trang trí rồng phượng, Giáp bị xử tử. Đồng thời xét việc Anh từng cưỡng đoạt vợ con người khác, bị đày đi Lĩnh Nam, trong châu được yên ổn. Sau đó thăng Bân làm Đề điểm Kinh Hồ Nam Lộ hình ngục.

Bân là người Cố Thủy. Năm Thuần Hóa, làm Ung Khâu úy. Hoàng thành ty bí mật sai người xuống các huyện gần kinh dò xét việc, thường quấy nhiễu dân, các quan huyện phải tiếp đãi như khách quý. Bân đến, bắt tra hỏi, thu được hết của hối lộ, xử theo pháp luật. Từ đó, Vua ra chiếu cấm quân thân sự ra khỏi kinh thành.

(Cấm quân thân sự ra khỏi kinh thành, không rõ năm tháng, nay phụ chép vào đây. Việc Bân đỗ tiến sĩ đã thấy trước.)

[31] Cho cháu của cố Phượng châu Đoàn luyện sứ Trương Huy là Vĩnh Đức làm Tam ban tá chức, ban cho lụa và tiền. Bà nội của Vĩnh Đức là Bành Thành huyện quân Lưu thị một trăm lẻ năm tuổi, giấy phong ấp từ thời Hậu Đường Thanh Thái vẫn còn, Vĩnh Đức tự nói nghèo không có gì để phụng dưỡng, nên được bổ nhiệm.

[32] Ngày Canh Ngọ, cho Quang lộc tự thừa Khổng Thánh Hữu tập phong Văn Tuyên công[7], làm Tri Tiên Nguyên huyện sự.

[33] Ngày Quý Dậu, Vua đến Thiên Chương các xem lễ thượng lương, ban yến cho các quan tùy tùng, ban vật phẩm có khác nhau.

[34] Ngày Giáp Tuất, lập tức sai Trần Nghiêu Tư làm Tri Tần Châu; thăng Hữu gián nghị đại phu Lưu Thừa Tông làm Kiềm hạt, thăng Tây thượng các môn sứ.

[35] Tháng 3, ngày Tân Tỵ, Vua ngự ở Chính Dương môn xem lễ bộ.

[36] Lúc đầu, dân châu Từ là Trương Hi Tải giả mạo xưng là Hoàng Hà đô bộ thự, chiếm đoạt lương thảo của các châu quận ven sông, nhiều lần đến châu Bối.

Tri châu, Nội viên sứ Lôi Hiếu Tiên phát hiện gian trá của hắn, bắt giam vào ngục. Nhưng Hiếu Tiên xảo quyệt, ngược lại muốn nhân việc này lập công lớn để làm chấn động triều đình, ép Ty lí tham quân Kỷ Anh dạy Hi Tải giả làm gián điệp Khiết Đan, xưng là Cảnh châu thứ sử, kiêm Thị trung, Tư không, Thái Linh cung sứ, rồi áp giải về kinh sư. Xu mật viện tra xét được việc Hiếu Tiên dạy bảo, ngày Bính Tuất, giáng Hiếu Tiên làm Đô giám châu Đàm, Hi Tải bị xử phát phối châu Hải, còn Anh thì không được bổ nhiệm chức quan nào.

[37] Ngày Mậu Tuất, Thiên Chương các hoàn thành, quần thần chúc mừng.

(Việc chúc mừng diễn ra vào ngày Canh Tý, nay ghi chung lại.)

[38] Lệnh cho Cung phụng quan, Cáp môn chỉ hậu Trương Nham dẫn 550 bộ kỵ binh đến châu Thái bắt giặc.

[39] Trần Nghiêu Tư và các quan tâu rằng các bộ tộc Phiên ở các châu Kinh, Nguyên, Hoàn, Khánh đều yên ổn sinh sống.

[40] Ngày Canh Tý, Tể thần Đinh Vị xin từ nay các quan kiêm chức Thái tử sư phó, cứ mười ngày một lần đến Tư Thiện đường, các Tân khách trở xuống thì luân phiên hầu hạ giảng học vào các ngày lẻ, Vua đồng ý[8].

[41] Cùng ngày, đưa sách và thư của Vua vào Thiên Chương các, rồi mở tiệc chiêu đãi các quan phụ chính dưới các.

[42] Ngày Tân Sửu, xuống chiếu miễn một nửa thuế hạ thu năm nay cho những ruộng dân bị hư hại do mưa lũ ở kinh kỳ và vỡ đê ở Kinh Đông, Kinh Tây. Lúc đó, Chương Đắc Tượng và các quan đi sứ trở về, tâu rằng mùa thu năm ngoái lụt lội, dân không trồng được nhiều lúa mạch, nếu kiểm tra thu thuế sẽ gây thêm phiền nhiễu, xin đặc biệt giảm thuế, nên có lệnh này. Đắc Tượng và các quan lại tâu rằng dân châu Vận, châu Bộc bị lụt thiếu ăn, xin cấp lương cứu tế, còn việc trước đây xin mua muối, xin cho nộp bằng tiền mặt; các châu Từ, châu Tế nằm ngay nơi nước lũ đổ về, Tri châu Vương Di Trinh và Lưu Khánh hết lòng phòng thủ thành trì, xin ban chiếu khen ngợi, đều được chấp thuận.

[43] Ngày Nhâm Dần, các phụ thần vì việc Thiên Chương các hoàn thành, đều được thăng chức. Đinh Vị làm Tư không, Phùng Chửng làm Tả bộc xạ, Tào Lợi Dụng làm Hữu bộc xạ, Nhiệm Trung Chánh làm Công bộ thượng thư, Tiền Duy Diễn làm Hữu thừa, Vương Tăng làm Lại bộ thị lang, Trương Sĩ Tốn làm Cấp sự trung. Ban đầu, Lợi Dụng chỉ được thăng cấp và tăng ấp, Đinh Vị và các quan xin cho ông cùng được thăng chức, mệnh lệnh đã ban xuống, bèn dán tờ chiếu để tuyên bố.

(Sách 《Đông Trai Ký Sự》 của Phạm Trấn chép rằng Tào Lợi Dụng trước được ban Tiến sĩ xuất thân, sau mới được làm Bộc xạ, từ đó thấy rằng Tiến sĩ quý trọng như vậy. Không rõ Phạm Trấn căn cứ vào đâu, phụ truyền và chính truyện đều không có ghi chép, cần xem xét lại.)

[44] Hoàng thành sứ, Khang Châu đoàn luyện sứ, Nhập nội đô tri Trương Cảnh Tông làm Chiêu tuyên sứ, kiêm lĩnh Gia Châu phòng ngự sứ, Đô đại quản câu Long đồ, Thiên Chương các công sự.

[45] Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Mùi, lấy Nội điện sùng ban Lôi Doãn Cung làm Hoàng thái tử cung đô giám, cùng quản câu Tư thiện đường, Tả hữu xuân phường ty sự.

[46] Lại bộ thị lang Lý Sĩ Hoành được thăng làm Chính phụng đại phu, vì có công lao cung ứng việc xây dựng Thiên Chương các.

[47] Trước đó, bộ tộc phương bắc là Long Hòa đến cướp bóc dân thục hộ, Hoàn Khánh bộ thự Điền Mẫn đem quân đánh, chém được vài chục thủ cấp, thừa thắng đuổi theo, bắt được rất nhiều tù binh, Đô bộ thự Tào Vĩ tâu lên. Ngày Canh Tuất, Vua ban chiếu thưởng cho Điền Mẫn và các tướng sĩ vải lụa, lại ban tiền cho quân sĩ, thăng chức cho họ.

(Truyện của Điền Mẫn chép: Đánh bại Long Hòa ở Tam Điếm Xuyên.)

[48] Ngày Nhâm Tý, Vua ban chiếu khen ngợi Tri Khánh Châu, Sùng nghi phó sứ Trương Thuấn Thần. Vì Thuấn Thần bí mật sai Phiên bộ tuần kiểm Lý Kế Nghĩa đem quân giết hơn mười tên giặc phương bắc là Thư Tô Mã Lặc và anh trai Sách Cán.

(Thuấn Thần có sách chép là Vũ Thần, nhưng Vũ Thần chưa thấy xuất hiện. Lý Kế Nghĩa cũng chưa thấy xuất hiện.)

[49] Ngày Giáp Dần, Lân Phủ lộ tâu rằng Khúc Định phủ đô ngu hậu La A đem quân đánh bại giặc Phiên, Vua ban chiếu bổ nhiệm ông làm bản tộc quân chủ.

[50] Ngày Bính Thìn, sao khách xuất hiện ở chòm sao Hiên Viên.

[51] Ngày Đinh Tỵ, xưởng sự tài xảy ra hỏa hoạn. Quân sĩ Dương Thắng và hai người khác bị đánh bằng gậy vào lưng, xăm mặt và đày ra đảo Sa Môn; quan giám đương trực là Nội điện Thừa chế Thạch Duy Thanh bị tước hai chức, phạt 20 cân đồng, cách chức; quan giám không đương trực là Nội điện Sùng ban, Cáp môn Chi hậu Vương Thừa Cẩn và Cung phụng quan, Cáp môn Chi hậu Trương Duy Nhất đều bị tước một chức, cách chức; các chủ điển và quân hiệu còn lại đều bị đánh gậy và giáng chức tùy mức độ. Thắng và Duy Thanh đáng lẽ phải xử tử, nhưng được đặc xá.

(Trương Duy Nhất là con của Trương Mân.)

[52] Ngày Mậu Ngọ, sinh thần Hoàng thái tử, mở tiệc ở Tư Thiện đường để khoản đãi các quan trong cung và phụ thần.

[53] Ngày Nhâm Tuất, triệu tập các quan cận thần, quán các, tam ty và quan phủ Kinh thành đến Thiên Chương các xem sách và tập thơ của Vua, sau đó mở tiệc ở Quần Ngọc điện.

[54] Tri châu Tần là Trần Nghiêu Tư tâu rằng, Giám áp Khánh châu là Phụng chức, nhưng các chức Sương chủ, Trung tá, Đô ngu hậu của quân đồn trú đều thuộc quyền thống nhiếp, việc này không tiện. Vua xuống chiếu cho Tam ban viện từ nay khi bổ nhiệm Giám áp các châu quân vùng biên giới Thiểm Tây, phải chọn những sứ thần từng trải qua nhiệm vụ biên phòng, trẻ tuổi dũng cảm, từ chức Điện trực trở lên.

[55] Tháng 5, ngày Ất Hợi mùng một, Vua ngự ở điện Sùng Chính, thân chính xét án các tù nhân trong kinh thành, tội từ tử hình trở xuống đều được giảm một bậc. Sau đó xuống chiếu cho các châu quân trong các lộ cũng làm theo, chỉ trừ tội Thập ác và quan lại phạm tội tham nhũng, làm giả ấn tín, phóng hỏa, cướp bóc thì không được ân xá.

[56] Ngày Đinh Sửu, xuống chiếu cho Lễ bộ tạm dừng khoa thi năm nay.

[57] Ngày Mậu Dần, Phán phủ Hà Nam là Vương Khâm Nhược tâu: “Dân huyện Miễn Trì làm giặc rồi bỏ trốn. Bắt vợ họ giam giữ, ban ngày bắt làm việc công ích, gần 300 ngày, vì đói rét nên thần đã lệnh cho huyện thả ra và quản thúc. Mong báo cho các lộ biết, nếu có việc giam giữ bắt làm việc công ích, sau một mùa mà không bắt được chính phạm thì cho bảo lãnh và quản thúc. Hoặc triều đình thương xót sự kéo dài, chỉ trách nhiệm cho Tuần kiểm, Huyện úy, Kỳ bảo trong địa phận phải bắt được trong thời hạn.” Vua đồng ý.

[58] Ngày Quý Mùi, Vua xuống chiếu cho Thái tử đọc sách 《Xuân Thu》. Các quan phụ chính tâu rằng: “Chúng thần thường vào Đường Tư Thiện hầu giảng, thấy Thái tử thiên tư anh tuấn, ham học không mệt, tự viết chữ lớn nhỏ cho chúng thần xem, bút pháp tự nhiên.” Vua mừng nói: “Nhờ các khanh phụ đạo vậy.” Các quan phụ chính đều lạy tạ.

[59] Ngày Ất Dậu, Lưu Diệp, quan đồng phán Lưu nội tuyển, tâu: “Các quan Mạc chức, Châu huyện được tiến cử mà không đổi làm quan kinh, phần nhiều không đến Nha Thuyên để nhận chức, lại tìm người tiến cử khác, dâng thư tiến cử lần nữa. Xin từ nay những người tương tự xin nghỉ, thì cứ theo thứ tự mà bổ nhiệm.” Vua nghe theo.

[60] Ngày Bính Tuất, lấy Lưu Tượng Trung, chức Đại Lý tự thừa, Thông phán Lễ Châu, làm Nội điện thừa chế, Tri Châu Châu. Tượng Trung kế nhiệm cha là Nhân Bá quản việc Khê Động, người Man sợ phục, nên cử ông giữ chức này.

[61] Ngày Đinh Hợi, Châu Hoạt tâu việc đào sông Giảm Thủy đã xong, dòng sông dần trở lại bờ Bắc. Sai Lý Hành Giản, chức Hữu gián nghị đại phu, đến làm lễ tế.

[62] Ngày Đinh Dậu, Châu Kiếm tâu các huyện Tử Đồng đều nằm trên đường trạm, xin mỗi nơi thêm một viên Chủ bạ. Vua nghe theo.

[63] Ngày Kỷ Hợi, xuống chiếu tăng tiền công dụng của quân Ninh Hóa thêm 10 vạn.

[64] Trước đây, việc nộp cỏ lương ở Hà Bắc, các châu có nơi tăng giá quá mức, Tam ty xin lệnh mỗi tháng căn cứ giá thực tế trên thị trường, gửi vào Nội thị tỉnh, rồi giao cho Tam ty ước định giá, xem chỗ nào thiệt hại nhiều cho quan thì giảm bớt. Lúc ấy, giấy giao dẫn ở Thiểm Tây càng rẻ, ở Kinh sư chỉ đáng 5.000, các quan tiếc tiền mua trà, bèn xuất 50 vạn quan tiền trong kho Nội tàng, sai Lý Đức Minh, chức Cáp môn chi hậu, ra chợ Kinh thành mua về rồi đốt bỏ.

(Việc này căn cứ vào bản chí. Việc định giá nộp cỏ lương, chí chép là việc năm thứ 4 nhưng không rõ tháng, nên phụ chép vào đây.)

[65] Ngày Tân Sửu, lệnh cho Quốc Tử Giám khắc lại bản in kinh sách, vì Giám tâu rằng bản cũ đã lâu năm mòn hỏng.

[66] Tháng này, Tam ty sứ Lý Sĩ Hoành vì con trai là Phụng lễ lang Lý Phi Đán xin được quản lý việc Quốc tử giám, Vua không đồng ý, bèn ban chiếu từ nay Quốc tử giám chỉ bổ nhiệm hai viên quan chủ phán. Sau đó, cuối cùng vẫn cử Lý Phi Đán cùng quản lý Quốc tử giám.

(Việc cử Lý Phi Đán cùng quản lý vào tháng 7 ngày Đinh Dậu, nay ghi chung lại.)

[67] Cùng tháng, Triệu Đức Minh bãi chức khởi phục, sai Nhập nội đô tri Lam Kế Tông làm Quan cáo sứ đến ban cho. Triệu Đức Minh cùng Lam Kế Tông bắn cung, Kế Tông mỗi lần bắn đều trúng, Đức Minh tặng lại con ngựa quý của mình.

[68] Tháng 6, ngày Ất Tỵ mùng một, cấp riêng cho Đăng Châu 10 vạn tiền để chi phí cho sứ thần Cao Ly sang triều cống.

[69] Ngày Bính Ngọ, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.

[70] Ngày Kỷ Dậu, ban chiếu: “Từ nay các châu ngoài, các chức Giám đương là triều quan Điện trực trở lên, đứng dưới Thông phán và Đô giám, trên Phán quan, còn Thông phán và Đô giám thì xếp theo thứ tự quan chức. Các chức Giám đương là Kinh quan Phụng chức, Tá chức thì theo lệnh lục, đứng dưới Phán quan.” Trước đó, Lý Tư làm Tri Kinh Nam dâng tâu, lệnh cho Lễ quan xem xét quy định rồi ban hành.

[71] Ngày Tân Hợi, vì mưa dầm, sai quan chia nhau cầu đảo trời đất, xã tắc, cung miếu, chùa quán, đền thần.

[72] Ty Đề điểm hình ngục Kinh Tây tâu rằng phủ Hà Nam không còn ngục tù, ban chiếu khen Phán phủ sự Vương Khâm Nhược.

[73] Ngày Quý Sửu, ban chiếu đặt tên cho các trại mới Tam Điếm, Hương Câu, Đại Hiện Thành ở Hoàn Châu là Định Biên, Quy Viễn.

[74] Chiếu rằng: “Dân ở Quảng Nam lộ tố cáo quan lại bất công, phải là khi quan đó còn tại chức, hoặc đã được thay thế nhưng chưa rời nhiệm sở, sự việc có liên quan đến mình, và được chiếu chỉ cho phép tố cáo, thì mới được thụ lý. Nếu đã rời nhiệm sở và đang trên đường đi, trừ trường hợp phạm tội tham nhũng hoặc tội tư hình từ tội đồ trở lên, thì giao cho Ty chuyển vận và Đề hình xem xét chứng cứ, rõ ràng không phải vu cáo, mới được bắt giữ. Các trường hợp khác đều phải báo cáo bằng dịch trạm.”

Lúc đó, Thị ngự sử Yến Túc tâu: “Lĩnh Nam là nơi xa xôi, các quan lại nhiếp chính và lại viên phần nhiều thiên vị tư tình, quan lại thuận theo tình cảm thì dễ dung túng kẻ gian[9], dùng pháp luật để trừng trị thì dễ gây oán hận. Những kẻ không tốt, hoặc bị trừng phạt, hoặc không đáp ứng yêu cầu[10], đợi khi họ được thay thế, sắp về kinh, nhân phạm lỗi nhỏ, liền dấy lên kiện tụng. Quan phủ không xét kỹ sự việc lớn nhỏ, liền truy xét, đi lại vạn dặm nơi rừng thiêng nước độc, hoặc sợ đường xa, liền nhận tội, vì thế mà bị khiển trách, thật đáng thương. Lại có người sợ gặp phải họa này, nên cố ý làm ngơ. Mong ban hành điều ước.” Vì thế có chiếu này.

Túc là người Ích Đô. Từng làm tri huyện Lâm Cung, dân khổ vì lại viên quấy nhiễu, Túc đẽo gỗ làm thẻ, dân kiện tụng có liên quan đến ai thì ghi tên họ lên thẻ, bảo họ tự đến, đều đến đúng hẹn.

[75] Ngày Kỷ Mùi, Quốc tử giám xin cho khắc bản in bài tán của Vua về Chí Thánh Văn Tuyên Vương và bài tán của các quan cận thần về Thập Triết, Thất Thập Nhị Hiền, chiếu chuẩn y.

[76] Ngày Tân Dậu, xuất 28 vạn bộ y phục trong cung, trị giá 150 vạn quan, sai các chùa quán ở kinh sư làm lễ trai tụng kinh.

[77] Ty Điểm khố vụ xin đặt riêng kho hương liệu trong cung ở cửa Đông Hoa để tiện việc lấy dùng, được chấp thuận.

[78] Ngày Quý Hợi, chiếu khen ngợi Trần Nghiêu Tá, tri châu Hoạt, vì có công đào sông cũ, phân dòng nước, bảo vệ thành châu.

[79] Ngày Ất Sửu, ban cho Lưu Khứ Xa, đạo sĩ mặc áo tía, hiệu Mộ Chân đại sư, ngồi trên ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, hiệu là “Hòa Tĩnh tiên sinh”, cho phép về trụ tại đạo quán Tử Cực ở Kinh Nam. Khứ Xa thông hiểu giáo điển, có đạo hạnh. Khi Vua còn làm Tiết độ sứ Kinh Nam, ông được tiếp kiến ở phủ đệ nhờ chức Đạo chính của bản phủ, được đối đãi rất trọng hậu. Khi cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng xây xong, Vua triệu ông về ở đó. Đến lúc này, ông đã hơn 70 tuổi, mẹ ông 90 tuổi, xin về phụng dưỡng, nên Vua ban cho hiệu tốt đẹp, lại cho phép ở đạo quán cũ thỉnh thoảng làm lễ trai tiếu, quan phủ cấp chi phí, các quan Tể chấp trở xuống đều làm thơ tiễn đưa.

[80] Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Tuất mùng một, nhật thực. Trước đó, Ty thiên dự đoán theo lịch Nghi Thiên sẽ có nhật thực toàn phần. Chín ngày trước, Vua tránh ra chính điện, sai Trung sứ đến các cung quán, tự viện và phường thị lập đạo trường cầu đảo. Hôm đó, nhật thực được 4 phần thì dừng. Ty thiên tâu: “Theo sách Đường, ngày mùng một tháng 11 năm Trinh Nguyên thứ 8, quan tính lịch Từ Thừa Tự nói sẽ nhật thực 8 phần, nhưng đo được chỉ 3 phần, đã tuyên bố ở triều đường, ghi vào sử sách. Đó là do thánh đức rộng lớn, dương thịnh âm tiềm, là điềm lành.” Hôm sau, các quan Tể thần dẫn bách quan đến cửa Cáp dâng biểu chúc mừng.

[81] Ngày Bính Tý, đến cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng.

[82] Ngày Mậu Dần, xây dựng mới điện Vạn Tuế ở cung Cảnh Linh để cầu phúc cho bản mệnh của Vua.

[83] Phó sứ Hộ bộ, Viên ngoại lang Lại bộ Tiết Khuê tranh chấp việc với Tam ty sứ Lý Sĩ Hoành, bị điều làm Hộ bộ lang trung, trực Chiêu Văn quán, tri châu Diên. Trước đây, Triệu Đức Minh thường sai người đến kinh đô xin lương bổng, nhân đó mua các vật cấm, lậu thuế quan ải để kiếm lợi bất chính. Khuê xin giữ lại lụa Thục đạo ở Quan Trung rồi chuyển đến cấp cho họ, nhờ thế dứt được tệ nạn này.

(Truyện Khuê chép là Triệu Nguyên Hạo, nhưng không hợp thời điểm này, e là truyện chép nhầm, cần xét lại.)

[84] Tham tri chính sự Vương Tăng tự nói mồ côi từ nhỏ, được người chú là Tông Nguyên, nguyên Thái tử trung xá trí sĩ, và thế mẫu họ Nghiêm nuôi dưỡng. Đến lúc cải táng, xin truy tặng quan tước, Vua chuẩn y.

[85] Lệnh cho dân Kinh kỳ nộp tiền mặt thay cho tô muối tằm, vì mưa nhiều làm hại mùa màng.

[86] Ngày Canh Thìn, Vương Hoài Tín, Đô giám trú bạc ở Kinh Nguyên lộ, tâu rằng việc đào hào và xây dựng các trại bảo trong khu vực quân Trấn Nhung đã hoàn thành. Triều đình ban chiếu thưởng tiền cho tướng sĩ theo thứ bậc.

[87] Ngày Nhâm Thìn, cấp cho các Tể thần, Xu mật sứ 30 quân sĩ làm tạp dịch, các Tham tri chính sự, Xu mật sứ phó 20 người, đều lấy quân Hùng Vũ sung vào, định làm lệ thường. Nếu có chỉ dụ điều động quân ở các châu khác cũng được chấp thuận.

[88] Ban chiếu cho Lý Ứng Cơ, Cấp sự trung, Tri Thiên Hùng quân: “Nghe nói khi xử lý công việc quá nghiêm khắc, có khi làm mất lòng công chúng. Từ nay nên cố gắng điều hòa, đừng quá khắt khe.”

(Lý Ứng Cơ được thăng Cấp sự trung và nhậm chức Tri Thiên Hùng quân phủ vào ngày Canh Dần tháng 8 năm thứ 4.)

[89] Ngày Ất Mùi, Vương Khâm Nhược, Phán Hà Nam phủ, tâu rằng con trai ông là Vương Tòng Ích, Vệ úy tự thừa, câu đương Quốc tử giám, đã cải chức được 11 năm, mong được đặc cách thăng chức để đi theo. Triều đình ban chiếu phong làm Thái tử Hữu tán thiện đại phu.

(Theo chính truyền của Vương Khâm Nhược: Con trai ông là Tòng Ích, cuối cùng làm đến Tán thiện đại phu, được truy tặng Tiến sĩ cập đệ. Sau không có con, lấy con của người chú làm người kế tự. Trong Thực lục[11]việc truy tặng Tiến sĩ cập đệ cho Vương Ích, con trai đã mất của Vương Khâm Nhược, chức Vệ úy tự thừa, vào tháng 3 năm Tường Phù thứ 6, chỉ không có Tòng Ích. Tháng 5 năm Thiên Hi thứ 4, lại ghi Vương Tòng Ích, Vệ úy tự thừa, được ban áo tía, tháng 7 năm thứ 5, thăng làm Hữu tán thiện đại phu. E rằng chính truyền nhầm lẫn giữa Ích và Tòng Ích, mà Tòng Ích là con của người chú, được lập làm người kế tự.)

[90] Ngày Bính Thân, Chuyển vận sứ Phúc Kiến tâu rằng trường đồng Thông Đức ở giám Long Bồi, Châu Kiến đã khai thác, cần tiền để mua đồng, xin lập ty tiện tiền, cho phép dân nộp tiền ở Giang, Chiết để nhận lãnh. Triều đình đồng ý.

[91] Ngày Mậu Tuất, ban chiếu cho Đô tri binh mã sứ Quảng Nam, trừ các châu Quảng, Ung, Quế, cứ ba năm không phạm lỗi thì thi cử để tiến cử lên triều đình, còn lại khi mãn nhiệm kỳ thì tâu lên xin xét định.

[92] Thẩm quan viện tâu rằng các quan kinh triều có quê quán ở Kinh Hồ, Giang, Chiết, xin được so sánh như người Phúc Kiến, Hoài Nam, cho phép làm quan ở bản lộ. Triều đình đồng ý.

[93] Tháng 8, ngày Giáp Thìn mùng một, Đồn điền viên ngoại lang, Tri châu Phần Châu là Lý Hâm vì trong bộ có tăng nhân thu tiền tu sửa chùa, sai người làm trò đến kho quan để thu nạp, theo luật phải bị tước ba chức quan và ba nhiệm kỳ, nhưng gặp đức ân được tha, chiếu chỉ đặc cách tước một nhiệm kỳ và bãi chức.

(Lý Hâm, chưa rõ lai lịch.)

[94] Ngày Bính Ngọ, lấy con của Tể thần Đinh Vị là Quang lộc tự thừa, Quán các hiệu khám là Đinh Củng làm Thái tử trung doãn, ban áo tía; con của Phùng Chửng là Nội điện thừa chế Phùng Đoan Kỷ làm Lục trạch phó sứ; con của Xu mật sứ Tào Lợi Dụng là Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Tào Uyên làm Nội điện thừa chế; cháu của Tham tri chính sự Nhiệm Trung Chính là Nhiệm Bành làm Thị cấm; con của Vương Tăng là Phụng lễ lang Vương Cương làm Đại Lý bình sự; con của Xu mật phó sứ Tiền Duy Diễn là Quang lộc tự thừa, Quán các hiệu khám Tiền Ái làm Bí thư lang; con của Trương Sĩ Tốn là Tướng tác giám chủ bạ Trương Hữu Trực làm Phụng lễ lang.

(Việc này ắt có nguyên do, cần tra cứu thêm.)

[95] Ngày Mậu Thân, Xu mật viện quy định các phủ đệ của hoàng thân được đặt thuyền, Trưởng công chúa được hai chiếc, Quận chúa và Huyện chúa được một chiếc, cho phép mua bán trên các sông, miễn thuế và sai dịch, từ nay về sau không được lấy làm lệ.

[96] Ngày Canh Tuất, dời Hoàn Khánh đô bộ thự, Tuyên huy nam viện sứ, Trấn quốc quân lưu hậu Tào Vĩ làm Trấn Định đô bộ thự.

(Bản truyện thiếu việc này, nay lấy từ Thực lục ghi lại, làm cơ sở cho việc năm sau bị giáng làm Lai Châu mục binh.)

[97] Ngày Nhâm Tý, chiếu chỉ trước đây giảm bớt các quan châu huyện đưa trả lại công nhân, nay lệnh cho khôi phục như cũ. Lúc đó có quan châu huyện nhậm chức ở Tây Thục, đường xa thiếu người hầu, trải qua gian nan, đề thơ ở nhà trạm để ngâm vịnh việc này, sứ thần phụ trách chép lại tâu lên, nên có mệnh lệnh này.

(Ngày mùng một tháng 8 năm Nguyên niên đã giảm bớt.)

[98] Ngày Giáp Dần, Minh Châu đoàn luyện sứ, Phò mã đô úy Vương Di Trinh tâu: “Các châu bắt trộm cướp trong hạn mà không bắt được[12], thì ba đại hộ, cung thủ và điển lại đều bị xử phạt. Vì điển lại chỉ làm việc văn thư, không giống như cung thủ và ba đại hộ, xin từ nay ba hạn không bắt được thì xử trượng 80.” Chiếu chỉ chấp thuận.

[99] Ngày Mậu Ngọ, Lại bộ Lưu nội tuyển tâu: “Hiện còn thiếu 643 chức Phán ty, Bạ uý. Những người được thay thế, bãi nhiệm theo đức âm năm Quý Tỵ đến cuối tháng 12 năm nay, hợp lệ nhập chức Phán ty, Bạ uý, xin đều cho đến Nam tào nộp đơn.” Được chấp thuận.

[100] Ngày Canh Thân, Viện Thẩm quan tâu: “Trước đây theo chiếu chỉ, các quan Kinh triều mới được bổ nhiệm ở Xuyên Hạp chưa có chỗ trống, chỉ cho tạm quyền giám sát tại địa phương gần. Nay chức Giám đương thiếu nhiều, xin bổ nhiệm các Tri huyện gần đó, đợi khi Xuyên Hạp có chỗ trống sẽ lần lượt điều bổ.” Được chấp thuận.

[101] Ngày Tân Dậu, Mã quân Đô ngu hậu, Lưu hậu Vũ Thắng quân Lưu Mỹ mất. Được truy tặng Thái uý, Tiết độ sứ Chiêu Đức quân, nhà nước lo việc tang lễ. Con trai ông là Điện trung thừa Lưu Tòng Đức được bổ làm Cung bị khố sứ, Cung phụng quan Lưu Tòng Quảng được bổ làm Nội điện Sùng ban, cùng một số người thân thích khác được thăng chức. Lại phong vợ quá cố của Lưu Mỹ là Tống thị, tước Quảng Bình huyện quân, làm Hà Nội quận phu nhân.

[102] Ngày Bính Dần, Xu mật trực học sĩ, Cấp sự trung, Tri Tịnh châu Mã Nguyên Phương vì tang mẹ, được khởi phục, cho nghỉ nửa tháng để về Lộ châu lo việc tang, vì ông đang giữ chức vụ quan trọng ở biên cương nên không đợi hết tang mà bắt buộc phải trở lại nhiệm sở.

[103] Bộ thự Hoàn Khánh là Điền Mẫn tâu việc xây dựng xong 7 thành trại dọc biên giới. Chiếu khen thưởng Điền Mẫn và các quan, ban tặng Đô giám và các sứ thần phụ trách việc xây dựng tiền lụa.

[104] Ngày Canh Ngọ, ban tặng các quan cận thần bộ 《Ngự tập》, đồng thời ban tặng các danh sơn, tự quán trong thiên hạ.

[105] Tháng 9, ngày Bính Tý, đặt chức Trú bạc Đô giám một người ở Vĩnh Khang quân[13].

[106] Ngày Mậu Dần, Trú bạc Đô giám Kinh Nguyên là Vương Hoài Tín tâu rằng Tông Ca Xác Tư La cử bộ tộc người Thổ Phồn đến xin hòa, chiếu cho Hoài Tín trả lời. Hoài Tín lại tâu rằng Trấn Nhung quân cách Nguyên châu, Hoàn châu khoảng 300 dặm, xin đặt một chức Tuần kiểm. Chiếu chuẩn y.

[107] Ngày Giáp Thân, sai Hàn lâm học sĩ Lý Tư làm sứ mừng sinh thần quốc chủ Khiết Đan, Nội điện Sùng ban, Cáp môn Chi hậu Vương Trọng Bảo làm phó; Thái thường bác sĩ Tô Kỳ làm sứ chánh đán, Thị cấm, Cáp môn Chi hậu Chu Đỉnh làm phó. Tô Kỳ gặp tang mẹ nên không đi, đổi sai Binh bộ Viên ngoại lang Tô Duy Phủ. Trọng Bảo là người Cao Mật.

(Chu Đỉnh, chưa rõ.)

Trước đây, Tống Thụ và các sứ thần trở về, tâu lên phong tục của Khiết Đan, rằng: “Thụ và các sứ thần lúc đầu đến núi Mộc Diệp, núi này nằm ở phía đông bắc Trung Kinh. Từ phía đông Trung Kinh đi qua con sông nhỏ, theo đường núi phía bắc đến trang trại nghỉ mát của Vua Hề, có đình đài. Từ cửa Cổ Bắc đến phía bắc Trung Kinh đều là đất của người Hề.

Người Hề vốn ngang hàng với Khiết Đan, sau bị Khiết Đan thôn tính, ở các nơi phân chia người Hề, Khiết Đan, Hán và Bột Hải sống lẫn lộn. Người Hề có sáu tiết độ đô tỉnh thống lĩnh, ngôn ngữ và phong tục khác với Khiết Đan, giỏi canh tác, bắn cung, vào núi săn bắn, đi lại nhanh như bay. Khoảng 60 dặm đến quán sông Cổ (Dương Lịch)[14], qua Châu Huệ, thành có hai lớp[15], đến nơi thấp nhỏ, ngoại thành không có người ở, nội thành có nhà ngói và kho lương, người dân phần nhiều mặc áo Hán. 70 dặm đến quán Du Lâm, phía trước có con sông nhỏ, uốn khúc chảy về phía bắc.

Từ đây vào núi, ít người ở. 70 dặm đến quán Nột Đô Ô, tiếng Khiết Đan gọi núi là ‘Nột Đô’, nước là ‘Ô’. 70 dặm đến quán Hương Sơn Tử, phía trước dựa vào núi đất, bên cạnh con sông nhỏ, phía đông bắc 30 dặm là hồ Trường Bạc. Vượt qua sa mạc, qua đầm Bạch Mã, 90 dặm đến quán Thủy Bạc. Qua sông Thổ, cũng gọi là sông Chàng Chàng[16], cát tụ thành gò, ít người ở, nhiều cây cối, bên bờ sông có nơi bằng phẳng, quốc chủ từng qua mùa đông ở đây. Khoảng 80 dặm đến quán Trương Tư Không, 70 dặm đến quán Mộc Diệp.

Rời Trung Kinh đều không có quán xá, chỉ ở lều vải, cách núi Mộc Diệp khoảng 30 dặm mới có nhà ngói và chùa chiền. Lại đi qua rừng gai và cỏ hoang, qua sông Thổ, đến núi Mộc Diệp, vốn là nơi chôn cất A Bảo Cơ.

Lại nói về nơi tế trời. Phía đông dựng lều bằng nỉ, đề là điện Tỉnh Phương, không có bậc thềm, dùng nỉ trải đất, phía sau có hai cái trướng lớn. Tiếp theo phía bắc, lại dựng lều nỉ, gọi là điện Khánh Thọ, cách núi còn xa. Trướng của quốc chủ ở phía tây bắc lều nỉ, nhìn từ xa không thấy. Thường thả ra ba con báo, rất thuần, ngồi trên lưng ngựa dựa vào người, khi đi săn thì dùng để bắt thú. Tục của người phương Bắc thích bắt cá, dựng lều nỉ trên mặt băng sông[17], đóng kín cửa, đục băng làm lỗ, đốt lửa soi xuống[18], cá đều kéo đến, liền thả cần câu, hiếm khi thất bại.

Miên đến quán Trương Tư Không[19], nghe nói quốc chủ đang bắt cá trên sông Thổ Hà, mang cá đến biếu. Năm đó, Long Khánh mất. Long Khánh ban đầu được phong làm Thường Vương, đến khi xin kết minh, đổi làm Lương Vương, sau phong làm Tần Quốc Vương rồi lại gia phong làm Tần Tấn Quốc Vương[20]. Long Dụ có con là Tông Nghiệp, được phong làm Quảng Bình Vương, giữ chức Trung Kinh Lưu Thủ, đổi huyện U Đô thuộc U Châu thành huyện Uyển Bình[21].

Về chế độ y phục, quốc mẫu và các quan người phương Bắc mặc quốc phục, quốc chủ và các quan người Hán thì mặc Hán phục. Các quan người phương Bắc đội mũ nỉ, trên có trang trí hoa vàng, hoặc thêm ngọc trai, lông chim, giống như mũ bộ dao của người Liêu thời Hán, Ngụy. Phía sau trán buông dải lụa vàng dệt hoa, bên trong chứa một búi tóc. Mặc áo bó màu tím, thêm nghĩa lan, đeo đai cáo tiếp, làm bằng da bọc dây màu vàng đỏ[22], dùng vàng ngọc, thủy tinh, đá bích ngọc để trang trí. Lại có mũ sa, hình dáng như mũ ô sa, không có vành, không che hai tai, trước trán đính hoa vàng, trên buộc dải tím, cuối dải đính ngọc trai[23]. Hoặc đội khăn vuông màu tím, mặc áo bó màu tím, thắt đai. Đàn ông hoặc mặc áo lót màu lục[24], áo bó hoa lục, áo lót thường có màu đỏ lục.

Người quý mặc áo lông chồn, chồn màu tím đen là quý, màu xanh là thứ. Lại có lông chuột bạc, rất trắng tinh. Người thường mặc áo lông chồn, dê, chuột, cáo sa.

Cung dùng da làm dây, tên vót gỗ bạch dương làm cán. Yên cương nhẹ nhàng, tiện cho việc chạy nhảy. Dùng lông chồn hoặc cổ ngỗng, đầu vịt làm đai lưng. Các quan người phương Bắc có chức Di Li Tất tham dự chính sự, Tả Hữu Lâm Nha nắm giữ mệnh lệnh, Dịch Ẩn như ty tông. Lại có chín hành cung, mỗi cung đặt sứ và bộ thự nắm giữ bộ tộc[25], có tên là Vĩnh Hưng, Tích Khánh, Hồng Nghĩa, Chiêu Mẫn v.v.”

[108] Ngày Bính Tuất, tể tướng Đinh Vị cùng các quan dâng sách chú thích 《Giáo Ngự Tập》 gồm 30 quyển. Vua ban chiếu thưởng cho Đinh Vị và Hàn lâm học sĩ Yến Thù, cùng các quan quản câu sứ thần khí tệ có khác nhau. Ban áo tía cho 14 vị tăng[26], ban thêm hiệu sư cho 10 người, và cho 7 đồng tử xuất gia.

[109] Ngày Giáp Ngọ, quyền tri Cao Ly quốc vương sự Vương Tuần sai cáo tấu sứ, Ngự sự Lễ bộ Thị lang Hàn Tộ cùng 170 người đến tạ ơn[27], đồng thời tâu rằng đã hòa hảo với Khiết Đan, lại dâng biểu xin sách âm dương, địa lý và 《Thánh Huệ Phương》, đều được ban cho.

[110] Ngày Bính Thân, quyền tri Khai Phong phủ Lữ Di Giản tâu rằng ngục tù trống không, Vua ban chiếu khen thưởng.

[111] Ngày Canh Tý, lấy Tiền Tiên Chi, người trước đây giữ chức Tri Lâm Hải huyện sự, sung chức Quán các Hiệu khám, theo lời thỉnh cầu của chú ông là Tiền Duy Diễn.

[112] Mùa đông, tháng 10, ngày Quý Mão mùng một, Vua ban chiếu miễn thuế cho dân chúng các châu quân bị thiên tai lũ lụt ở Khai Phong phủ, Kinh Đông Tây, Hoài Nam và Lưỡng Chiết.

[113] Ngày Mậu Thân, đạo quán Tường Nguyên hoàn thành, tổng cộng 613 gian nhà. Đô đại Quản câu Quán sự, Xu mật phó sứ Tiền Duy Diễn được gia chức Công bộ Thượng thư. Duy Diễn đến điện Thừa Minh dâng sắc thư, Vua không nhận, lại sai trung sứ đến tư đệ ban cho.

[114] Chiêu Tuyên sứ, Gia Châu Phòng ngự sứ, Nhập nội Đô tri, Quản câu Tường Nguyên quán sự Trương Cảnh Tông được làm Tuyên Chính sứ. Nội điện Sùng ban, Hoàng thái tử cung Đô giám Lôi Doãn Cung và Nội điện Sùng ban, Hoàng thái tử cung Chi hậu Lưu Tòng Nguyện đều được làm Nội điện Thừa chế. Nhập nội Đông đầu Cung phụng quan Sử Sùng Tín được làm Nội điện Sùng ban[28], đều là do công lao hoàn thành đạo quán Tường Nguyên mà được ban thưởng. Lại lấy Tòng Nguyện và Sùng Tín cùng quản câu quán sự.

Ban đầu, Doãn Cung và Tòng Nguyện từng phát giác việc Chu Hoài Chính dùng sách trời để mê hoặc, nên cả hai đều được thăng chức Nội điện Sùng ban, vẫn thuộc vào Nội thị tỉnh. Đến lúc này, họ sắp ra nhận chức. Doãn Cung muốn độc quyền lợi lộc, bèn lừa Tòng Nguyện cùng nhận sắc mệnh, rồi bí mật xin đổi mệnh lệnh mới, phong tặng cho mẹ kế của mình, từ đó một mình được vào cấm cung như cũ, truyền lệnh lấy vật phẩm trong kho, đều không cần văn bản mà vẫn được cấp phát. Tòng Nguyện là con của Thừa Khuê.

(Doãn Cung trước làm Thái tử cung Đô giám, sau mới được thăng chức Thừa chế. 《Nhân Tông Thực lục》 phụ truyện kể việc này, nhưng đảo ngược thứ tự trước sau, nay không theo. Thực lục chép: Doãn Cung từ đó làm việc tà ác. Xét ra, việc tà ác của Doãn Cung không phải bắt đầu từ đây, nay bỏ đi.)

[115] Triều đình ban chiếu khen thưởng Phát vận sứ Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ là Chu Thực, vì từ mùa xuân đến mùa đông đã vận chuyển hơn sáu triệu thạch gạo cung ứng.

[116] Thẩm hình viện Tường nghị quan, Quốc tử Bác sĩ Thượng Lâm tâu rằng, phụng chiếu đi Thiểm Tây quy hoạch việc nhập trung cỏ lương, nếu số lượng nhập trung gấp đôi năm trở lên, xin cho phép Giám quan ghi vào sổ để làm thành tích, triều đình đồng ý.

[117] Tri ứng Thiên phủ Trương Tri Bạch tâu rằng, Thông phán, Bí thư Thừa Nhậm Trung Sư xử lý công việc minh bạch, hiểu rõ dân tình. Triều đình ban chiếu khen thưởng. Trung Sư là em của Trung Chính.

[118] Ngày Nhâm Tý, các quan phụ chính vì hoàng thượng bệnh lâu ngày, dâng biểu dẫn chuyện Hán Tuyên Đế và Đường Cao Tông, xin cứ năm ngày một lần ngự tại điện tiện, cùng ngày sóc vọng thiết triều, yến lớn xuân thu và ban thưởng quần thần đều tổ chức tại Tích Khánh viện. Nếu có việc quân quốc trọng đại, thì triệu tập Trung thư, Xu mật viện bàn quyết. Việc nghị sự tại Tư thiện đường vào ngày lẻ và việc Trung thư, Xu mật viện vào sớm ngày chẵn vẫn như cũ. Lại xin từ nay các ngày lễ lớn, thượng thọ, Hoàng thái tử đứng đầu hàng văn võ. Triều đình đều chấp thuận.

[119] Vợ của Tả lĩnh quân vệ Đại tướng quân Thạch Phổ dâng biểu xin được phong chức quận nhỏ, hoàng thượng không cho. Ngày Ất Mão, ban chiếu cấp lương thực cho Phổ, lại thêm phụ cấp.

[120] Phát vận sứ Chu Thực tâu rằng, việc nhập trung sô lương ở Thiểm Tây rất ít, trà hóa ở Hoài Nam bị đình trệ, xin cho Tam ty định lại việc thương nhân mua bán giao dẫn để tiện lợi cho công tư, triều đình đồng ý. Thực lại tâu rằng các quan giám đương trường vụ khi được thay thế, phải ghi chép đầy đủ việc tăng giảm lợi tức trong một nhiệm kỳ, mới được phái đi triều kiến, triều đình đồng ý.

[121] Tháng 11, ngày Đinh Sửu, lấy Tư không, kiêm Môn hạ thị lang, Thái tử thiếu sư, Bình chương sự Đinh Vị làm Dịch kinh sứ kiêm Nhuận văn, vì lúc đó Tam tạng dịch kinh Pháp Hộ xin theo chế độ nhà Đường, cho tể thần kiêm chức sứ.

[122] Ngày Giáp Thân, Sơn Nam Đông đạo tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, phán Hà Nam phủ Vương Khâm Nhược bị bệnh, chiếu sai trung sứ đưa thái y đến khám. Trước đó, Khâm Nhược nhiều lần dâng biểu xin về kinh chữa bệnh, nhưng chưa được trả lời. Đinh Vị bí mật sai người nói với Khâm Nhược rằng: “Hoàng thượng nhiều lần nhắc đến ngài, rất muốn gặp, ngài cứ dâng biểu xin về thẳng kinh, hoàng thượng ắt không trách.” Khâm Nhược tin lời, liền sai con trai là Hữu tán thiện đại phu Tòng Ích làm văn thư gửi Hà Nam phủ, rồi ngồi kiệu về kinh. Đinh Vị nhân đó tâu rằng Khâm Nhược tự ý bỏ nhiệm sở, không giữ lễ bề tôi. Triều đình sai Ngự sử trung thừa Tiết Ánh đến nhà tra hỏi, Khâm Nhược sợ hãi nhận tội. Ngày Mậu Tý, giáng làm Tư nông khanh, phân ty Nam Kinh, tước một chức của Tòng Ích. Chuyển vận sứ và các quan Hà Nam phủ đều bị trị tội, lại ban dụ khắp thiên hạ.

[123] Ngày Ất Mùi, chiếu rằng từ nay quần thần nhận mệnh, được miễn đến tạ ơn.

[124] Chiếu rằng tăng ni, đạo sĩ, nữ quan, quan văn vũ từ thất phẩm trở lên, nếu phạm tội được phép giảm tội chuộc. Ai phải hoàn tục thì theo luật cũ.

[125] Ngày Đinh Dậu, Khiết Đan sai Tả giám môn vệ thượng tướng quân Tiêu Thiện, phó sứ là Cấp sự trung Trình Chứ đến chúc mừng lễ Thừa Thiên.

[126] Tháng 12, ngày Ất Tỵ, lấy Nội điện sùng ban Hoàng Phủ Kế Minh làm đồng Câu đương tam quán, Bí các công sự. Năm Hàm Bình, lúc đầu cử Lưu Sùng Siêu làm Giám tam quán, Bí các đồ tịch, sau đó theo lệ cũ cùng với Phán quán liên thự chưởng sự[29], bị dư luận đương thời chê trách. Sùng Siêu vốn thân thiết với Vương Khâm Nhược, Đinh Vị làm tướng, ghét ông ta, nên dùng Kế Minh để chia quyền, đổi tên chức Giám đồ tịch thành Câu đương công sự. Từ đó, nội thần cùng với đại học sĩ giữ chức vụ như nhau, dư luận càng chê trách.

(Tháng 12 năm Tường Phù thứ 8, Lưu Sùng Siêu bắt đầu liên thự chưởng sự.)

[127] Ngày Bính Thìn, vì tuyết rơi trái mùa, sai quan chia nhau cầu đảo ở các cung miếu, chùa chiền.

[128] Ngày Nhâm Tuất, điều Tri Ứng Thiên phủ, Hàn lâm thị độc học sĩ, Binh bộ thị lang Trương Tri Bạch làm Tri Bạc Châu. Lúc đầu, Tri Bạch ở Trung thư, không hòa hợp với Vương Khâm Nhược, lúc đó Khâm Nhược làm Phân ty Nam Kinh, Đinh Vị muốn Tri Bạch trả thù, nhưng sau đó Tri Bạch lại đối đãi với Khâm Nhược rất hậu, Đinh Vị tức giận nên điều ông đi.

(Thực lục nói là theo lời thỉnh cầu của Tri Bạch, e là sai. Bản truyện chép: Khâm Nhược làm Phân ty Nam Kinh, Đinh Vị vốn ghét Khâm Nhược, nên từ Thiên Hùng điều Tri Bạch đến Ứng Thiên để ông trả thù, nhưng Tri Bạch không theo ý đó, lại điều ông đến Bạc Châu. Xét việc Tri Bạch điều đến Ứng Thiên thực ra là đổi chỗ với Vương Tăng, vào ngày Tân Mùi tháng 9 năm thứ 3, lúc đó Khâm Nhược còn ở Hàng Châu, bản truyện cũng sai. Còn việc lại điều đến Bạc Châu thì bản truyện chép đúng, nay hơi sửa chữa để không mâu thuẫn.)

[129] Ngày Quý Hợi, Vua làm thơ ban cho Hoàng thái tử, khen ngợi thư pháp của ông ngày càng tiến bộ.

[130] Ngày Mậu Tý, Khiết Đan sai sứ là Bảo An tiết độ sứ Tiêu Nghiêu Cổn, Phó sứ Lợi Châu quan sát sứ Hàn Thiệu Thăng đến chúc mừng năm mới.

[131] Năm đó, Khiết Đan đổi niên hiệu là Thái Bình.

(Niên hiệu Khai Thái kết thúc năm thứ 9.)

[132] Thiên hạ có 8.677.677 hộ, 13.930.320 nhân khẩu[30].

Số thuế thu được so với cuối niên hiệu Chí Đạo, lương thực tăng 1.075.000 thạch, tiền tăng 2.708.000 quan, lụa giảm hơn 10.000 tấm, lụa mỏng giảm 92.000 tấm, vải tăng 506.000 tấm, tơ giảm 55.000 lạng[31], bông giảm 1.175.000 lạng, trà tăng 1.178.000 cân, cỏ khô giảm 11.005.000 bó, cỏ tươi giảm hơn 1.000.000 bó, than giảm 504.000 cân, lông ngỗng và lông chim tăng 129.000 chiếc, cán tên tăng 470.000 chiếc[32], sáp ong vàng tăng hơn 50.000 cân, lại cống 816.000 lượng, vỏ gai 397.000 cân, muối 577.000 thạch, giấy 123.000 tờ, cói 360.000 tấm, đại thể các vật phẩm khoảng như vậy.

Những thứ được chuyển đổi và vận chuyển đến các vùng lân cận thì tùy theo nhu cầu thời điểm đó.

[133] Đến cuối niên hiệu Chí Đạo, số tiền cung nạp lên triều đình là 1.692.000 quan, vàng 14.800 lạng, bạc 376.000 lạng, tơ 705.000 lạng, bông 4.970.000 lạng, lụa 379.000 tấm, lụa mỏng 1.708.000 tấm, lụa thô 52.000 tấm, vải 1.106.000 tấm. Ngoài ra, lợi nhuận từ việc độc quyền thu được tổng cộng 11.233.000 quan.

Triều đình thường tổ chức lễ tế giao mỗi ba năm một lần, tổng chi phí thường là hơn 1.500.000 quan, phần lớn được chi trả bằng vàng, bạc, lụa, gấm, lụa thô và lụa mỏng theo giá trị tương đương.

Tổng chi phí hàng năm của quốc gia trong và ngoài nước là hơn 16.930.000 quan tiền, 14.870 lạng vàng, hơn 620.000 lạng bạc, hơn 3.333.000 tấm lụa mỏng, hơn 903.000 tấm lụa, hơn 59.000 tấm lụa thô, 7.450.000 lạng bông, 1.640.000 lạng tơ, hơn 2.063.000 cuộn vải, 21.940.000 thạch thóc, và 32.000.060 bó cỏ khô.

Chi phí hàng năm ở kinh thành để cấp lương cho quan văn, quan võ, sứ thần tam ban và các nhân viên các cơ quan là hơn 45.800 quan tiền, cùng hơn 91.400 quan tiền bằng các vật phẩm khác, 51.000 thạch lộc thóc, và 542.000 thạch lương thực.

Quân kỵ binh hàng năm được cấp hơn 680.000 quan tiền, lộc thóc cho chức Đô ngu hậu trở lên là hơn 14.000 thạch, và 1.180.000 thạch lương thực.

Quân bộ binh hàng năm được cấp hơn 710.000 quan tiền, lộc thóc hơn 7.800 thạch, và 1.829.000 thạch lương thực. Đại khái là như vậy, nhưng cũng có sự chênh lệch.

[134] Cuối niên hiệu Thiên Hi, số tiền và lụa dâng lên triều đình tăng nhiều, còn các thứ khác do chuyển dùng nên giảm bớt so với số cũ.

Trong cả nước, tổng số thu được là 2.653.000 quan tiền, 14.400 lạng vàng, 883.900 lạng bạc, 4.172.020 lạng tơ, 18.991.000 lạng bông, 1.552.000 tấm lụa, 9.415.000 tấm lụa mỏng, 344.000 tấm lụa gấm, 137.000 tấm lụa thô, 25.000 tấm sa và hộc, 28.000 tấm gấm và lụa hoa[33], 3.057.000 tấm vải, 760.000 cân trà, 163.800 hộc muối, 700.000 cân, thỏi, miếng, hạt hương liệu, ngọc trai, sừng tê, ngà voi, 3.600.000 thanh, miếng tre gỗ và chiếu cói, 29.830.000 hộc ngũ cốc, 30.000.000 bó cỏ, 30.000.000 cân than củi và củi khô.

Tổng số chi tiêu là 2.714.000 quan tiền, 13.500 lạng vàng, 580.000 lạng bạc, 3.632.000 lạng tơ, 16.500.000 lạng bông, 764.000 tấm lụa mỏng, 41.737.000 tấm lụa, 107.000 tấm lụa gấm, 52.000 tấm lụa thô, 27.000 tấm lụa là, 11.000 tấm sa và đoạn, 6.700 tấm gấm và lụa hoa, 1.297.000 tấm vải, 366.000 cân trà, 118.000 hộc và chiếu muối, 523.000 cân, thỏi, miếng, hạt hương liệu, ngọc trai, sừng tê, ngà voi, 1.232.000 thanh, miếng tre gỗ và chiếu cói, 34.582.000 hộc ngũ cốc, 34.583.000 bó cỏ, 4.500.000 cân than củi và củi khô.

Lễ tế giao thời Cảnh Đức tốn hơn 7.000.000, lễ phong thiện ở phía đông tốn hơn 8.300.000, lễ tế ở Phần Âm và dâng sách báu lại tăng thêm 200.000.

Đinh Vị làm Tam ty sứ, từng soạn sách 《Cảnh Đức Kế Toán Lục》 dâng lên. Lâm Đặc giữ chức sứ, cũng tiếp tục làm việc đó. Phàm cử hành đại lễ, các quan đều ghi chép số chi phí đương thời để tâu lên, ắt sẽ có chiếu khen thưởng.

[135] Về muối, có hai loại: Loại dẫn nước hồ mà hóa thành, là loại muối cổ mà 《Chu quan》 gọi là cổ diêm[34], nay gọi là khoả diêm; hoặc loại nấu từ nước biển, hoặc nấu từ nước giếng, hoặc nấu từ nước mặn mà thành, là loại muối tán mà 《Chu quan》 gọi là tán diêm, nay gọi là mạt diêm.

Dẫn nước hồ làm muối, gọi là hai hồ Giải và An Ấp thuộc châu Giải, Thiểm Tây. Cày đất thành ruộng muối, dẫn nước hồ tưới vào[35], nước bốc hơi thì muối kết tinh. Chiêu mộ dân trong châu và các châu lân cận để phục dịch, gọi là hộ ruộng muối, tổng cộng 380 hộ, miễn thuế cho họ, mỗi hộ mỗi năm phải xuất 2 người làm phu, gọi là phu ruộng muối[36], mỗi năm cấp cho mỗi hộ 4 vạn tiền, mỗi ngày cấp cho mỗi phu 2 thăng gạo. Tháng hai mỗi năm cày ruộng muối, tháng tư dẫn nước hồ làm muối, đến tháng tám thì dừng. Chiêu mộ 100 binh lính, gọi là đội Hộ Bảo để tuần tra canh giữ.

Nấu nước biển thành muối, gồm các vùng Kinh Đông, Hà Bắc, Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, Quảng Nam, tổng cộng sáu lộ. Nơi nấu muối gọi là đình trường, dân làm muối gọi là đình hộ, hoặc gọi là xấm hộ. Mỗi hộ có diêm đinh, hàng năm nộp thuế cho quan, nhận tiền hoặc được trừ vào thuế ruộng. Ở Lưỡng Chiết còn bắt quân lính nấu muối.

Ở Kinh Đông có các châu Mật Châu, Đăng Châu, (sách 《Tam Triều Chí》 chỉ ghi Mật Châu có đình trường Đào Lạc, mỗi năm nấu hơn ba mươi hai nghìn thạch, sách 《Lưỡng Triều Chí》 lại thêm Đăng Châu, nay theo 《Lưỡng Triều Chí》 mà không ghi số lượng muối, vì hai sách ghi số lượng khác nhau.)

Ở Hà Bắc có các châu Thương Châu, Tân Châu, (sách 《Tam Triều Chí》 cũng không ghi Thương Châu.) Ở Hoài Nam có các châu Thông Châu, Thái Châu, Sở Châu, Hải Châu và quân Liên Thủy, ở Lưỡng Chiết có các châu Hàng Châu, Tú Châu, Ôn Châu, Đài Châu, Minh Châu, ở Phúc Kiến có các châu Phúc Châu, Chương Châu, Tuyền Châu và quân Hưng Hóa, (sách 《Tam Triều Chí》 không ghi Chương Châu, Tuyền Châu, quân Hưng Hóa[37].)

Ở Quảng Nam có các châu Quảng Châu, Triều Châu, Huệ Châu, Liêm Châu, Hóa Châu, Quỳnh Châu, Nhai Châu, Đam Châu, Vạn An Châu (sách 《Tam Triều Chí》 ghi Triều Châu bị bãi bỏ vào năm Ung Hi thứ tư, sách 《Lưỡng Triều Chí》 vẫn còn; sách 《Lưỡng Triều Chí》 có Hóa Châu, sách 《Tam Triều Chí》 không có; sách 《Tam Triều Chí》 lại có các châu Cao Châu, Đậu Châu, Xuân Châu, Lôi Châu, Dung Châu, sách 《Lưỡng Triều Chí》 lại không có.)

Nấu muối từ giếng thì ở bốn lộ Xuyên Hạp[38], lớn thì gọi là giám, nhỏ thì gọi là tỉnh. Giám thì đặt quan; tỉnh thì chiêu mộ dân địa phương, hoặc bắt nha tiền quản lý.

Ở Ích Châu lộ có các châu Lăng Châu, Miên Châu, Cung Châu, Mi Châu, Giản Châu, Gia Châu, Nhã Châu, Hán Châu, (sách 《Lưỡng Triều Chí》 không có Hán Châu, nay theo sách 《Tam Triều Chí》.)

Ở Tử Châu lộ có các châu Tử Châu, Tư Châu, Toại Châu, Hợp Châu, Nhung Châu, Vinh Châu, Quả Châu, Phổ Châu, Xương Châu, Cừ Châu, Lô Châu và giám Phú Thuận, (sách 《Tam Triều Chí》 không có các châu Hợp Châu, Nhung Châu, Vinh Châu, Cừ Châu, nghi ngờ bản gốc có thiếu sót.)

Ở Lợi Châu lộ có châu Lãng Châu, ở Quỳ Châu lộ có các châu Quỳ Châu, Trung Châu, Đạt Châu, Vạn Châu, Kiềm Châu, Khai Châu, Du Châu và quân Vân An, giám Đại Ninh (sách 《Tam Triều Chí》 không có Du Châu.)

Nấu kiềm thì có Giám Vĩnh Lợi thuộc châu Tịnh, Hà Đông. Phàm muối hạt, muối bột đều lấy năm cân làm một đấu. Giá bán muối hạt, mỗi cân từ bốn mươi bốn đến ba mươi bốn đồng, có ba bậc. Giá bán muối bột, mỗi cân từ bốn mươi bảy đến tám đồng, có ba mươi mốt bậc. Cuối niên hiệu Chí Đạo, tiền bán muối hạt là bảy mươi hai vạn tám nghìn đồng, muối bột là một trăm sáu mươi ba vạn đồng.

[136] Về chế độ tiền tệ, có hai loại là đồng và sắt.

Phàm đúc tiền đồng có bốn giám: Giám Vĩnh Bình ở châu Nhiêu, Giám Vĩnh Phong ở châu Trì, Giám Quảng Ninh ở châu Giang, Giám Phong Quốc ở châu Kiến. Mỗi nghìn đồng tiền dùng ba cân mười bốn lạng đồng[39], một cân tám lạng chì, tám lạng thiếc, thành nặng năm cân[40], chỉ có châu Kiến tăng thêm năm lạng đồng, giảm chì theo số đó. Giữa niên hiệu Chí Đạo, mỗi năm đúc tám mươi vạn đồng, cuối niên hiệu Cảnh Đức, lên đến một trăm tám mươi ba vạn đồng, sau niên hiệu Đại Trung Tường Phù, các mỏ đồng phần nhiều không khai thác, cuối niên hiệu Thiên Hi, đúc một trăm lẻ năm vạn đồng.

Đúc tiền sắt có ba giám: Giám Huệ Dân ở châu Cung, Giám Phong Viễn ở châu Gia, Giám Tế Chúng ở châu Hưng. Châu Ích, châu Nhã trước kia có giám, sau bỏ. Mỗi quan tiền lớn nặng mười hai cân mười lạng, để đổi lấy tiền đồng, mỗi năm đúc tổng cộng hơn hai mươi mốt vạn đồng. Tiền đồng lưu hành khắp thiên hạ, tiền sắt chỉ dùng ở vùng Xuyên Hạp.

[137] Phàm các châu sản xuất vàng có bốn châu: Thương, Nhiêu, Hấp, Phủ và quân Nam An.

(《Lưỡng triều chí》 chép có sáu châu: Đăng, Lai, Thương, Nhiêu, Đinh, Nam Ân[41], nhưng không có Hấp, Phủ, Nam An.)

Sản xuất bạc có ba giám là Quế Dương, Khai Bảo, Long Bồi, cùng 51 trường ở các châu quân Nhiêu, Kiền, Tín, Kiến Xương, Việt, Cù, Xử, Đạo, Phúc, Chương, Đinh[42], Nam Kiếm, Thiệu Vũ, Nam An, Quảng, Thiều, Liên, Anh, Nam Ân, Xuân, Tần, Hưng Nguyên, v.v.

(《Lưỡng triều chí》 không có các châu phủ Xử, Đạo, Quảng, Nam Ân, Hưng Nguyên, nhưng thêm các châu Thiểm, Quắc, Thương, Lũng, Sâm[43], Hoành, Tuyền, bảy châu.)

Sản xuất đồng có 35 trường ở các châu quân Nhiêu, Xử, Kiến, Anh, Tín, Nam An, Đinh, Chương, Thiệu Vũ, Nam Kiếm, v.v., và một vụ là Đồng Lai ở Tử châu.

(《Lưỡng triều chí》 thêm các châu Kiền, Tuyền, Thiều, nhưng không có châu Xử và quân Nam An.)

Sản xuất sắt có bốn giám là Đại Thông, Lợi Quốc ở Từ châu, Lai Vu ở Duyện châu, Lợi Thành ở Tương châu. Lai Vu bị bãi bỏ vào năm Đại Trung Tường Phù thứ 7. Lại có 12 lò ở Hà Nam, Phượng Tường, Quắc, Đồng, Nghi, Kỳ, Hoàng, Viên, Anh châu và quân Hưng Quốc. Các châu Tấn, Từ, Phượng, Lễ, Đạo, Cừ, Hợp, Mai, Thiểm, Diệu, Phường, Kiền, Cát, Đinh có 20 vụ. Các châu quân Tín, Ngạc, Kiến, Liên, Nam Kiếm, Thiệu Vũ, v.v. có 25 trường.

(《Lưỡng triều chí》 không có các châu phủ Hà Nam, Đồng, Hoàng, Tấn, Đạo, Mai, Diệu, Phường, Ngạc, nhưng thêm các châu Đăng, Lai, Tuyền, Tư.)

Sản xuất thiếc có 9 trường ở Trường Thủy thuộc Hà Nam và các châu quân Kiền, Nam Khang, Đạo, Hạ, Triều, Tuần.

(《Lưỡng triều chí》 thêm các châu Thương, Quắc, nhưng không có Trường Thủy và quân Nam Khang.)

[138] Có 36 mỏ khai thác chì ở các châu quân Cù, Việt, Kiến, Nam An, Anh, Xuân, Thiều, Đinh, Chương, Nam Kiếm, Thiệu Vũ.

(Sách 《Lưỡng triều chí》 không ghi châu Kiến, quân Nam An, châu Chương, nhưng lại thêm châu Tín, châu Liên.)

Có 4 mỏ khai thác thủy ngân ở các châu Tần, Giai, Thương, Phượng.

(Sách 《Lưỡng triều chí》 ghi 5 mỏ.)

Có 2 mỏ khai thác chu sa ở châu Thương, châu Nghi.

(Sách 《Tam triều chí》 ghi 3 mỏ, nhưng việc ghi là giám Phú Thuận là sai, nay theo sách 《Lưỡng triều chí》.)

[139] Cuối niên hiệu Chí Đạo, mỗi năm trong thiên hạ thu thuế vàng là một số lượng lạng (số này nên tìm bản khác, sách 《Tam triều sử chí》 bị thiếu), bạc 145.000 lạng, đồng 4.120.000 cân, sắt 5.748.000 cân, chì 793.000 cân, thiếc 269.000 cân. Cuối niên hiệu Thiên Hi, vàng 10.000 lạng, bạc 882.000 lạng, đồng 2.675.000 cân, sắt 6.293.000 cân, chì 447.000 cân, thiếc 191.000 cân, thủy ngân 2.000 cân, chu sa 5.000 cân. Tuy nhiên, vàng bạc ngoài thuế khai thác mỏ và thuế đinh, còn có lợi nhuận từ việc chiết nạp và buôn bán.

Giữa niên hiệu Chí Đạo, hai kinh và các châu thu thuế rượu mỗi năm được 1.214.000 quan tiền đồng, 1.565.000 quan tiền sắt, kinh thành bán men được 480.000 quan. Cuối niên hiệu Thiên Hi, thuế rượu bằng tiền đồng tăng 7.796.000 quan[44], tiền sắt tăng 1.354.000 quan, bán men tăng 391.000 quan. Thuế chợ búa, bến đò, giữa niên hiệu Chí Đạo thu được 4.000.000 quan, cuối niên hiệu Thiên Hi tăng 8.040.000 quan.


  1. Tể thần ngôn khảo giảo kinh triều mạc chức châu huyện quan 'triều' nguyên tác 'Sư' , cứ Tống hội yếu chức quan 11-8 sửa.
  2. nội hữu hợp cai thiên trật cập định sai khiển ân lệ 'Thiên' nguyên tác 'tuyển' , cứ các bản và Tống hội yếu sửa.
  3. 'tội' chữ nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Tống sử》 quyển 8, Chân Tông kỷ sửa lại.
  4. 'Lư Châu' nguyên bản viết là 'Lô Châu', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6, 《Biên niên cương mục》 quyển 8, 《Tống sử》 quyển 305, 《Long bình tập》 quyển 14, 《Đông đô sự lược》 quyển 47, truyện Lưu Quân sửa lại.
  5. Chữ 'Quần Ngọc điện' nguyên bản viết là 'Quỳnh Ngọc điện', nay căn cứ vào 《Tống hội yếu》 phương vực nhất chi lục và 《Tống sử》 quyển 85 địa lý chí mà sửa lại.
  6. 'Tây Kinh ba ngày' nguyên bản viết là 'lưỡng kinh ba ngày'. Theo chế độ nhà Tống, lệ ban yến tiệc thường là Đông Kinh năm ngày, Tây Kinh ba ngày. Việc ban yến tiệc ở Tây Kinh ba ngày bắt đầu từ năm Cảnh Đức thứ tư. Câu trên nói 'ở kinh đô năm ngày', nên câu này không thể viết là 'lưỡng kinh ba ngày', chữ 'lưỡng' rõ ràng là sai, nên sửa thành 'Tây'.
  7. Chữ 'phong' nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6, 《Tống sử》 quyển 8 Chân Tông kỷ bổ.
  8. 'Thượng' nguyên là 'Sĩ', theo các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 28, phần Huấn đạo Thái tử sửa lại.
  9. 'Thuận theo tình cảm thì dễ dung túng kẻ gian', bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống hội yếu》 phần Hình pháp 3-17 chép là 'Huệ gian'.
  10. 'Không đáp ứng yêu cầu', chữ 'thỉnh' nguyên bản viết là 'tình', căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống hội yếu》 dẫn trên mà sửa.
  11. Theo văn bản trong Thực lục, nghi ngờ chữ 'tại' nên là chữ 'nhi'.
  12. Các châu bắt trộm cướp trong hạn mà không bắt được, 'hạn nội' nguyên bản viết 'hạn ngoại', theo 《Tống hội yếu》 binh 11-9 sửa lại.
  13. Vĩnh Khang quân nguyên bản chép là 'Thủy Khang quân', theo bản trong các sách sửa lại. Xét nhà Tống không có 'Thủy Khang quân', Vĩnh Khang quân thuộc Thành Đô phủ lộ.
  14. 'Phàm' nguyên văn là 'Bắc', căn cứ vào các bản khác và 《Tống Hội Yếu》 phiên di 2-9 sửa lại.
  15. 'Trọng' nguyên văn là 'Lý', căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu, bản các và 《Tống Hội Yếu》 sửa lại.
  16. 'Vân' nguyên văn là 'Khứ', căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 《Tống Hội Yếu》 sửa lại.
  17. Dựng lều nỉ trên mặt băng sông 'Hà băng' nguyên văn là 'Hà thuỷ', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 phiên di nhị chi nhất○ sửa.
  18. Đốt lửa soi xuống 'Hoả' nguyên văn thiếu, căn cứ theo bản Tống và 《Tống hội yếu》 bổ sung.
  19. Miên đến quán Trương Tư Không 'Miên' nguyên văn là 'Địch', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống hội yếu》 sửa.
  20. Sau phong làm Tần Quốc Vương rồi lại gia phong làm Tần Tấn Quốc Vương 'Hựu' nguyên văn là 'Cập', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống hội yếu》 sửa.
  21. Đổi huyện U Đô thuộc U Châu thành huyện Uyển Bình 'U Châu' nguyên văn là 'Lạc Châu', căn cứ theo sách trên sửa.
  22. Làm bằng da bọc dây màu vàng đỏ 'Cách' nguyên văn là 'Đái', căn cứ theo sách trên và 《Khiết Đan quốc chí》 quyển 23 chế độ y phục sửa.
  23. Cuối dải đính ngọc trai 'Xuyết' nguyên văn thừa chữ 'Ngọc', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống hội yếu》 phiên di nhị chi nhất○, 《Khiết Đan quốc chí》 bỏ.
  24. Đàn ông hoặc mặc áo lót màu lục các bản đều giống nhau. 'Lục trung đơn', 《Tống hội yếu》 và 《Khiết Đan quốc chí》 ghi là 'Lục cân'.
  25. Mỗi cung đặt sứ và bộ thự nắm giữ bộ tộc 'Trí' nguyên văn là 'Thự', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 phiên di nhị chi nhất nhất sửa.
  26. Chữ 'tử' trong 'quần tăng tứ tử phương bào giả thập tứ nhân' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản và Tống toát yếu bản để bổ sung.
  27. '170 người' trong sách 《Tống sử》 quyển 487, phần Cao Ly truyện chép là '179 người'.
  28. Chữ 'đông' trong 'nhập nội đông đầu cung phụng quan' vốn viết là 'đô', nay căn cứ vào 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 20, phần Kiến Tường Nguyên quán để sửa.
  29. Sau đó theo lệ cũ cùng với Phán quán liên thự chưởng sự, chữ 'quán' nguyên là 'quan', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa.
  30. 13.930.320 nhân khẩu, 《Tống hội yếu》 Thực hóa 11-26 và 《Thông khảo》 quyển 11 Hộ khẩu khảo đều ghi là '19.930.320 nhân khẩu.'
  31. Tơ giảm 55.000 lạng, '5.000' nguyên bản là '50.000', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 Tổ tông dụng độ tổn ích sửa lại.
  32. Cán tên tăng 470.000 chiếc, 'cán' nguyên bản là 'cán', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Thông khảo》 quyển 4 Điền phú khảo sửa lại.
  33. Chữ 'gấm' nguyên bản viết là 'bông', theo bản Tống và bản Tóm tắt đời Tống sửa lại.
  34. 《Chu quan》 gọi là cổ diêm, chữ 'vị' nguyên là chữ 'vi', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và 《Tống sử》 quyển 181, phần Thực hóa chí sửa lại.
  35. Dẫn nước hồ tưới vào, chữ 'thủy' nguyên bản thiếu, theo 《Tống sử》 dẫn trên bổ sung.
  36. Mỗi hộ mỗi năm phải xuất 2 người làm phu, gọi là phu ruộng muối, chữ 'nhị' nguyên là chữ 'nhất', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống, bản các và 《Tống sử》 dẫn trên sửa lại.
  37. chữ 'quân' trong 'Hưng Hóa quân' vốn thiếu, theo bản Tống và bản tóm tắt Tống bổ sung.
  38. chữ 'tứ' trong 'Xuyên Hạp tứ lộ' vốn viết là 'tây', theo sách trên sửa lại.
  39. Mỗi nghìn đồng tiền dùng ba cân mười bốn lạng đồng, 'ba cân mười bốn lạng', 《Tống sử》 quyển 180, chí Thực hóa và 《Thông khảo》 quyển 9, khảo Tiền tệ đều chép là 'ba cân mười lạng'.
  40. Thành nặng năm cân, chữ 'năm' nguyên bản chép là 'một', theo sách trên mà sửa.
  41. Chữ 'Nam Ân' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 33-7 và 《Thông khảo》 quyển 18, khảo Chinh giác mà bổ sung.
  42. Đinh nguyên là 'Hà', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống hội yếu》 thực hóa 33-2, 《Tống sử》 quyển 185 Thực hóa chí sửa
  43. Sâm nguyên là 'Tịnh', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa. Xem 《Tống hội yếu》 thực hóa 33-9 và 《Thông khảo》 quyển 18 Chinh giác khảo, các nơi sản xuất bạc chỉ có Sâm châu mà không có Tịnh châu
  44. Chữ 'tăng' vốn bị thiếu, theo 《Tống sử》 quyển 185 phần Thực hóa chí và 《Thông khảo》 quyển 17 phần Chinh giác khảo bổ.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.